Ý nghĩa chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Hillary Clinton

12:11 |
Mới đầu tháng rồi Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta viếng thăm Việt Nam. Và vào đầu tuần tới, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng tới thăm Việt Nam. Câu hỏi được nêu lên là tại sao các quan chức cao cấp Hoa Kỳ dồn dập viếng thăm VN như vậy?
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton khởi
 đầu chuyến công du Pháp, Nhật Bản, Mông Cổ,
 Việt Nam, Lào, Campuchia, Ai Cập và Israel
rời Washington, DC vào ngày 05 tháng 7.
Qua cuộc phỏng vấn do Thanh Quang thực hiện, GS Nguyễn Mạnh Hùng thuộc Đại học George Mason, Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ, trước hết nhận định như sau:

RFA Audio

Thử sức Mỹ?

GS Nguyễn Mạnh Hùng:Trước hết nói về chuyện tại sao bà Clinton đến thăm Việt Nam thì có vấn đề ngay lập tức là chuyến đi này của bà Clinton kéo dài 2 tuần lễ để giải quyết nhiều vấn đề từ Syria đến Afghanistan, cho đến vụ ASEAN.

Riêng đối với chuyến thăm Việt Nam thì bà đến đó để dự 3 hội nghị rất là quan trọng: thứ nhất là Diễn Đàn An Ninh Đông Nam Á, thứ hai là Hội Nghị Thượng Đỉnh Đông Nam Á cấp Ngoại Trưởng, và sau đó là Hội Nghị hậu thượng đỉnh Đông Á gồm các ngoại trưởng giữa US và ASEAN mà thôi, và đây cũng là thời cơ nhân tiện để ghé thăm Việt Nam, và thứ hai nữa ngay trong vụ này thì trong mấy tuần vừa qua thì mình thấy có hai vụ sôi động ở nơi đó làm cho Mỹ phải quan tâm.
BT quốc phòng Mỹ Leon Panetta và BT quốc phòng VN Phùng Quang Thanh gặp nhau tại Hà Nội ngày 4 tháng 6, 2012. AFP photo.
Đó là, thứ nhất là vụ tranh chấp ở bãi cạn Scarborough và thứ hai là vụ Trung Quốc cho đấu thầu khai thác dầu 9 lô trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và Việt Nam có phản ứng lại, rồi lại có tin tàu Trung Quốc đuổi tàu Việt Nam mà Việt Nam lại đưa tin cải chính, thì những cái này làm tình hình sôi động lên tạo cơ hội cho bà Clinton ghé thăm, bởi vì ở đó có một số hội nghị và thứ hai nữa là những vấn đề nóng bỏng xảy ra cũng đòi hỏi sự quan tâm của nước Mỹ. Đó là về việc của bà Clinton.

Bây giờ cộng với việc của bà Clinton và ông Panetta thì ta thấy thực sự ông Obama qua chính sách gọi là thực hiện trọng tâm chiến lược của Mỹ về ASIA, thì vấn đề này người Mỹ nói như vậy nhưng bên Á Châu thì người ta không có tin, nhất là phía Ấn Độ thì họ bảo là Mỹ đang thâm thủng ngân sách mà tình trạng chính trị thì tê liệt bởi vì lưỡng đảng đang tranh chấp nhau, thành ra làm gì mà Mỹ có khả năng sang với Á Châu. Vì thế cho nên hai chuyến thăm của ông Panetta và bà Clinton là để nói cho Á Châu biết “Chúng tôi rất quan tâm đến Á Châu và chúng tôi thành thật quan tới Á Châu”.
Cái thứ ba là họ thử Mỹ, thành ra đây là con bài mà nó đưa vào trong vòng thử thách.
GS Nguyễn Mạnh Hùng
Khác hẳn với lần trước thời ông Bush thì bà Condi Rice được mời mấy lần mà không có tham dự, thì lần này suốt từ năm 2010 là người Mỹ liên tục tham dự kể cả ông Tổng Thống Obama nữa, nên khi ông Panetta đến Cam Ranh thì trước đó ông nói rõ là ông sẽ chuyển 60% hải lực của Mỹ sang vùng Tây Thái Bình Dương từ giờ cho tới thời diểm 2020.

Và đặc biêt nhất là ông Panetta là tổng trưởng quốc phòng đầu tiên đến thăm Cam Ranh, và ông cũng nói toạc móng heo ra là Mỹ muốn có tàu được cập bến Cam Ranh nhiều hơn. Đó là trong khuôn khổ chính sách chung của Mỹ.

Một vấn đề cuối cùng nữa có thể là quan trọng, là bởi vì có tin rằng ông Tổng Thống Obama có thể sang thăm vùng Á Châu và nhân tiện sẽ ghé Việt Nam, vì vậy việc thăm viếng tất cả ở đây cũng là chuẩn bị cho cuộc viếng thăm đó, nếu có.

Thanh Quang: Thưa Giáo Sư, giữa lúc Trung Quốc ngày càng tiếp tục hành động không mấy che giấu là xâm lược chủ quyền lãnh hải của Việt Nam và của cả Philippines, gọi thầu như Giáo Sư vừa trình bày là khai thác dầu ngay sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, v.v... dù bề ngoài Bắc Kinh luôn nói là sống chung hòa bình, thì liệu sự hiện diện như vừa nói của các viên chức cao cấp Mỹ có thể giúp làm chùn bước hành động ấy của Trung Quốc hay không, thưa Giáo Sư?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Trước hết tôi nghĩ nói một cách tổng quát thì có thể Trung Quốc phải nghĩ lại, lý do là như thế này, nó có ảnh hưởng hai chiều cơ: Điều thứ nhất, Trung Quốc vẫn nói là mình phát triển hòa bình và có quan hệ tốt đẹp với các quốc gia Đông Nam Á nhưng mà chuyện Trung Quốc làm như thế này thì rất có hại cho Trung Quốc, thành ra vì thế mà các quốc gia Đông Nam Á sẽ sợ và họ sẽ quay về Mỹ, thứ hai là sự hiện diện của Mỹ được “welcome” hơn, được đón tiếp tốt đẹp hơn, thì cái đó sẽ thiệt hại cho Trung Quốc.

