Qua vài sự kiện gần đây liên hệ đến các phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng

23:47 |
Nếu tinh ý thì sẽ thấy, chưa một nhà đấu tranh có tên tuổi trong nước nào dám (hay chỉ là có ý) chê bai người khác là hèn nhát, là thiếu dũng cảm, mặc dù họ đang ngày đêm phải đối mặt với công an, nhà tù, và có thể cả cái chết, họ có quyền phán xét kẻ khác. Nhưng ngược lại, những “nhà đấu tranh trước bàn phím” ở hải ngoại thì cứ thản nhiên viết bài, có lẽ là để thể hiện cái “tôi” nhiều hơn, chê bai cá nhân này tổ chức nọ là dễ nhận tội, hay xin hưởng khoan hồng.
Cuộc đấu tranh ôn hòa chống bất công, chống độc tài Cộng Sản của những người có lòng với quê hương đất nước, với vận mệnh dân tộc, đang đứng trước một thời cơ vô cùng thuận lợi: Bên ngoài họ được quốc tế ủng hộ, bên trong được đồng bào góp sức. Không những thế, căng thẳng có thể dẫn đến đối đầu bạo lực trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng là một yếu tố có lợi cho công cuộc dân chủ hóa đất nước…

Nhưng xã hội đã có thái độ nào đối với những con người dám xả thân vì công cuộc đổi thay đất nước? Tôn vinh, ủng hộ những người đấu tranh – đó là đối với số đông. Nhưng đối với một số nhà trí thức người Việt đang sống ở hải ngoại, không ít người đã có những góc nhìn sai lạc, dẫn đến những nhận định ít tính nhân bản, thiếu thực tế về nhiều cá nhân các nhà đấu tranh trong nước.

Thực ra con người ta ai cũng biết sợ hãi, ngoại trừ là kẻ mất trí hoặc ai đó đang trong tình trạng ngộ độc thần kinh cấp tính. Ngay cả đối với một con hổ dũng mãnh vốn được coi là “chúa sơn lâm” cũng phải bỏ chạy nếu bị tấn công bất ngờ. Và kể cả đối với một vị anh hùng, gặp thế cô trong trận mạc cũng phải tìm đường thoát thân. Như vậy chúng ta dứt khoát không nên vội vàng kết luận về lòng dũng cảm của các nhà đấu tranh trong nước nếu có ai đó phải nhận tội trước công an và tòa án của chế độ Cộng Sản…

Nếu là một người chịu khó tìm hiểu thì có thể thấy, đối với ngay cả Mahatma Gandhi – người được coi là ông tổ của phương pháp đấu tranh lấy bất bạo động ôn hòa chống lại cường quyền, cũng đã rất dè dặt trong việc tìm cách đấu tranh sao cho hiệu quả và tránh bị đàn áp thẳng tay. Gandhi đã vài lần bị bắt giam và kết tội tù ở Nam Phi và Ấn Độ, vì luật pháp ở những nơi đó không đặt nặng vào việc trước tòa bị can có nhận tội hay là không, họ chỉ căn cứ vào bằng chứng để mà kết tội. Nhưng nếu như họ cũng theo cách làm của chế độ Cộng Sản ở Việt Nam, tức là “nhận tội nghĩa là có tội” và sẽ được “hưởng khoan hồng” thì rất có thể Gandhi cũng đã từng… nhận tội.

Bản thân lãnh tụ dân chủ Lech Walesa vĩ đại của Ba Lan cũng đã từng phải ký kết một vài thỏa hiệp với nhà cầm quyền Cộng Sản Ba Lan trước đây để “giải quyết vấn đề tình thế”. Trong lịch sử Việt Nam đã từng có nhà nghĩa quân anh hùng Nguyễn Trung Trực uy danh lẫy lừng, coi cái chết tựa lông hồng. Nhưng cuối cùng vì chữ hiếu với mẹ, ông đã buộc phải quỳ gối nộp mạng đầu hàng quân Pháp. Thời “Tam Quốc”, Quan Vân Trường là một dũng tướng vô song, nhưng khi lâm vào đường cùng vẫn phải đầu hàng Tào Tháo. Phàm làm người thì quả là bất toàn: Hiện tại có thể là một anh hùng, nhưng sau này có thể lại là một kẻ hèn nhát…

Vậy ai là người dũng cảm?
Nếu tinh ý thì sẽ thấy, chưa một nhà đấu tranh có tên tuổi trong nước nào dám (hay chỉ là có ý) chê bai người khác là hèn nhát, là thiếu dũng cảm, mặc dù họ đang ngày đêm phải đối mặt với công an, nhà tù, và có thể cả cái chết, họ có quyền phán xét kẻ khác. Nhưng ngược lại, những “nhà đấu tranh trước bàn phím” ở hải ngoại thì cứ thản nhiên viết bài, có lẽ là để thể hiện cái “tôi” nhiều hơn, chê bai cá nhân này tổ chức nọ là dễ nhận tội, hay xin hưởng khoan hồng…

Đơn cử như nhà văn Phạm Thị Hoài (đang sống ở Đức) dùng cụm từ “thuế tư cách” để bình luận về các nhà đấu tranh trong nhóm “Thức, Định, Long, Trung”. Thế nào là đóng thuế? Và thế nào là tư cách? Có người nói tư cách đồng nghĩa với nhân cách, điều đó không chính xác! Tư cách là vị trí xã hội mà từ đó người ta tiến hành hay duy trì một công việc nào đó, nó thường gắn với nghề nghiệp, vì vậy người ta thường nói “tư cách người thầy”, “tư cách cá nhân”, “tư cách cán bộ”, thậm chí là “tư cách mõ” (Nguyễn Công Hoan) vv… Vậy nếu như có thể nói về vấn đề tư cách của một người đấu tranh nào đó, hãy nhìn vào vị trí xã hội của họ, chứ không thể lấy chuyện dũng cảm hay không mà đánh giá…

Để hiểu sát hơn với thực tế, chúng ta hãy xem những người đấu tranh là ai? Có thể liệt kê ra ngay lập tức, đó là dân oan mất đất, những người bị chế độ đối xử bất công, bao gồm cả các cán bộ và đảng viên Đảng Cộng Sản bị trù dập, ngược đãi, thất sủng. Riêng đối với những người không vì gặp những vấn đề cá nhân ở trên mà tham gia đấu tranh nhằm bênh vực quyền lợi cho người khác là không nhiều. Đây chính là những người có tư tưởng chính trị đối lập mang tính ý thức hệ tư tưởng, dịp khác người viết sẽ bàn đến phạm vi này…

