07/12/12 - VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Phong trào Con Đường Việt Nam đang nói láo về "tự do nhân quyền"

Đăng bởi Biên tập viên vào Thứ năm, ngày 12 tháng bảy năm 2012

Kính gửi ông Lê Thăng Long (đồng sáng lập PT CĐVN)
Kính gửi ông Nguyễn Công Huân (Biên tập Dân Luận)

C/c kính gửi các cô, chú:

Quay trở lại trang web của PT CĐVN: "http://www.conduongvietnam.org"
Khi nhìn phía cạnh bên trái trang Web có một khung giới thiệu những "phản hồi mới nhất" về bài viết đã đăng trong "Blog" của phong trào. Các bài viết thay đổi vị trí thường xuyên và thông báo có comment mới. Tuy nhiên khi click vào để xem comment thì... vẫn chỉ là những comment cũ!! Mà những comment này đều có số #number cách xa nhau mà không phải là liền kề.

ông Lê Thăng Long (đồng sáng lập PT CĐVN)
Phong trào CĐVN đang kiểm duyệt "tư tưởng" người quan tâm đến phong trào ư??? Vì sao lại chặng những comment khác??? Như vậy thì có ý nghĩa gì về tự do nhân quyền???

Một mặt phong trào kêu gọi mọi người tham gia, nhưng mặt khác thì lại chặng "quyền thể hiện chính kiến" của người khác thì có cái gì để mà gọi là tự do nhân quyền, tự do ngôn luận???

"Phong trào Con Đường Việt Nam là một phong trào mở, dành cho tất cả mọi người Việt Nam trong và ngoài nước, không phân biệt quan điểm chính trị, tôn giáo, nghề nghiệp, tuổi tác, nguồn gốc xuất thân,..."

PT CĐVN đang nói láo, nói láo công khai!!!

PT CĐVN có nói đến tự do, và có đăng 2 bài viết về tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền.... Ờ thì đó là quyền tự do của người khởi xướng phong trào (cá nhân ông Long). Nhưng chúng ta cần nhớ rằng, đây là một phong trào mở chứ không phải là một phong trào khép kính!!!

Trang web PT CĐVN không phải là một hoạt động cơ quan báo chí như BBC, VOA, RFA, báo Calitoday, v.v.... Mà có thể cắt, hoặc chặn comment của mọi người!!! Nếu pt có chủ trương lược bỏ "quyền tự do ngôn luận của mọi người" dành cho PT CĐVN thì cần phải dán thông báo nêu rõ quan điểm đó của phong trào!!! Cần phải có thông báo "Giới hạng tự do ngôn luận" của mọi người khi tham gia vào Blog cá nhân PT CĐVN!!!

Chính PT CĐVN dùng tư tưởng HCM làm "gạch lót đường", nên.... hành động giống hệt. Đó là bịt mồm dư luận!

Điều tôi quan tâm kế đến gửi cho ông Nguyễn Công Huân, một biên tập viên của trang Dân Luận. Tôi muốn hỏi ông: Trang blog Dân Luận có quyền tự do đăng các bài viết chỉ trích chính quyền, đã kích cộng sản Việt Nam, đã kích sự mất tự do nhân quyền trong nước. Vậy bản thân ông là một người sáng lập PT CĐVN, ông nghĩ gì khi trang web PT CĐVN lại chặng và lọc comment của mọi người, khi PT CĐVN là một PT mở???

Các ông đang tranh đấu cái gì, tự do cá nhân quyền hay tự do nhân quyền???

Câu hỏi gửi ông Lê Thăng Long: Tại sao từ khi các ông công bố phát động PT CĐVN đến nay, chúng tôi chỉ thấy ý kiến của ông Long và ông Thức, cũng như phía gia đình ông Thức là bác Huỳnh... Vậy ý kiến của ông Định và gia đình ông Định đâu.??? Tiếng nói của ông Định đâu??? Các ông hành xử và đối xử với ông Định như thế ư???

Vì sao các ông lại có chủ trương "bịt mồm dư luận" trên chính trang blog của PT CĐVN???

Các ông gửi thư đến Liên Hiệp Quốc, các ông gửi thư đến chủ tịch quốc hội để làm gì??? Tranh đấu cho quyền "bịt mồm dư luận ư" của các ông ư???

Các ông kêu gọi tranh đấu cho nhân quyền,.... Nhưng các ông lại công khai bịt mồm dư luận, thì đâu gọi là tư cách hoạt động, tranh đấu nhân quyền của các ông???

Các ông đang kêu gọi "tất cả mọi người Việt Nam trong và ngoài nước, không phân biệt quan điểm chính trị, tôn giáo, nghề nghiệp, tuổi tác, nguồn gốc xuất thân". Nhưng, các ông đã thể hiện tính tự do nhân quyền như thế nào khi tự quyết, tự đăng, tự tán dương tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền.??? Các ông đã tổ chức gì về dân chủ để dẫn đến quyết định đăng tải 2 bài viết tán dương tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền???

Theo cách kêu gọi của các ông "không phân biệt đảng phái, tổ chức"..... Các ông nghĩ gì khi cho các ông cái quyền "Phong trào Con đường Việt Nam phản đối những sự thay đổi mang tính cách mạng loại trừ và mọi sự áp đặt từ trên xuống mà không thông qua sự thuyết phục nhân dân", các ông có áp đặt người khác về cái quyền được phản đối của các ông không???

Các ông có đòi hỏi sửa đổi, hoặc bỏ điều 4 hiến pháp của Việt Nam không???

Theo các ông, các ông đang tranh đấu đòi hỏi đa đảng, vậy đa đảng ở đây là bao nhiêu đảng? Hay chỉ là 2 đảng? VD: "Đảng cộng sản cực đoan" và "đảng tư sản đỏ" đấu đá nhau tự do và công khai hóa thì gọi là đa đảng.

Khi trả lời phỏng vấn đài BBC, ông Long có nói đến việc ông nhận tội chống nhà nước, ông có nói chuyện với cán bộ và cán bộ có trả lời một số thứ liên quan đến việc nhận tội và khiếu nại, tố cáo. Nhưng trong thư giải trình của ông Long thì ông Long lại nói luật sư Định xúi ông làm chuyện đó, mà không nói gì đến việc ông nói chuyện với cán bộ...!!!

Vậy chúng tôi tin được gì ở ông??? Chúng tôi có thể tin được gì, khi sau này các ông viết về ý kiến của ông Định và gia đình của ông Định trên Blog CĐVN???

Các ông có quá nhiều mâu thuẫn và tự gây mâu thuẫn... Các ông phản đối sự áp đặt từ trên xuống, nhưng chính các ông lại áp đặt quyền được phản đối của các ông lên người - đảng - tổ chức khác... Các ông tuyên truyền tranh đấu tự do nhân quyền, nhưng các ông lại chặn phản hồi (quyền tự do ngôn luận) của mọi người dành cho các ông.... Các ông không thể hiện được tính tự do và dân chủ khi tán dương tư tưởng Hồ Chí Minh công khai mà không qua hình thức dân chủ và tự do biểu quyết của mọi người, khi PT là mở!!!

Điều các ông đang làm hoàn toàn đi ngược lại những gì các ông kêu gọi! Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm....

Các ông gửi thư lên Liên Hiệp Quốc, các ông gửi thư lên chủ tịch quốc hội.... Và tôi gửi thư cho các ông, tôi không biết các "ông" kia có phản hồi thư của các ông không, nhưng tôi gửi lá thư này cho ông Long, cho ông Huân, cho PT CĐVN, cho người tham gia sáng lập PT CĐVN, tôi gửi thư này cho các cơ quan truyền thông. Và tôi hy vọng nhận được phản hồi đi vào trọng tâm các câu hỏi của tôi dành cho các ông!!!

Trân trọng.

Mai Sỹ Xuân Lâm
Theo Dân Luận


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Nóng vội!

Tại hội nghị sơ kết sáu tháng đầu năm và triển khai kế hoạch sáu tháng cuối năm của ngành ngân hàng vào cuối tuần trước, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình thúc giục các ngân hàng phải kéo lãi vay nợ cũ xuống dưới 15%/năm.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình,
 nguồn vnexpress
Trong bối cảnh dư luận xã hội đang bất bình ngành ngân hàng vẫn cứ lãi lớn bất kể khó khăn của doanh nghiệp, lời thúc giục này ắt sẽ được nhiều người ủng hộ. Các doanh nghiệp đang phải vay vốn với lãi suất cao, không tiếp cận được các khoản vay ưu tiên, sẽ càng tán thành quan điểm của Thống đốc.

Thế nhưng xét ở bình diện nguyên tắc thị trường, chỉ thị của Thống đốc NHNN có nhiều điểm đáng bàn.

NHNN tác động vào mặt bằng lãi suất trên thị trường thông qua các loại lãi suất điều hành như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu. Một loạt các loại lãi suất này vừa được NHNN điều chỉnh giảm từ đầu tháng 7 như lãi suất tái cấp vốn giảm từ 11% xuống còn 10%, lãi suất tái chiết khấu giảm từ 9% xuống còn 8%. Chính sách thường cần một thời gian để phát huy tác dụng, chứ không thể nóng vội sử dụng ý chí ra lệnh hành chính. Thật ra, từ đầu năm đến nay NHNN đã năm lần điều chỉnh giảm các loại lãi suất điều hành; nếu thị trường không hồi đáp với chính sách điều chỉnh, chứng tỏ sự điều hành của NHNN chưa đủ liều lượng hoặc thị trường đang có những đặc điểm làm cho sự xoay chuyển của NHNN khó khăn hơn nhiều lần.

Đặc điểm thứ nhất là hệ thống ngân hàng hiện không có động lực để cạnh tranh lành mạnh trong khi lãi suất cho vay chỉ có thể giảm khi các ngân hàng cạnh tranh nhau để cho vay. Trong con mắt của công chúng, ngân hàng tốt cũng như ngân hàng yếu kém đều được sự bảo bọc, che chắn của NHNN trong khi cạnh tranh để cho vay trong bối cảnh hiện nay là điều đem lại nhiều rủi ro cho ngân hàng. Chỉ khi nào NHNN loại bỏ yếu tố che chắn cho mối nguy đạo đức (moral hazard) thì mới mong khơi dậy yếu tố cạnh tranh ở các ngân hàng.

Đặc điểm thứ hai là nền kinh tế trong mấy năm gần đây đã trở thành con tin của hệ thống ngân hàng khi doanh nghiệp quá phụ thuộc vào vốn vay – mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính lên quá cao – không thể một sớm một chiều mà hóa giải ngay được. Theo chuyên gia kinh tế Jonathan Pincus trong một bài viết trên tờ Financial Times, tín dụng ngân hàng trên GDP đã tăng gấp đôi từ 62% vào năm 20005 lên đến 136% năm 2010. Tín dụng tăng vọt sau hai đợt: đợt đầu do dòng vốn bên ngoài chảy vào trong các năm 2007 và 2008; đợt sau do dòng vốn kích cầu chống suy thoái năm 2009 và đầu năm 2010. Bùng nổ tín dụng như thế đương nhiên dẫn tới nợ xấu. Ngân hàng hiện phải lo giải quyết nợ xấu cũng đã ngập đầu – làm sao trông mong họ giảm lãi suất để tăng cho vay? Ngược lại ở phía doanh nghiệp, làm sao để giảm bớt tỷ lệ vay nợ so với tỷ lệ vốn chủ sở hữu là xu hướng nên không thể trông mong họ hăm hở đi vay như những năm tín dụng dễ dãi trước đây.

Mới chỉ cách đây mấy tháng, báo chí liên tục đưa tin tăng lãi suất để chống lạm phát. Nay không thể đột ngột quay ngoắt 180 độ, thúc giục giảm lãi suất nếu không muốn lạm phát bùng nổ trở lại. Lãi suất tăng đã làm bộc lộ những yếu kém của cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng. Một bên là đầu tư kém hiệu quả, bung ra tràn lan, nhất là sang lãnh vực địa ốc; một bên là khả năng quản lý rủi ro còn kém, lại ham chạy theo lợi nhuận, bất kể rủi ro. Những khó khăn vừa qua là bộ lọc, sàng lọc doanh nghiệp mạnh, làm ăn đàng hoàng, bền vững. Sao không hỗ trợ xu hướng đó mà lại vội vã thúc đẩy lòng tham của ngày trước bùng phát trở lại?

© Nguyễn Vạn Phú
Theo blog Nguyễn Vạn Phú


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Phiên xử lần thứ 4 Trung tá công an đánh chết dân

Sáng ngày 06/07/2012, gia đình chúng tôi một lần nữa nhận được giấy triệu tập của Tòa án, thông báo về phiên xử phúc thẩm vụ án Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh chết bố tôi – ông Trịnh Xuân Tùng. Vụ án kéo dài đến nay đã được gần một năm rưỡi. Tôi chưa từng nghĩ rằng với nhân chứng, tội danh và biên bản giám định pháp y đã được cung cấp cho cơ quan điều tra rõ ràng thì vụ án sẽ bị kéo dài lâu đến thế, thời gian trôi qua thật chậm đối với chúng tôi.

Phiên tòa sơ thẩm lần đầu tiên được diễn ra ngày 13/01/2012 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội – 43 phố Hai Bà Trưng, Hà Nội diễn ra rất nhanh chóng, một phiên tòa sơ sài và bất công với tội danh “làm chết người trong khi thi hành công vụ” và bản án 4 năm tù giam dành cho bị cáo Nguyễn Văn Ninh, tất cả những người đồng phạm như dân phòng và trực ban phường Thịnh Liệt đều không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào. Gia đình chúng tôi đã phản đối kịch liệt và kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm ngày 13/01/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Ngày 14/05/2012, sau hơn 4 tháng chờ đợi, phiên tòa phúc thẩm lần đầu tiên đã diễn ra tại Trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Hà Nội – sô 262 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội. Đây là một phiên xử khép kín, báo chí và ngay cả anh chị em ruột của bố tôi cũng không được tham dự. Phiên tòa đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự khi mà HĐXX không triệu tập đầy đủ nhân chứng và những người có trách nhiệm liên quan gây ra cái chết của bố tôi, vì vậy gia đình chúng tôi đã yêu cầu hoãn lại phiên tòa đề nghị triệu tập đầy đủ những người liên quan.