Nhưng mặt khác nó có cái chiều khác là có những biến chuyển dồn dập như thế thì Trung Quốc sợ rằng nếu mà để lâu thì Mỹ càng hiện diện nhiều hơn. Và càng để lâu thì các quốc gia như Phi Luật Tân, Việt Nam có khả năng cứng cựa hơn, thành ra cũng có thể làm cho họ dồn dập muốn thử như vụ Scarborough và vụ Việt Nam hiện nay, thì họ thử luôn mấy chuyện để, thứ nhất là họ thử xem cái sức của mấy anh ra sao, các anh có làm được gì chúng tôi hay không. Thứ hai nữa là họ thử cái mà cứ hay gọi là “ASEAN là trọng tâm của tất cả mọi việc” thì cái vụ Scarborough cho thấy là ASEAN chả nói được cái gì cà. Cái thứ ba là họ thử Mỹ, thành ra đây là con bài mà nó đưa vào trong vòng thử thách.

Bài toán khó

Thanh Quang: Trước khi trở lại việc thử sức như Giáo Sư vừa đề cập thì, thưa Giáo Sư, người Việt Nam nên đón nhận những chuyến viếng thăm Việt Nam của các viên chức Hoa Kỳ như thế nào và ở mức độ nào?
Tàu Trung Quốc chặn đuổi tàu công vụ của Viêt Nam ra khỏi khu vực lãnh hải của VN ở khu vực quần đảo Trường Sa. Ảnh chụp trên CCTV của TQ.
GS Nguyễn Mạnh Hùng: Người Việt Nam thì có hai loại, thứ nhất là người ở ngoại quốc thì chúng ta thấy trong các website ông nào cũng nói “đi với Mỹ đi để chống Tàu”, thì thực sự chuyện đó không có giản dị như vậy, nhưng mà ở ngoại quốc cứ nói như vậy.

Còn ở trong nước thì có hai loại, thứ nhất chúng ta thấy người bình dân họ cũng nói nên đi với Mỹ để chống Tàu, nhưng mà ngược lại đối với tù chính trị và những chiến lược gia thì họ phải suy nghĩ rất kỹ về việc đó là bởi vì Việt Nam thì ở cạnh nước Tàu, liệu một “confrontation” đương đầu với Tàu có phải là điều tốt hay không? Nếu mà tránh được thì ngay cả những ông cụ nhà ta ngày xưa cũng tìm cách tránh cái đó, tuy giữ độc lập nhưng làm sao tránh khỏi “confrontation” thì bài toán rất khó. Và nhất là cái vấn đề ở trong chính trị quốc tế người ta bao giờ cũng tìm cách quân bình lực lượng, thì quân bình lực lượng của Mỹ là rất tốt nhưng mà điều đó không xảy ra dễ dàng như người ta tưởng.'
Nhưng ngược lại đối với tù chính trị và những chiến lược gia thì họ phải suy nghĩ rất kỹ về việc đó là bởi vì Việt Nam thì ở cạnh nước Tàu, liệu một “confrontation” đương đầu với Tàu có phải là điều tốt hay không?
GS Nguyễn Mạnh Hùng
Thanh Quang: Dạ. Chuyện mà Trung Quốc muốn thử sức như Giáo Sư vừa đề cập thì thưa Giáo Sư hiện có nhiều người quan ngại là việc Bắc Kinh ngày càng tăng cường lực lượng tàu bè ở Biển Đông và xâm lấn trắng trợn vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế như trường hợp của Việt Nam và của Philippines vừa rồi, kiểu như “giành dân chiếm đất”, thì Giáo Sư có lo ngại xung đột vũ trang sắp sửa xảy ra hay không ạ?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Xung đột vũ trang nếu xảy ra thì có thể bất cứ lúc nào vì trong tình trạng căng thẳng thì nhiều khi sự tính lầm cũng có thể xảy ra võ trang được. Dù sao những yếu tố này là yếu tố của chính phủ cho nên họ có hành động, họ có thử thì họ cũng khôn lắm, họ cũng dè dặt. Thí dụ như vụ Scarborough thì chỉ có Phi Luật Tân là gửi tàu chiến đến và rút ra ngay chứ Trung Quốc không gửi tàu chiến, nó chỉ dùng để thử thôi.

Thế còn trong trường hợp đấu thầu 9 lô thì nó cũng chẳng phải là chính phủ mà nó chỉ là cơ quan của một hãng dầu Trung Quốc, mà hãng dầu Trung Quốc cũng như Việt Nam đều là những hãng dầu quốc doanh, thành ra khi họ hành động thì họ cũng khôn khéo lắm vì còn để đường rút lại vì họ nói không phải là chính phủ làm, một mặt là công ty nó làm nhưng chính phủ thì cứ nói tử tế nhưng mà hành động thì công ty hành động, rồi họ bảo những hành động chẳng hạn như họ bảo vùng đó là do quận - huyện - tỉnh, ở trong vùng duyên hải do tàu hải giám, họ bảo không phải của trung ương mà của địa phương, thành ra những cái đó chứng tỏ họ khôn lắm.

Thanh Quang: Cảm ơn GS Nguyễn Mạnh Hùng rất nhiều ạ.

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Dạ. Không có chi!

  © Thanh Quang, phóng viên RFA  
Đọc tiếp…

“Cuộc chiến mới” của Việt Nam và Trung Quốc

10:00 |
Trong khi người dân hai nước Việt – Trung chưa quên các cuộc chiến trong lịch sử giữa hai nước mà gần nhất là cuộc chiến biên giới năm 1979, cuộc chiến tại biển Đông năm 1974 và 1988; thì Hà Nội và Bắc Kinh dường như đang bắt đầu một cuộc chiến mới - cuộc chiến về chủ quyền trên biển Đông.
Quân đội Việt Nam tại cuộc chiến biên giới
Việt Trung năm 1979, ảnh chụp
hôm 23-02-1979. AFP PHOTO
Chỉ có điểm khác biệt: đây dường như là cuộc chiến không tiếng súng. Mời quý vị nghe Quỳnh Chi tổng hợp và tường trình.