Và nếu ta thử hỏi hay tự hỏi, liệu có ai là những người kể trên đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc đối đầu với công an, tòa án, nhà tù, cũng như những trò đàn áp hèn hạ khác mà chế độ Cộng Sản sẵn sàng tung ra? Có thể đáp ngay rằng, không có ai chuẩn bị trước điều đó, đơn giản là có rất nhiều người trở thành nhà đấu tranh tự lúc nào họ cũng không biết nữa, điều này rất chính xác đối với dân oan. Nhưng ví dụ đối với nhóm của các anh Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long và các nhóm hay tổ chức tương tự thì sao? Họ cũng không thể ý thức đầy đủ về những hệ lụy về sau. Và có lẽ họ đã rất tự tin trong việc tự giữ bí mật, rằng chế độ Cộng Sản không thể biết được những việc làm của họ…

Như vậy khác với việc một người lính ra trận biết trước có thể mình sẽ hy sinh, hầu hết những nhà đấu tranh ôn hòa sẽ không ý thức đầy đủ được những hiểm nguy trước mặt. Đến khi bị công an bắt bớ, nhất là khi họ phải chịu những đòn cân não nặng nề cộng với những thủ đoạn bức cung tàn bạo, thì việc họ chấp nhận “bài nhận tội xin khoan hồng” của công an là điều dễ hiểu. Nhưng chắc chắn một điều: Đó chỉ là giải pháp tình thế, họ không tâm phục khẩu phục những bản án vô lý bất công đã dành cho họ.

Vậy ai là người dũng cảm? Tất cả những người đấu tranh đều là người dũng cảm! Tại sao lại nói như vậy? Một khi ai đó không chịu chấp nhận bất công, không chịu chấp nhận thân phận con sâu cái kiến, họ cất tiếng nói và có hành động phản kháng ôn hòa với kẻ cầm quyền, đều là những người dũng cảm. Một khi những người như Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long và những người giống như vậy sẵn sàng chấp nhận tạm gác sự thành đạt trong học tập nghiên cứu của mình, chấp nhận hy sinh sự bình an của bản thân, hy sinh sự vinh hoa mà họ đã và sẽ được hưởng, để làm một điều gì đó mới mẻ, đó chính là sự dũng cảm. Họ sẽ buồn như thế nào nếu như đọc được, nghe được những nhận xét sai lạc về họ? Điều đó có làm suy giảm sức đấu tranh và suy giảm số lượng người trong nước tham gia đấu tranh hay không?

Chúng ta còn muốn gì hơn ở những nhà đấu tranh trong nước? Muốn họ phải là những chiến binh bằng thép? Muốn họ phải tự thiêu, hay ôm bom liều chết? Chúng ta đã sai, nhiều người đã sai! Chúng ta quen đòi hỏi mà không quen hành động, quen ăn những bữa cơm đã được dọn sẵn mà không bao giờ tự vào bếp nấu nướng. Chúng ta quen phán xét mà không tự xét lấy bản thân. Hãy thử làm như những nhà đấu tranh trong nước xem liệu chúng ta có làm được điều gì hơn họ không? Sợ rằng, chỉ nghĩ đến nhà tù thôi, nghĩ đến công an thôi, là chúng ta đã “mất mật” ấy chứ! Vậy thì, xin hãy biết tôn trọng, hãy biết kính trọng những nhà đấu tranh trong nước!

© Lê Nguyên Hồng
---------------------
Lê Nguyên Hồng blog
Đọc tiếp…

Hãy biết tôn trọng các nhà đấu tranh trong nước!

23:28 |
Nếu tinh ý thì sẽ thấy, chưa một nhà đấu tranh có tên tuổi trong nước nào dám (hay chỉ là có ý) chê bai người khác là hèn nhát, là thiếu dũng cảm, mặc dù họ đang ngày đêm phải đối mặt với công an, nhà tù, và có thể cả cái chết, họ có quyền phán xét kẻ khác. Nhưng ngược lại, những “nhà đấu tranh trước bàn phím” ở hải ngoại thì cứ thản nhiên viết bài, có lẽ là để thể hiện cái “tôi” nhiều hơn, chê bai cá nhân này tổ chức nọ là dễ nhận tội, hay xin hưởng khoan hồng.
Cuộc đấu tranh ôn hòa chống bất công, chống độc tài Cộng Sản của những người có lòng với quê hương đất nước, với vận mệnh dân tộc, đang đứng trước một thời cơ vô cùng thuận lợi: Bên ngoài họ được quốc tế ủng hộ, bên trong được đồng bào góp sức. Không những thế, căng thẳng có thể dẫn đến đối đầu bạo lực trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng là một yếu tố có lợi cho công cuộc dân chủ hóa đất nước…

Nhưng xã hội đã có thái độ nào đối với những con người dám xả thân vì công cuộc đổi thay đất nước? Tôn vinh, ủng hộ những người đấu tranh – đó là đối với số đông. Nhưng đối với một số nhà trí thức người Việt đang sống ở hải ngoại, không ít người đã có những góc nhìn sai lạc, dẫn đến những nhận định ít tính nhân bản, thiếu thực tế về nhiều cá nhân các nhà đấu tranh trong nước.