Tiếp tục đến ngày 06/06/2012, chúng tôi nhận được giấy triệu tập của tòa án thông báo về lịch xử phúc thẩm sẽ diễn ra vào ngày 18/06/2012, tại Trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao số 48 phố Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Nhưng một lần nữa phiên tòa lại bị hoãn với lý do chủ tọa bị ốm đột xuất. Một lý do có thể được xem là chính đáng nhưng gây ra không ít khó khăn cho việc đi lại và làm việc của cá nhân tôi.

Một tháng sau, ngày 06/07/2012, một lần nữa chúng tôi nhận được giấy triệu tập của Tòa án thông báo, phiên xử sẽ diễn ra vào ngày 17/07/2012 sắp tới đây. Chưa biết phiên tòa phúc thẩm này sẽ được tiến hành như thế nào? Liệu còn có “lý do chính đáng” nào sẽ được đưa ra để hoãn phiên tòa nữa không? Nhưng một điều chắc chắn rằng gia đình chúng tôi sẽ tham dự với tinh thần tìm lại công lý, sự thật và công bằng, nhằm góp phần chấm dứt vấn nạn công an – những người thừa hành luật pháp đánh chết dân.

Công lý phải được phục hồi, pháp luật phải thực sự nghiêm minh thì mới có thể chấm dứt được tội ác và những oan sai. Trong thời gian qua, nhiều người đã cùng đồng hành và luôn bên tôi trên con đường công lý. Một lần nữa tôi thật sự mong muốn sự có mặt của mọi người trong phiên tòa sắp tới. Ngày hôm nay, tôi đã gửi lời mời đến hơn 700 cô chú, anh chị em từ khắp nơi với tấm lòng biết ơn và chân thành nhất.

Đồng thời, với hy vọng các cơ quan báo chí sẽ không im lặng trước những sự việc công an đánh chết dân, các chú/bác/anh/chị phóng viên sẽ dùng ngòi bút với sự công tâm và trung thực nhật để góp tiếng nói mạnh mẽ bảo vệ người dân vô tội, tôi cũng đã tiếp tục gửi thư đề nghị báo chí tham dự và thông tin phiên tòa phúc thẩm xử Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh tới báo Tuổi Trẻ, báo Pháp Luật Việt Nam, báo Pháp Luật và Xã Hội, báo Thanh Niên, báo Người Lao Động, báo Điện tử Vnexpress, báo Sài Gòn Tiếp Thị… cùng toàn thể các ban ngành báo chí Việt Nam thông báo về phiên xử phúc thẩm sẽ diễn ra vào ngày 17/07/2012.

Một lần nữa, tôi xin cảm ơn tất cả mọi người đã dành thời gian để đồng hành và ủng hộ tinh thần của tôi và gia đình trong suốt thời gian qua.

© Trịnh Kim Tiến
Theo blog Trịnh Kim Tiến

--------------------------



THƯ MỜI THAM DỰ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM
VỤ ÁN TRUNG TÁ CÔNG AN GIẾT NGƯỜI
Kính thưa các bác, các cô-chú cùng anh, chị, em và bạn bè thân mến,

Con (em) là Trịnh Kim Tiến, con gái ông Trịnh Xuân Tùng – nạn nhân trong vụ án trung tá công an Nguyễn Văn Ninh giết người vào hồi tháng 2/2012.

Sau 11 tháng tạm giam, khởi tố hình sự vụ án, công an thành phố Hà Nội đã đưa ra xét xử lần đầu tiên tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố - số 43 Hai Bà Trưng, Hà Nội vào ngày 13 tháng 01 năm 2012.

Tuy nhiên, ở phiên tòa sơ thẩm, các nhân chứng bên bị cáo – là những người có nghĩa vụ và trách nhiệm trực tiếp liên quan đến vụ án đã không được triệu tập theo yêu cầu của luật sư. Phiên tòa đã tạm kết thúc với mức án 4 năm tù dành cho trung tá Nguyễn Văn Ninh với tội danh: “làm chết người trong khi thi hành công vụ”, không truy cứu trách nhiệm của những công an trực ban, dân phòng có mặt tối hôm xảy ra sự việc.

Sau 6 tháng và 2 lần tạm hoãn phiên xử phúc thẩm, nay gia đình con (em) đã nhận được giấy triệu tập của Tòa án nhân dân tối cao Hà Nội, thông báo về phiên phúc thẩm sẽ diễn ra sắp tới đây vào lúc 8h ngày 17 tháng 07 năm 2012 tại trụ sở Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân Hà Nội - 262 Đội Cấn.

Với tinh thần theo đuổi đến cùng công lý, sự thật và công bằng, nhằm góp phần chấm dứt thảm trạng công an- những người thừa hành pháp luật đánh chết người dân, con (em) xin gửi đến các bác, các cô-chú cùng anh, chị, em và bạn bè quan tâm theo dõi diễn tiến của vụ án này, lời mời tham dự phiên tòa xét xử công khai trung tá Nguyễn Văn Ninh.

Con (em) chân thành cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành, ủng hộ và khuyến khích tinh thần của gia đình nói chung và con (em) nói riêng trong thời gian qua.

Bố của con (em) đã không còn nhưng còn nhiều người khác mà con không muốn thấy họ sẽ phải trải qua những nỗi khổ đau, oan ức mà gia đình con (em) phải chịu. Công lý phải được phục hồi, pháp luật phải nghiêm minh thì mới chấm dứt được tội ác và những oan sai. Ước mong rằng các bác, các cô-chú cùng anh, chị, em và bạn bè sẽ luôn đồng hành với con (em) để cùng nhau trên con đường nỗ lực đi tìm công lý, sự thật và công bằng cho đồng bào và đất nước thân yêu. Sự có mặt của mọi người trong phiên tòa sắp tới vào lúc 7h ngày 17 tháng 07 năm 2012 tại 262 Đội Cấn là một niềm khích lệ và hỗ trợ tinh thần lớn lao đối với con (em).

Một lần nữa, con (em) xin cảm ơn tất cả mọi người đã dành thời gian để đồng hành và ủng hộ tinh thần của con và gia đình trong suốt thời gian qua.

Trân trọng,
TRỊNH KIM TIẾN


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Thể lệ cuộc thi "Tiếng hát hữu nghị Việt - Trung lần thứ III - năm 2012"


Đài Truyền Hình Quảng Ninh Việt Nam.

QTV - Thể lệ cuộc thi "Tiếng hát hữu nghị Việt - Trung lần thứ III - năm 2012"

Bài Liên Quan: Lễ khởi động Cuộc thi “Tiếng hát Hữu nghị” 2012 và Giao lưu Hữu nghị sinh viên Trung-Việt diễn ra tại Bắc Kinh

-----------------------
Nguồn: Thể lệ cuộc thi "Tiếng hát hữu nghị Việt - Trung lần thứ III - năm 2012" - QTV.VN (Đài Truyền Hình Quảng Ninh)


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Blogger Điếu Cày được gặp người thân

Ông Nguyễn Văn Hải, tức blogger Điếu Cày, từng tham gia những cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Sài Gòn hồi năm 2007.

Blogger Điếu Cày trong một lần biểu
tình chống TQ năm 2007.
Photo courtesy of luongtamconggiao
Tiếp đó, ông tham gia Câu lạc bộ Nhà báo tự do với những bài viết trên mạng nói về tình hình lãnh thổ đất nước bị xâm lấn, cũng như những vấn nạn khác ở Việt Nam.

Ông bị bắt với cớ là trốn thuế, nhưng sau khi mãn hạn tù về tội danh đó, ông đã bị bắt lại ngay hồi tháng 10 năm 2010. Mãi đến gần đây ông mới được cho phép gặp mặt người thân là đứa con trai- Nguyễn Trí Dũng. Lần gặp thứ hai diễn ra hồi ngày 3 tháng 7 vừa qua.

Cháu Nguyễn Trí Dũng chia sẻ về tình hình blogger Điếu Cày, Nguyễn Văn Hải sau lần gặp đó.

Tình hình sức khỏe

Nguyễn Trí Dũng: Lần gặp vừa rồi là lần gặp thứ hai của con với bố. Suốt thời gian từ năm 2010, thời gian lẽ ra ông phải mãn hạn tù nhưng bị bắt giam lại ngay lập tức, cho đến bây giờ con mới được gặp ông lần thứ hai. Trong suốt thời gian đó, gia đình gửi rất nhiều đơn nhưng họ không giải quyết và không trả lời, mà gần đây gia đình mới được gặp.

Gia Minh: Việc gặp lần này do họ thông báo, hay gia đình làm đơn?

Nguyễn Trí Dũng: Theo con nghĩ, thời điểm này cho mới cho gặp vì có áp lực rất lớn từ phía bên ngoài: những người Việt quan tâm, rồi tác động của những tổ chức nhân quyền, và của chính phủ Hoa Kỳ lên tiếng vì trường hợp của gia đình con… Như thế họ phải cho con gặp bố. Thứ nhất để khẳng định bố con vẫn còn sống, và để tránh khỏi phải gặp những rắc rối.

Trong lần gặp thứ hai này khi con vào thì thấy bố vẫn đi lại, nói chuyện bình thường. Da thì trắng bệch, và ông có vẻ hơi mập. Nếu nhìn bên ngoài, nghe bố nói thì người ta có thể nghĩ là bố khỏe; nhưng khi gia đình gặp nhau nói chuyện thì mới biết ông đã trải qua những cuộc tuyệt thực rất dài. Hậu quả của việc tuyệt thực là u nang thận phải và loét năm chỗ ở dạ dày. Đó cũng là lý do khiến cho da dẻ ông bị trắng và ứ nước bên trong như thế. Theo con nghĩ đó không phải là khỏe mà là dấu hiệu của bệnh.

Thêm một điều nữa ông nói là tất cả những trại giam khác không tịch thu kính của ông; nhưng ở trại giam này bị tịch thu kính. Nhiều lần yêu cầu họ trả kính, cũng như đề nghị những người ở Viện Kiểm sát phải giải quyết việc có kính cho ông vì tất cả các phạm nhân đều bình đẳng như nhau: họ phải được thăm gặp, phải được cung cấp giấy bút và kính- đó là những phương tiện để học tập, viết lách. Riêng ông không được có những thứ đó.

Vì không có giấy bút để viết đơn khiếu nại, đơn tố cáo nên khi bị giam ở trại giam B34 từ ngày 12 tháng 11 năm 2010 đến ngày 29 tháng tư năm 2011, ông phải khiếu nại rất nhiều và vì không được cung cấp giấy, bút nên ông đã tuyệt thực. Ông bắt đầu tuyệt thực từ ngày mồng năm tết, tức vào khoảng tháng 2 năm 2011.

Tuyệt thực được 8 ngày thì phía bên trại giam có động thái gửi quà của những lần thăm gặp của gia đình trước đó. Họ gửi cùng một lúc 7 kỳ cho bố. Còn tất cả những lần trước đó họ đều không chuyển, nên bố không biết gia đình có đi thăm gặp và có gửi tiền. Mỗi một kỳ thăm gặp cách nhau nửa tháng, nếu họ để 7 kỳ gửi cùng một lúc như thế, thì tất cả những đồ ăn không thể nào ăn được nữa. Một điều nữa là tiền gia đình gửi cho ông rất đều đặn mà ông được nhận rất ít vì bị họ ngăn chặn.

Sẵn nói về việc tuyệt thực, thì xin nói tiếp, đến ngày 28 bố con cho biết vào lúc 1 giờ sáng ngày 5 tháng 3 năm 2011, ông phải vào bện viện vì lúc đó bất tỉnh.

Tại bệnh viện họ mới phát hiện bị loét dạ dày ở 5 chỗ và u nang thận phải, chỉ số đường máu đo được bằng 0. Theo bố giải thích thì khi đường máu bằng 0, cơ thể không hấp thu được thứ gì hết. Lúc đó họ không thể cho thức ăn gì vào nên phải truyền nước biển. Khi hết chai nước biển thứ 4, bố mới bắt đầu hồi tỉnh. Khi từ bệnh viện về họ tiếp tục giam ông ở trại giam B34, mà không chuyển về trại giam như đúng trên giấy tờ đã ghi. Đến ngày 29 tháng tư họ mới chuyển về số 4 Phan Đăng Lưu. Ông nói khi từ bệnh viện về chỉ có thể ăn cháo chứ không ăn được bất cứ thứ gì khác hết.

Con trai blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vừa cho biết những thông tin về ông sau cuộc gặp hôm 3 tháng 7 vừa qua. Ngoài ra, anh cũng cho biết thêm một số thông tin về việc gia đình bị sách nhiễu và tình hình sức khỏe tinh thần của ông Nguyễn Văn Hải trong tù.

Tinh thần minh mẫn

Nguyễn Trí Dũng: "Tinh thần của Bố rất tốt. Lúc nào nói chuyện, bố cũng nói về những điều luật mà đáng lẽ ra họ phải chấp hành đúng những điều luật đó cho phạm nhân trong tù. Ông nghiên cứu rất kỹ và tinh thần rất minh mẫn nên nhớ hết những việc đó. Thậm chí sinh nhật của những người thân trong gia đình và những người ông biết, ông đều nhắc là nhờ Mẹ, hay nhờ người thân thích gửi những lời chúc mừng của Bố cho họ. Bố cũng dặn mọi người đừng lo lắng gì cho ông hết, vì trong ‘ đây’ ( nhà giam) ông chỉ ăn no, ngủ kỹ thôi, chứ không có vấn đề gì đáng phải lo đâu.

Gia Minh: Gia đình có mời luật sư, vậy tiến trình giúp bào chữa cho ông Nguyễn Văn Hải đến đâu rồi?