Bắc Kinh giận dữ

Một đội tàu tuần tra Trung Quốc vừa đến khu rạn san hô và đảo ở trung tâm Trường Sa để thực hiện quan sát gần; sau khi đến đảo Đá Châu Viên (tức Cuarteron Reef thuộc Trường Sa). Tính cho đến ngày 3 tháng 7, đây là diễn biến mới nhất trong thời gian gần đây sau hàng loạt các tranh cãi gay gắt cũng như các hành động mà giới chức Hoa Kỳ gọi là “khiêu khích” từ phía Bắc Kinh.

Luật Biển Việt Nam được Quốc hội thông qua, trong bối cảnh căng thẳng biển Đông đang gia tăng mà chưa có hướng giải quyết.Và điều 1 trong luật này khẳng định rõ chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam đã gây khó chịu cho phía Trung Quốc.

Ngay khi Luật Biển này được thông qua hôm 21 tháng 6, cùng ngày, thứ trưởng Ngoại giao Trương Chí Quân của Trung Quốc triệu đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh Nguyễn Văn Thơ đến nhằm phản đối Luật Biển mà nước này cho là “phi pháp”. Cùng thời điểm, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Hồng Lỗi cũng lên tiếng yêu cầu Việt Nam “sửa chữa sai lầm”.

Bản đồ chỉ rõ 9 lô dầu khí mà Tổng
Công ty Dầu khí Hải Dương Trung
 Quốc mở thầu quốc tế hoàn toàn
nằm trong vùng đặc quyền kinh tế
200 hải lý và thềm lục địa của Việt
Nam.Source PVN.
Một ngày sau đó, Quốc hội Trung Quốc yêu cầu Việt Nam “sửa ngay lập tức” Luật Biển vừa được thông qua. Qua một lá thư của Ủy ban đối ngoại Đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc gởi cho Ủy ban đối ngoại Quốc hội Việt Nam, Bắc Kinh khẳng định “chủ quyền không tranh cãi” đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Cũng trong thời gian đó, hàng loạt các tờ báo Trung Quốc, trong đó có tờ China Daily, lên tiếng phản bác lại Luật Biển Việt Nam với những lời lẽ gay gắt đầy đe dọa. Trong số đó, bài viết nhan đề “Trò hề lố bịch” số ra hôm 25 tháng 6 ám chỉ một cách gay gắt rằng Việt Nam “chiếm cái của người khác làm của mình” và đe dọa sẽ “trả giá đắt”. Trước đó, bài viết, “Khiêu khích sẽ dẫn đến hành động đáp trả” và “Cần có biện pháp cứng rắn để bảo vệ chủ quyền ở Nam Hải” đăng trên Nhân dân Nhật báo vào tờ Văn Hối cũng có những lời lẽ mạnh bạo tương tự.

TS Đặng Đình Quý, giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam trong lần phỏng vấn gần đây với đài RFA đã nói về hoạt động của Trung Quốc như sau:

“Nó căng thẳng hơn vì những hoạt động của họ nghiêm trọng hơn trước. Đó là hành động tiến thêm một bước nữa trong việc khẳng định chủ quyền ở khu vực đường lưỡi bò. Đó là một hướng mà Trung Quốc làm để dần đẩy tất cả mọi người ra khỏi khu vực đường lưỡi bò”.

Hồi năm ngoái, tờ Hoàn Cầu Thời Báo cũng từng lên tiếng đe dọa các nước trong khu vực “chuẩn bị nghe tiếng đại bác”. Việc giới chức, học giả và các cơ quan truyền thông của Trung Quốc theo xu hướng chủ nghĩa dân tộc dùng những lời mạnh bạo nhằm chỉ trích các nước khác không còn là một điều lạ, nhất là khi Trung Quốc càng thể hiện rõ quyết tâm trong vấn đề biển Đông thời gian gần đây. Tuy nhiên, một loạt những hành động không chỉ bằng lời nói từ phía Trung Quốc cho thấy nước này sẵn sàng tiến bất cứ bước nào có thể trong cuộc tranh giành chủ quyền tại biển Đông, nơi mà cho đến bây giờ, Trung Quốc vẫn còn tỏ ra khá mập mờ trong việc xác định vùng tranh chấp.

Ngay sau khi Luật Biển Việt Nam ra đời, lần đầu tiên Trung Quốc lên tiếng xác nhận việc thành lập thành phố cấp địa khu Tam Sa, bao gồm Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) và Trung Sa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc lên tiếng xác nhận tin này, sau khi nhiều lần phủ nhận từ năm 2007 vì gặp phải sự phản đối quyết liệt của người Việt Nam.

Cũng trong hành động mà nước này gọi là nỗ lực bảo vệ chủ quyền ở biển Đông, giới hữu trách Hải Nam cũng lên tiếng xác nhận vào cuối tháng 8 này, sẽ phủ sóng phát thanh và phát hình toàn bộ khu Tam Sa.
Giới nghiên cứu biển Đông cũng không lấy gì làm ngạc nhiên nhưng lần này họ làm một cách trắng trợn.
Nhà nghiên cứu biển Đông Đinh Kim Phúc
Trong khi đó, ông Cảnh Nhạn Sinh, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm 28 tháng 6 cũng cho biết nước này sẽ nghiên cứu đến việc đặt cơ quan quân sự tại Tam Sa, đồng thời phản đối những chuyến bay tuần tra của Việt Nam tại khu vực này. Chỉ hai ngày trước đó, một nhóm tàu tuần tra gồm 4 tàu hải giám của Trung Quốc mang số hiệu 83, 84, 66 và 71 và hàng chục trực thăng cũng được điều vào biển Đông.

Hàng loạt hành động từ phía Trung Quốc diễn ra trong cùng một thời điểm rất ngắn không che lấp được sự tức giận của phía Trung Quốc đối với Luật Biển Việt Nam. Tuy nhiên, có lẽ sự việc “khiêu khích” lên đến đỉnh điểm nhất cho tới giờ phút này là việc Bắc Kinh kêu gọi đấu thầu khai thác dầu khí tại 9 lô ở biển Đông, trong đó các các lô chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.