Thực ra con người ta ai cũng biết sợ hãi, ngoại trừ là kẻ mất trí hoặc ai đó đang trong tình trạng ngộ độc thần kinh cấp tính. Ngay cả đối với một con hổ dũng mãnh vốn được coi là “chúa sơn lâm” cũng phải bỏ chạy nếu bị tấn công bất ngờ. Và kể cả đối với một vị anh hùng, gặp thế cô trong trận mạc cũng phải tìm đường thoát thân. Như vậy chúng ta dứt khoát không nên vội vàng kết luận về lòng dũng cảm của các nhà đấu tranh trong nước nếu có ai đó phải nhận tội trước công an và tòa án của chế độ Cộng Sản…

Nếu là một người chịu khó tìm hiểu thì có thể thấy, đối với ngay cả Mahatma Gandhi – người được coi là ông tổ của phương pháp đấu tranh lấy bất bạo động ôn hòa chống lại cường quyền, cũng đã rất dè dặt trong việc tìm cách đấu tranh sao cho hiệu quả và tránh bị đàn áp thẳng tay. Gandhi đã vài lần bị bắt giam và kết tội tù ở Nam Phi và Ấn Độ, vì luật pháp ở những nơi đó không đặt nặng vào việc trước tòa bị can có nhận tội hay là không, họ chỉ căn cứ vào bằng chứng để mà kết tội. Nhưng nếu như họ cũng theo cách làm của chế độ Cộng Sản ở Việt Nam, tức là “nhận tội nghĩa là có tội” và sẽ được “hưởng khoan hồng” thì rất có thể Gandhi cũng đã từng… nhận tội.

Bản thân lãnh tụ dân chủ Lech Walesa vĩ đại của Ba Lan cũng đã từng phải ký kết một vài thỏa hiệp với nhà cầm quyền Cộng Sản Ba Lan trước đây để “giải quyết vấn đề tình thế”. Trong lịch sử Việt Nam đã từng có nhà nghĩa quân anh hùng Nguyễn Trung Trực uy danh lẫy lừng, coi cái chết tựa lông hồng. Nhưng cuối cùng vì chữ hiếu với mẹ, ông đã buộc phải quỳ gối nộp mạng đầu hàng quân Pháp. Thời “Tam Quốc”, Quan Vân Trường là một dũng tướng vô song, nhưng khi lâm vào đường cùng vẫn phải đầu hàng Tào Tháo. Phàm làm người thì quả là bất toàn: Hiện tại có thể là một anh hùng, nhưng sau này có thể lại là một kẻ hèn nhát…

Vậy ai là người dũng cảm?
Nếu tinh ý thì sẽ thấy, chưa một nhà đấu tranh có tên tuổi trong nước nào dám (hay chỉ là có ý) chê bai người khác là hèn nhát, là thiếu dũng cảm, mặc dù họ đang ngày đêm phải đối mặt với công an, nhà tù, và có thể cả cái chết, họ có quyền phán xét kẻ khác. Nhưng ngược lại, những “nhà đấu tranh trước bàn phím” ở hải ngoại thì cứ thản nhiên viết bài, có lẽ là để thể hiện cái “tôi” nhiều hơn, chê bai cá nhân này tổ chức nọ là dễ nhận tội, hay xin hưởng khoan hồng…

Đơn cử như nhà văn Phạm Thị Hoài (đang sống ở Đức) dùng cụm từ “thuế tư cách” để bình luận về các nhà đấu tranh trong nhóm “Thức, Định, Long, Trung”. Thế nào là đóng thuế? Và thế nào là tư cách? Có người nói tư cách đồng nghĩa với nhân cách, điều đó không chính xác! Tư cách là vị trí xã hội mà từ đó người ta tiến hành hay duy trì một công việc nào đó, nó thường gắn với nghề nghiệp, vì vậy người ta thường nói “tư cách người thầy”, “tư cách cá nhân”, “tư cách cán bộ”, thậm chí là “tư cách mõ” (Nguyễn Công Hoan) vv… Vậy nếu như có thể nói về vấn đề tư cách của một người đấu tranh nào đó, hãy nhìn vào vị trí xã hội của họ, chứ không thể lấy chuyện dũng cảm hay không mà đánh giá…

Để hiểu sát hơn với thực tế, chúng ta hãy xem những người đấu tranh là ai? Có thể liệt kê ra ngay lập tức, đó là dân oan mất đất, những người bị chế độ đối xử bất công, bao gồm cả các cán bộ và đảng viên Đảng Cộng Sản bị trù dập, ngược đãi, thất sủng. Riêng đối với những người không vì gặp những vấn đề cá nhân ở trên mà tham gia đấu tranh nhằm bênh vực quyền lợi cho người khác là không nhiều. Đây chính là những người có tư tưởng chính trị đối lập mang tính ý thức hệ tư tưởng, dịp khác người viết sẽ bàn đến phạm vi này…

Và nếu ta thử hỏi hay tự hỏi, liệu có ai là những người kể trên đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc đối đầu với công an, tòa án, nhà tù, cũng như những trò đàn áp hèn hạ khác mà chế độ Cộng Sản sẵn sàng tung ra? Có thể đáp ngay rằng, không có ai chuẩn bị trước điều đó, đơn giản là có rất nhiều người trở thành nhà đấu tranh tự lúc nào họ cũng không biết nữa, điều này rất chính xác đối với dân oan. Nhưng ví dụ đối với nhóm của các anh Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long và các nhóm hay tổ chức tương tự thì sao? Họ cũng không thể ý thức đầy đủ về những hệ lụy về sau. Và có lẽ họ đã rất tự tin trong việc tự giữ bí mật, rằng chế độ Cộng Sản không thể biết được những việc làm của họ…

Như vậy khác với việc một người lính ra trận biết trước có thể mình sẽ hy sinh, hầu hết những nhà đấu tranh ôn hòa sẽ không ý thức đầy đủ được những hiểm nguy trước mặt. Đến khi bị công an bắt bớ, nhất là khi họ phải chịu những đòn cân não nặng nề cộng với những thủ đoạn bức cung tàn bạo, thì việc họ chấp nhận “bài nhận tội xin khoan hồng” của công an là điều dễ hiểu. Nhưng chắc chắn một điều: Đó chỉ là giải pháp tình thế, họ không tâm phục khẩu phục những bản án vô lý bất công đã dành cho họ.

Vậy ai là người dũng cảm? Tất cả những người đấu tranh đều là người dũng cảm! Tại sao lại nói như vậy? Một khi ai đó không chịu chấp nhận bất công, không chịu chấp nhận thân phận con sâu cái kiến, họ cất tiếng nói và có hành động phản kháng ôn hòa với kẻ cầm quyền, đều là những người dũng cảm. Một khi những người như Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long và những người giống như vậy sẵn sàng chấp nhận tạm gác sự thành đạt trong học tập nghiên cứu của mình, chấp nhận hy sinh sự bình an của bản thân, hy sinh sự vinh hoa mà họ đã và sẽ được hưởng, để làm một điều gì đó mới mẻ, đó chính là sự dũng cảm. Họ sẽ buồn như thế nào nếu như đọc được, nghe được những nhận xét sai lạc về họ? Điều đó có làm suy giảm sức đấu tranh và suy giảm số lượng người trong nước tham gia đấu tranh hay không?