Nguyễn Trí Dũng: Luật sư đang cùng với gia đình tập trung vào tiến trình hiện tại, tức là hiện tại họ chưa đưa Bố ra xét xử. Họ đã thu hồi quyết định xét xử hồi ngày 15 tháng 5. Họ thu hồi mà không nói lý do gì hết.

Luật sư Hà Huy Sơn có nói cho gia đình biết là thời gian chuyển hồ sơ qua bên tòa án đã chấm dứt. Tòa án phải có quyết định một trong ba vấn đề sau: một là trả hồ sơ về để yêu cầu điều tra thêm, hai là phải đình chỉ việc bắt lại ông Nguyễn Văn Hải và trả tự do, ba là phải đưa ra xét xử.

Những đơn gửi ngày 29 tháng 6 đến nay vẫn không được trả lời. Gia đình tiếp tục làm đơn khiếu nại về việc không được trả lời đó.

Gia Minh: Đối với gia đình chỉ có một mình Nguyễn Trí Dũng được cho phép vào thăm ông Nguyễn Văn Hải, trong khi đó bà Dương thị Tân không được thăm?

Nguyễn Trí Dũng: Đây là điều mà gia đình cũng thắc mắc mà gia đình đang muốn họ giải thích. Tất cả những điều họ làm là phá cửa hai căn nhà của Mẹ con để khám xét. Đây là nơi mà bố không ở, từ khi ra ngoài ở riêng. Ông Nguyễn Văn Hải không có bất kỳ hoạt động nào trong nhà này hết. Nhưng họ vẫn vào nhà tịch thu tất cả máy móc, những đĩa ghi âm chứng tỏ họ cấu kết với bên Chi Cục Thuế để bắt ông Nguyễn Văn Hải về tội trốn thuế. Họ tịch thu mà không trả lại. Bây giờ họ không thể trả lời là Mẹ con không liên can đến vụ án, khi mà họ làm những điều đó. Nếu mẹ con có liên can đến vụ án thì họ không trả lời được tại sao họ không cho mẹ con thăm gặp bố con.

Gia Minh: Hẳn nhiên khi một người Cha phải vào tù như thế sẽ có những trở ngại đối với bản thân và các anh chị em trong gia đình?

Nguyễn Trí Dũng: Thật sự, gia đình rất khó khăn nhất là không có bố. Dù bố không ở chung với mẹ, nhưng thời gian có bố bên cạnh rất quan trọng. Thời điểm bố bị bắt hồi năm 2008, đứa em gái chưa đầy 18 tuổi, vẫn còn bé. Gia đình rất khó khăn trong việc giải thích cho em gái: không biết giải thích là em gái làm việc đúng nhưng lại phải hy sinh bản thân. Gia đình làm hết sức để em gái không gặp những người công an đứng trước nhà, suốt những thời gian có đại sứ quán hay phái đoàn nào đó về Việt Nam. Cuối cùng nỗ lực của gia đình không thành công. Ngày 20 tháng 10 năm 2010, họ đập cửa vào nhà và làm em gái bị thương.

Thời điểm đó, em gái rất bấn loạn. Gia đình cố gắng giúp giữ tinh thần để có thể tiếp tục học trong xã hội này, nhưng họ đập cửa vào nhà làm bấn loạn. Còn người chị không có ở trong nhà, nên ‘khuất mắt trông coi’, nhưng hay suy nghĩ những chuyện trong đầu như chuyện bố đã bị chết hay bị thủ tiêu rồi. Điều đó ảnh hưởng nhiều đến chị: sụt cân rất nhiều và bị bệnh rất nặng. Mẹ con cũng tương tự như thế. Họ tìm cách ngăn chặn nguồn sống của gia đình. Bà vừa phải đấu tranh với họ, vừa nuôi con, vừa kêu gọi bảo vệ cho bố và cho gia đình. Một người đàn bà chỉ có hai tay thôi, nên không thể làm gì hơn nữa.

Gia Minh: Đối với bản thân thì qua những khó khăn như thế đã học được điều gì?

Nguyễn Trí Dũng: Nói thật, lúc đầu con rất trách bố; lẽ ra thời gian đó bố phải ở bên em con. Bản thân con thì không sao, con có thể đi làm, nhưng em gái cần có bố.

Tuy nhiên khi vào cuộc, phát hiện ra những thủ đoạn, những việc làm ngang nhiên vào nhà làm những điều mà bất chấp cả những việc mà bất kỳ Nhà nước nào trên thế giới đều không được làm khi giao tiếp với người dân. Làm công vụ gì cũng phải có giấy tờ nhưng họ không cần giấy tờ. Họ không dùng nhân viên mặc đồng phục, họ dùng những người ‘quần chúng tự phát’, mặc thường phục mà làm mọi việc.
Con thấy những điều con học trong nhà trường là sai, phải trung lập để nhìn lại.

Mọi người đều có cơ hội trong đời để học được sự thật mà không phải trả giá quá đắt. Nay con không còn trách bố nữa, mà rất ngưỡng một bố.

Gia Minh: Nếu phiên tòa diễn ra và được phép nói trước tòa về bố, thì Nguyễn Trí Dũng sẽ nói gì?

Nguyễn Trí Dũng: Con sẽ nói tất cả sự thật về bố, rằng bố không làm bất kỳ điều gì sai theo hiến pháp Việt Nam, bất kỳ điều gì sai theo luật pháp quốc tế mà Việt Nam đã công nhận. Bố là người rất kiên cường, trong tất cả mọi việc ông đều sống hết mình. Ông vì đồng bào, vì bản thân mình rất ít. Không thể nào một người vì đất nước như vậy mà phải bị bắt, bị đày đọa như thế.

Gia Minh: Cám ơn Nguyễn Trí Dũng về những chia sẻ sau cuộc gặp bố hồi ngày 3 tháng 7 vừa rồi.

© Gia Minh, biên tập viên RFA
----------


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

ASEAN và Trung Quốc bất đồng về nội dung COC

Chiều ngày 11/7, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và Trung Quốc về Bộ quy tắc ứng xử (COC) ở biển Đông đã được tổ chức tại thủ đô Phnom Penh.

Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và
Trung Quốc về Bộ quy tắc ứng xử (COC) ở
biển Đông đã được tổ chức tại thủ đô
Phnom Penh hôm 11/7/2012. AFP photo
Ngoại trưởng các nước có một số bất đồng về nội dung và cách thức thực thi Bộ quy tắc này. Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh và người đồng cấp Trung Quốc Dương Khiết Trì đồng chủ trì Hội nghị ASEAN – Trung Quốc. Ngoại trưởng ASEAN và Trung Quốc đã thảo luận rất tích cực về dự thảo COC do các thành viên ASEAN soạn thảo nhằm xóa bỏ những khác biệt, tiến tới thống nhất quan điểm chung về COC.

Ngoại trưởng Phạm Bình Minh cho biết khu vực tự do thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã phát triển đáng kể trong những thời gian gần đây. Trung Quốc là đối tác của các nước ASEAN trong việc trao đổi hàng hóa, dịch dụ và một Hiệp ước về khuyến khích đầu tư liên khu vực. Ông tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục và tăng cường hợp tác với thành viên ASEAN không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, chính trị và an ninh trong khu vực mà còn trao đổi hợp tác trong lĩnh vực thương mại, du lịch và văn hóa...

Về vấn đề biển Đông, ông Phạm Bình Minh cho biết các thành viên ASEAN đã thống nhất và thông qua những điểm quan trọng của Bộ quy tắc ứng xử (COC) ở biển Đông. Qua Hội nghị này ông tin rằng Trung Quốc sẽ tham gia giải quyết tranh chủ quyền trên biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, hòa giải, an ninh khu vực.

Ông Phạm Bình Minh phát biểu: “Bây giờ, đã đến lúc các nước ASEAN và Trung Quốc bắt đầu thảo luận về Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC). Như chúng ta đã biết ASEAN và Trung Quốc là những đối tác tốt. Ba năm trước đây, Việt Nam giữ vai trò điều phối viên giữa các nước ASEAN và Trung Quốc.

Cuối tháng này, Thái Lan sẽ đảm nhiệm vai trò này. Tôi rất cảm ơn các thành viên ASEAN và Trung Quốc đã làm việc với Việt Nam một cách thân thiện. Tôi tin rằng các bên sẽ duy trì không khí làm việc tốt nhằm giữ hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực.”

Các quốc gia đã tuyên bố chủ quyền trên biển Đông gồm Philippines, Malaysia, Brunei, Việt Nam và Trung Quốc. Biển Đông, được coi là khu vực giàu tài nguyên khoáng sản và là tuyến đường hàng hải quan trọng của khu vực và thế giới. Do đó, biển Đông trở thành đề tài nóng nhất tại mọi cuộc họp.

Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Phó Oánh
trả lời báo chí sau cuộc họp ASEAN-Trung Quốc
hôm 11/7/2012. AFP photo
Trong khi đó, bà Phó Oánh, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc cũng khẳng định rằng quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc rất tốt. Khu vực tự do thương mại và kim ngạch tăng hàng năm. Trung Quốc sẽ có cuộc thảo luận với các nước trong khối ASEAN vào tháng 9 tới để trao đổi và hợp tác trên các lĩnh vực công nghệ thông tin, văn hóa và xã hội và du lịch…

Vẫn theo bà, Trung Quốc sẽ không thay đổi lập trường tham gia xây dựng cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và góp phần cho việc phát triển cho Hiệp hội cũng như giữ an ninh, hòa bình với các nước láng giềng. Chính sách nhất quán của Trung Quốc vẫn tiếp tục hợp tác với thành viên ASEAN. Khi Trung Quốc phát triển thì nó sẽ tạo cơ hội cho các nước láng giềng cũng như cộng đồng ASEAN phát triển. Điều này phía Trung Quốc sẽ tiếp tục ngồi đàm phán với ASEAN và tăng cường hợp tác với ASEAN nhằm tìm giải pháp hòa bình vì nó liên quan đến kinh tế và ổn định khu vực.

Bà Phó Oánh cho phóng viên biết thêm: “Hội nghị cũng được đề xuất tiếp tục tham vấn và thảo luận nhiều hơn về COC. Bộ quy tắc này được nâng lên từ DOC mà các nước ASEAN và Trung Quốc ký cách đây 10 năm. Ngoại trưởng muốn biết nội dung và những điểm quan ngại trước khi đàm phán về COC. Và điều này phía Trung Quốc tin rằng sẽ là lời giải tốt nhất cho các bên.

Trong trường hợp bất cứ thành viên nào không được biết trước nội dung của COC, không được tiếp cận COC thì nó trở thành vô nghĩa. Điều này cũng đồng nghĩa họ không hiểu và cũng không nắm bắt được tiến triển của nó. Và có thể nói các thành viên vẫn thiếu độ tin cậy lẫn nhau.”

Theo Ngoại trưởng Philippines, dự thảo COC cũng kêu gọi các bên ở biển Đông cần tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có luật biển năm 1982. Đặc biệt là giải quyết tranh chấp mà không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực và cam kết tôn trọng quyền tự do hàng hải và quyền tự do hàng không trên Biển Đông. Ông hy vọng đến cuối năm nay Bộ quy tắc này sẽ được chung quyết.

Biển Đông sẽ tiếp tục được thảo luận cùng với các khu vực khác cùng quan tâm tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), nhóm 26 quốc gia khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và Liên minh Châu Âu và bắt đầu vào ngày 12/7.

© Quốc Việt, thông tín viên RFA, Campuchia

-----------------


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Vấn đề HS và TS: Thử bàn về tính liên tục và sự kế thừa giữa các "quốc gia" Việt Nam sau năm 1945

Kính gởi: Ban biên tập Việt ngữ BBC, GS Ngô Vĩnh Long, TS Lê Minh Phiếu, TS Dương Danh Huy và tác giả Phạm Thanh Vân về bài viết Tính pháp lý của việc kế thừa hai quần đảo [Hoàng Sa và Trường Sa]

Tin liên quan:

Trong một bài viết trước đây liên quan đến chiến lược biển Đông và chủ quyền của Việt Nam ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tác giả có nêu vấn đề về tính liên tục quốc gia và sự kế thừa giữa các chính phủ và hai miền Việt Nam về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sau 1975. Những ý kiến đó hôm nay được bàn rộng thêm.

Trước hết là quan niệm quốc gia (và nhà nước) theo công pháp quốc tế. Với quan niệm quốc gia này, từ năm 1945 đến nay hiện hữu bao nhiêu quốc gia Việt Nam? Quốc gia nào đại diện nước Việt Nam duy nhứt trước các định chế quốc tế? Tính liên tục và kế thừa về lãnh thổ giữa các quốc gia này từ các biến cố 1954, hay năm 1975 đến nay đã được thực hiện như thế nào?

Bài viết này lần lượt trình bày sơ lược quan điểm của tác giả về các vấn đề này.

I. Quốc gia và các nguyên tắc về công pháp quốc tế

Trước hết nên hiểu thế nào về thuật ngữ "quốc gia" theo quan niệm Công pháp quốc tế.

"Quốc gia – l’Etat" được cấu thành do ba yếu tố: người dân, lãnh thổ và một chính phủ. Yếu tố người dân đặt vấn đề về "quốc tịch – nationalité". Yếu tố "lãnh thổ" đặt vấn đề "chủ quyền - souveraineté", đưa đến việc phân định biên giới (trên đất liền và trên biển) giữa các quốc gia láng giềng. Yếu tố "chính phủ - gouvernement", tức một tổ chức chính trị có khả năng tổ chức hành chính và thiết lập trật tự và an ninh xã hội cho cộng đồng dân chúng trong quốc gia đó. Yếu tố Chính phủ đặt ra vấn đề "độc lập". Tức chính phủ này không bị lệ thuộc vào một thế lực nước ngoài.