Chín lô dầu khí mà Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) hôm 23 tháng 6 kêu gọi mời thầu được cho biết cách đảo Phú Quý (Bình Thuận) chừng hơn 30 hải lý và cách Nha Trang chưa đến 60 hải lý; nghĩa là nằm trong vùng tài phán của Việt Nam. Chín lô này có các lô chồng lấn với Việt Nam từ lô 128 đến 132 và lô 145 đến 156, là nơi mà Petro Việt Nam đã có các hoạt động thăm dò từ trước.

Nhà nghiên cứu biển Đông Đinh Kim Phúc nhận xét:

“Giới nghiên cứu biển Đông cũng không lấy gì làm ngạc nhiên nhưng lần này họ làm một cách trắng trợn. Hành động của Trung Quốc cho thấy tham vọng độc chiếm biển Đông là không bao giờ từ bỏ. Nó cũng là hồi chuông cảnh báo cho những ai vẫn còn ảo tưởng về cái gọi là “sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc”.

Hà Nội đáp trả

Việc Trung Quốc gay gắt trả đũa lại Luật Biển Việt Nam có lẽ không nằm ngoài suy đoán của nhiều người; tuy nhiên, cái mà người ta dường như không dự đoán được là phản ứng đáp trả kiểu “ăn miếng trả miếng” từ phía Việt Nam.

Biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm
01/07/2012. Photo courtesy CTV Danlambao .
Ngay sau khi Trung Quốc triệu đại sứ phản đối Luật Biển, cùng ngày, người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị đáp trả rằng việc thông qua Luật Biển Việt Nam là “hoạt động lập pháp bình thường” và cho rằng "Đáng tiếc là Trung Quốc đã có những chỉ trích vô lý đối với việc làm chính đáng của Việt Nam”.

Người phát ngôn của cơ quan ngoại giao Việt Nam hôm 26 tháng 6 cũng lên tiếng yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ hành động kêu gọi thăm dò dầu khí mà ông gọi là “phi pháp”. Ông Lương Thanh Nghị cũng không quên nhắc nhở phía Trung Quốc tôn trọng Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc. Đây là thỏa thuận được ký giữa Tổng bí thư ĐCSVN và Tổng bí thư ĐCSTQ hồi tháng 10 năm ngoái, trong đó hai đảng khẳng định “Căn cứ chế độ pháp lý và nguyên tắc được xác định bởi luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982”. Mạnh dạn hơn, bộ Ngoại giao Việt Nam hồi cuối tháng cũng đã trao công hàm cho đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội nhằm phản đối hành động kêu gọi thăm dò dầu khí trên.

Trong khi đó, lãnh đạo thành phố tỉnh Khánh Hòa và Đà Nẵng, yêu cầu Bắc Kinh hủy bỏ kế hoạch thành lập thành phố Tam Sa và gọi đây là hành động phi pháp.

Nhà nghiên cứu biển Đông Đinh Kim Phúc nhận xét về phản ứng của phía Việt Nam như sau:

“Phản ứng của Việt Nam trong thời gian vừa qua là vừa phải, có sự nhân nhượng để bảo đảm vấn đề ổn định và phát triển đất nước. Nhưng đối với dã tâm của Trung Quốc thì nhân nhượng phải có chừng mực chứ không thể mềm yếu trước thái độ hung hăng của Trung Quốc”.
Phản ứng của Việt Nam trong thời gian vừa qua là vừa phải, có sự nhân nhượng để bảo đảm vấn đề ổn định và phát triển đất nước.
Nhà nghiên cứu biển Đông Đinh Kim Phúc
Nếu các học giả hay giới truyền thông Trung Quốc đồng loạt lên tiếng chỉ trích Luật Biển Việt Nam nhưng không đưa ra căn cứ để chứng minh cho cái gọi là “chủ quyền không thể tranh cãi” của mình thì truyền thông, giới học giả và các công ty Việt Nam cũng phản bác lại lập luận của Trung Quốc với lời lẽ không quá gay gắt nhưng khá cứng rắn.

Đáp trả lại hành động kêu gọi mời thầu tại 9 lô chồng lấn với Việt Nam, Petro Việt Nam đã tổ chức buổi họp báo hôm 27 tháng 6 nhằm phản đối việc này; cho đây là “việc làm sai trái, không có giá trị, trái với công ước Liên Hiệp Quốc 1982 về Luật Biển và không phù hợp với thông lệ dầu khí quốc tế”. Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí - Đỗ Văn Hậu còn tuyên bố “trong trường hợp phía Trung Quốc hoặc doanh nghiệp trúng thầu cố tình phớt lờ ý kiến của Việt Nam, PVN vẫn sẽ phản đối đến cùng”.

Cùng thời điểm, Luật sư đoàn Việt Nam, Hội luật gia Việt Nam cũng lên tiếng và có nhiều bài phân tích về tính phi pháp của việc mời thầu ngày 23 tháng 6 của Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc. Theo đó, Trung Quốc đã vi phạm điều 58, 76 và 77 của Công ước LHQ về Luật Biển 1982 mà Trung Quốc là một trong khoảng 150 nước thành viên.

Trong khi đó, giới quan sát cũng bắt đầu để ý đến những phát biểu khẳng định chủ quyền lãnh thổ trong các cuộc tiếp xúc cử tri hôm cuối tháng của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng. Nhưng có lẽ hành động quyết tâm nhất vẫn là cuộc tuần hành phản đối Trung Quốc và ủng hộ Luật Biển Việt Nam của ít nhất 500 người dân Hà Nội và Sài Gòn hôm 1 tháng 7. Bất kể mức độ thành công của cuộc tuần hành đến mức nào và mức độ người dân tham gia ra sao, nó cũng nói lên được rằng không dễ để một đất nước từ bỏ chủ quyền của mình.