Chúng ta còn muốn gì hơn ở những nhà đấu tranh trong nước? Muốn họ phải là những chiến binh bằng thép? Muốn họ phải tự thiêu, hay ôm bom liều chết? Chúng ta đã sai, nhiều người đã sai! Chúng ta quen đòi hỏi mà không quen hành động, quen ăn những bữa cơm đã được dọn sẵn mà không bao giờ tự vào bếp nấu nướng. Chúng ta quen phán xét mà không tự xét lấy bản thân. Hãy thử làm như những nhà đấu tranh trong nước xem liệu chúng ta có làm được điều gì hơn họ không? Sợ rằng, chỉ nghĩ đến nhà tù thôi, nghĩ đến công an thôi, là chúng ta đã “mất mật” ấy chứ! Vậy thì, xin hãy biết tôn trọng, hãy biết kính trọng những nhà đấu tranh trong nước!

© Lê Nguyên Hồng
---------------------
Lê Nguyên Hồng blog
Đọc tiếp…

Bè lũ Bắc Kinh hãy xéo về đi!

22:33 |
Ts. Đặng Huy Văn: Nhà cầm quyền Bắc Kinh vừa ra tuyên bố đòi thành lập thành phố Tam Sa bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Trắng trợn hơn, cách đây mấy ngày, chúng còn ra quyết định thành lập Bộ chỉ huy Quân Sự của cái gọi là “thành phố Tam Sa” đó. Rất tiếc là phía Việt Nam, các nhà lãnh đạo cao nhất có lẽ đang bận rộn nhiều công việc đại sự khác nên không có ai đứng ra phát biểu gì cả mà chỉ có lãnh đạo thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa phản đối yếu ớt. Ngày 22/7 vừa rồi, người yêu nước Việt Nam lại xuống đường biểu tình chống Tàu nhưng vẫn bị chính quyền ngăn cản. Nhưng tôi tin tưởng chắc chắn rằng, dù có ai cản trở thi cuối cùng bè lũ Bắc Kinh cũng sẽ thất bại ngay trên chính trường trong nước của chúng vì chế độ độc tài, độc đảng tàn ác, và đó sẽ là thời cơ để chúng ta giành lại Hoàng Sa, 



Bè lũ Bắc Kinh hãy xéo về đi!

Ông “chú rể” của các ngươi
Đã qua đời hơn bốn chục năm rồi
Còn bà cô già cuối thế kỉ 20
Sau 64 năm đợi chờ cũng đã mất!
Vậy nay các ngươi với tư cách gì
Mà dám sang đòi rừng, đòi đất
Đòi biển đảo thân thương
Của Dân Tộc Việt Nam?

Các ngươi tưởng Biển Đông
Từ trên trời rơi xuống nước Nam chăng?
Đây là máu xương của hàng triệu ngư dân
Mấy ngàn đời đã gian lao bám biển
Biển Đông của Việt Nam đã từng được
Các nước láng giềng chứng kiến
Có bản đồ, có văn tự hẳn hoi!
Các ngươi không tin ư?
Về giở Bản Đồ Nhà Thanh
Trước năm 1909 mà coi!
Biển đảo của các ngươi
Chỉ đến đảo Hải Nam là hết!
Quần Đảo Hoàng Sa đầu 1974
Vẫn là nơi đồn trú của quân dân nước Việt
Khi tiếp quản Biển Đông năm 1975
Ta vẫn còn nguyên đó cả Trường Sa!

Chuyện động trời xẩy ra chỉ vừa mới mấy tuần qua
Khi bè lũ Bắc Kinh đòi lập thành phố Tam Sa trên biển
AQ bắt nạt cu D. chứ đừng có mà
Hỗn láo với dân Việt Nam thiện chiến!
Chẳng qua cu D. vừa hèn, vừa tham
Nên chỉ cho tiền là nó lờ chuyện Tam Sa
Nhưng vẫn còn đây 91 triệu dân Nam Việt của ta!



Bè lũ Bắc Kinh hãy xéo về đi!
Kẻo Tam Sa sẽ thành Bạch Đằng Giang, Vạn Kiếp...
Sao đã mấy ngàn đời chịu đòn rồi
Mà các ngươi vẫn hư thân mất nết
Hay lại mắc chứng “thắng lợi tinh thần”
Của cụ cố nội AQ?
Hãy quay về đền Thổ Cốc ngủ một đêm
Mà trăn trở nghĩ suy đi!

Xin hỏi các ngươi
Dẫu có “ai lấy ai” thì nước Việt nợ nần gì?
Có phải thời Chế Mân nữa đâu
Mà lấy vợ phải trao đất, nhượng biển?
Chưa kể tiền bối của ta là bậc “thánh hiền”
Nên không có việc như các ngươi bịa chuyện
Đừng gắp lửa bỏ tay người kiểu mọi rợ man di!
Nếu khôn hồn, các ngươi hãy xéo về đi!
Đừng để dân Việt nối thêm vòng tay lớn
Với các bạn láng giềng đang trào dâng sóng cuộn
Chống bành trướng bá quyền thề quyết giữ Biển Đông!

Hỏi lịch sử nước Trung Hoa ngàn năm trở lại đây
Các ngươi đã từng chiếm được nước nào không?

Hay đời nọ sang đời kia chỉ bị các nước ngoài giành giật
Này nhé: Nguyên Mông, Mãn Thanh, nước Anh, nước Nhật
Nay các ngươi có thể dắt mũi được cu D.
Nhưng nước Việt thì không!

“Sự kiện Thiên An Môn” qua rồi nhưng Thiên An Môn còn đó
Dân Trung Hoa bị áp bức nay mai sẽ vùng đứng lên đạp đổ
Bè đảng độc tài gian ngoan, chúng bay chạy đằng trời!
Dân Việt Nam, dân Trung Hoa sẽ cầm tay nhau
Giành quyền sống con người!