Công pháp quốc tế hiện nay còn đặt ra tiêu chí xứng đáng về một nhà nước (chính phủ), tức "tư cách - dignité", để có thể công nhận hay không một chính phủ. Một nhà nước "xứng đáng" được đánh giá trên việc có đem lại an ninh và hạnh phúc cho người dân trong nước hay không. Một nhà nước hung tàn, bạo ngược, như nhà nước cộng sản Khmer (Khmer đỏ), nhà nước cộng sản bắc Triều Tiên, nhà nước cộng sản Việt Nam sau 75 (cho đến thập niên 90), Irak dưới thời Sadam Hussein, Serbie dưới thời Milosevic, Lybye dưới thời Khadafi hay Iran và Syrie hiện nay v.v… là các nhà nước không "xứng đáng", thường bị cộng đồng quốc tế (ONU) "lên án", hay cắt đứt ngoại giao, thậm chí còn có bổn phận can thiệp để chấm dứt sự đau khổ của người dân ở các nước này.

Trong quan hệ quốc tế, việc công nhận một quốc gia là hành vi theo đó một quốc gia thiết lập bang giao với một quốc gia khác. Việc công nhận quốc gia là chấp nhận các yếu tố đặc thù về công dân, lãnh thổ và chính phủ của quốc gia đó. Giả sử, khi nước Pháp công nhận nhà cầm quyền Bắc Kinh là chính thống lãnh đạo nước Trung Quốc thì Pháp mặc nhiên công nhận một nước Trung Hoa duy nhứt (tức công nhận Bắc Kinh thì không công nhận Đài Bắc) và Tây Tạng là lãnh thổ của Trung Quốc.

Việc công nhận quốc gia là quan trọng vì nó xác định sự hiện hữu của một quốc gia trên sân khấu quốc tế. Thủ tục công nhận thể hiện qua các việc trao đổi lãnh sự, ký kết các hiệp ước, hay bằng một tuyên bố đơn phương giữa các quốc gia. Việc công nhận có thể mang tính pháp lý "de jure", tức công nhận quốc gia như là chủ thể duy nhất, bình đẳng về độc lập và chủ quyền trước Công pháp quốc tế. Hoặc "de facto", tức một hình thức công nhận tạm thời cho những quốc gia đang thành hình.

Về nguyên tắc một quốc gia duy nhứt, đại diện quốc gia ở các định chế quốc tế là duy nhứt. Trường hợp một quốc gia bị phân chia, tức có hai vùng lãnh thổ khác biệt, có hai nhóm dân chúng khác biệt (mặc dầu có cùng quốc tịch), do hai chính phủ khác biệt lãnh đạo, thì chỉ có một vùng duy nhứt đại diện cho quốc gia ở các định chế quốc tế. Trường hợp hai miền Nam, Bắc Việt Nam trước 1975, Quốc Gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng Hòa được các định chế quốc tế chấp thuận là đại diện chính thức và duy nhứt cho quốc gia Việt Nam.

Trường hợp quốc gia bị chia cắt (có hai vùng lãnh thổ với hai chính phủ riêng biệt), một nước công nhận chính phủ này thì đương nhiên không công nhận chính phủ kia (và ngược lại). Giả sử, Hoa Kỳ (và nhiều nước khác) trước kia công nhận chính phủ họ Tưởng ở Đài Loan và không công nhận chính phủ ở Bắc Kinh, hay công nhận VNCH và không công nhận VNDCCH.

Đối với LHQ, mỗi quốc gia chỉ có một ghế đại diện. Trường hợp quốc gia chia cắt, đại diện của quốc gia là phía được số phiếu bầu nhiều nhất tại đại hội đồng LHQ, ngoại trừ trường hợp bị các thành viên thường trực trong hội đồng an ninh "phủ quyết - veto". Chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan giữ ghế đại diện cho Trung Hoa ở LHQ đến năm 1972 thì bị đại hội đồng truất phế, thay vào đó là chính phủ ở Bắc Kinh, do việc Hoa Kỳ không bỏ phiếu phủ quyết. Hai miền Nam và Bắc Việt Nam không bên nào có được ghế ở LHQ, do vấn đề chính trị ý thức hệ, mỗi khối ủng hộ một bên. Năm 1957 Liên Xô đề nghị hai miền Nam, Bắc Việt Nam đều được chấp nhận vào LHQ, nhưng việc này không được các bên chấp thuận (vì các bên đều giữ nguyên tắc quốc gia duy nhất).

Trường hợp quốc gia có thay đổi chính thể do biến động chính trị (do đảo chánh, cách mạng …), hay một quốc gia mới được khai sinh (do thống nhất hai quốc gia hay hai vùng lãnh thổ, quốc gia ly khai…) việc kế thừa quốc gia sẽ đặt ra nhằm tái xác định, hay phủ định, hiệu lực các kết ước, hay các tuyên bố đơn phương của nhà nước (hay quốc gia) tiền nhiệm đã thể hiện đối với các nước khác.
Một nội các (chính phủ hay nhà nước) có thể được một chính phủ của một nước khác công nhận (hay không công nhận) trong trường hợp nước đó có biến động ảnh hưởng nội tình chính trị (nội các thay đổi do đảo chánh, thay đổi chính thể do cách mạng v.v…).

II. Các quốc gia Việt Nam – sự liên tục và kế thừa

2.1 Quốc Gia Việt Nam (12-3-1945 – 25-8-1945) của Quốc vương Bảo Đại:

Ngày 10 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp, chiếm Đông Dương. Nhân dịp này ông Yokoyama, xưng là đại sứ Nhật, tiếp xúc với ông Bảo Đại, đề nghị trả lại độc lập cho Việt Nam. Ngày 12 tháng 3 năm 1945 Bảo Đại tuyên bố độc lập, nội dung đại khái gồm các điểm: "bãi bỏ hiệp ước bảo hộ đã ký với Pháp", "thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia""theo đường hướng của bản Tuyên ngôn chung của khối Đại Đông Á"… Ngày 17-4-1945, theo ý muốn của Bảo Đại, cụ Trần Trọng Kim thành lập chính phủ.

Dĩ nhiên, thái độ của Nhật không phải là tốt đẹp gì. Nếu họ có hảo ý thì họ đã trả độc lập cho Việt Nam từ lúc mới vào Việt Nam tháng 8 năm 1940, chứ không phải đợi đến lúc sắp sụp đổ mới làm. Hành động trễ tràng này cho thấy đây là cố gắng cuối cùng của Nhật trước khi thất bại trước quân Đồng Minh. Họ nghĩ rằng, khi lôi kéo được các quốc gia này vào khối Đại Đông Á, Nhật hy vọng xây dựng lại thế lực, nhờ vào lực lượng của các nước mới được độc lập, nhằm củng cố lại quân đội đang trên đà tan rã. Nhưng chỉ vài tháng sau, ngày 16 tháng 8, Nhật Hoàng đọc lệnh cho binh sĩ buông súng đầu hàng.

Hậu quả, ngày 25 tháng 8 Bảo Đại giao ấn, kiếm cho Trần Huy Liệu, đại diện Ủy ban giải phóng, tuyên bố thoái vị. Quốc gia gọi là "Quốc gia Việt Nam" vì vậy cũng kết thúc.

Về tình trạng pháp lý, Quốc gia Việt Nam chỉ hiện hữu vỏn vẹn 5 tháng, từ 12-3-1945 đến 16-8-1945. Đây có phải là một thực thể "quốc gia" đúng nghĩa theo Công pháp quốc tế hay không?

Khi Nhật đặt chân đến Việt Nam trong Thế chiến II, tháng 8 năm 1940, có ký kết với Pháp vẫn để cho Pháp có chủ quyền tại Đông Dương, ngoại trừ phương diện quân sự. Kết ước này không được tôn trọng. Tháng 3 năm 1945 Nhật truất quyền của Pháp ở Việt Nam và nắm toàn quyền lãnh đạo. Việt Nam được đặt trong khối "Đại Đông Á" của Nhật. Việc Nhật trả độc lập cho Việt Nam và sau đó Tuyên bố độc lập của Bảo Đại có giá trị trước công pháp quốc tế. Vì ở thời điểm đó Nhật đã giành chủ quyền Việt Nam từ tay Pháp (và trả lại cho Bảo Đại). Chính phủ Trần Trọng Kim là một chính phủ "xứng đáng" so với tiêu chí của Công pháp quốc tế hiện nay. Chỉ trong một thời gian ngắn chính phủ này đã tổ chức hành chánh, thiết lập an ninh trật tự trong xã hội đồng thời thực hiện các công tác cứu trợ cần thiết cho người dân vì VN đang trong thời chiến tranh, chịu sự dội bom, đánh phá của Đồng minh, trong tình trạng thiếu thốn về mọi mặt.

Tuy nhiên, vài tháng sau Nhật đầu hàng. Độc lập và chủ quyền của Việt Nam mà Bảo Đại tuyên bố chưa kịp nước nào công nhận.
(Bảo Đại thoái vị, nhượng quyền cho "Chính phủ cách mạng" của Hồ Chí Minh, có thể do ám ảnh hành động của thủ tướng Thái Plaek Phibulsongkhram. Ông này từ chức, nhường quyền lại cho ông Pridi Phanomyong, nguyên là một giáo sư Luật, là người có khuynh hướng thân Mỹ, chống lại việc hợp tác với Nhật, do lo ngại việc Thái sẽ bị đặt dưới sự bảo hộ của Đồng minh vì nước này đứng về phía Nhật trong thời chiến tranh. Nhưng việc thoái vị này có thể do uy hiếp của nhóm Hồ Chí Minh).

Hành động thoái vị của Bảo Đại cho thấy là sai lầm. Lý ra chính phủ Trần Trọng Kim trụ được cho đến khi Đồng Minh gởi quân vào tước vũ khí của Nhật, vì trên nguyên tắc, lực lượng quân đội Nhật có bổn phận giữ an ninh trật tự trong xã hội cho đến khi quân Đồng minh vào giải giới. Số phận của Việt Nam, cũng như các nước bị Nhật chiếm trong chiến tranh, đã được các nước Đồng minh định đoạt trước ở hội nghị Potsdam 1945.

Tranh chấp đảng phái ở Việt Nam sau đó là tranh chấp để dành làm đại diện cho Việt Nam để đối thoại với Đồng minh.

2.2 Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa của Chính phủ lâm thời (Mặt trận Việt Minh, từ 2-9-1945 đến tháng 12 năm 1946):

Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh 16-8-1945, ở Việt Nam đã có một khoảng trống chính trị vì chính phủ Trần Trọng Kim không có thực lực. Việc này có thể do hệ quả của việc không dám dựa vào quân đội Nhật (vẫn còn trách nhiệm giữ an ninh trật tự tại Việt Nam cho đến khi Đồng minh vào giải giới), vì sợ kết vào tội làm "bù nhìn" cho Nhật. Trong khi các lực lượng "lưu vong" như Việt Minh của Hồ Chí Minh, Việt Nam Quốc Dân Đảng của Vũ Hồng Khanh, Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội của Nguyễn Hải Thần, Đại Việt của Nguyễn Tường Tam… đều nhôn nhao về nước tìm cách nắm chính quyền. Trong đó ông Hồ Chí Minh tỏ ra nắm vững tình hình quốc tế và cao tay về chính trị hơn cả.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Việt Minh làm "cách mạng", một chính phủ "lâm thời" được Hồ Chí Minh thành lập tại Hà Nội. Việc này chỉ xảy ra vài ngày trước khi quân Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch vào Bắc Kỳ, (theo qui định của các nước Đồng minh ở Hội nghị Potsdam). Quân Tưởng gồm hai đạo, vào Việt Nam từ hai ngả: từ Quảng Tây vào Lạng Sơn do Tiêu Văn cầm đầu và từ Vân Nam vào Lào Cai do Lư Hán cầm đầu, tổng cộng khoảng 180.000 quân. Hai đạo quân này đi tới đâu thì tước khí giới của Việt Minh tới đó, rồi giao chính quyền quyền cho quân của các đảng phái khác (VNQDD, ĐV, VNCMDMH) thân Tàu. Hồ Chí Minh lo bị mất quyền, vì thế, từ Hà Nội, ông hô hào tổ chức "tuần lễ vàng", nhằm quyên góp vàng bạc trong dân để có phương tiện đút lót cho các tướng Tiêu Văn và Lư Hán để giữ quyền hành. Nhờ hành vi "lo lót" này, các vị tướng Tàu ngả về ủng hộ Hồ Chí Minh, làm áp lực lên các đảng phái khác (vốn rất chia rẽ, một phe theo Tiêu Văn, một phe theo Lư Hán), ép thành lập "Chính phủ Liên hiệp Lâm thời" ngày 25 tháng 12 năm 1945. Chính phủ này gồm có đại diện của các phe phái tại Việt Nam. Quốc hội cũng được tổ chức qua cuộc bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 1946. Ngày 2 tháng 3, Quốc hội nhóm họp, tuyên bố "Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến" thành hình, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch và Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch.

Hồ Chí Minh cũng nắm bắt được tin Pháp đang vận động với Tưởng Giới Thạch, trao đổi quyền lợi giữa Pháp và Trung Hoa, để quân Pháp vào thay thế quân Hoa ở miền Bắc (thực ra ở bắc vĩ tuyến 16), theo như qui định của Đồng minh tại hội nghị Potsdam. Trong khi đó, Anh cũng trao quyền cho Pháp ở miền Nam (nam vĩ tuyến 16). Ông Hồ "đón gió" chính trị trước việc này, tìm cách ký kết với Pháp một kết ước, mục đích dĩ nhiên là để được xem là đại diện chính thức của Việt Nam. Ngày 28-2-1946 Pháp và Trung Hoa ký kết ước Trùng Khánh thì ngày 6 tháng 3 ông Hồ cũng ký với Pháp một hiệp ước gọi là "hiệp ước sơ bộ". Theo đó Pháp công nhận Việt Nam là một nước "tự do" nằm trong Liên bang Đông dương và Liên hiệp Pháp.