Mặc dù ít được truyền thông trong nước nhắc đến nhưng máu xương của những người đã ngã xuống trong các cuộc chiến gần đây với Trung Quốc vào năm 1974, năm 1979 và 1988 không thể nào được xem như chưa bao giờ xảy ra. Việt Nam và Trung Quốc cũng đang bước vào một cuộc chiến tuy không tiếng súng nhưng không kém quan trọng. Dấu ấn sau mỗi cuộc chiến, kể cả cuộc chiến không tiếng súng, thì ngoài kết quả cuối cùng còn có việc người ta chiến đấu như thế nào. Và lịch sử luôn đón chào những cuộc chiến mà trong đó, người ta bảo vệ những gì thuộc về mình.

© Quỳnh Chi, phóng viên RFA

Đọc tiếp…

Tính pháp lý của việc kế thừa hai quần đảo [Hoàng Sa và Trường Sa]

04:01 |
Khi trả lời câu hỏi nước Việt Nam là gì, chúng ta sẽ nghĩ về nó dưới nhiều phương diện khác nhau.

Về phương diện lịch sử, văn hóa, dân tộc, có thể cho rằng đất nước Việt là nước bắt đầu từ thời các Vua Hùng, đi qua các thời kỳ của An Dương Vương, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, vv, các triều đại sau đó, qua giai đoạn cận đại cho đến tận ngày nay. Phương diện này xem những lần chia cắt đất nước chỉ là nhất thời và nhấn mạnh đến kết quả là đất nước hiện tại là thống nhất.
Trên phương diện chính trị, có quan điểm cho rằng quốc gia ngày nay có tên Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) chính là quốc gia ra đời ngày 2/9/1945 khi Việt Minh tuyên bố Việt Nam là một nước độc lập với tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH). Tiếp theo, quan điểm này có thể cho rằng từ đó đến nay từ Bắc tới Nam luôn luôn chỉ có duy nhất một quốc gia Việt Nam, hoặc ở một thời điểm nào đó sau Hiệp định Genève, VNDCCH trở thành một quốc gia phía Bắc vĩ tuyến 17, nhưng tới 30/4/1975 thì bao gồm cả phía Nam, và sau đó đổi tên thành CHXHCNVN.

Tuy nhiên, về phương diện pháp lý, CHXHCNVN hiện tại được cấu thành từ hai quốc gia có tên VNDCCH và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CHMNVN), trước đó có tên Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Quan điểm này dựa trên luật quốc tế và sự công nhận của cộng đồng quốc tế, và tách rời khỏi những yếu tố tình cảm, ý thức hệ và các mục đích chính trị.

Cách nhìn pháp lý này bị né tránh vì nó liên quan nhiều đến hình thức, thủ tục khô khan, và vì trên thực tế vai trò của nó có vẻ đã là hạn chế trong ứng xử chính trị giữa người Việt với nhau. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có vai trò quan trọng trong việc CHXHCNVN quyết định tiếp nối thế nào đối với những nghĩa vụ và quyền lợi của hai quốc gia trước, và đặc biệt là nó có vai trò quan trọng trong cuộc tranh biện về Hoàng Sa, Trường Sa.

Lý do là, trong lập luận của họ, Trung Quốc mặc nhiên bỏ qua các tuyên bố và hành động của VNCH trong việc bảo vệ chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, mặc nhiên cho rằng CHXHCNVN là VNDCCH trước 1976, và dùng công hàm của thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng, cũng như các hành vi liên quan của VNDCCH, để diễn giải rằng CHXHCNVN đã công nhận chủ quyền Trung Quốc trên hai quần đảo này.

Trước 1976: có hai quốc gia

Vấn đề ở đây là nếu chính phủ VNCH không phải đã từng là đại diện của một quốc gia thì những tuyên bố và hành động của chính phủ đó để duy trì chủ quyền sẽ không có giá trị.
Trước 1976, Việt Nam có hai quốc gia khác biệt trong tình trạng chiến tranh
Theo luật quốc tế, để là một quốc gia, cần có (i) lãnh thổ, (ii) dân cư, (iii) chính phủ, và (iv) khả năng có quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác. Phần lớn các nhà luật học viết về tính quốc gia trong trường hợp Việt Nam đều cho rằng VNDCCH và VNCH/CHMNVN là hai quốc gia.

Tuy Hiệp định Genève 1954 chỉ chia Việt Nam thành hai vùng tập kết với ranh giới là vĩ tuyến 17, nhưng do các yếu tố thực tế (de facto), có thể cho rằng bắt đầu từ một thời điểm nào đó sau Hiệp định, ở Việt Nam có hai quốc gia: quốc gia phía Bắc với tên VNDCCH, và quốc gia phía Nam với tên VNCH. Ranh giới vĩ tuyến 17 trong Hiệp định Genève 1954 đã trở thành biên giới de facto giữa hai quốc gia. Mỗi quốc gia có lãnh thổ, nhân dân, chính phủ và quân đội riêng và đều được công nhận bởi nhiều quốc gia khác trên thế giới. Tới năm 1966, VNCH cũng có tư cách quan sát viên thường trực tại LHQ. Trong một số nghị quyết của LHQ vào năm 1973 cũng đã chỉ rõ VNDCCH là một quốc gia.

Khi Chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN ra đời năm 1969, Chính phủ VNDCCH công nhận đó là đại diện hợp pháp của quốc gia phía Nam. Trung Quốc cũng công nhận đó là đại diện hợp pháp của miền Nam. Như vậy, không nước nào, kể cả Trung Quốc, có thể nói rằng chính phủ VNDCCH luôn luôn cho rằng mình là chính phủ hợp pháp duy nhất cho toàn bộ Việt Nam.

Sau 30/4/1975, khi Chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN thay thế chính phủ VNCH, tư cách pháp lý của hai quốc gia ở hai bên vĩ tuyến 17 tiếp tục được khẳng định bởi một số thực tế ngoại giao, thí dụ như,

Tháng 10/1975, Bộ trưởng Ngoại giao Úc viết có ít nhất 75 nước công nhận cả hai chính phủ VNDCCH và CHMNVN như hai chính phủ của hai quốc gia độc lập. Trong số 75 nước đó bao gồm cả Trung Quốc, và những nước không thuộc khối XHCN như Thụy Điển, Ấn Độ, Úc, Nhật, Anh, Pháp, Ý, Bỉ, Canada v.v...Hai quốc gia VNDCCH và CHMNVN đã tham gia hai tổ chức WHO và WMO với tư cách là những thành viên độc lập. Cả hai đều có tư cách quan sát viên thường trực riêng biệt ở LHQ.