Và khi đó Biển Đảo thân thương sẽ trở về Tổ Quốc
Có gì sướng vui hơn hỡi Mẹ Việt Nam ơi!
Ta sẽ có dân chủ, tự do bao nhiêu năm mơ ước
Giành lại được toàn vẹn Núi Sông của Mẹ tự bao đời!

Hà Nội, 26/7/2012
Ts. Đặng Huy Văn
———————–
Bài viết do tác giả gửi đến VANGANH.INFO
———————–
Đọc tiếp…

Phạm Ngọc Thái "Hồ Xuân Hương Tái Lai"

22:16 |
15 TÌNH THI GIỚI THIỆU
TẬP “HỒ XUÂN HƯƠNG TÁI LAI” CỦA PHẠM NGỌC THÁI
Dầy 400 trang với 296 bài thơ đã được xuất bản
sẽ ra mắt bạn đọc vào trung tuần tháng 8/2012 này.

(Đây chưa phải là những bài thơ hay nhất tập "Hồ Xuân Hương tái lai"
mà chỉ là những tình thi lãng mạn nhất của tập)



ĐỘNG BƯỚM

Phút say đắm tột cùng em mở toang động bướm
Giữa khu rừng rậm rạp nguyên sơ
Nàng thơ thẫn thờ si mê hưng phấn
Bướm của em chứa cả thánh thần lẫn yêu ma…

Có ai chưa em đã vào khai phá?
Để bướm vẫy vùng, bướm thỏa ước ao
Và khi ấy em sẽ không còn là trinh nữ
Bờ bãi đời người bướm vẫn lượn như sao.

Thân nhi nữ một thế giới mênh mông hoang dại
Cấu thành bên trong bao yếu tố mĩ miều
Tự thiên thai chẳng phải vẽ vời nắn gọt
Lạc vào vườn em trái cấm ngọt hương tươi.

Tình yêu từ đâu anh không biết?
Mà rung cảm tâm hồn, lay động trái tim!
Nhưng yêu nhất là bướm em
có sức chinh phục diệu huyền
Đêm đêm bướm thường bay ra trong phòng ngủ…

Bướm của em trên đời mãi còn quý giá
Đến lúc cần bướm lại sinh con…
Không lời thơ nào tả hết được vẻ đẹp bướm em
Nam-mô-a-di-đà!



2. VÁY THIẾU NỮ BAY

Váy thiếu nữ bay để ngỏ
Một khoảng trời nghiêng ngửa bên trong
Gió réo rắt, nắng bồn chồn hơi thở
Tìm vào chỗ ấy của em...

Bờ bãi con người em trổ hoa, trái ngọt
Đến đế vương cũng khum gối cầu mong
Váy thiếu nữ bay lộ một lâu đài điện ngọc
Nơi sự sống nhân quần tiến hoá muôn năm…

Váy thiếu nữ bay mang cả hồn thời đại
Mênh mông bầu trời, say đắm thế gian
Có phải đó khúc quân hành nhân loại?
Em giữ trong mình nguyên thuỷ lẫn văn minh.

Váy thiếu nữ bay để thấy đời còn có lý!
Sự sống anh cùng nhân thế tồn sinh
Dù dung tục vẫn thánh tiên bậc nhất
Khởi điểm cho các luồng chính trị toả hào quang…
                                                Phạm Ngọc Thái



3. ĐÀN BÀ ĐẸP NHẤT
LÀ KHI ĐÈN ĐÃ TẮT


Bi kịch đằng sau hạnh phúc đó, em ơi!
Dầu biết thế nhưng đã chót yêu rồi
Ta gặp nhau chỉ trong chốc lát
Giữa đêm tối anh lần vào em thăm thiên thai...

Khi tắt đèn da em là ánh sáng để anh soi
Mọi khe ngách trên em anh đều tìm đến đó
Mặc cho mưa gió đầy trời
Cũng chẳng bằng tình ta ngất ngây.

Dù mai nỗi nhớ thương dầy vò anh đau khổ
Thì đêm nay, em ạ! Cứ đắm say...
Mọi phiền não trên đời này quên hết
Lòng cứ yêu, hạnh phúc cứ tràn đầy.

Đêm tắt đèn em đẹp nhất trần gian!
Hôn đôi trái em tưởng mình du ngoạn khắp không trung
Chơi dỡn nguyệt một thiên đường tuyệt thế
Mong trời cứ đêm để cùng em vui chút nữa.

Hạnh phúc đời ta, tình qua trong tiếc nuối
Vì em ơi, hết đêm ta đã phải lìa rồi!
Đàn bà đẹp nhất là ở trong đêm tối
Để nhớ nhau suốt đời...

Đêm tắt đèn thành ánh sáng của thơ tôi!



4. XEM TRANH BÁN LOÃ THỂ

Tưởng nhớ bài thơ "Tranh loã thể" nổi tiếng
của thi nhân Bích Khê

Nàng để hở một vòm trời tuyệt mĩ
Thế giới là đây! Cuộc sống là đây!
Nàng gieo hoa và ý nghĩa loài người
Nhưng cũng đẻ cả chiến tranh và hoà bình
ra từ trong bụng.

Lui xuống dưới nàng
một rừng sâu um tùm che hang động
Lên trên nàng đôi mỏm núi trắng vô biên
Thân thể nàng tràn đầy hương nhụy phấn
Thiếu nữ mặc hở quần: hơn bao lời hoa mĩ phát ngôn!

Em như gió trăng mà rung động cả vua chúa, thánh thần
Cuộc sống cần em
Đâu có cần chiến tranh và bom nguyên tử?
Khi em cởi ra nhiều
Điểm báo thế giới càng hiện đại văn minh! (*)
Nhưng điều đáng đớn đau: là tính nhân loại
Con người cũng ngày càng nhiều dã tâm gây tội ác?... (**)
Phạm Ngọc Thái
2011

(*) Thế giới càng hiện đại văn minh thì khuynh hướng triển lãm thân thể
của các thiếu nữ càng phát triển, tới mức gần như cởi truồng.
(**) Nhà văn Nga Ai-Ma-Tốp đã cảnh báo trong tác phẩm "Đoạn đầu đài" nổi tiếng của ông rằng: Thế giới, cái ác vẫn lấn át cái thiện và con người hiện đại còn ác hơn con sói!