Quốc gia Việt Nam từ thời điểm 2-9-1945 đến khi "hiệp ước sơ bộ" được ký có phải là một quốc gia thực sự?

Sau khi được Bảo Đại giao ấn và kiếm, biểu tượng uy quyền của vua đối với thần dân trên lãnh thổ Đại Nam, lý ra "chính phủ lâm thời" có tính chính đáng để khai sinh một nước Việt Nam độc lập. Tuy vậy việc này không có giá trị đối với công pháp quốc tế, một mặt do chưa ổn định nội an thì quân Tàu đã kéo qua, mặt khác do hệ quả của "hiệp ước sơ bộ".

Khi ký hiệp ước sơ bộ, chính phủ của ông Hồ được Pháp công nhận tư cách đại diện một "quốc gia", giới hạn ở Bắc kỳ (đúng ra phía bắc vĩ tuyến 16). Quốc gia đó là quốc gia "Việt Nam tự do – Vietnam libre", đứng trong "Liên bang Đông dương" và khối "Liên hiệp Pháp".

Vấn đề phải hiểu thế nào là nước "Việt Nam tự do" đứng trong "Liên bang Đông dương"?

Từ hòa ước Patenôtre 1884 đến tháng 3 năm 1945, toàn Đông Dương (gồm Việt Nam, Lào và Cao Miên) thuộc Pháp. Để dễ bề cai trị, Pháp đặt nền hành chánh thuộc địa tại Việt Nam theo lối "chia để trị". Việt Nam bị phân chia thành ba miền (còn gọi là ba kỳ) riêng biệt. Ba Kỳ cùng Lào, Kampuchia và Quảng Châu Loan (nhượng địa của Trung Quốc.) được Pháp đặt trong "Liên bang Đông dương – Union Indochinoise", còn gọi là Đông Dương thuộc Pháp hay Đông Pháp. Liên Bang Đông Dương ra đời ngày 17-10-1887, do một Toàn quyền (sau này là Cao ủy) được Pháp bổ nhiệm lãnh đạo. Các "xứ" (tiểu bang) hay các "kỳ" của Việt Nam trong Liên bang có tình trạng pháp lý khác nhau. Nam kỳ có qui chế thuộc địa, dân chúng ở đây có chế độ "thuộc dân – sujets français", trực thuộc Bộ Thuộc địa Pháp, do một Tổng đốc (gouverneur) lãnh đạo. Trong khi Trung kỳ và Bắc kỳ (cũng như Lào và Kampuchia) có tình trạng pháp lý là các xứ "bảo hộ", trực thuộc Bộ Ngoại Giao. Dân chúng ở các xứ này có qui chế "dân bảo hộ Pháp - protégés français", là qui chế thấp nhứt (1/ công dân Pháp - citoyens français, 2/ thuộc dân Pháp - sujets français và 3/ dân bảo hộ Pháp - protégés français).

Hiệp ước sơ bộ không hề nói một nước Việt Nam độc lập mà chỉ nói một nước "Việt Nam tự do" thuộc "Liên bang Đông dương" và khối "Liên hiệp Pháp". Tức ông Hồ chấp nhận "quốc gia" Việt Nam, thực ra là "tiểu bang" hay "xứ", do chính phủ ông lãnh đạo, nằm trong Liên bang Đông Dương, có qui chế pháp lý tương đương với xứ Bắc Kỳ, mà quyền hành của ông còn dưới quyền của Thống sứ Pháp.

Các đảng phái quốc gia lên án ông Hồ việc này là rước Pháp vào lại Việt Nam. Nhưng thực ra, có hay không có "hiệp ước sơ bộ" thì Pháp cũng vào lại Việt Nam. Cũng như có hay không có các chính phủ của Bảo Đại hay của ông Hồ thì quân Trung Hoa cũng vào Bắc Kỳ. Việc này là do qui định của phe chiến thắng, tức các nước Đồng minh. Khi Pháp và Trung Hoa ký kết ước trao đổi quyền lợi, Pháp trả các nhượng địa cùng các cơ sở kinh tế của Pháp tại đất Trung Hoa cho họ Tưởng thì phe này cũng trả lại Việt Nam cho Pháp. Chính trị gọi là "đón gió" của ông Hồ, vì ông hiểu biết tình hình quốc tế, biết được định đoạt của Đồng minh về số phận các quốc gia do Nhật chiếm trước chiến tranh, vì thế xông xáo ký kết ước với Pháp. Nhưng việc này cũng kết liễu tính chính thống của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đồng thời hành động này làm cho các đảng viên trong đảng CSVN nghi ngại lập trường của ông Hồ. Vi việc này mà sau này ông Hồ trở nên rất sắc máu, đúng tiêu chuẩn của một cán bộ quốc tế vô sản, để chứng minh lập trường của mình. Nhưng dầu vậy ông Hồ cũng không được phía cộng sản Nga tin tưởng. Họ nghi ngờ ông Hồ là "cơ hội chủ nghĩa" cho đến khi ông này qua đời năm 1969.

Như thế nước "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" do ông Hồ lãnh đạo không hề là một quốc gia thực sự mà chỉ là một "tiểu bang" trong Liên bang Đông Dương.

Sau khi bị chỉ trích, ông Hồ cố gắng thay đổi thực tế này qua các hội nghị tại Đà Lạt và Fontainebleau, nhưng đều thất bại. Chính phủ của ông Hồ rút khỏi Hà Nội và bước vào cuộc kháng chiến, bắt đầu từ tháng 12 năm 1946. Việc này, ông Bảo Đại phê rằng: Sau thất vọng ở Fontainebleau, (Việt Minh) chỉ còn giữ được uy tín bằng cách đưa cả nước vào biển máu.

2.3 Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam (27-5-1948) và Việt Nam Cộng Hòa (26-10-1955 đến 30-4-1975):

Thế chiến Thứ II chấm dứt, việc này cũng kết liễu các chế độ « thực dân » ở các xứ "thuộc địa" của các đại cường cũ (Anh, Pháp…). Khuynh hướng của Hoa Kỳ, đại cường mới lên, chủ trương bãi bỏ tất cả các chế độ thực dân, do đó khuyến cáo các cường quốc phải trả lại độc lập cho các thuộc địa của mình. Các xứ như Phi, Miến Điện, Nam Dương, Ấn Độ và Pakistan… lần lượt lấy lại độc lập mà không tốn một giọt máu.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, một nước Pháp đã kiệt quệ nhưng vẫn muốn giữ quyền lợi và ảnh hưởng của mình. Phía Hoa Kỳ đặt điều kiện cho Pháp, để được sự trợ giúp, phải để cho dân Việt Nam thành lập một chính phủ đại diện (nhằm đi đến độc lập và thống nhứt đất nước).

Nội tình Việt Nam hỗn loạn, các đảng phái quốc gia không có thực lực lại xâu xé, tranh chấp lẫn nhau. Bên có thực lực là phe của ông Hồ, nhưng là lực lượng là của cộng sản. Phe này tìm cách loại trừ phe kia để độc chiếm sân khấu chính trị. Trong khi nội tình nước Pháp cũng không khá hơn. Chính trị Pháp về Đông Dương chia làm hai khuynh hướng, phe tả thúc hối chính phủ phải thuơng lượng với Hồ Chí Minh. Phe hữu thì đòi phải thuơng lượng với Bảo Đại.

Cuối cùng "lá bài" Bảo Đại được Pháp chọn làm đối tượng đối thoại để thực hiện chính sách mới của họ về thuộc địa nhằm thỏa mãn các điều kiện của Hoa Kỳ.

(Thực ra đây là một lựa chọn theo lối "không chó bắt mèo ăn c.". Vì ông này không cộng sản và có được tính "chính thống" trước người dân Việt Nam. Ông Bảo Đại là một type người ăn chơi đàng điếm, cả cuộc đời chỉ la cà trà đình, tửu quán, sòng bài… không thể là một "chính khách" của một nước thuộc địa đang gay go dành lại độc lập (và thống nhứt đất nước) trong một không gian vô cùng hỗn loạn vì tranh chấp về quyền lợi và chính trị (ý thức hệ) giữa các cường quốc đang nắm vận mạng của cả thế giới. Khi được nắm quyền (Quốc trưởng) ông này chỉ ở bên Pháp, lo ăn chơi chứ không ở lại trong nước để chia sẻ ngọt bùi với quần thần và dân chúng. Ông bị Ngô Đình Diệm hạ bệ là hợp lý. So với ông Hồ Chí Minh thì Bảo Đại thua xa về trí tuệ và tư cách. Nhưng ông Hồ là người vô sản chân chính, đặt quyền lợi quốc tế cộng sản lên trên lợi ích của dân tộc.)

Ngày 27-5-1948 Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam được thành lập do Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng, Bảo Đại lên làm "Hoàng Đế, Quốc trưởng". Ngày 5 tháng 6 năm 1948, chính phủ này ký bản "Tuyên bố chung" với Cao ủy Bollaert ở Hạ Long, theo đó Pháp cam kết: "Pháp long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam, được tự do thực hiện nền thống nhứt của mình. Việt Nam tuyên bố sát nhập vào Liên Hiệp Pháp dưới danh nghĩa một quốc gia liên kết với nước Pháp."

Nhưng "bản tuyên bố" này bị các thế lực thân thực dân ở Nam kỳ chống đối. Cùng lúc ở Paris, chính giới Pháp phản đối việc này, cho rằng ông Bollaert không có tư cách để nhượng bộ như vậy. Họ lý luận rằng, trong vấn đề Nam kỳ, vì đây là "nhượng địa" của Việt Nam cho Pháp. Do đó mọi quyết định liên quan đến Nam kỳ phải do quốc hội biểu quyết.

Nhưng thời điểm này nội tình chính trị nước Pháp không ổn định, nội các thường xuyên thay đổi. Đất nước kiệt quệ do chiến tranh, rất cần các sự giúp đỡ của Hoa Kỳ. Nội các mới công bố chính sách Đông Dương vào ngày 19-8-1948, công nhận nội dung tuyên bố Hạ Long. Đến 8 tháng 3 năm 1949, tuyên bố Hạ Long được xác định cụ thể qua lá thư của Tổng thống Vincent Auriol gởi cho Bảo Đại, còn gọi là kết ước Elysée.

Nội dung có nhiều điều cần bàn cãi, nhưng điểm chính là Pháp phải công nhận Việt Nam "độc lập""thống nhứt". Đây là một thắng lợi lớn của Việt Nam, là tiền đề để xây dựng một nước Việt Nam độc lập và tự chủ. Cho dầu về một số mặt còn lệ thuộc vào Pháp, nhưng không tốn giọt máu nào, thì đó cũng là cái giá rất rẻ để chấp nhận.

Đối với các định chế quốc tế, Quốc gia Việt Nam của của Bảo Đại đã được chấp thuận đại diện cho nước Việt Nam duy nhứt, gia nhập vào các tổ chức quốc tế như sau:

- Tổ chức Y tế Quốc Tế (l'Organisation mondiale de la Santé - O.M.S.) ngày 17 tháng năm năm 1950.

- Tổ chức Lao động Quốc tế (l'Organisation internationale du Travail - O.I.T.), ngày 21 tháng sáu năm 1950.

- Tổ chức của Liên Hiệp Quốc về Lương thực và Nông nghiệp (l'Organisation des Nations Unies pour l'alimentation et l'agriculture - F.A.O.), ngày 11 tháng 11 năm 1950.

- Tổ chức của Liên Hiệp Quốc về Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (l'Organisation des Nations Unies pour l'éducation, la science et la culture - U.N.E.S.C.O.), ngày 21 tháng 6 năm 1951.

- Liên hiệp Quốc tế về Viễn Thông (l'Union internationale des Télécommunications - U.I.T), ngày 24 tháng 9 năm 1951.

- Liên hiệp Bưu chính Thế giới (l'Union postale universelle - U.P.V.), ngày 20 tháng 10 năm 1951.

Năm 1951, ông Trần Văn Hữu, nguyên thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ ngoại giao, đại diện Việt Nam đi dự hội nghị San Francisco, ký kết hiệp ước Hòa Bình với Nhật. Nhân dịp này ông đã tuyên bố tại hội nghị về chủ quyền lâu đời của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã bị Nhật chiếm đóng trái phép trong thời kỳ chiến tranh, do đó ông thay mặt quốc gia Việt Nam tuyên bố quyết định thâu hồi hai vùng lãnh thổ này về lại quốc gia Việt Nam. Tuyên bố của ông Trần Văn Hữu không gặp phản đối của nước nào nào tại hội nghị.

Quốc gia Việt Nam với Quốc trưởng Bảo Đại cũng được nhiều nước trên thế giới công nhận, như Hoa Kỳ, tóa thánh Vatican cũng như nhiều nước khác trong thế giới tự do (đến năm 1954 có 35 nước công nhận).

Tháng 6 năm 1954 Ông Diệm về làm thủ tướng. Một tháng sau đất nước bị chia đôi tại vĩ tuyến 17 theo Hiệp định Genève. Ngày 20-10-1955 ông Diệm trưng cầu dân ý truất phế ông Bảo Đại. Ngày 26 tháng 10 năm 1955 đổi tên nước và thành lập chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Nội dung Hiệp định Genève ký kết giữa Pháp và VNDCCH, xác định nước Việt Nam là duy nhứt, việc phân chia hai miền chỉ là tạm thời. Các định chế quốc tế tôn trọng điều này.

Việc phân chia đất nước, chính phủ Bảo Đại (và Hoa Kỳ) chống đối. Chính phủ Quốc gia Việt Nam (cũng như hai nền cộng hòa của nước VNCH sau này), tôn trọng tính liên tục của quốc gia, cũng không công nhận nhà nước VNDCCH và chủ trương một quốc gia Việt Nam (thống nhứt ba kỳ) và duy nhứt.