Các văn kiện chính thức của VNDCCH và CHMNVN cũng ghi nhận đó là hai Nhà nước và hai Chính phủ khác biệt.

Như vậy, rõ ràng VNDCCH và VNCH/CHMNVN là hai quốc gia khác biệt.

Vì thế, VNCH/CHMNVN có thẩm quyền trong việc duy trì chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. VNDCCH là bên thứ ba trong tranh chấp và các tuyên bố hay sự im lặng của VNDCCH không ảnh hưởng gì đến chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa của VNCH/CHMNVN.

Sau 1976: quốc gia thừa kế được công nhận

Vấn đề ở đây là nếu cho rằng CHXHCNVN là quốc gia phía Bắc vĩ tuyến 17 thụ đắc lãnh thổ của quốc gia phía Nam bằng bạo lực thì, với Nghị quyết 2734 (XXV) của LHQ cấm thụ đắc lãnh thổ của quốc gia khác bằng bạo lực, CHXHCNVN sẽ không có chủ quyền hợp pháp với bất cứ vùng lãnh thổ nào phía Nam vĩ tuyến 17, bao gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa.

Với quan điểm sai lầm đó thì sau ngày 30/4/1975 tính pháp lý của quốc gia VNCH không còn tồn tại, trong khi CHXHCNVN không được thừa kế chủ quyền, cho nên Hoàng Sa, Trường Sa đã thuộc về một trong những quốc gia khác đã đòi chủ quyền trước đó. Và với quan điểm sai lầm đó thì không có chính phủ Việt Nam hay quốc gia Việt nào trong tương lai sẽ có chủ quyền đối với hai quần đảo này - trừ khi các quốc gia kia từ bỏ tuyên bố của họ.

Trên thực tế, vì mỗi chính phủ CHMNVN và chính phủ VNDCCH đều được cộng đồng thế giới công nhận là đại diện hợp pháp của một quốc gia, quyết định của hai chính phủ đó để thống nhất hai quốc gia CHMNVN (vốn được đổi tên từ VNCH) và VNDCCH, qua quá trình pháp lý từ 25/4/1976 đến 2/7/1976, bắt đầu bằng cuộc tổng tuyển cử toàn quốc để bầu ra Quốc hội thống nhất, dẫn đến (a) một quốc gia thống nhất và (b) một chính phủ đại diện cho quốc gia đó.

Trên thực tế, sự tồn tại của quốc gia thống nhất đó, và thẩm quyền của chính phủ đó trên toàn bộ lãnh thổ, đã không bị LHQ hay quốc gia nào lên tiếng phản đối. Một năm sau, năm 1977, quốc gia thống nhất, CHXHCNVN, được chấp nhận tham gia LHQ, với chính phủ CHXHCNVN được công nhận là đại diện cho quốc gia đó.

Vì thế, trên phương diện luật quốc tế, CHXHCNVN, là quốc gia thừa kế không bị phản đối của hai quốc gia trước, mặc nhiên thừa kế tất cả các vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền VNCH/CHMNVN.

Trên thực tế, CHXHCNVN đã kế thừa vai trò của VNCH/CHMNVN trong các hiệp định và các tổ chức quốc tế như WHO, WMO, ILO, ITU, UPU, UNESCO hoặc IAEA, IMF. Và CHXHCNVN cũng mặc nhiên thừa kế các yêu sách chủ quyền và thềm lục địa của VNCH/CHMNVN trong các tranh chấp với Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Tương tự, CHXHCNVN mặc nhiên thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa từ VNCH/CHMNVN.

Theo một số phân tích, Công hàm Phạm Văn Đồng và các hành vi liên quan của VNDCCH không hội tụ đủ các điều kiện pháp lý để gây ra nghĩa vụ ràng buộc cho VNDCCH cho nên những gì CHXHCNVN thừa kế từ VNDCCH không ràng buộc CHXHCNVN không được thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa từ VNCH/CHMNVN

Không nên nhập nhằng các phương diện

Việc công nhận trên phương diện luật quốc tế rằng CHXHCNVN là sự thống nhất của hai quốc gia trước, VNDCCH và VNCH/CHMNVN, sẽ là nền tảng cần thiết cho việc phản biện lập luận của Trung Quốc về Hoàng Sa, Trường Sa.

Thế nhưng trên thực tế đã tồn tại một sự nhập nhằng giữa quan điểm trong phạm trù luật quốc tế và các quan điểm khác nhau trong phạm trù chính trị. Sự nhập nhằng đó, cộng với mâu thuẫn có thể có giữa quan điểm pháp lý và một số quan điểm chính trị nào đó, có thể sẽ dẫn tới những phát biểu, tuyên bố và hành động trái ngược nhau về tính pháp lý của quốc gia CHXHCNVN. Điều đó làm xói mòn vị trí pháp lý “CHXHCNVN là do hai quốc gia khác biệt thống nhất lại” và sẽ thiệt hại cho Việt Nam trong cuộc tranh biện pháp lý và tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế về Hoàng Sa, Trường Sa.

VNDCCH, VNCH và CHMNVN là quá khứ. Cuộc chiến tranh trước 30/4/1975 cũng là quá khứ. Nước Việt Nam thống nhất và sự vẹn toàn lãnh thổ, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, là hiện tại và tương lai. Sự vẹn toàn lãnh thổ, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, phải được dân tộc Việt cho là ưu tiên.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của hai tác giả, một là nghiên cứu sinh tiến sĩ về sinh học ở Đức, và một đang sống ở Oxford, Anh quốc.

Phạm Thanh Vân và Dương Danh Huy
Theo BBC
________________________

Ghi chú của Dân Luận: Các tác giả gửi lời cảm ơn về những góp ý cho bài viết của tiến sĩ Lê Minh Phiếu và giáo sư Ngô Vĩnh Long.


Đọc tiếp…

Đặc công hải quân Việt Nam lần đầu lộ diện

03:36 |
Đoàn Đặc công 126 Hải quân được giao nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thân yêu của Tổ quốc. Những năm qua, Đoàn Đặc công 126 Hải quân đã có nhiều giải pháp thiết thực để đẩy mạnh công tác huấn luyện, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trên giao.

Lần đầu tiên báo điện tử Infonet giới thiệu loạt ảnh ghi lại hoạt động luyện tập sẵn sàng chiến đấu thuần thục, tinh nhuệ trong mọi tình huống của đặc công hải quân. Phóng sự ảnh do CTV Đàm Duy Khánh thực hiện:

Vào trận đấu đối kháng tay đôi
Vào trận đấu đối kháng tay đôi
Dũng mãnh thực hiện đấu đối kháng ’1 đánh 3′
Tinh nhuệ trong “1 đánh 4″
Tinh thông nhiều trường phái võ thuật
Lực lượng đặc biệt giao chiến phối hợp đồng đội đánh địch
Nội công thâm hậu, khả năng chịu đựng đáng nể
Dày công luyện tập, đặc công hải quân là lực lượng đáng tự hào của quân chủng hải quân Việt Nam
Lực lượng đi không dấu, đột nhập, đánh nhanh, một người địch muôn người
Luyện tập đổ bộ, bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Trường Sa
Bài, ảnh Đàm Duy Khánh
Theo Tin Quân Sự Blog
Đọc tiếp…

Lời về hội thảo thơ Nguyễn Quang Thiều

01:07 |
Sau những lời bốc thơm của ông Hữu Thỉnh - xem link: http://lethieunhon.com/read.php/6006.htm Thái tôi có mấy lời về nhà thơ Nguyễn Quang Thiều như sau:

Nhưng nếu cách tân mà thơ lại không tồn tại được với năm tháng cũng như không trường cửu trong nền văn học… thì thử hỏi chân dung các nhà thơ kết cục sẽ là loại gì đây?
 Nguyễn Quang Thiều
vấn đề không phải là cách tân hay là không cách tân? trường phái này hay là trường phái khác? Nếu thơ đạt độ viên mãn cả nội dung (tức là ý nghĩa) & hình thức nghệ thuật của loại thơ đó – Là thơ ấy tồn tại! Tất nhiên đạt tầm vóc (tức là sự hoàn bích) sẽ là thơ hay! Tôi có nhớ trên một trang báo, ông Hữu Thỉnh đã viết đại ý: Không có thơ mới hay cũ mà chỉ có thơ hay hay là không hay!?

Tôi không phản bác lại cách tân của Nguyễn Quang Thiều… nhưng NQT vẫn chưa đủ khả năng tức là tài năng cả cảm thụ lẫn sáng tạo về một tình thơ viên mãn & hoàn bích, nên thơ anh vẫn chỉ là những tình thơ trôi nổi mênh mang & không có khả năng tồn tại.

Hay nhất vẫn là tập thơ “sự mất ngủ của lửa” và trong đó bài đạt cao nhất vẫn là “Người đàn bà gánh nước sông”… - Tuy nhiên kể cả bài “Người đàn bà gánh nước sông” hay nhất của anh, cũng chưa thật sự viên mãn (về mặt ý tưởng – tức là ý nghĩa bài thơ) nên vẫn chưa đạt được là một bài thơ hay để tồn tại với thi đàn. Bài thơ còn thiếu một téo thôi thì sẽ đạt độ vĩnh cửu, nhưng thiếu cái téo đó bài thơ cũng sẽ….cát bụi NQT ạ!

Cái “téo đó” chính là giới hạn giữa vực thẳm với trời cao - giữa vĩ đại & bình thường đó! Tôi vẫn thấy thấm thía những bài thơ anh viết về mẹ theo thơ truyền thống ngày xưa. Nói như thế không phải là khuyên NQT đừng cách tân – mà là: Bên cạnh sự cách tân Thiều đừng dại dột bỏ lối thơ truyền thống đó - kẻo chẳng may thời gian, nhất là khi có tuổi rồi, đầu cũng muối mắm rồi… xôi hỏng bỏng không thì mất cả đời thơ xa xót lắm đấy!

Hữu Thỉnh đang ca ngợi Nguyễn Quang Thiều tại Hội thảo thơ
Mấy lời cổ hủ… của Phạm Ngọc Thái đã cổ này, xin cứ coi là trao đổi với nhau cho vui – Thái già rồi… cứ thơ cảm thấy thích, thấy thú mà làm, chả biết có phải là cách tân hay không? Chỉ có một điều em chẳng dại gì đem đời thơ ca của mình để quấy cháo lòng tiết canh…

Thân ái chào Thiều - sắp tới sẽ tặng Thiều một tập thơ dầy trên 300 bài (đang in) để minh hoạ cho điều Phạm Ngọc Thái nói hôm nay!

Thân.

Phạm Ngọc Thái

© VAOL
Đọc tiếp…

Tôi đang sống ở thời đại nào?

00:59 |
Vậy tại sao nhà cầm quyền không giải quyết những phát sinh trong cuộc sống mà cứ loay hoay tìm cách ngăn chặn nó? Thậm chí mức độ ngăn chặn ngày càng tệ hại hơn, thô bạo và trắng trợn hơn. Bịt miệng không cho dân kêu. Chính danh không được thì dung túng (người ta có quyền nghi ngờ là thuê) xã hội đen để đàn áp dân.

Những ngày này tôi thường tự hỏi : mình đang sống ở thời đại nào?

Vốn quen nghĩ rằng trong cuộc sống, mọi việc đều diễn tiến theo logic – hợp lý và tất yếu, nhưng rốt cuộc những gì tôi nghe thấy, những gì tôi nhìn thấy lại khiến tôi ngẩn ngơ. Dường như nó đã vượt qua cả trí tưởng tượng vốn quen với những câu chuyện giả tưởng của tôi. Và nó không tuân theo bất cứ một thứ logic nào cả.

Ngày 1/7 vừa rồi, trong khi ở Hà Nội không ai trong chúng tôi bị đàn áp khi đi biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược thì ở Sài Gòn lại xảy ra đàn áp ở các vùng lân cận. Trong khi ở Hà Nội phần lớn họ chỉ tìm cách vô hiệu hóa “mềm” một số đối tượng mà họ có thể ra tay được, thì trong Sài Gòn lại xảy ra bắt bớ, thậm chí đánh đập, cốt không để cho họ có thể nhập vào đoàn biểu tình có các nhân sĩ trí thức đi đầu.

Chuyện ngăn chặn, bắt người có ý định biểu tình lên xe, chở ra chỗ khác thật xa trung tâm rồi thả, hoặc lấy lời khai như một tội phạm cốt để khủng bố tinh thần là chính, không còn xa lạ gì. Trò gì diễn mãi cũng sẽ nhàm. Một khi nó là nhu cầu cuộc sống thì nó cứ sẽ diễn ra, không thể giải quyết bằng việc ngăn chặn nó. Luật pháp được đặt ra cũng chỉ để phục vụ cho cuộc sống. Cuộc sống không ngừng tiến hóa thì luật pháp cũng phải điều chỉnh sao cho phù hợp với nhu cầu của nó, chứ không phải đặt ra để ngăn chặn nó, thậm chí kéo lùi sự phát triển...

Vậy tại sao nhà cầm quyền không giải quyết những phát sinh trong cuộc sống mà cứ loay hoay tìm cách ngăn chặn nó? Thậm chí mức độ ngăn chặn ngày càng tệ hại hơn, thô bạo và trắng trợn hơn. Bịt miệng không cho dân kêu. Chính danh không được thì dung túng (người ta có quyền nghi ngờ là thuê) xã hội đen để đàn áp dân.

Thật tệ là tôi chưa hề đọc một bài viết nào của cô gái có tên Huỳnh Thục Vy và cha cô ấy. Chỉ biết mang máng về chuyện gia đình cô ấy đang bị nhà cầm quyền o ép dữ dội vì những bài viết hết sức thẳng thắn của họ về thực trạng của xã hội, được nhiều người đánh giá cao. Đương nhiên chẳng nhà cầm quyền nào lại ưa bị chỉ trích cả. Nhưng chuyện ưa hay không ưa đâu phải là cơ sở để một chính quyền chính danh điều hành xã hội. Vậy mà nó cứ diễn ra hàng ngày hàng giờ, ở mọi nơi mọi lúc. Nhà cầm quyền chưa đưa được cha con Huỳnh Thục Vy ra tòa để bỏ tù, thì cũng không muốn cho họ sống yên thân.

Cái cách mà họ dùng số đông và danh nghĩa của nhà cầm quyền để o ép, bắt giữ, khám xét và thu giữ tài sản một cách tùy tiện thật đáng sợ. Dường như trong cái xã hội văn minh và dân chủ này, quyền con người chỉ là con số không. Nó giống như trong các phim cao bồi về miền Tây hoang dã của những năm 30 ở Mỹ, nơi mà luật pháp thuộc về những kẻ hung bạo... Nhưng ít ra ở đó, người dân còn có quyền tự vệ, trừng trị những kẻ hung bạo đó. Còn trong xã hội này, tự vệ đồng nghĩa với việc chống người thi hành công vụ. Chả có ai xét xem cái công vụ ấy có bị lạm dụng hay không, và công vụ luôn trở thành một cái lá chắn vững chắc cho những kẻ đi trấn áp bất kể sai hay đúng. Bên cạnh đó, sự thiếu hiểu biết về pháp luật hay sự sợ hãi đã khiến sự phản kháng của một số đông người dân trở nên tê liệt.
Tôi chỉ nhìn vào những hình ảnh để tự hỏi mình: Tôi đang sống ở thời đại nào?
Hình ảnh một con chó đáng thương bị một kẻ bất lương buộc vào xe máy kéo lê trên đường, thân thể con chó rách nát trơ đến tận xương đều khiến cộng đồng mạng hết sức phẫn nộ. Nhưng nếu đó là một phụ nữ công giáo bị đánh vỡ sọ, máu me be bét hay một người nông dân bị đánh gãy chân gãy tay thì đa phần là nín thinh, lảng tránh. Nỗi sợ đã khiến sự hèn nhát của họ trở thành đồng lõa với cái ác, chứ không hẳn là họ vô cảm.

Không thể nói rằng những việc đó không liên quan đến mình. Mắt đã nhìn, tai đã nghe thì tim không thể không đau, đầu không thể không nghĩ và miệng không thể không nói, sao có thể làm ngơ được chứ?
Mặc dù trong những ngày qua, sau khi bị tướt đoạt quyền tự do đi lại một cách vô lối thì Bùi Hằng và Huỳnh Thục Vy cũng đã trở về nhà, nhưng những gì xảy ra với họ vẫn là một câu hỏi nhức nhối chưa có lời giải đáp. Những âm mưu và nguy hiểm vẫn luôn rình rập để bức hại họ bất cứ lúc nào.
Nếu chủ nhà bịa đặt ra lý do để vu cáo công an thị trấn Đông Anh thì cần phải nghiêm trị. Còn nếu đúng sự thật thì....thôi vậy? Hài mà chả cười nổi.

Còn những ai nữa không bị bắt bớ nhưng bị o ép, khủng bố, triệt hạ bằng nhiều cách như mẹ con Nga Thuy ở Nam Hà Phủ Lý, như Trương Minh Tam ở Đông Anh Hà Nội...? Đấy là chốn thị thành sầm uất, không xa các cơ quan đầu não là mấy mà còn vậy thì thử hỏi dân đen ở chốn thâm sơn cùng cốc, có lẽ chết mất xác cũng chả ai biết tới hoặc đoái hoài.

Tôi chợt nhớ hôm qua, có câu nói trên mạng: nước mất rồi, cá có chết khô?

Nghe vậy lại hình dung về một chậu nước đựng những con cá. Khi những con cá quẫy, nước bắn tung tóe cho đến khi nước vơi dần và trơ cạn, lúc đó những con cá bắt đầu ngáp. Logic là ở chỗ đó?

© Phương Bích
Theo blog Phương Bích
Đọc tiếp…