5. ĐÊM MƯA TẦM TÃ

Trời giông tố, đời cô đơn bên bóng
Trôi dần dần những tháng năm buồn tênh
Em thế nào rồi: buồn hay vui sướng?
Có nghe giữa làn mưa mông mênh…

Anh nhớ đêm mưa xưa tầm tã
Ở bên hồ hai đứa ôm nhau
Dù bão giông trái tim sợ gì đâu?
Em vẫn trong mơ mặc mưa rơi xuống đầu.

Áo em ướt, quần em cũng ướt
Máu chảy mạnh trong người rạo rực, xôn xao
Anh ủ cho em trên chiếc ghế đá bên cầu
Giây phút ấy trời dẫu sập ta cũng không cần biết tới!

Anh luồn xuống dưới em vén những sợi lông tơ đương rối
Em dang rộng đôi chân ra đón đợi
Phút giây thiêng sung sướng nhất trên đời
Kỷ niệm này ta nhớ mãi khôn nguôi…



6. THÊM YÊU THÀNH PHỐ QUÊ MÌNH
KHI ĐÃ VÀO ĐÊM


Những chiều tắt sương đầm trên phố
Hàng cây ru ngủ đám chim muông
Anh không còn cùng em như dạo đó
Tiếng hồ xưa buồn than thở trong đêm.

Khắp nẻo đường vương vào bóng tối
Hương khuya lan tỏa cõi trời xa
Nhớ dáng em vẫn khỏa mình nằm lộng lẫy
Như làn mây nõn nà cởi xiêm áo bên ta…

Ôi, cuộc tình! Cuộc tình, sao nhớ thế!
Ta không còn trẻ như thuở vẫn ru em
Thân thiết cả tiếng chuông chùa trong chiều gió
Tiếng nam-mô lại êm dịu tâm hồn.

Vẫn thấy em thường về trong bóng lá
Tấm thân mềm thiếu nữ hóa vô biên
Anh vuốt ve cả nguyệt và trái vú
Thêm yêu thành phố quê mình khi đã vào đêm...



7. THIẾU NỮ THỜI HIỆN ĐẠI

Em ăn mặc hở hang như chẳng có
Dáng thân mềm vóc lụa tơ buông
Chiều hôm nay, chiều hôm nay rực rỡ
Nắng êm đềm hôn lên tấm thân em…

Đời bụi bặm bỗng như men tình dậy
Phố đang buồn sự sống lại hồi sinh!
Sự tồn tại của thế giới này đây có phải?
Em là lương tri mang nhân ái trên mình…

Ôi, phong phanh
Em để hở như không cần quần áo
Thân là trời, da dẻ là mây
Đôi vòm vú như chòm sao xa lắc
Một hình nguyệt in lấp ló ráng trăng ngày.

Em gái hở hang!
Thu hết thảy nhân tình, đánh đổ mọi quyền uy
Anh đã sống quá nửa đời mệt mỏi
Nhìn thân hình em vẫn thấy cuộc sống thật diệu kỳ!...
                                                    Phạm Ngọc Thái



8. CÓ MỘT THỜI NHƯ THẾ

Mây vờn cao xanh trăng sao lấp lánh
Đã kéo em nằm ra trong ánh sáng ảo huyền
Cởi hết xiêm y em để làn hương bay ngợp
Rồi cùng nhau vào cuộc vui đêm…

Đời ta có một thời như thế!
Thời gian trôi tuổi trẻ sẽ úa tàn
Thì em ơi! Trên đỉnh cao tuyệt mỹ
Yêu đi em, cho tình ta được thoả nguyền.

Tạo hóa sinh ra kỳ quan vĩ đại
Suy cho cùng nhất cái này thôi!
Nhân loại tồn sinh phát triển ở nơi này
Không có sẽ hư vô, phù phiếm cả.



9. EM ĐI NGHỈ MÁT
Viết tặng một thiếu phụ

Em đi nghỉ mát ở biển nào?
Anh nghe sóng vỗ giữa chiêm bao
Đêm nay thành phố mưa nặng hạt
Trong lòng anh cũng đổ mưa rào...

Anh nhìn em tắm giữa trùng khơi
Tấm thân lồng lộng trắng cả trời
Mơ em vùng vẫy trong làn biếc
Nằm ngửa phơi mình nắng thảnh thơi.

Anh hôn lên gió tít trên mây
Gửi tới nơi em vị môi say
Nụ hôn vào tận trong đồ tắm
Vui cùng với bướm của em bay.

Biển hỡi! Ôm em thỏa trong lòng
Tha hồ ve vuốt khắp mình em
Anh mơ hóa được ra dòng nước
Để tắm cho em tận ngách cùng

Mở trái tim em đón anh vào!
Như trời ôm biển để bay cao
Mai rầy anh sẽ bay tới đó
Những tháng năm còn với em trao.

Viết mấy dòng thơ gửi tới em!
Những ngày nghỉ mát biển xanh êm
Bến trăng em ạ! Ta vùng vẫy
Tắm thỏa thân em lẫn tình duyên.



10. CÔ ÁO TRẮNG
Tặng BN

Anh lại có một cô áo trắng
Mắt nàng nhìn trong biếc mùa thu
Mái tóc xõa, bầu vú nàng hưng phấn
Ngủ đi em! Nghe bài thơ anh ru…

Đất Sài Gòn mùa xuân đến trong mơ
Có em tôi đi giữa đêm dài thành phố
Em ơi em… những khi trời trở gió
Có thấy bóng anh về thao thức bên em?

Anh nhè nhẹ hôn thầm ở dưới ánh đêm
Em khoả thân mình để hoá thành nữ thánh!
Áo em trắng hay là da em trắng
Có em rồi cuộc sống sẽ vô biên…

Ta mặc cho năm tháng chảy, nghe em!
Chỉ có anh và em, chỉ có trời và đất
Thế giới văn minh ta không cần gì hết
Em dẫn anh vào buổi hoang muội nguyên sơ.

Đêm Sài Gòn khi ấy sẽ như mơ
Em bọc trong anh không cần quần áo
Ôi! Nguyệt em đây một động sâu huyền ảo
Chứa cả thiên đường và vũ trụ bên trong

Em đừng hỏi vì sao anh yêu em!