Sau 1954, Chính phủ VNDCCH được thành lập ở miền bắc nhưng không đại diện cho quốc gia Việt Nam ở các định chế quốc tế. VNCH, kế thừa di sản của Quốc Gia việt Nam, tiếp tục đại diện cho quốc gia Việt Nam tại các định chế quốc tế đã ghi ở trên. Tức các định chế quốc tế công nhận tính liên tục quốc gia Việt Nam, từ Quốc Gia Việt Nam sang Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 18 tháng 11 năm 1954, Quốc Gia Việt Nam được chấp nhận cho gia nhập vào Tổ chức Hàng không Dân sự Quốc tế (l'Organisation internationale pour l'aviation civile - O.A.C.L).

Ngày 1 tháng 4 năm 1955 Quốc Gia Việt Nam được chấp nhận cho gia nhập Tổ chức Khí tượng Thế giới (l'Organisation mondiale de la météorologie – O.M.M).

Ngày 21 tháng 9 năm 1956 VNCH được gia nhập Ngân hàng Quốc tế về Tái xây dựng và Pháp triển (la Banque internationale pour la reconstruction et le développement - B.I.R.D.).

Sau 1963, nền Đệ nhứt cộng hòa chấm dứt, nền Đệ nhị cộng hòa kế thừa VNCH, tiếp tục đại diện cho quốc gia Việt Nam duy nhứt tại các định chế quốc tế cho đến khi sụp đổ ngày 30-4-1975.

Như thế, tóm lại, từ Quốc Gia Việt Nam 1948 cho đến Việt Nam Cộng Hòa 1975, các quốc gia này đã giữ được tính liên tục và thể hiện sự kế thừa di dản quốc gia từ các triều đại phong kiến, nhà Nguyễn, đến thời kỳ Pháp thuộc.

Nhà nước Quốc Gia Việt Nam đã tuyên bố dành lại Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam tại hội nghị San Francisco năm 1951. Nhà nước VNCH đã đổ máu gìn giữ Hoàng Sa khi quân Tàu xâm lăng năm 1974.

2.4 Quốc gia "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" từ tháng 12 năm 1946 đến Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ tháng 7-1954 đến 30-4-1975

Từ tháng 12-1946 đến tháng 7 năm 1954 là khoảng thời gian gọi là "chín năm kháng chiến", hay còn gọi là "cuộc chiến Đông dương lần thứ nhứt". Chính phủ của ông Hồ tuyên bố "tiêu thổ kháng chiến", phá bỏ thành thị, làng xã, rút vào rừng thành lập các khu kháng chiến. Chính phủ của ông Hồ trở thành một "chính phủ kháng chiến" thực sự với ý nghĩa của nó.

Nhưng từ năm 1949, sau khi Tàu Mao thắng Tàu Tưởng, cuộc chiến "kháng chiến giành độc lập" cũng trở thành cuộc chiến để cộng sản Trung Quốc bành trướng ảnh hưởng. Từ tháng 2 năm 1951, đại hội đảng CSVN lần 2, ông Hồ tuyên bố phương pháp chiến tranh là lấy kinh nghiệm chiến tranh cách mạng của Trung Quốc, tư tưởng là lấy tư tưởng của Mao Trạch Đông. Cuộc "kháng chiến giành độc lập" của Việt Nam được Mao Trạch Đông hoạch định cùng sách lược với cuộc chiến Triều Tiên, trong chiến lược nhuộm đỏ Châu Á, "gió Đông thổi bạt gió Tây". Trong cuộc chiến Triều Tiên, phía Trung Cộng đã gởi hàng triệu "chí nguyện quân" đánh giúp Bắc Hàn. Cuộc "kháng chiến thần thánh" dành độc lập của Việt Nam đã đổi sang màu "đỏ" của phong trào vô sản quốc tế. Bộ đội ông Hồ, từ quân trang, quân dụng, vũ khí, lương thực cho đến cán bộ chỉ huy, tất cả đều do Trung Cộng cung cấp. Nhờ sự giúp đỡ vô biên của Trung Quốc, bộ đội của ông Hồ, cùng với bộ đội của bác Mao, thắng được quân Pháp ở trận Điện Biên Phủ, buộc Pháp ký Hiệp định Genève 1954.

Câu hỏi đặt ra, "quốc gia" Việt Nam DCCH với "chính phủ kháng chiến", từ tháng 12-1946 đến tháng 7-1954, do ông Hồ lãnh đạo có phải là một "quốc gia" đầy đủ ý nghĩa theo Công pháp quốc tế hay không?

Dĩ nhiên là không! Một chính phủ kháng chiến luôn là một chính phủ tạm thời. Về lãnh thổ thì chính phủ này chỉ kiểm soát trên rừng rú. Chính phủ này không hề kiểm soát được các tỉnh lớn, không đem lại an ninh và hòa bình cho dân chúng. Trong khi người dân, ngoại trừ những người ở thôn quê hẻo lánh không có điều kiện, hầu như tất cả đều "dinh tê".

Cuối cùng "kháng chiến thành công", Pháp thua Việt Minh ở trận Điện Biên Phủ, phải ký hiệp định Genève tháng 7 năm 1954. Chính phủ VNDCCH do ông Hồ lãnh đạo vì vậy lấy được một nửa đất nước, tính từ vĩ tuyến 17. Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hiện hữu trên thực tế (de facto) từ đây.

Nhưng các chính sách của nhà nước VNDCCH đã tố cáo nhà nước này lệ thuộc vào một thế lực ngoại bang. Sau 1954, các chính sách về kinh tế, cách thức tổ chức xã hội, tư tưởng chính trị, văn hóa… thảy đều rập khuôn với các chính sách của Mao Trạch Đông đã áp dụng trước đó tại Trung Hoa lục địa. Các phong trào "cải cách ruộng đất", phong trào "trăm hoa đua nở", phong trào diệt "trí phú địa hào"… áp dụng tại Việt Nam đều là ý kiến của cố vấn Trung Quốc.

Một nhà nước không vì lợi ích của dân chúng là một nhà nước không xứng đáng. Một nhà nước lệ thuộc vào ngoại bang là một nhà nước không được công nhận theo quốc tế công pháp.

Về lập trường chính trị, chính phủ VNDCCH tuyên bố theo xã hội chủ nghĩa, chủ trương một nước Việt Nam duy nhứt (theo qui định của Hiệp định Genève). Chính phủ VNDCCH không công nhận sự hiện hữu của một chính phủ VNCH ở miền Nam. Chính phủ VNCH bị gán cho là chính quyền ngụy, bù nhìn, do đế quốc lập nên chứ không do nguyện vọng của người dân miền Nam. Chính phủ VNDCCH cũng tuyên bố không công nhận bất kỳ một đại diện nào cho Việt Nam từ phía VNCH tại các định chế quốc tế. Tức là chính phủ VNDCCH chủ trương một quốc gia Việt Nam duy nhứt mà họ là đại diện chính thống.

Chính phủ VNDCCH, trên phương diện công pháp quốc tế, là một chính phủ hiện hữu trên thực tế (de facto) nhưng không được công nhận (de jure). Chính phủ này không hề đại diện nước Việt Nam duy nhứt tại bất kỳ một tổ chức quốc tế nào. Trong khi tư cách đại diện của VNCH tại các tổ chức này thì bị VNDCCH phủ nhận. Lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở về bắc là lãnh thổ mà tổ chức chính trị của ông Hồ "chiếm" được. Chính quyền họ có trong tay là do "cướp" được.

Những người cộng sản Việt Nam rất tự hào về việc này. Họ tuyên bố đoạn tuyệt với quá khứ, không chấp nhận di sản của chính quyền thực dân cũng như đả phá các nhà nước tiền nhiệm Việt Nam thời phong kiến. Họ tuyên bố sáng lập một nước Việt Nam mới. Như thế, vấn đề liên tục quốc gia không đặt ra. Việc kế thừa cũng không đặt ra.

Nhưng khó khăn chỉ đến khi đối diện với thực tế. Sau 1975, vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa sẽ giải quyết thế nào, khi chính quyền này đã công nhận nhiều lần trong quá khứ chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc?

Vấn đề về liên tục quốc gia vì thế phải được quan niệm lại, đồng thời với việc kế thừa. Các việc này phải được thực hiện như thế nào để quốc gia Việt Nam không mất lãnh thổ (và hải phận) ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa?

2.5 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời 20-12-1960 đến 2-7-1976:

Trong vấn đề "thống nhứt" đất nước, VNDCCH chủ trương "giải phóng miền nam", vì đồng bào miền nam đang quằn quại dưới ánh cai trị bạo tàn của Mỹ - Ngụy. Vấn đề "giải phóng" sẽ được thực hiện bằng bạo lực, bằng cách phát động cuộc chiến tranh cách mạng, hô hào dân miền Nam nổi dậy lật đổ chế độ.

Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được khai sinh để phục vụ cho chủ trương đó. Mặt Trận khai sinh ngày 20-12-1960 theo nghị quyết của của Đại hội đảng toàn quốc lần thứ ba của đảng CSVN (lúc đó là đảng Lao Động), được đặt dưới sự lãnh đạo của bộ Chính trị đảng CSVN và Trung ương cục miền Nam.

Mục tiêu của Mặt Trận là: "đoàn kết các tầng lớp nhân dân, đảng phái, đoàn thể, tôn giáo và nhân sĩ yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, để thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập tiến tới hòa bình thống nhứt tổ quốc."

Cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân 1968, thực hiện theo một nghị quyết khác của đảng CSVN, là một thành công chính trị lớn lao cho đảng CSVN. Con cờ mà họ lập ra, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, từ nay được quốc tế biết đến. Chính phủ Cách mạng Lâm thời được thành lập ngày 8-6-1969. Dĩ nhiên VNDCCH cùng các nước trong khối cộng sản lập tức công nhận thực thể chính trị này. Việc này đặt lại tính chính thống của chính phủ VNCH trước các định chế quốc tế, làm yếu đi tư thế đại diện một nước Việt Nam duy nhứt. Nhưng cho đến khi sụp đổ, VNCH vẫn là đại diện duy nhứt cho quốc gia Việt Nam tại các tổ chức quốc tế.

Cùng lúc chính trị của Mỹ về vấn đề Việt Nam bước vào khúc quanh quyết định. Mỹ muốn "Việt Nam hóa chiến tranh", vì thấy không cần thiết để hiện diện ở Việt Nam nữa, sau khi bắt tay được với Mao Trạch Đông qua việc ký kết ước Thượng Hải. Chính phủ Cách mạng Lâm thời được Mỹ nâng lên ngang tầm với VNCH, để bốn bên Mỹ, CS miền Bắc, VNCH và Chính phủ Cách mạng Lâm thời ký kết hiệp định Paris 1972. Hoa Kỳ bắt đầu rút quân khỏi miền Nam đồng thời cúp viện trợ quân sự cho VNCH.

Việc đến phải đến, 30-4-1975 VNCH sụp đổ. Quốc gia VNCH đổi tên thành Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

III. Vấn đề kế thừa giữa VNCH và CHMNVN qua khía cạnh đại diện các định chế quốc tế - Thái độ của VNDCCH

Bộ trưởng bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời là bà Nguyễn Thị Bình. Sau khi VNCH sụp đổ, bà Bình đã có những động thái hướng đến các tổ chức quốc tế nhằm kế thừa danh nghĩa của VNCH đại diện cho quốc gia Việt Nam. Ngày 7-5-1975, một điện tín từ Bộ ngoại giao của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã gởi đến O.M.S, cùng lúc với các định chế quốc tế khác, nội dung tóm lược như sau:
"Chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thông báo đã kiểm soát hoàn toàn lãnh thổ Việt Nam. Chế độ cũ ở Sài Gòn đã sụp đổ. Chính phủ Cách Mạng lâm thời là người duy nhứt có thẩm quyền, thực sự đại diện dân chúng miền Nam, có tính chính thống để đại diện miền Nam Việt Nam tại O.M.S cũng như các định chế quốc tế khác."
Việc "kế thừa" VNCH của Chính phủ Cách mạng Lâm thời tại các định chế quốc tế không gặp khó khăn, chỉ đơn giản là việc "đổi tên nước", tại UNESCO vào tháng 7 -1975, U.I.T vào tháng 2 năm 1976.

Điều cần ghi nhận là động thái của VNDCCH qua việc xin gia nhập O.M.S như là "một thành viên chính thức" vào ngày 10 tháng 4 năm 1975. Việc này được đại hội O.M.S chấp nhận ngày 7-5. Lập trường một quốc gia Việt Nam duy nhứt đã bị phá bỏ. Tức là có hai nước Việt Nam tại O.M.S.

Điều cần ghi nhận khác, tại đại hội O.M.S năm 1976, hai quốc gia VNDCCH và CHMNVN chỉ có một phái đoàn đại diện. Việc này vi phạm điều lệ LHQ, vì một người không thể đại diện cho hai quốc gia. Tuy vậy, việc này cũng được thông qua, với điều kiện, khi phái đoàn phát biểu cho nước nào thì phải để bảng ghi tên nước đó phía trước.

Như thế, trong chừng mực, VNDCCH chấp nhận có hai quốc gia Việt Nam: VNDCCH và CHMNVN, sau ngày 30-4-1975.

Việc thống nhứt đất nước 2-7-1976 như thế là thống nhứt giữa hai quốc gia. Vấn đề kế thừa về lãnh thổ do đó mang một sắc thái chính trị khác.

Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, việc phải lên tiếng khẳng định chủ quyền là một điều bắt buộc. Như đã viết ở trên:

"Trường hợp quốc gia có thay đổi chính thể do biến động chính trị (do đảo chánh, cách mạng …), hay một quốc gia mới được khai sinh (do thống nhất hai quốc gia hay hai vùng lãnh thổ, quốc gia ly khai…) việc kế thừa quốc gia sẽ đặt ra nhằm tái xác định, hay phủ định, hiệu lực các kết ước, hay các tuyên bố đơn phương của nhà nước (hay quốc gia) tiền nhiệm đã thể hiện đối với các nước khác."

Quốc tế cần phải biết thái độ của chính phủ mới về chủ quyền của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi vì, ở Trường Sa có tranh chấp với Trung Quốc và một số nước khác; ở Hoàng Sa thì Trung Quốc đã xâm lăng đảo này bằng vũ lực tháng 2 năm 1974. Việc lên tiếng không chỉ là cần thiết mà còn là bắt buộc, nếu Việt Nam muốn khẳng định chủ quyền ở hai quần đảo này.

Sau 30-4-1975, không thấy chính phủ Chính phủ Cách mạng Lâm thời tuyên bố lời nào về chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa. Thái độ im lặng này của Chính phủ Cách mạng Lâm thời có thể sau này ảnh hưởng đến hồ sơ pháp lý của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Theo thông lệ quốc tế, người ta thường xem việc một quốc gia giữ yên lặng trước một động thái của một quốc gia khác là không có ý kiến (hay mặc nhiên đồng thuận) về động thái đó. Thí dụ, thái độ im lặng của chính phủ VNDCCH trước việc Trung Quốc xâm lăng Hoàng Sa là một thái độ mặc nhiên đồng thuận việc Trung Quốc "giải phóng Hoàng Sa". Trong khi đó, Liên Xô đã lên tiếng phản đối động thái này của Trung Quốc.

Việc này không gây ngạc nhiên, bởi vì cuộc chiến này đã được gọi là cuộc chiến "giải phóng", tức cuộc chiến đánh đổ (phủ nhận) chính phủ tiền nhiệm, nhằm tháo gỡ cùm gông kìm kẹp dân chúng. Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã xem chính phủ tiền nhiệm là ngụy, là "quân bán nước", "làm tay sai của quân cướp nước" (tức đế quốc Mỹ). Do đó không có vấn đề "kế thừa" lãnh thổ. Làm thế nào có việc kế thừa "bọn cướp nước và bè lũ bán nước"? mà chỉ có vấn đề "giải phóng", "đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào", chiếm lại đất đai và dành lại dân chúng. Một số đảo ở Trường Sa đã được thể hiện như thế (de facto).

Đến nay, các mặt nạ lần lượt rơi xuống. Mọi người đều biết MTGPMN là con đẻ của đảng CSVN, chứ không hề do nhân dân miền Nam thành lập để "vùng lên" chống áp bức. Các cán bộ lãnh đạo Mặt Trận đều là đảng viên của đảng CSVN. Những lãnh đạo CSVN hiện nay, hay đã quá cố (Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết...), những người trong MTGPMN cũ, đều là thành viên TW của đảng CSVN. Nói MTGPMN là con đẻ của đảng CSVN là không sai. Đây là một thực tế không thể phản biện.

Chính phủ VNCDCH và Chính phủ Cách mạng Lâm thời tuy hai mà một. Ý kiến của VNDCCH về Hoàng Sa và Trường Sa trong chừng mực cũng là ý kiến của CHMNVN. Mà ý kiến đó là công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa. Ý kiến này không được người dân Việt Nam nào, Nam cũng như Bắc, chấp nhận. Hoàng Sa và Trường Sa là các lãnh thổ của quốc gia Việt Nam, do tổ tiên người Việt Nam khám phá, khai thác và quản lý trên thực tế liên tục từ nhiều thế kỷ. Chấp nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc là phản bội tiền nhân, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc Việt Nam.

Sự thật lịch sử là như thế, vấn đề đặt ra, nước CHXHCNVN thống nhứt ngày hôm nay sẽ kế thừa chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như thế nào? Nước này sẽ đứng trên lập trường của nước nào, VNDCCH, CHMNVN hay VNCH để khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa? Đây không phải là một lựa chọn về "chính trị" mà là một quyết định đứng vào lập trường nào để có thể bảo vệ một cách hữu hiệu quyền lợi của dân tộc.

IV. Tính pháp lý của việc kế thừa hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa của nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Ngày 2-7-1976 hai nước VNDCCH và CHMNVN hiệp thương thống nhứt đất nước. Như đã viết ở phần trên, VNDCCH chủ trương có hai nước Việt Nam sau 30-4-1975, qua việc VNDCCH xin gia nhập các định chế quốc tế. Ở điểm này, CHMNVN "kế thừa" VNCH, việc gia nhập vào các định chế quốc tế của CHMNVN chỉ đơn giản là thủ tục đổi tên nước. Nhưng sự gia nhập của nước VNDCCH vào các định chế quốc tế là với tư cách một nước Việt Nam khác.

Với tư cách một quốc gia khác, sau khi thống nhứt đất nước, CHXHCNVN có kế thừa VNCH hay không?

Sau khi thống nhứt đất nước, đại diện của Việt Nam tại các định chế quốc tế là đại diện của nước VNDCCH vừa mới gia nhập trước đó. Tính liên tục quốc gia đã được xác định: từ VNDCCH chuyển sang CHXHCNVN. Việc này làm rõ rệt tương quan giữa VNDCCH và VNCH. Nếu CHXHCNVN có ý định kế thừa CHMNVN, tức kế thừa VNCH, thì đã không gia nhập vào các định chế quốc tế (như trước 1975), để khẳng định nguyên tắc một quốc gia Việt Nam duy nhứt. Ở trường hợp này, sau khi thống nhứt giữa hai nước VNDCCH và CHMNVN, đại diện của CHMNVN, kế thừa VNCH, cũng sẽ là đại diện của nước Việt Nam mới CHXHCNVN.

Nhưng trường hợp này đã không xảy ra. VNDCCH luôn quan niệm VNCH là một chính quyền "tay sai của ngoại bang", là "ngụy" cần phải lật đổ, do đó không thể hiện hữu vấn đề kế thừa.

Nước CHXHCNVN là một nước Việt Nam mới, đoạn tuyệt với quá khứ của nhà nước thực dân và các nhà nước phong kiến. Lãnh thổ của nước CHXHCNVN là lãnh thổ chiếm được từ tay Pháp (1954) và Mỹ, Ngụy (1975), chứ không phải là lãnh thổ kế thừa từ cha, ông. Nhà nước CHXHCNVN cũng là nhà nước mới, đoạn tuyệt với mọi nhà nước thực dân, phong kiến, hay chính quyền Ngụy ở Sài Gòn.

Tinh liên tục quốc gia đã được thể hiện: di sản của VNDCCH được chuyển sang CHXHCNVN. Chính quyền CHXHCNVN kế thừa di sản của chính phủ VNDCCH. Việc này càng rõ rệt hơn khi ta nhận thấy đảng lãnh đạo nhà nước VNDCCH trước kia và đảng lãnh đạo nhà nước CHXHCNVN hôm nay là một: đảng CSVN.

Vấn đề kế thừa chính phủ CMLT cũng không đặt ra. Những người lãnh đạo chính phủ này cũng nằm trong đảng CSVN. Tức cả hai nước VNDCCH và CHMNVN, nhân sự lãnh đạo đều nằm trong một đảng. Mình với ta tuy hai mà một, lập trường chính trị của hai nước chỉ là một. Lý ra, sau 30-4-1975, CPCMLT không cần phải kế thừa VNCH, gia nhập các định chế quốc tế. Việc này hôm nay mới thấy đó là một thủ thuật chính trị của đảng CSVN để khỏi phải vướng mắc với di sản của VNCH tại các định chế quốc tế khi phải xin gia nhập sau này.

Như đã viết ở phần 1, việc kế thừa sẽ đặt lại các vấn đề về bang giao quốc tế. Đó là việc tái xác định, hay phủ định, hiệu lực các kết ước, hay các tuyên bố đơn phương của nhà nước (hay quốc gia) tiền nhiệm đã thể hiện đối với các nước khác. Sau 1975, chính phủ CMLT đã im lặng về tình trạng pháp lý ở Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi đó, nước CHXHCNVN, kế thừa VNDCCH, còn phải có nghĩa vụ tôn trọng những kết ước, những tuyên bố đơn phương về một vấn đề quốc tế... của nhà nước tiền nhiệm VNDCCH.

V. Tạm kết:

Với những phân tích sơ lược ở trên ta có thể kết luận danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa vẫn chưa hề thụ đắc (de jure). Xu thế của thời đại là giải quyết tranh chấp bằng phương tiện hòa bình. Tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa chỉ có thể giải quyết bằng một tòa án quốc tế. Với những lổ hỗng pháp lý như thế, nếu đưa ra một tòa án để phân giải ngay bây giờ, Việt Nam không có nhiều hy vọng để thắng Trung Quốc.

Vì vậy, mọi yếu tố pháp lý có thể làm phương hại cho Việt Nam đều phải được bàn luận tới. Bàn luận bằng môt thái độ khách quan, khoa học, với những dữ kiện thuyết phục, kiểm chứng được. Có như thế ta mới nắm vững được ngọn ngành của vấn đề.

Người viết sẽ trở lại trong bài tới để trình bày về hiệu lực pháp lý của các tuyên bố đơn phương và các hành vi mặc nhiên chấp thuận (của nhà nước VNDCCH về Hoàng Sa và Trường Sa) theo tài liệu hướng dẫn chính thức của LHQ. Người viết cũng sẽ phân tích về hiệu lực pháp lý của các tuyên bố đơn phương, các hành vi mặc nhiên chấp thuận qua các bản án mẫu của Tòa án Công lý Quốc tế (C.I.J), qua các trường hợp tranh chấp lãnh thổ đã xảy ra trong lịch sử thế giới, ở một số thí dụ để so sánh với trường hợp Việt Nam. Các thí dụ:

1/ nội dung và hiệu lực pháp lý của lá thư của Bộ ngoại giao Colombie gởi chính phủ Vénézuela về chủ quyền quần đảo Los Monjes.

2/ Nội dung và hiệu lực pháp lý của công hàm chính phủ lâm thời Johor về chủ quyền đảo Pedra Branca trong tranh chấp chủ quyền đảo này giữa Mã Lai và Tân Gia Ba.

3/ nội dung và hiệu lực pháp lý tuyên bố "Ihlen" của bộ trưởng Bộ ngoại giao Na Uy về chủ quyền Groenland trong tranh chấp lãnh thổ này giữa Đan Mạch và Na Uy.

4/ Nội dung tuyên bố của các viên chức Pháp về chủ quyền các đảo "Anglo-Normand" trong quá khứ và tác động của chúng lên quyết định của tòa án trong tranh chấp Anh-Pháp về chủ quyền các đảo này. 5/ Về thái độ của chính phủ Thái Lan về tấm bản đồ phân định biên giới 1907 và hệ quả của thái độ này lên phán quyết của tòa án trong tranh chấp Thái-Miên về chủ quyền ngôi đền Preah Vihear v.v…

Khi đã có một ý thức về hiệu quả pháp lý của các tuyên bố đơn phương hay các thái độ mặc nhiên công nhận qua các bản án mẫu, ta sẽ thấy tầm tác hại to lớn của các động thái trước kia của nhà nước VNDCCH về Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đó ta phải đi tìm một phương pháp thích ứng để hóa giải kịp thời hiệu lực của các tuyên bố hay thái độ này.

Chỉ có vậy mới có thể giữ được bờ cõi của tổ tiên, mới tránh được cảnh ức hiếp của Trung Quốc như các việc cắt cáp tàu Bình Minh II năm ngoái, hay việc cho đấu thầu 9 lô ngay trên thềm lục địa, trong vùng 200 hải lý ZEE của Việt Nam mới đây. Đó còn chưa nói tới nạn nhân trục tiếp là các ngư dân Việt Nam, những người thường xuyên bị TQ bắt bớ, tịch thu ngư cụ, tàu bè, bắt đòi tiền chuộc.

Không còn cách nào khác, Việt Nam là nước yếu, muốn bảo vệ quyền lợi của mình là phải đưa vấn đề ra tòa án quốc tế. Công lý dùng để bênh vực kẻ yếu. Mọi thái độ "đà điểu", hay thái độ "uống thuốc an thần" có thể giữ được đảng trong lúc này, có tác dụng trong giai đoạn mà tác hại đến đất nước lâu dài. Chế độ hữu hạn. Đất nước vĩnh cửu.

© Trương Nhân Tuấn
Theo blog Trương Nhân Tuấn
_____________________________________________

Ghi chú: Một số dữ kiện ở phần 2.3 và 3 dẫn từ bài "La représentation du VietNam dans les institutions spécialisées" của bà Joële Nguyên Duy-Tân. In: Annuaire français de droit international, volume 22, 1976. pp. 405-419.
http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/afdi_0066-3085_1976_num_22_1_1996


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Video Clip: Xuất hiện clip sex nghi của cán bộ tỉnh Nam Định

Những ngày qua cộng đồng mạng lại xôn xao một clip sex có độ dài gần 4 phút được phát tán trên Internet nghi của một cán bộ tỉnh Nam Định.

Clip được phát tán vào cuối tháng 6, clip ghi lại cảnh "ân ái" của một cặp nam nữ tại một nhà nghỉ được cho là trên địa bàn tỉnh Nam Định. Người đàn ông "diễn viên chính" trong clip tóc bạc gần trắng đầu, khá già và khoảng 55-60 tuổi.

Tuổi/Age 18+: Bọn lạ mặt dùng tà áo dài làm nhục hình ảnh người phụ nữ Việt Nam
Bọn lạ mặt dùng tà áo dài Duyên dáng làm nhục hình ảnh người phụ nữ Việt Nam....Sưu Tầm.....

Clip được một người thứ 3 quay lại và chính thức được đăng tải trên một trang web đen vào ngày 27.6. Theo thông tin từ người đăng tải này cho biết, người đàn ông trong clip là một cán bộ tỉnh Nam Định, sau khi đi nhậu cùng bạn về và quyết định tìm "gái làng chơi" để giải khuây.

Ngay khi được phát tán, nhiều bạn trẻ tỏ ra rất phẫn nộ vì cho rằng "đã già còn mất nết" không chịu làm gương cho con cháu.