Anh lại có một cô áo trắng
Vào buổi hoàng hôn hoang vắng cuộc đời
Đôi mắt nàng cả trời thu đẹp lắm
Bầu vú nàng mùa hoa trái sinh sôi...
                             Phạm Ngọc Thái



11. GẶP EM GIỮA TẦNG MÂY

Làn mây trắng lững lờ trôi vũ trụ
Hồn ta bay lạc lõng khắp thiên hà
Gặp lại em giữa miền gió thổi
Hạnh phúc về trên khoé mắt em xa...

Người đàn bà tháng năm không có tuổi
Ta man mê trong nhan sắc tuyệt trần
Nhớ buổi đã cùng nàng nông nổi
Trên chiếc giường êm cả hai đứa không quần.

Những tối xưa vẫn thầm nghe em nói
Con đường ta đi giờ cỏ dại mọc đầy lên!
Cuộc sống bộn bề và sương khói
Hàng cây ru theo khúc nhạc quê hương.

Chính trị thì trạch lươn, kiếp trần gian nhiều nợ quá!
Chỉ tình yêu em là vào cõi trường sinh…



12. NGUYỆT CỦA CHỊ HẰNG
VÀ NGUYỆT CỦA EM


Nguyệt của chị Hằng giống nguyệt em không nhỉ?
Kỷ niệm dưới hàng cây lá đổ!
Nhớ không em bao đêm
Ta đã cùng nhau trong trăng…

Đêm động tình nguyệt em hoá mênh mang
Khi vơ vẩn giống vầng trăng khuyết
Lúc buồn đau lại khép nguyệt vào trong.

Và thế giới sẽ chỉ là cái bóng
Với những hồn ma vất vưởng chơi vơi
Nếu như em không có nguyệt
Thì loài người làm gì còn sự sống nữa, em ơi!

Nguyệt em mở ra một hang động tuyệt vời…
Ta bất chấp hiểm nguy lao vào đó
Dù buổi mát trời hay đầy mưa gió
Nguyệt em là ánh sáng để ta soi!
                            Phạm Ngọc Thái



13. GIÁ TRỊ CỦA NÀNG

Không có nàng mọi giá trị đều là giẻ rách!
Nàng là ngọn lửa linh hồn cho các tổng thống đọc diễn văn
Tấm thân nàng lõa ra chói ngợp hơn mọi thứ văn minh
Và khi nàng uốn cầu vồng
vua chúa cũng phải hạ mình, cúi gập.

“Giống” của em là động tiên trên bờ bãi nhân gian
Cho cuộc sống, quê hương ngàn năm bất diệt!
Nếu không có nàng
Không cần cả tổng thống lẫn tuyên ngôn!



14. GỬI EM QUÃNG ĐỜI CHIỀU
Tặng nữ thi sỹ Thuận Vy - Nhân đọc tập thơ
"Giấc mơ ban mai" của em

Anh lắng những dòng thơ “mơ giấc ban mai”
Lặng lẽ đón trái đời ngọt lịm
Hôn nhè nhẹ đôi môi hồng bịn rịn
Tình muôn đời, hạnh phúc đẫm đầy tay.

Xin ào ạt lên giông bão của ta ơi!
Sóng cũng cấu vụn em đừng tiếc tưởng
Anh làm biển làm hồ cho em tắm
Thành phố chúng mình vui nhỉ? đón đôi ta!

Con thuyền tình khả ái với phong ba
Ta cúng nén hương thơm trái tim thời con gái!
Em hoá thánh dù cởi truồng không che đậy
Êm đềm trôi và nước mắt tuôn trào...

Biển rì rào! Biển vẫn rì rào!
Hàng thông anh reo hát lời vô tận
Ta dẫu chết nhưng hai trái tim không yên lặng
Anh yêu em không cần có áo quần.

Hãy ào ạt đi giông bão của tình em!
Sóng gào thét đừng bao giờ phẳng lặng
Vì tất cả rồi sẽ vào cõi vắng
Dầu anh có thương em vỗ tan bờ…

Hãy ào ạt lên cho cuồng loạn những dòng thơ
Giây phút cuối ta ghì xiết lấy nhau,
xé hư vô thành điên dại!



15. HÀNG QUÍ CỦA NHÂN DÂN

Chiếc váy ngắn em khoe đùi trắng nõn
Vầng nguyệt non mấp mé bên trong
Nửa em che nửa lại muốn tuông
Phố đang buồn bỗng nhiên tình tứ.

Em hãnh diện với bộ đồ thiếu nữ
Giữa chiều đông rạo rực những con tim!
Bướm của em là hàng quí nhân dân
Che cho kín, em ơi! Mà sinh nở…

Hà Nội
Phạm Ngọc Thái
———————–
Bài viết do tác giả gửi đến VANGANH.INFO
———————–
Ai muốn thưởng lãm 50 TÌNH THƠ HAY XUẤT SẮC THẾ GIAN CỦA PHẠM NGỌC THÁI
Đọc tiếp…

Video: Có Phải cảnh sát biển Việt Nam chửi Trung Quốc khi đụng độ trên biển?

04:22 |
Có Phải cảnh sát biển Việt Nam chửi Trung Quốc hay là bọn TQ lồng tiếng để sỉ nhục binh sĩ Hải Quân Việt Nam khi đụng độ trên biển vào ngày 27-06-2012?

Dưới đây là cuộc đàm thoại giửa tàu cảnh sát biển Việt nam và tàu hải giám Trung quốc từ video clip...

Tàu Trung Quốc:

“Tàu Việt Nam, chúng tôi là tàu công vụ chính phủ Trung Quốc, chúng tôi rất tiếc về những ngôn ngữ thô lỗ và mất lịch sự của tàu anh. Tàu anh nên chú ý thân phận và ngôn ngữ của mình. Over”.

Tàu Việt Nam:

“ĐM trên bờ chúng mày quấy nhiễu rồi… hết ở trên bờ đến chúng mày xuống biển. ĐM tổ sư bố chúng mày!

Đề nghị Trung Quốc cút ngay khỏi lãnh thổ Việt Nam, không chúng tao bắn chết!

ĐM nó, giờ này làm đủ trò. Thằng này âm mưu đểu lắm! ĐM nó hết nịnh Campuchia để ngăn đập, các thứ… ĐM… Tây nguyên… ĐM bố chúng mày!

Cút mẹ chúng mày về đi…”



© VAOL
Đọc tiếp…

"Chính nhà Thanh thừa nhận lãnh thổ Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam"

00:04 |
“Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do Trung Quốc xuất bản hơn 100 năm nay rất có ý nghĩa vì đó là sự thừa nhận chủ quyền quản lý của nhà Thanh chỉ đến đảo Hải Nam, ít nhất cho đến đầu thế kỷ 20”, nhà sử học Dương Trung Quốc đánh giá.
(Dân trí)
Nhà sử học Dương Trung Quốc có cuộc trao đổi tại buổi lễ tiếp nhận tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do tiến sỹ Mai Hồng hiến tặng Bảo tàng Lịch sử quốc gia sáng nay, 25/7.

"Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” được lập dưới thời nhà Thanh, xuất bản cách đây hơn 100 năm thừa nhận chủ quyền quản lý của họ chỉ đến đảo Hải Nam, không hề có Hoàng Sa, Trường Sa. Đây là một căn cứ khẳng định thêm chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa trong bối cảnh tranh chấp trên biển Đông hiện nay?

Hoàng Sa và Trường Sa - chân lý lịch sử đã khẳng định chủ quyền đối với 2 quần đảo thuộc về Việt Nam. Trong thư tịch của chúng ta đã nói về việc các chúa Nguyễn cử những đoàn hải đội Bắc hải, đoàn Hoàng Sa đến những hòn đảo ấy. Chúng ta cũng biết rằng năm 1834, triều Minh Mạng đã có bản đồ vẽ rất cụ thể về dải vạn lý Trường Sa trên biển Đông.
Nhà sử học Dương Trung Quốc: “Tìm tòi nguồn tư liệu làm phong phú lịch sử dân tộc, trong đó có lịch sử chủ quyền là rất quan trọng”.
Như vậy, có thể nói thư tịch và bản đồ của các triều đại Việt Nam đều đã thể hiện vị trí Hoàng Sa, Trường Sa. Trong khi đó, những hoạt động mang tích chất quản lý chủ quyền trên bản đồ Trung Quốc lại không đề cập tới hai quần đảo này. Đây là một yếu tố quan trọng khi xác lập chủ quyền về mặt lịch sử, đặc biệt trong bối cảnh xảy ra tranh chấp hiện nay.

Vì thế việc phát hiện tấm “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do chính người Trung Quốc làm chính là sự thừa nhận chủ quyền quản lý của nhà Thanh, ít nhất là cho đến đầu thế kỷ 20 (như niên đại bản đồ là năm 1904), chỉ đến đảo Hải Nam, tôi cho là rất có ý nghĩa. Bản thân tấm bản đồ sưu tập được này cũng rất có giá trị vì được xuất bản hơn 100 năm trước, là sản phẩm của nền bản đồ học của Trung Hoa.

Việt Nam có văn bản sử sách nào tương ứng với tấm “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” này có giá trị đối chiếu về chủ quyền lãnh thổ?

Theo tôi, chúng ta không cần phải so sánh việc này, vì gần 100 năm trước khi “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” xuất bản (năm 1834), chúng ta đã khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa trên bản đồ Việt Nam. Nếu như dựa vào các thư tịch của các triều đại Việt Nam thì Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về chúng ta còn lâu hơn nữa.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia được tiếp nhận tấm bản đồ do chính tay người Trung Quốc lập hơn 100 năm trước thừa nhận việc không có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa trong khi nước này vừa tuyên bố thành lập cái gọi là "thành phố Tam Sa" càng có ý nghĩa đối với chúng ta?

Thực sự, tôi không có sự liên tưởng đến sự kiện cụ thể đó! Về những việc làm của Trung Quốc vừa qua, Nhà nước đã lên tiếng và tôi rất đồng thuận với cách đặt vấn đề như vậy. Trong lúc còn đang tranh chấp mà phía bạn có những động thái để biến thành "việc đã rồi" thì đó là cách làm không minh bạch.

Bằng chứng khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, chúng ta đã có. Còn việc bổ sung thêm những bằng chứng, tăng cường thêm ý thức của người dân trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo cũng rất quan trọng. Mỗi nhà khoa học cần tiếp tục nghiêm cứu, tìm tòi những nguồn tư liệu để làm phong phú lịch sử dân tộc, trong đó có lịch sử chủ quyền. Tôi cho rằng điều đó cũng rất quan trọng.

Ông nhấn mạnh trách nhiệm của các nhà khoa học. Còn ở góc độ người trong ngành, ông mong muốn gì việc thể hiện vai trò quản lý của nhà nước, tiếng nói của chính quyền?

Chúng ta đừng tách việc của chính quyền hay của giới ngành nào ra. Tôi nghĩ rằng đây là trách nhiệm chung của cả Nhà nước và công dân. Cụ thể như việc làm của tiến sĩ Mai Hồng hiến bản đồ sau hơn 30 năm lưu giữ cho Nhà nước cũng trách nhiệm chung. Những cơ quan như của Bộ Ngoại giao, Cục Lưu trữ cũng thu thập được rất nhiều bằng chứng.
“Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do người Trung Quốc vẽ cách đây hơn 100 năm cho thấy họ đuối lý khi tranh chấp ở biển Đông.
Như ông nói, các cơ quan chức năng của chúng ta nắm thừa đủ bằng chứng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ hàng trăm năm nay. Tuy nhiên, nhiều người dân còn chưa biết đến những cứ liệu lịch sử này. Làm cách nào để cả người dân Việt Nam và Trung Quốc đều biết những thông tin này?

Việc phát hiện "Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ" lần này làm cho chúng ta nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm phải tiếp tục thu thập tài liệu bảo vệ chủ quyền dân tộc, gồm sách vở, bản đồ, không những của chúng ta mà của cả Trung Quốc và nhiều nước khác nữa.
Việt Nam nằm trong không gian trọng yếu của con đường vận tải biển. Vì vậy, biển Đông được thể hiện rất nhiều trên bản đồ của các nước phát triển hàng hải trên thế giới như Hà Lan, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Đức… Chúng ta phải có ý thức sưu tập các tài liệu để có thêm bằng chứng thuyết phục khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Điều đó còn cho thấy việc bảo vệ chủ quyền là dựa trên cơ sở lịch sử vững chắc.

Xin cảm ơn ông!
Dân Trí
Đọc tiếp…