Bạn tuanhung_12... nói: "Không rõ đây có đúng là của cán bộ tỉnh Nam Định không nhưng nếu đúng thì đây là điều đáng tiếc cho vợ con ông ta. Một cán bộ, một người cha thậm chí là người ông mà còn mất nết như vậy thì làm sao dạy bảo được con cháu, làm sao nói vợ nghe. Tôi nghĩ nếu cấp trên của vị cán bộ này xem được nên phạt thật nặng ông ta, hoàn toàn có thể cách chức vì nó sẽ ảnh hưởng xấu nơi ông này công tác và là tiền đề cho các cán bộ khác học theo thì rất nguy hiểm".

Còn bạn có địa chỉ yahoo: giodong_201@... nói: "Đề nghị cơ quan chức năng điều tra làm rõ đây có đúng là cán bộ tỉnh Nam Định không, nếu không đúng thì không sao chứ nếu đúng thì nên công khai danh tính của vị cán bộ này lên toàn cơ quan nơi ông ta công tác. Đầu đã gần như còn mỗi một thứ tóc trắng mà còn như vậy thì sao chỉ đạo được cấp dưới, sao ăn nói với lãnh đạo và càng không thể nói được vợ con. Bác gái ở nhà mà biết chắc sẽ đau lòng lắm".

© Lam Anh (theo VNN)

Warning: No under 18 years old - Cấm trẻ em dưới 18 tuổi

video



* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Cơ chế nào vậy thưa các ngài!?

Trong cuộc tiếp xúc "đại cử tri" ngày 29 tháng 6 tại quân Ba Đình, TBT Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định quyết tâm chống tham nhũng là cuộc chiến tranh có tính chất sống còn của chế độ. Và cũng tại buổi gặp gỡ này Ngài tổng bí cũng đã dành 30 phút phát biểu để khẳng định cái gọi là quyết tâm đó!

Trong bài phát biểu của mình ông đã ca ngợi nghị quyết trung ương 4, và cho rằng nó đã đáp ứng yêu cầu của tuyệt đại đa số cán bộ và nhân dân? Ông nói nhiều người ca ngợi nó như là đã thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống xã hội, tất cả "đều vui mừng"?

TBT Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định
quyết tâm chống tham nhũng là cuộc chiến
tranh có tính chất sống còn của chế độ.
Nói chung, tinh thần các bài phát biểu mà phần lớn chúng ta nghe thấy ở các vị lãnh đạo Đảng hầu hết đều na ná nhau từ khi khai sinh có Đảng đến giờ. Thông điệp từ nó là xưa cũ và cực kỳ nhàm chán, chẳng tạo ra một phương cách gì thật sự mới mẽ mà người dân trông đợi. Nếu không muốn nói là phát biểu thì cứ phát biểu còn thực tế nó diễn ra thế nào là một chuyện hoàn toàn khác chả liên quan gì với nhau. Trong các bài phát biểu ấy chúng ta thường nghe những từ đại loại như: quyết tâm, khẳng định, kiên trì, huy động tổng lực, nghiêm khắc, nhìn thẳng vào sự thật, nói hết... Ngoài ra để thể hiện tinh thần dân chủ cho cái "quyết tâm" muôn thuở ấy thành công mỹ mãn, không có điều chi mà không có dân chúng cùng tham gia với Đảng để giải quyết thành công cái 'quyết Tâm" ấy. Tương tự như lần này, ngài tổng bí của chúng ta cũng kết thúc bài phát biểu bằng cách hô hào kêu gọi, muốn công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực mà theo ông "tham nhũng, hư hỏng đâu cũng có" thành công là phải "dựa vào dân chứ chỉ có nội bộ làm là không ăn thua"?

Nếu là một người mù, sống xa quê hương có lẽ không ai trong số họ phàn nàn gì khi nghe những bài phát biểu đao to búa lớn hết sức "được lòng dân" như thế này từ cửa miệng của các công bộc. Có lẽ vì thế, không phải ngẫu nhiên mà tổ chức NEF xếp hạng nước ta là quốc gia có chỉ số hạnh phúc đứng hàng thứ hai trên thế giới chỉ sau Costa Rica. Biết đâu đây là tổ chức những gã mù điều hành cũng nên?

Đúng như những gì ông Trọng nói "Tham nhũng hư hỏng đâu cũng có", và để thực sự làm cho bộ máy trong sạch như quyết tâm chính trị của người lãnh đạo cao nhất nước như ông Trọng, hay ông CT nước Trương Tấn Sang, cần phải có sự tham dự tích cực của người dân. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là gì khi mà mỗi lần tiếp xúc với cử tri các ông ý cũng chỉ tiếp xúc với các đại cử tri do chính quyền địa phương chỉ định được phép tham dự. Nói thật từ khi lớn đến giờ mình chưa bao giờ biết được là tại địa phương mình cư trú có diễn ra các cuộc tiếp xúc như thế? Phải chăng những người được gọi là "đại biểu nhân dân" cũng thừa hiểu sẽ khó khăn thế nào khi tiếp xúc với rộng rãi các cử tri không chọn lọc? Bởi chính những cuộc tiếp xúc như thế họ sẽ phải đối diện với những câu hỏi hóc búa, nơi mà các đại cử tri vốn như những chú cùu non hiền lành chẳng khi nào uyên náo ầm ĩ. Vậy liệu rằng cái mà như ngài Sang nói là "chúng tôi muốn nghe sự thật" - có thật như hơi thở cuộc sống hiện tại không? Hay chỉ đơn thuần là những lời chúc tụng giả dối, ca ngợi những thành tựu điều hành của chính phủ trong thời gian qua và cả những kiến nghị yếu ớt?

Nếu các vị còn có chút thật tâm trong mong muốn dân góp ý chống tiêu cực có lẽ điều nên làm trước tiên là đổi mới hoàn toàn cách tiếp cận cử tri không qua chọn lọc. Không có những cản ngại nào cho những người dám chỉ trích điều hành của chính phủ. Tạo một cơ chế mới mà người tố cáo tham nhũng không bị bức hại. Và quan trọng là dám đưa ra ánh sáng những vụ tham nhũng tiêu cực nổi trội thời gian vừa qua như vụ Nexus technology, vụ Securency,... Điều tra cả trách nhiệm của Thủ tướng trong việc cải tố và điều hành Vinashin cách gì mà đẩy một tập đoàn bị phá sản sang một tập đoàn đang trên đà phá sản - Vinalines. Cũng xin nói thật với các vị, kiến nghị này là nói chơi cho vui thôi! Chứ còn lâu mới dám làm. Làm sao được khi mà hành động của các vị chỉ vì quyền lợi cho nhóm lợi ích của các vị hơn là vì quyền lợi dân chúng?

Không biết khi là người đứng đầu cơ quan chống tham nhũng, thay thế vai trò của ông Dũng liệu ngài Trọng có cơ chế gì khả dĩ để người dân tham gia? Liệu rằng với cách nói xoa dịu, mang nặng tính tuyên truyền đó ngài sẽ tạo được cú hích nào nức lòng dân trong một rừng cơ chế đầy rẫy lợi ích nhóm và nặng bè phái trong bộ máy rệu rã, thiếu minh bạch?

Ngài thấy rõ rằng nội bộ đầy những gã tay nhúng chàm hoàn toàn chẳng thể làm gì! Vậy thì cơ chế gì cho người dân tham gia? Báo chí là một kênh mà nơi đó người dân có thể tham gia mạnh mẽ nhất nhưng lại là công cụ của Đảng. Ngài thử nhìn lại xem. Mỗi khi một địa phương nào đó làm chuyện xằng bậy thì y như rằng cơ quan thông tấn, báo chí của địa phương đó chỉ bảo vệ duy nhất những người đứng đầu chính quyền địa phương đó. Tấn công ồ ạt các cá nhân bị áp bức bởi các quan chức địa phương. Bản thân các tổng biên tập của các cơ sở báo chí được bổ nhiệm bởi người đứng đầu chính quyền địa phương đó. Điển hình như báo chí Hải Phòng trong vụ Tiên Lãng hoàn toàn tê liệt. Vụ đài truyền hình Hà Nội đấu tố bà Bùi Hằng, linh mục Ngô Quang Kiệt,...

Vậy đó, báo chí của các ngài đã ra tay tàn độc thế nào đối với những cá nhân mà các ngài gọi là những thành phần nguy hiểm cho xã hội. Còn những sai lầm, những tội ác bản thân các vị công bộc của các ngài đối với đất nước, đối với một người dân thấp cổ bé họng nào đó thì báo chí không dám đụng đến!

Chúng tôi thường nghe các ngài chỉ đạo báo chí phải đi đến cùng sự thật. Vậy thì sự thật đó là gì? Trong bài phát biểu chịu trách nhiệm về những điều hành yếu kém của chính phủ ông PTT Nguyễn Xuân Phúc nói "để xảy ra các yếu kém và sai lầm vừa qua, chính phủ xin hoàn toàn chịu trách nhiệm". Vậy thì trách nhiệm ở đây là gì, và cách khắc phục nó ra sao, báo chí có dám đi sâu vào mỗ xẻ phân tích không? Trách nhiệm cụ thể từng thành viên ra sao? Cơ chế nhận trách nhiệm tập thể như thế giải quyết được gì cho những sai lầm đã qua, hay đó cũng chỉ là một kiểu nói mị dân? Và cuối cùng các vị cũng lại âm thầm xếp lại những hồ sơ bất minh trong sự chán chường của dân chúng?
Thưa ngài Trọng, với một học hàm học vị cao ngất trong ngành lý luận Mác Lê - TSGS ngành xây dựng Đảng, những phát biểu của ngài chỉ có thể làm an lòng các đại cử tri được chỉ định, nhưng nó thật là nhố nhăng trong con mắt dân chúng, bởi ngài chỉ đưa ra giải pháp nửa vời mà không có cơ chế gì thực thi giải pháp đó. Dân chúng thấy, các ngài thấy rõ hơn bởi vì các ngài chính là người ở trong cái hộp kín ấy. Nhưng quyết tâm để đưa ra ánh sáng những dữ liệu đen tối bên trong chiếc hộp đen bí ẩn đó quả là chuyện xa vời. Các vị vừa đá bóng, vừa thổi còi thì trận đấu có gì mà đáng xem?
Thực tiễn cho thấy những phát biểu ấy của ngài cũng chỉ đơn thuần là trò chơi chính trị! Trong trò chơi ấy của một chế độ mà người đứng đầu như ngài sẽ chẳng bao giờ có nhu cầu chia sẽ quyền lực với dân. Bởi chia sẻ quyền lực với dân là ngài đã tự tay xóa bỏ chế độ. Các ngài vừa là người đứng đầu vừa mong muốn dân tham gia một cách giới hạn vào quyền lực bằng những cuộc chơi dân chủ nửa vời, giúp duy trì, kéo dài chế độ của các vị trong bệnh hoạn. Đồng thời nó cũng cố cho ngài lòng tự kỷ, thỏa mãn giấc mơ quyền lực!

Ngày nào đó ngài và các đồng chí của ngài còn thỏa mãn tham vọng quyền lực, chẳng chóng thì chày các vị sẽ chết bởi tham vọng đó. Một Võ Nguyên Giáp ngày nào tung hoành ngang dọc chiến trường nay chỉ nằm chết gí trên giường bệnh, ngay cả bức tâm thư của ông về Bau-xít cũng không báo nào dám đăng. Một Hồ Chí Minh là thế mà còn không quyết định nổi bất cứ quyết định quan trọng nào ở những năm cuối đời. Đặc biệt quan trọng khi Tàu có những hành vi đòi hỏi chủ quyền biển đảo của ta, chúng tôi chả hề nghe thấy bất cứ vị công bộc cao cấp nào trong bộ chính trị dám lên tiếng chỉ trích TQ. Thay vào đó nào là hội nghề cá, hội luật sư, petro VN,... toàn là những hội vớ vẩn thuần về dân sự lên án trông thật buồn cười!

Phải chăng chính sự vay mượn quyền lực trong quá khứ để đánh Pháp, chống Mĩ "cứu nước", bằng một khế ước bán rẻ cả vận mệnh tổ quốc, cốt cho các ngài thỏa mãn tham vọng quyền lực. Khế ước nhục nhã ấy nay vào lúc đáo hạn, dứt điểm nợ nần phải trả bằng bau-xít, trả bằng rừng, bằng khoáng sản, trả bằng lãnh thổ trên đất liền cũng như trên biển,... Chính vì bán linh hồn cho con quỉ TQ đổi lấy quyền lực mà ngày nay tổ quốc này phải trả giá quá đắc chăng?

Đổi lại sự yếm thế với kẻ bề trên khốn nạn ấy, các ngài toan tính nhận thêm hai ngôi làng của Campuchia mà Hunsen dâng không cho Việt Nam? (nguồn BBC) Là người VN chân chính, chúng tôi không ai vui khi nghe tin này. Lịch sử của dân tộc ta cũng có quá nhiều tội ác với các dân tộc nhỏ. Các ngài hãy một lần làm kẻ quân tử, như là cách hành xử để đức lại cho con cháu mai sau!
"Faust - một học giả tài ba, tính tình ngạo mạn, chuyên giao du với những kẻ đồi bại, sống đời sống của kẻ vô thần một cách tự do, phóng túng. Để thỏa mãn lòng mong muốn mở mang trí tuệ, Faust kết thân với quỷ Mephisto ở dưới địa ngục và hiến đi linh hồn của mình. Sau khi mở mang được rất nhiều kiến thức, thỏa mãn mọi dục vọng ở trần gian thì Faust bị Mephisto xé tan xác khiến cho máu, óc Faust vung vãi khắp nơi". Câu chuyện về Faust kẻ bán linh hồn cho quỉ (Wikipedia), liệu có tương đồng với câu chuyện các ngài đã làm trong quá khứ?

Cơ chế nào để ngài bảo rằng "chống tham nhũng là công việc của mọi người"? Khi bản thân các ngài giờ đây chẳng còn có linh hồn!

© Đào Hữu Nghĩa Nhân
Theo blog Đào Hữu Nghĩa Nhân


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều