06/28/12 - VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ kêu gọi toàn dân xuống đường ngày 1.7.2012

Đăng bởi Biên tập viên vào Thứ năm, ngày 28 tháng sáu năm 2012

*************************************************************************************
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) - Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 - E-mail : pttpgqt@gmail.com
Web : http://www.queme.net
*************************************************************************************

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 28.6.2012
Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ kêu gọi toàn dân xuống đường ngày 1.7.2012 biểu tình chống xâm lược Trung Cộng

PARIS, ngày 28.6.2012 (PTTPGQT) - Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế vừa nhận được Thông bạch kêu gọi tham gia biểu tình của Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ do Viện Hóa Đạo trong nước gửi ra để phổ biến.

Mấy năm qua, với sự đồng tình của Nhà nước Cộng sản ở Hà Nội, Trung quốc đã từng bước xâm lăng vào lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam. Hàng nghìn công nhân Trung quốc tiến vào vùng yết hầu quân sự Tây nguyên Việt Nam khai thác bô-xít; những khu rừng gần biên giới phía Bác được Hà Nội cho thuê dài hạn 50 năm. Liên tiếp từ năm 1974 trở đi Trung quốc tiến chiếm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, ngư dân Việt Nam thường trực làm bia đỡ đạn trong cuộc xâm lăng từ biển của Trung quốc.

Mấy ngày vừa qua, Trung quốc ngang nhiên mở thầu quốc tế tại 9 lô dầu khí nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam. Báo chí Trung quốc hăm dọa mấy ngày qua đòi trả đũa bằng bạo lực và bắt Quốc hội Cộng sản ở Hà Nội phải “sửa sai” thu hồi việc thông qua Luật Biển khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Trước hiện trạng nguy biến và khi nhà cầm quyền Hà Nội chưa có thái độ quyết liệt bảo vệ non sông như tiền nhân, Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ kêu gọi :

“Trước nguy cơ ngàn năm Bắc thuộc tái hiện, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cất lời thống thiết kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam không phân biệt chính kiến, tôn giáo, già trẻ, nam nữ, dân tộc, đảng phái, trong và ngoài nước…hãy cùng nhau xuống đường biểu tình vào ngày Chủ nhật, 01.7.2012, để chống ngoại xâm, cứu nguy đất nước”.

Sau đây là toàn văn bức Thông bạch :

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN TĂNG THỐNG
Thanh Minh Thiền Viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Sài Gòn
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Phật lịch 2556                                                                             Số: 08/VTT/TB/TT


THÔNG BẠCH
kêu gọi tham gia biểu tình chống ngoại xâm cứu nguy đất nước

Kính Gửi:

Quí vị Lãnh đạo các Tôn giáo, các Nhân sĩ, Trí thức, các Đảng phái, các Đoàn thể, Tổ chức, Sinh viên học sinh và toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.

Kinh thưa Quí liệt vị,

Đã hàng ngàn năm qua, Trung quốc luôn xâm lăng tổ quốc Việt Nam, hết lần này đến lần khác, chưa bao giờ từ bỏ mộng bành trướng Đại Hán này.

Hiện nay, các hải đảo Hoàng sa, Trường sa và một phần lãnh thổ Miền Bắc đã bị Trung cộng xâm chiếm. Các vùng Cao nguyên Trung phần và rừng núi 10 Tỉnh trên toàn quốc đã bị Trung cộng tìm cách lấn chiếm dưới hình thức khai thác Bau-xít hay thuê đất trồng rừng dài hạn 50 năm trở lên.

Trung cộng đã lập Huyện Tam sa bao gồm các hải đảo Hoàng sa, Trường sa của Việt Nam.

Từ năm 2005 đến nay, Trung cộng đã nhiều lần bắn giết, cướp bóc tàu thuyền, tài sản của ngư dân Việt Nam. Trung cộng lại còn bắt giam ngư dân, đòi tiền chuộc như những nhóm thảo khấu.

Hành động xâm lăng của Trung cộng rất ngang nhiên trắng trợn. Nhưng Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam bị kẹt trong thoả thuận “16 chữ vàng và 4 tôt”, không phân rõ bạn thù, nên chỉ lên tiếng phản đối lấy lệ, làm cho Trung cộng được trớn, ngày càng xâm chiếm các vùng lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam nhiều hơn, mạnh tay hơn.

Nhưng biên giới phía Bắc lại bị bỏ ngõ, mặc tình cho người Hoa tự do xâm nhập vào lãnh thổ nước ta mà Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam không kiểm soát được.

Người Hoa đã thành lập các khu phố Tàu, khu khai thác biệt lập không ai vào được, ở Bình dương, Lâm đồng và nhiều nơi khác.

Nay, Trung cộng lại còn ngang nhiên cho đấu thầu khai thác 9 lô dầu khí trong hải phận Việt Nam.

Trước nguy cơ ngàn năm Bắc thuộc tái hiện, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cất lời thống thiết kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam không phân biệt chính kiến, tôn giáo, già trẻ, nam nữ, dân tộc, đảng phái, trong và ngoài nước…hãy cùng nhau xuống đường biểu tình vào ngày Chủ nhật, 01.7.2012, để chống ngoại xâm, cứu nguy đất nước.

Nguyện cầu hồn thiêng sông núi, các anh hùng liệt nữ phù hộ cho đất nước Việt Nam thoát khỏi ách ngoại xâm.

Cầu chúc toàn dân Việt Nam thành công trong ý chí và hành động.

Sài gòn, ngày 28.6.2012.
Thay mặt Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN
Đệ Ngũ Tăng Thống
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Chặn mạng ta, kệ mạng Tàu.

Nhiều bạn đọc liên tục thắc mắc tại sao không vào được các blog của mình và của mọi người. Sau khi cải đặt thêm một phần mềm vượt tường lửa thì vào được, chứng tỏ hiện nhà mạng đang dựng lên những rào cản kỹ thuật để gây khó dễ cho người đọc.

Các trang báo mạng lá cải hay đưa tin về gái mại dâm, khoe hàng, chảnh ...thì dễ truy cập.
Bức tường lửa
Chưa có một chế tài nào để làm căn cứ cho người thuê bao trả tiền sử dụng internet tiến tới khởi kiện nhà mạng, các căn cứ, các chứng cứ, các viện dẫn và kiểm định kỹ thuật mang tính pháp lý đủ để đưa nhà mạng ra tòa hành chính, tòa án có cơ sở để xử phạt nhà mạng, đền bù những thiệt hại cho khách hành thuê bao sử dụng các dịch vụ mạng.

Thử hình dung sẽ ra sao khi bạn không vào được chính trang blog nhà bạn, nơi đó có nhiều tài liệu cá nhân, nhiều tư liệu cùa mình đang cần được mở, lấy ra để dùng cho công việc ? chưa nói đến việc vào các blog có tính chất như thư viện khoa học chuyên môn của Thày, của Lớp, Khoa mình dùng cho người đọc lấy về làm tài liệu nghiên cứu, học tập.

Vậy ai chặn, chặn làm gì, khi nào chặn, lợi cho ai và thiệt hại cho ai ...?

Đó là những câu hỏi được bà con sử dung mạng xã hội hỏi nhau, có đến trên 90 % số bạn sử dụng mạng xã hội trên internet hàng ngày là có thể trả lời được ngay những câu hỏi đó, phần còn lại là mới sử dụng hoặc những thành phần ăn lương để làm việc chặn mạng bằng các rào cản kỹ thuật.

Việc chặn các trang mạng xã hội đương nhiên không phải là ý đồ của một cá nhân hacker chỉ để thi thố tài năng hay thể hiện cá tính của đám trẻ con thích phá tổ chim, bắn chim mẹ, bắt chim non về đùa nghịch. Mục đích ngăn chặn các thông tin bất lợi cho một băng nhóm nào đó, một tổ chức nào đó nắm quyền cung cấp thông tin cho xã hội tại một lãnh thổ nào đó không ngoài vấn đề quyền lợi và quyền lực có được từ độc tài chính trị, coi xã hội là những con gà và cho nó ăn gì thì nó phải ăn nấy.

Thế giới ngày càng trở lên bất ổn thì việc một lãnh thổ nào đó đang được một nhóm độc tài lãnh đạo coi việc chặn thông tin bằng các thủ thuật kỹ thuật sẽ chỉ là tình huống vụng trộm, nói cách khác là phi pháp và không tôn trọng luật lệ của Thế giới văn minh. Giới công nghệ sẽ coi đó là những thách thức và lại tiếp tục phải đạt được những thành quả mới để vô hiệu hóa những trò lố đó cho dù chỉ có ở vài nơi nhỏ lẻ trên hành tinh.

Với Việt nam, chặn các trang mạng xã hội, dựng tường lửa chặn blog cá nhân của dân chúng nhưng lại dễ dãi với chính các trang báo lá cải hoặc Tàu chệt - đó là hành vi phản cảm và ngu ngốc. Nó giống như việc cứ ngồi tìm các giải pháp cứu chữa ách tắc giao thông, đổ tiền ra làm cầu vượt lắp ghép tạm bợ trong khi cứ xây chung cư và các trung tâm thương mại chen chúc trong nội đô.

Đúng, rất ngu ngốc !

Theo Blog Xuân Việt Nam


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lê Anh Hùng - Hoàng Trung Hải khai man lý lịch

"...Vì thông tin đó liên quan mật thiết đến vụ việc tố cáo của tôi nên hôm nay tôi xin cung cấp cho quý vị bản chụp bức TÂM HUYẾT THƯ của một số cán bộ, đảng viên tâm huyết với Đảng về sự gian lận trong lý lịch của ông Hoàng Trung Hải..."

Kính thưa quý vị,

Tối 12/5/2012 vừa qua, khi Diễn đàn Hội luận Phỏng vấn Hiện tình Việt Nam phỏng vấn tôi (lần thứ 2) về vụ tố cáo của tôi, người thực hiện cuộc phỏng vấn hỏi tôi là có biết gì về tin ông Hoàng Trung Hải là người của Cục Tình báo Hoa Nam (Trung Quốc) hay không? Tôi trả lời: “Trong câu chuyện tố cáo của tôi không có thông tin đó. Tuy nhiên, mấy ngày gần đây, một số vị lão thành cách mạng ở Hà Nội cho tôi biết rằng bố ông HT Hải là người Hán, và lý lịch ông ta có vấn đề.” Người phỏng vấn cũng cho tôi biết đó là tin từ nguồn tin quốc nội của họ.

Nghe phỏng vấn trực tiếp anh Lê Anh Hùng


Bài liên Quan:
Vì thông tin đó liên quan mật thiết đến vụ việc tố cáo của tôi nên hôm nay tôi xin cung cấp cho quý vị bản chụp bức TÂM HUYẾT THƯ của một số cán bộ, đảng viên tâm huyết với Đảng về sự gian lận trong lý lịch của ông HT Hải (bố là người Hán). Bức TÂM HUYẾT THƯ này tôi nhận được từ một số vị lão thành cách mạng, những người đã tiếp cận tôi về thư tố cáo của tôi. Tuy nhiên, hiện tôi chưa tiện cung cấp danh tính và địa chỉ của họ.
Nếu nội dung trong bức TÂM HUYẾT THƯ này là sự thật thì những kẻ đã và đang ủng hộ và bao che cho ông Hoàng Trung Hải đích thực là những tên Việt gian bán nước, và việc giải quyết vụ việc do tôi tố cáo lại càng trở nên vô cùng cấp bách vì sự hưng vong của nước nhà. Thời gian qua, dư luận đã nhiều lần lên tiếng về việc các dự án hạ tầng quan trọng cứ lần lượt rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc (90% gói thầu EPC thuộc về các công ty Trung Quốc - http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-17-khi-hau-het-cac-goi-thau-epc-vao-tay-trung-quoc), điều này tiềm ẩn nhiều nguy cơ rất lớn không chỉ về kinh tế mà còn về an ninh – quốc phòng và xã hội. Với bức TÂM HUYẾT THƯ này, quý vị đã có thể hình dung ra căn nguyên của vấn đề. Vì tính chất vô cùng hệ trọng của vụ việc do tôi tố cáo, tôi khẩn thiết đề nghị quý vị gửi thư tố cáo của tôi cùng bức TÂM HUYẾT THƯ đến các cơ quan hữu quan, những người có trách nhiệm, những người có tiếng nói trong xã hội, các bậc lão thành cách mạng, các Đảng viên chân chính, Hội Cựu Chiến binh các cấp, Hội Người Cao tuổi các cấp, v.v. để họ lên tiếng yêu cầu nhà chức trách phải giải trình về vụ việc. Đồng thời, đề nghị quý vị hãy phổ biến rộng rãi bức thư này để nhà chức trách không thể tiếp tục phớt lờ việc giải quyết vụ việc do tôi tố cáo. Xin trân trọng cám ơn quý vị.

Hà Nội, ngày 14/5/2012
Lê Anh Hùng
(CMND số 012191640 do Công an Hà Nội cấp ngày 15/7/2004; điện thoại: 01243210177; trang Facebook cá nhân: www.facebook.com/lehunglpa.)
-----------------------
Bài viết do tác giả gửi - BBT.VANGANH biên tập và minh họa...
-----------------------
Nội dung trong bức TÂM HUYẾT THƯ

Tóm lược câu chuyện liên quan đến thư tố cáo đối với các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Hoàng Trung Hải và Nguyễn Minh TriếtLê Anh Hùng

Tháng 3/2005, vợ tôi (Lê Thị Phương Anh) bắt đầu đi làm nhân viên bán hàng tại một cửa hàng của Cty May Việt Tiến (nay là Tổng Cty May Việt Tiến) trên phố Chùa Bộc.

Sau 3 ngày, Trọng - Trưởng phòng Marketing của Chi nhánh Cty May Việt Tiến tại Hà Nội - điều vợ tôi về làm nhân viên tại quầy hàng Việt Tiến ở Tràng Tiền Plaza, do Loan, sinh năm 1978, làm tổ trưởng. Ba tuần sau, Loan bị Trọng điều đi làm tổ trưởng quầy hàng Việt Tiến tại siêu thị Metro (đường Phạm Văn Đồng). Vợ tôi được Trọng giao làm tổ trưởng Việt Tiến ở Tràng Tiền Plaza trước thái độ kèn cựa và ghen tị của Loan và Thuỷ (sinh năm 1985, nhân viên Việt Tiến tại Tràng Tiền Plaza). Tuy nhiên, sau đó Thuỷ lại cảm phục và kết nghĩa chị em với vợ tôi, còn Loan thì vẫn ngấm ngầm ghen tức với cô ấy.

Sau khi lên làm tổ trưởng, vợ tôi đã biến quầy hàng ở Tràng Tiền Plaza thành một cửa hàng điển hình của Cty Việt Tiến không chỉ ở Hà Nội mà còn trên phạm vi cả nước, với doanh số bán hàng cao nhất. Nhờ đó, cô ấy nhiều lần được Chi nhánh Hà Nội và Cty tuyên dương, khen thưởng.

Thời gian làm tổ trưởng ở Tràng Tiền Plaza, vợ tôi cũng được Trọng tin tưởng nhờ giúp một số việc thuộc lĩnh vực của Trọng như ký kết hợp đồng với các đại lý, giao hàng... do Trọng còn bận rộn buôn bán hàng cấm. Vì thế, đến tháng 8/2005, khi Cty Việt Tiến thay đổi nhân sự Chi nhánh Hà Nội (ông Xuân Giám đốc Chi nhánh vào Tp HCM đảm nhận nhiệm vụ khác, Trọng lên thay) thì vợ tôi được Trọng đề bạt lên thay vị trí của anh ta và được ông Nguyễn Đình Trường, TGĐ Việt Tiến chấp nhận. (Do việc này mà vợ tôi lại càng khiến Loan ghen tức.) Quyết định có hiệu lực từ ngày 1/9/2005. Tuy nhiên, từ cuối tháng 8/2005, vợ tôi đã đảm trách vai trò của Trọng. Ông NĐ Trường cũng nhận vợ tôi làm con nuôi trong thời gian này.

Nhờ thành tích vô cùng ấn tượng trong một thời gian ngắn ngủi làm Trưởng phòng Marketing Chi nhánh Hà Nội mà ông NĐ Trường quyết định bổ nhiệm vợ tôi làm Giám đốc Chinh nhánh Hà Nội của Cty May Việt Tiến. Quyết định có hiệu lực từ ngày 1/10/2005. Do việc này ông NĐ Trường quyết định không đúng quy trình nên ông bị Lê Viết Toà (tên thật là Lê Văn Toại), Phó TGĐ Thường trực Cty May Việt Tiến và là đệ tử ruột của ông Lê Quốc Ân (Chủ tịch HĐQT Vinatex), phản đối quyết liệt. Sau khi chứng kiến cuộc “sát hạch” đối với vợ tôi ngày 3/10/2005 do Lê Văn Toại cùng bộ sậu tiến hành, ông Lê Quốc Ân lại ép ông Trường để nhận vợ tôi làm con nuôi và đưa về làm Trưởng phòng Marketing của Vinatex. Tiếp theo, sau cuộc ra mắt của vợ tôi tại Vinatex vào ngày 13/10/2005, ông Hoàng Trung Hải, Bộ trưởng Công nghiệp, lại ép ông Trường và ông Ân để nhận vợ tôi làm con nuôi. Trong thời gian đó, Lê Văn Toại, với sự xúc xiểm của Loan (bồ của anh ta), đã nẩy sinh mâu thuẫn với vợ tôi. Anh ta bị mất chức nên thuê xã hội đen trả thù vợ tôi, khiến vợ chồng tôi phải bỏ chạy vào Đông Hà, Quảng Trị (quê vợ tôi) để lánh nạn vào ngày 2/11/2005.

Ông Hoàng Trung Hải nhờ ông Lê Hồng Anh và ông Nguyễn Khánh Toàn (Bộ trưởng và Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an) để bắt Lê Văn Toại. Bố mẹ Lê Văn Toại (vốn là trùm thế giới ngầm ở Sài Gòn) đã dùng tiền để gõ mọi cánh cửa và chạy đến tận TBT Nông Đức Mạnh.

Cuối tháng 11/2005, vợ tôi tình cờ gặp ông Nguyễn Tấn Dũng, Phó TT Thường trực, đang vào Quảng Trị để chỉ đạo phòng chống bão lụt, tại cuộc tiếp đón do ông Vũ Trọng Kim, Phó Ban Dân vận TƯ (nguyên Bí thư TƯ Quảng Trị), tổ chức. Biết vợ tôi là Trưởng phòng Marketing của Vinatex và là con nuôi của Bộ trưởng CN Hoàng Trung Hải nên ông NT Dũng lại đòi nhận vợ tôi làm con nuôi. Lúc này, ông Hải cũng cho ông Dũng biết nguyên nhân vợ chồng tôi phải chạy trốn vào Đông Hà. Tiếp theo, ông NT Dũng đưa vợ tôi từ Đông Hà vào Huế đón đoàn của các ông Nông Đức Mạnh, Đỗ Mười và Phan Văn Khải vào thăm Huế và Quảng Trị (hình như để bàn chuyện cơ mật trước thềm Đại hội X của Đảng). Đầu tháng 12/2005, ông NĐ Mạnh lại nhận vợ tôi làm con nuôi. Sau đó, ông Mạnh đã trả lại số tiền hối lộ mà ông nhận từ gia đình Lê Văn Toại để giúp vợ chồng tôi.

Trong thời gian vợ tôi làm việc tại Cty May Việt Tiến, Trọng đã nảy sinh tình cảm và dần dần si mê cô ấy. Là đệ tử ruột trong băng đảng ma tuý của ông HT Hải nên anh ta nắm được bằng chứng phạm tội của ông Hải. Dần dà, anh ta không chế, ép buộc ông Hải phải làm sao để chia lìa vợ chồng tôi, tạo điều kiện cho anh ta chiếm đoạt vợ tôi. Thành ra, mặc dù đã nhận làm bố nuôi vợ tôi trong thời gian vợ chồng tôi đang ở Hà Nội nhưng ông Hải vẫn không chịu gặp tôi. Sau khi chúng tôi chạy vào Đông Hà lánh nạn và vợ tôi trở thành con nuôi của ông NT Dũng và ông NĐ Mạnh, ông Hải lại tìm mọi cách để khiến tôi nghi ngờ vợ, qua đó hòng chia lìa vợ chồng tôi: kiếm cớ ngăn cản ông Mạnh, ông Dũng vào Đông Hà thăm vợ chồng tôi; không chu cấp cho vợ chồng tôi mặc dù vẫn nói với 2 ông kia là đã lo lắng đầy đủ cho chúng tôi, v.v.

Theo kế hoạch, ngày 22/3/2007, ông NĐ Mạnh và ông NT Dũng sẽ đích thân vào Đông Hà đón vợ chồng tôi ra Hà Nội, và lần đầu tiên tôi sẽ được diện kiến họ. Biết tin đó, Trọng liền gửi tối hậu thư cho ông HT Hải là nếu điều đó xẩy ra (đồng nghĩa với việc anh ta sẽ không bao giờ còn mơ đến việc có thể chia rẽ vợ chồng tôi và qua đó chiếm đoạt vợ tôi được nữa), anh ta sẽ tung chứng cứ phạm tội của ông Hải lên mạng. Ông Hải đã đe doạ và ép buộc vợ tôi ôm con bỏ đi, và tìm cách ngăn không cho ông Mạnh và ông Dũng vào Đông Hà đón vợ chồng tôi. Tuy nhiên, sau đó vợ tôi đã kể hết với tôi về bộ mặt thật của ông HT Hải và Trọng, cũng như chuyện cô ấy từng tham gia vào băng đảng ma tuý của ông Hải như thế nào. Ông Hải từng thú nhận với vợ tôi chuyện ông ta sát hại tay trợ lý người Quy Nhơn, Bình Định để bịt đầu mối tội ác. Tôi khuyên vợ tôi kể cho ông Mạnh và ông Dũng biết hết sự thật về ông Hải. Tuy nhiên, diễn biến sau đó lại cho thấy hoá ra cả ông Dũng và ông Mạnh đều đã bị ông Hải “trói” theo những cách thức khác nhau. Ông Dũng từng hãm hiếp một cô trinh nữ do Trọng cung cấp và bị ông Hải bố trí quay phim toàn bộ hoạt cảnh. Sau đó, để bịt đầu mối tội ác của mình, ông Dũng đã đồng ý để cho ông Hải và đàn em thủ tiêu cô gái kia. Còn ông Mạnh thì từng buôn lậu vũ khí với ông Hải. Lúc này, ông Hải chuyển toàn bộ chứng cứ phạm tội của ông Mạnh và ông Dũng cho Trọng để anh ta đe doạ và ép buộc hai ông này phải tiếp tục âm mưu lừa dối vợ chồng tôi. Đến cuối tháng 6/2007, khi biết không thể chia rẽ được vợ chồng tôi, đồng thời lại bị công an truy lùng ráo riết, nên Trọng sang Pháp sinh sống. Anh ta đòi ông Mạnh, ông Dũng và ông Hải phải cấp cho anh ta 5 tỷ USD nếu không anh ta sẽ tố cáo họ. Ba ông này nhờ vợ tôi xin Trọng “bớt” cho một ít, song Trọng không đồng ý mà nói là cho vợ tôi 2 tỷ trong số 5 tỷ USD đó.

Vợ chồng tôi dự định là tháng 10/2007 sẽ ra nước ngoài theo sự sắp xếp của Trọng. Tuy nhiên, sau đó 3 ông kia và Trọng lại tiếp tục lừa dối vợ chồng tôi. Trọng tiếp tục lừa vì anh ta vẫn chưa thôi ý định chiếm đoạt vợ tôi (trong khi chúng tôi lại không hề nghi ngờ gì anh ta cả), còn ba ông kia muốn tiếp tục lừa tôi vì sợ tôi về sau tố cáo, hoặc viết câu chuyện thành sách. Do ba ông kia vẫn tìm mọi cách chia rẽ vợ chồng tôi và ngăn cản việc tôi ra nước ngoài nên đến tối 8/11/2007, tôi quyết định để cho vợ ra Hà Nội rồi ra nước ngoài trước cùng Trọng và Thuỷ (người lúc này đã trở thành vợ của Trọng và có với anh ta một đứa con gái). Trọng hứa với vợ chồng tôi là sẽ tìm cách đưa tôi ra nước ngoài sau. Ngày 12/11/2007, tôi cũng bỏ trốn khỏi Đông Hà vì 3 ông kia bắt đầu cho người truy lùng tôi.

Trước khi vợ tôi sang Pháp vào ngày 16/11/2007, ông HT Hải đã bắt cóc con gái Trọng (lúc đó mới khoảng 7-8 tháng tuổi), vì biết Trọng rất yêu quý con gái, và giam giữ tại một ngôi nhà nằm ở một khu vực hẻo lánh thuộc tỉnh Quảng Ninh. Ông ta đánh hơi thấy Trọng lừa mình (tay Trọng này rất ma lanh, anh ta vừa lừa ba ông kia vừa lừa vợ chồng tôi). Vì thế, Trọng và Thuỷ bị kẹt lại ở Việt Nam, vợ tôi và con gái (Lê Thanh Mai, sinh ngày 2/11/2006) sang Pháp trước cùng với 1 bà giúp việc người Nghệ An. Bạn của Trọng (tên là Trinh) đón vợ con tôi ở Paris.

Thời gian này, vợ tôi lại bị chứng chảy máu não, và bệnh tình ngày càng trở nên nguy kịch. Ngày 27/11/2007, vợ tôi phẫu thuật chứng chảy máu não ở Mỹ theo sự thu xếp của ông HT Hải và Trọng, sau đó mẹ con cô ấy trở lại London (Anh). Giữa tháng 12/2007, Trọng bị đàn em của ông Hải bắt khi anh ta tìm cách tiếp cận ngôi nhà mà ông Hải đang giam giữ con gái anh ta.

Chờ mãi không thấy tin tức gì từ Trọng, cuối tháng 1/2008, vợ tôi tìm cách về lại Việt Nam (đầu tháng 12/2007, sau khi phẫu thuật xong một thời gian ngắn, vì lo lắng cho tôi nên vợ tôi cũng tìm cách trốn về Việt Nam, nhưng sau đó bệnh tái phát nên lại phải sang London để điều trị tiếp). Ngày 30/1/2008, tôi cũng từ nơi ẩn náu ở Nha Trang về đến Đông Hà để đoàn tụ với vợ con.

Tôi dự định là ra Tết Mậu Tý 2008 sẽ ra Hà Nội để tố cáo tội ác của ông NĐ Mạnh, ông NT Dũng và ông HT Hải. Tuy nhiên, sáng 4/1 AL (10/2/2008), Trọng đột nhiên liên lạc với vợ tôi.

Ngày 4/2/2008, con gái Trọng đã chết trên tay anh ta trong sự giam cầm của ông Hải. Đàn em của ông Hải cho phép Trọng chôn con gái mình. Anh ta nhân đó đánh nhau với hai tên vệ sỹ, cướp được súng và bắn chết hai tên này rồi chạy trốn. Anh ta đề nghị tôi hợp tác với anh ta, đòi 3 ông kia trả cho một số tiền lớn (2 tỷ USD), chúng tôi sẽ nhận một nửa và ra nước ngoài trước.

Tuy nhiên, ngày 13/3/2008, sau khi nhận được tiền từ ông Hải, Trọng đã ra nước ngoài, lộ rõ bộ mặt thật của mình (lừa dối chúng tôi bấy lâu trong khi chúng tôi vẫn cả tin, không hay biết). Lúc này, vợ tôi mới thú thật với tôi về tội lỗi của cô ấy: một vụ án mạng mà cô ấy là người thực hiện dưới sự đe doạ và ép buộc của Trọng, toàn bộ vụ việc bị Trọng bố trí máy quay phim ghi lại. Trước khi ra nước ngoài, Trọng đã giao các chứng cứ phạm tội của vợ tôi cho ông Hải, hòng khống chế và đe doạ cô ấy.

Tôi vẫn cố thuyết phục vợ tội cáo tội ác của ông NĐ Mạnh, ông NT Dũng và ông HT Hải, vừa để chuộc lại lỗi lầm cho vợ, vừa để vạch mặt tội ác của họ, và vừa để buộc họ phải chịu trách nhiệm trước thảm cảnh mà họ đã gây ra cho chúng tôi.

Sau khi đã thử dùng bài “rung cây doạ khỉ”, nhận ra sự lo sợ của họ cũng như tâm địa độc ác của họ qua việc cứ cố tình lừa dối chúng tôi hết lần này đến lần khác mặc dù tôi đã cho họ nhiều cơ hội chuộc lỗi, ngày 21/4/2008, tôi bắt đầu gửi thư tố cáo tội ác của ông Mạnh, ông Dũng và ông Hải đến các cơ quan hữu quan ở Việt Nam và nhiều địa chỉ email khác qua mạng Internet.
***
Giữa tháng 5/2008, tôi bán nhà ở Hà Nội. Ngày 20/5/2008, tôi chuyển vào Đông Hà sinh sống. Đầu tháng 6/2008, tôi mua nhà ở hẻm 211, Lý Thường Kiệt, Đông Hà (giá 200 triệu).

Lúc này, cô Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1973, người trước đây thường cho vợ tôi vay góp rủ vợ tôi cùng cho vay trả góp. Vợ tôi rất vui và hạnh phúc, bệnh tật đỡ dần. Cô ấy còn tranh thủ mua gom rượu ngoại bán cho các nhà hàng. Thỉnh thoảng, vợ tôi nhờ ông Ngô Quận, Đại tá, Phó Giám đốc Công an Quảng Trị, giúp đỡ.

Ngày 5/8/2008, Công an Quảng Trị mời tôi lên làm việc (người chủ trì buổi làm việc với tôi là vị Trung tá Cảnh sát tên Nguyên, quê ở Hưng Nguyên, Nghệ An). Tôi đã trực tiếp ký vào từng trang của thư tố cáo do họ in ra sẵn. Trước đó, có hai viên sỹ quan công an – một người là Nguyễn Minh Đông, hiện nay là thượng uý, Phó CA P5, Đông Hà – đã điều tra sơ qua về vợ chồng tôi. Họ còn đi theo viên CSKV Lê Phước Giải đến tận nhà tôi để “tìm hiểu” xem tôi có “bị” gì không.

Sau đó, ông Nguyễn Minh Triết bí mật ủng hộ chúng tôi tố cáo tiếp. Từ giữa tháng 8/2008, ông Triết đã chỉ đạo (qua ông Ngô Quận, Đại tá, PGĐ Công an Quảng Trị) tạo điều kiện cho vợ chồng tôi buôn rượu lậu từ Lào về Việt Nam qua cửa khẩu Lao Bảo. Người hỗ trợ vợ tôi buôn rượu là chị Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1973, cũng là người mà trước đấy vợ tôi cho vay trả góp cùng. Vì thời gian này Công an đang ngấm ngầm theo dõi vợ chồng tôi nên để cho phía Công an thấy là chúng tôi không có tiền (đồng nghĩa với việc không có ai đứng sau lưng chúng tôi cả), ông Ngô Quận đã chỉ đạo để vợ chồng tôi gửi tiền bạc của mình vào các tài khoản của Hương. (Ý đồ ban đầu của ông Triết là muốn cho chúng tôi có nhiều tiền thật nhanh để người ta tin vào câu chuyện; tuy nhiên, sau khi ba ông Mạnh-Dũng-Hải “tố” là có người đứng đằng sau lưng chúng tôi, ông Triết lại để chúng tôi rơi vào cảnh khốn khó cho người ta khỏi nghi ngờ ông.) Ngoài ông Ngô Quận, phía Công an Quảng Trị còn có hai lãnh đạo nữa tham gia vào âm mưu của ông Triết là ông Ngô Văn Tiếu, Đại tá, Giám đốc Công an tỉnh (nay là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh CSCĐ) và ông Nguyễn Thanh Thắng, Đại tá, PGĐ CA tỉnh.

Đầu năm 2009, Công an bắt đầu điều tra bí mật. Ban Chuyên án do Bộ Chính trị chỉ định, báo cáo trực tiếp với Bộ Chính trị, chứ không thông qua những trình tự pháp lý thông thường. Ông Lê Hồng Anh, người có dính líu trong phần đầu câu chuyện và đã dũng cảm thừa nhận sai phạm của mình, được Bộ Chính trị giao phụ trách Ban Chuyên án.

Đến ngày 12/3/2009, quá bức xúc vì theo âm mưu của ông NM Triết mà chúng tôi phải bán nhà bán cửa và sống tạm bợ ở nhà bà ngoại vợ (để Bộ Chính trị và công an không nghi ngờ ông ta), đồng thời nhận được sự “khích lệ” từ một bức thư mà Ban Chuyên án gửi cho tôi vào ngày 5/3/2009 (Nếu bức thư này được tố cáo thêm lần nữa thì đất nước này hoàn toàn sụp đổ, không thể cứu vãn được nữa…), cũng như từ câu nói trước đó của ông HT Hải với ông Ngô Quận (Bây giờ mà nó tung thư tố cáo lên lần nữa thì gí súng vào đầu tự tử do rồi), trong khi vụ việc tiến triển rất chậm chạp (ông Triết coi như đã không thực hiện đúng cam kết với chúng tôi), nên tôi quyết định gửi thư tố cáo qua mạng lần thứ 2 đến các cơ quan hữu quan cùng hàng loạt địa chỉ email khác.

Trái với kỳ vọng của tôi, lần gửi thư tố cáo này không có tác dụng đáng kể, câu chuyện quá khủng khiếp và ly kỳ nên ít người dám tin. Bộ Chính trị quyết định giải tán Ban Chuyên án cũ (do kém năng lực) và thành lập một Ban Chuyên án mới.

Đến cuối tháng 6, đầu tháng 7/2009, Ban Chuyên án đã kết thúc điều tra. Kết quả cho thấy đúng như những gì chúng tôi tố cáo. Ông Triết cũng phạm tội, dù nhẹ hơn 3 ông kia. Các cuộc đấu đá tranh giành nội bộ diễn ra để thế chỗ ông Mạnh, ông Dũng.

Thấy vụ việc lâm vào bế tắc do sự đấu đá giằng co của những người trong Bộ Chính trị, cuối tháng 8/2009, tôi lại gửi thư tố cáo đến các cơ quan hữu quan 3 lần liên tiếp (lần thứ 3, 4 & 5: 20/8, 27/8 và 31/8/2009). Lập tức, ông Triết chỉ đạo ông Quận lấy toàn bộ số tiền của chúng tôi, khi đó đang gửi ở tài khoản của chị Nguyễn Thị Hương, về các tài khoản của mình, hòng dễ bề khống chế chúng tôi.

Đầu tháng 9/2009, một số ĐSQ nước ngoài ở Hà Nội vào Quảng Trị gặp vợ tôi để tìm hiểu thực hư vụ việc (Mỹ, Trung Quốc, Anh…). Tuy nhiên, theo chỉ đạo của ông NM Triết, vợ tôi nói với họ là trong câu chuyện chỉ có một phần sự thật.

Ban Chuyên án đòi đưa vụ việc ra Ban Chấp hành Trung ương (họ cũng muốn ‘vòi’ tiền của Nhà nước nữa). Nếu đưa ra công khai trong BCHTƯ thì rất nhiều người bị mất chức, kể cả ông Triết. Số tiền đó chắc chắn là phải tương đương với số mà người ta định “đền bù” cho vợ chồng tôi, nhưng ngân quỹ của Đảng đã bị ông Nông Đức Mạnh và một số người nữa (trong đó có ông Nguyễn Phú Trọng) vơ vét sạch. Vì thế, đến tháng 10/2009, ông Triết đã mua số chứng cứ này từ Ban Chuyên án. Vụ việc coi như bị ém nhẹm, thậm chí còn không được xử lý trong nội bộ Bộ Chính trị.

Ông NM Triết ủng hộ chúng tôi tố cáo tiếp để sao cho các phe phái khác nhau buộc phải thoả hiệp và Bộ Chính trị phải giao chức vụ của ông Mạnh cho ông ta.

Đến ngày 26/11/2009, ông NM Triết được Bộ Chính trị chính thức trao cho chức vụ cao nhất (ông NP Trọng vị trí thứ hai, và ông TT Sang nắm giữ vị trí thứ 3). Tuy nhiên, sau đấy người ta lại không thống nhất được phương án xử lý đối với tôi. Trong khi câu chuyện của tôi thì đã um ra (cho đến ngày 23/12/2009, tôi tung lên mạng 20 lần, đến hàng ngàn địa chỉ email trong và ngoài nước). Người ta sợ cho tôi tiền thì tôi sẽ ra nước ngoài rồi tố cáo tiếp. Ông Triết quá cầu toàn, thiếu quyết đoán, nên dần dần để vụ việc vượt ra khỏi tầm kiểm soát của mình, và của cả Bộ Chính trị.

Tôi tiếp tục gửi thư tố cáo qua mạng Internet, cho đến lần thứ 20 là vào ngày 23/12/2009. Tình hình ở Hà Nội hết sức rối ren, Trung Quốc đe doạ sẽ tấn công Trường Sa nếu chế độ này sụp đổ. Nhưng Bộ Chính trị vẫn không cho bắt tôi, vì tôi tố cáo đúng sự thật và vì sau lưng tôi có ông Triết cùng một số người nữa ủng hộ.

Đến ngày 25/12/2009, một nhóm sỹ quan an ninh cao cấp của Bộ Công an đã chỉ đạo bắt “bắt quả tang” tôi ngoài tiệm Internet với tội danh ban đầu là “tuyên truyền chống phá Nhà nước”, đặt Bộ Chính trị vào thế đã rồi.

Ông NM Triết, lúc này lại quay sang liên minh với các ông NĐ Mạnh, NT Dũng và HT Hải, trước sự non nớt, thiếu hiểu biết của vợ tôi, đã đe doạ và ép buộc cô ấy phải khai với công an là tôi bị bệnh “tâm thần hoang tưởng” (do họ đang nắm trong tay bằng chứng phạm tội của vợ tôi). Về phía tôi, vì không có bằng chứng gì trong tay, lại nghĩ là mình cần phải dành đường lùi cho những người trong cuộc, nhất là khi mà họ đã nhiều lần hứa hẹn là sẽ cải cách thể chế trước sự thối nát khủng khiếp của hệ thống, nên cũng đành chấp nhận “vị thế” của một “bệnh nhân tâm thần”.

Ngày 4/5/2010, Công an Quảng Trị đưa tôi vào Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng để “điều trị bắt buộc” và đến ngày 24/8/2010, tôi được thả tự do.

Trong thời gian tôi bị bắt và sau khi mới được thả, ông NM Triết cam kết là hết năm 2010 sẽ trả lại tiền cho chúng tôi. Tuy nhiên, hết năm 2010, rồi đến Tết 2011, ông ta vẫn không chịu trả cho vợ chồng tôi một đồng nào để sinh sống, khiến chúng tôi rơi vào cảnh cùng cực. Trước tình hình đó, tôi dự định là sáng tháng 2 AL năm Tân Mão (2011) sẽ tiếp tục gửi thư tố cáo qua mạng đến các cơ quan hữu quan, ngoài THƯ TỐ CÁO I đối với 3 ông NĐ Mạnh, NT Dũng, HT Hải là THƯ TỐ CÁO II đối với ông NM Triết. Tài liệu quan trọng kèm theo là nhật ký của tôi kể từ khi tôi chuyển vào Đông Hà tháng 5/2008 cho đến khi tôi bị bắt rồi được thả ra vào ngày 24/8/2010 và Bản Cam Đoan của vợ tôi, thừa nhận vai trò chính của cô ấy trong câu chuyện và xác nhận tôi là người hoàn toàn bình thường.

Dường như biết được việc tôi chuẩn bị gửi thư tố cáo nên nhóm sỹ quan an ninh cao cấp đứng đằng sau vụ bắt giữ tôi vào ngày 25/12/2009 đã bắn tín hiệu đến Bộ Chính trị là nếu tôi tiếp tục tố cáo thì họ sẽ ủng hộ tôi. BCT quyết định buộc ông NM Triết phải làm “con dê tế thần” – nghĩa là ông Triết thừa nhận việc đứng đằng sau vụ tôi “vu khống các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước”, và coi như ba ông kia (ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Hoàng Trung Hải) không phạm tội gì cả. Dĩ nhiên, để nhóm sỹ quan công an này đồng ý “xử êm” vụ việc, những người liên quan sẽ buộc phải chi một số tiền lớn để mua sự im lặng của họ (hoặc Bộ Chính trị phải chi từ ngân quỹ bí mật của Đảng). Điều đó cũng cho thấy mục đích “cao cả” của việc nhóm này chỉ đạo bắt giữ tôi vào ngày 25/12/2009.

Sáng 3/3/2011, ông NM Triết gọi điện trực tiếp vào số máy của vợ tôi, thông báo là ngày 10/3/2011, người ta sẽ mời vợ tôi lên trụ sở Công an tỉnh Quảng Trị để làm việc. Ông Triết nói, trước mắt ông sẽ trả lại số tiền của vợ chồng tôi, còn số tiền mà ông hứa cho chúng tôi thì “cho chú xin hoãn”. Ông cũng nói là chúng tôi sẽ phải viết cam kết là không tố cáo nữa, nếu tố cáo thì sẽ bị xử lý theo pháp luật.

Sau đó, vợ tôi làm việc với một số sỹ quan công an (từ Hà Nội vào và ở Quảng Trị) về số tiền của chúng tôi qua sổ sách của Nguyễn Thị Hương. Tuy nhiên, do ông NM Triết cứ lần lữa việc chuyển trả tiền cho chúng tôi, đồng thời lại nhận thấy Bộ Chính trị còn tiếp tục đấu đá nhau và biết được thái độ lo sợ của những người trong cuộc, nên ngày 21/3/2011, tôi lại gửi thư tố cáo đến tất cả các cơ quan hữu quan trong nước cùng hàng ngàn địa chỉ email khác (nếu tính từ lần đầu tiên ngày 21/4/2008 thì đây là lần thứ 21).

Cho đến ngày 27/7/2011, tôi gửi thư tố cáo qua mạng thêm 36 lần nữa. Các phe phái vẫn cứ đấu đá nhau, nhưng không hề có dấu hiệu nào cho thấy người ta sẽ giải quyết vụ việc. Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá XIII, ông NT Dũng vẫn tiếp được bầu làm Thủ tướng và ông HT Hải lại tiếp tục là Phó TT, sát cánh cùng ngài TT để “lãnh đạo” đất nước.

Trong thời gian đó, nhiều đoàn sỹ quan cao cấp của Bộ Công an và từ một số tỉnh thành khác đã đến Quảng Trị gặp vợ tôi tìm hiểu về vụ việc. Họ đã động viên chúng tôi cả vật chất lẫn tinh thần. Qua tinh thần của các cuộc gặp đó, tôi biết là người ta vẫn đổ hết tội lên đầu ông NM Triết, và coi như ông NĐ Mạnh, ông NT Dũng, ông HT Hải không phạm tội gì. (Thật nực cười, chẳng lẽ ông NM Triết lại ngu dại đến mức ủng hộ chúng tôi “vu khống” người khác?!)

Đến cuối tháng 10/2011, sau khi tôi đã công bố hai cuốn sách học thuật do tôi dịch, đăng một bài viết mới (Chính phủ và chính sách) trên một số trang mạng uy tín trong và ngoài nước, và phổ biến bức thư ngỏ gửi ĐBQH – nhà sử học Dương Trung Quốc, người ta bắt đầu có những động thái nhằm vào những kẻ mà tôi tố cáo. Một số đoàn sỹ quan công an từ Hà Nội vào Đông Hà gặp vợ tôi để điều tra về tội ác của các ông NĐ Mạnh, NT Dũng và HT Hải cũng như ông NM Triết. Tuy nhiên, các nhóm sỹ quan công an này đều chỉ lấy lời khai của vợ tôi để tìm cách “làm tiền” những những kẻ bị chúng tôi tố cáo. Ngày 25/10/2011, vợ tôi bay ra Hà Nội và sáng hôm sau làm việc với một đoàn 10 người gồm 8 sỹ quan công an và hai người nước ngoài tại khách sạn Daewoo.

Từ ngày 8/11 đến ngày 14/11/2011, vợ tôi làm việc với đoàn ngoại giao của ĐSQ Mỹ (và có thể là cả của ĐSQ Na Uy), trong đó có việc đối chất với ông NM Triết và ông Ngô Quận. Tuy nhiên sau đó tôi phát hiện ra là chính đoàn ngoại giao nước ngoài này lại tìm cách lừa dối chúng tôi (có thể là họ bị mua chuộc, có thể là đó là một phần trong cuộc mặc cả giữa họ và giới lãnh đạo chóp bu của Việt Nam). Vì thế, ngày 16/11/2011, tôi đã đến Phòng Thanh tra, Công an Quảng Trị, gửi đơn tố cáo trực tiếp, kèm theo Bản Cam Đoan của vợ tôi. (Tôi không còn tin vào một sự dàn xếp có lợi cho đất nước, cho những người trong cuộc và cho chúng tôi nữa.) Người tiếp nhận đơn thư của tôi là Thượng tá Đoàn Thị Mỹ Hạnh, Phó Phòng Thanh tra, và thượng uý Nguyễn Minh Chính, cán bộ Phòng Thanh tra.

Ngày 20/11/2011, ông Hoàng Trung Hải xuất hiện trong lễ thông xe hầm đường bộ Thủ Thiêm, với sự có mặt của ông Trương Tấn Sang, Lê Hồng Anh, Phan Văn Khải, Trương Vĩnh Trọng, Lê Thanh Hải (ông Hải ngồi giữa ông LHA và ông TVT). VTV còn phát cảnh ông Hải đọc phát biểu dài đến mấy phút (!). Đây là dấu hiệu cho thấy ông TT Sang dường như đã bắt tay thoả hiệp với liên minh ma quỷ Nguyễn Phú Trọng – Nguyễn Tấn Dũng – Nguyễn Sinh Hùng – Lê Hồng Anh – Hoàng Trung Hải.

Ngày 6/12/2011, tôi tiếp tục gửi thư tố cáo, kèm theo phần nhật ký bổ sung cho đến ngày 17/11/2011, đến các cơ quan hữu quan qua mạng Internet và hàng ngàn địa chỉ email khác.

Vụ việc lại um ra nên Bộ Chính trị, trước sức ép của dư luận và qua đó là của một số vị uỷ viên BCT không dính dáng đến vụ việc như ông PQ Thanh, ông PQ Nghị, ông NX Phúc, buộc phải quyết định điều tra về vụ việc. Họ không thành lập Ban Chuyên án (chắc là vì sợ không đủ tiền để mua sự im lặng của các sỹ quan điều tra một khi họ tìm ra các chứng cứ, điều vốn không quá khó đối với họ) mà giao cho ông Trần Đại Quang trực tiếp điều tra bằng cách thẩm vấn vợ tôi xem lời khai của cô ấy có khớp với câu chuyện do tôi thuật lại trong thư tố cáo hay không. Ông TĐ Quang gặp vợ tôi rất nhiều lần, vừa để kiểm chứng lời khai của vợ tôi có khớp lần trước với lần sau hay không, vừa để “lung lạc” niềm tin của tôi, khiến tôi nghi ngờ vợ mà không tố cáo nữa. Họ cũng tìm cách đẩy chúng tôi dần dần rơi vào cảnh cùng cực để tôi không thể tiếp tục việc tố cáo.

Chiều tối ngày 9/2/2012, ông TĐ Quang, ông PQ Nghị và một số người khác họp bí mật với ông TT Sang và ông NX Phúc (hai người lúc này đang đi thăm Lào) tại một khách sạn ở Huế, dường như là để bàn chuyện thay đổi chế độ.

Khoảng ngày 23-25/2/2012, trong thời gian tôi ra Hà Nội theo “kế hoạch” của họ, vợ tôi đã gặp và làm v iệc với một đoàn người Mỹ ở Đà Nẵng, gồm 7 người, do ông TrươngTấn Sang và Trần Đại Quang đón, ngoài ra còn có ông Phùng Quang Thanh, Phạm Quang Nghị và Nguyễn Xuân Phúc.

Tối 7/3/2012, ông NT Dũng đột nhiên gọi điện thoại cho vợ tôi. (Bình thường tôi gọi từ số 01629132914 đến số mới của vợ tôi là 01274162860, và vợ tôi vẫn cố ý dặn tôi liên lạc qua số đó thôi – tuy không còn bí mật nhưng ít người biết hơn. Nhưng trưa hôm 6/3, thấy họ cứ lắm trò quá nên tôi cũng mệt mỏi, thành ra khi gọi vào số trên của vợ không được, tôi lại gọi vào số chính thức mấy năm qua của vợ - 0942797646 - rồi hai vợ chồng trao đổi tự nhiên về câu chuyện. Chắc chắn là người của phía ông Dũng - hay phe cánh của ông ta - đã nghe lén được, và họ biết được là lần này phía Mỹ đã nhảy vào hậu thuẫn cho một nhóm uỷ viên BCT để thay đổi chế độ và người ta chỉ còn chờ thời điểm ra tay nữa thôi.)

Sáng 8/3/2012, vợ tôi bay ra Hà Nội, ở tại nhà khách Bộ Công an, để gặp ông NT Dũng, và sau đó gặp ông NĐ Mạnh và ông HT Hải.

Từ 9/3 đến 19/3/2012, tôi phát hiện dường như vợ tôi bị người ta khống chế nên ngày 20/3 tôi gửi thư tố cáo qua mạng tới các cơ quan hữu quan, kèm theo phần nhật ký bổ sung cho đến ngày 19/3/2012 (lần thứ tố cáo thứ 60).

Ngày 23/3/2012, tôi đến trụ sở Công an Quảng Trị và làm việc với trung tá Nguyễn Quang Trung, Thanh tra Công an tỉnh, về đơn thư tố cáo.

Ngày 3/4/2012, tôi tiếp tục gửi thư tố cáo với phần Nhật ký Bổ sung III (lần thứ 61). Trong phần nhật ký này, tôi nêu rõ nghi vấn về việc vợ tôi bị đe doạ và khống chế từ ngày 9/3/2012, đồng thời thuật lại chi tiết hành vi phạm tội của vợ. Ngoài ra, tôi còn gửi kèm theo ảnh của một cô gái – tên là Nhung – cùng nằm trong băng đảng ma tuý của ông HT Hải với vợ tôi, đã bị ông Hải và đàn em thủ tiêu để bịt đầu mối.

7h30 sáng, ngày 11/4/2012, tôi mang tờ biểu ngữ “HÃY TRẢ LỜI ĐƠN TỐ CÁO CỦA TÔI” đến đứng trước cổng trụ sở Công an Quảng Trị (sau hai lần trước đấy đến đề nghị làm việc nhưng không được tiếp). Sau đó tôi làm việc với trung tá Nguyễn Quang Trung, Thanh tra CA tỉnh về đơn tố cáo của mình.

Ngày 15/4/2012, tôi gửi thư tố cáo (lần thứ 62) kèm theo phần Nhật ký Bổ sung IV. Trong phần nhật ký mới này, tôi khẳng định là vợ tôi đã bị đe doạ, khống chế và cung cấp thông tin sai lạc cho tôi từ ngày 9/3-19/3/2012. Tôi cũng đề cập đến một khả năng rất lớn là ông HT Hải, với chứng cứ phạm tội của ông NĐ Mạnh, NT Dũng và NM Triết trong tay, đã lật bài ngửa với Bộ Chính trị và khống chế bộ máy lãnh đạo cấp cao. Số phận của hệ thống chính trị này, cũng như vận mệnh của một dân tộc bốn ngàn năm văn hiến, thực sự đang nằm trong tay ông ta và băng đảng của ông ta.

7h30 sáng 16/4/2012, tôi mang tờ biểu ngữ “HÃY TRẢ LỜI ĐƠN TỐ CÁO CỦA TÔI” đến đứng trước cổng trụ sở Công an Quảng Trị và nhờ đó mới có cơ hội làm việc với trung tá Nguyễn Quang Trung, Thanh tra CA tỉnh về đơn tố cáo của mình. Sáng 19/4, tôi lại mang tờ biểu ngữ trên đến trụ sở Công an Quảng Trị đứng “biểu tình” để đòi họ thúc đẩy việc điều tra. Lần này, tôi đợi cả buổi nhưng không ai ra làm việc với tôi cả.

Ngày 22/4/2012, tôi gửi thư tố cáo qua mạng đến các cơ quan hữu quan ở Việt Nam cùng hàng loạt địa chỉ email khác (lần thứ 63).

7h30 sáng 23/4/2012, tôi đến trụ sở Công an tỉnh Quảng Trị. Tôi đứng ngoài cổng và giơ túi tài liệu clear-bag, trong đó có tờ biểu ngữ “HÃY TRẢ LỜI ĐƠN TỐ CÁO CỦA TÔI” nằm ở phía ngoài, lên trước ngực. Mấy tay bảo vệ vội chạy ra đề nghị tôi vào phía trong đợi để họ liên lạc vào Phòng Thanh tra. Sau một lúc giằng co, tôi miễn cưỡng vào phía trong cổng đợi. Khi vào trong, tôi vẫn cố để tờ biểu ngữ cho nhiều người đi qua nhìn thấy. Một lát sau, một tay bảo vệ chạy lại cho biết là Phòng Thanh tra báo bận, không gặp tôi được.

Tôi bèn đi ra ngoài cổng và tiếp tục giơ túi tài liệu cùng tờ biểu ngữ lên trước ngực. 3 tay cảnh sát mặc thường phục liền chạy ra đuổi tôi đi, thái độ và hành vi của họ rất hung hãn. Tôi buộc phải lùi dần, lùi dần, nhưng bọn chúng vẫn không buông tha, mà cứ xấn tới. Cách cổng trụ sở Công an tỉnh khoảng 100m chúng vẫn tiếp tục xô đẩy tôi. Một tên còn tìm cách giật túi tài liệu của tôi. Trước phản ứng gay gắt của mấy người dân xung quanh, chúng mới chịu dừng tay. Trong khi giằng co với chúng, tôi thấy một viên trung tá an ninh đi xe máy từ cổng ra, gật đầu ra dấu khích lệ một trong 3 tên cảnh sát. Viên trung tá này chắc chắn là tay chân của những kẻ bị tôi tố cáo, còn mấy tay cảnh sát bảo vệ mặc thường phục kia đã được ngấm ngầm chỉ đạo trấn áp tôi.

Ba tên cảnh sát kia vẫn đứng chặn không cho tôi tiếp cận cổng trụ sở Công an tỉnh. Một số người dân hỏi han, tỏ vẻ thông cảm và không dấu nổi sự bất bình trước cách hành xử của lũ côn đồ đội lốt công an. Không còn cách nào khác, tôi đành phải ra về.

Tôi cảm thấy vô cùng đơn độc trong cuộc chiến không cân sức này. Đất nước chúng ta rồi sẽ ra sao dưới sự “lãnh đạo” của những kẻ đã mất hết lương tri và liêm sỷ, trong một hệ thống mà sự thối nát đã đến độ tanh tưởi, trước sự hèn nhát cũng như thái độ bàng quan, vô trách nhiệm của nhiều trong số những người lẽ ra đã có thể lên tiếng hay góp phần thúc đẩy nhà chức trách phải giải quyết vụ việc? Hà

Nội, ngày 9/5/2012
Lê Anh Hùng
Nếu quí vị muốn kiểm chứng thông tin này, xin liên lạc với người đứng đơn tố cáo và cung cấp tài liệu cho Vàng Anh Online... (ông Lê Anh Hùng - CMND số 012191640 do Công an Hà Nội cấp ngày 15/7/2004; điện thoại: 01243210177)


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Video : Nội dung trao đổi về đơn tố cáo NT Dũng, NDMạnh và HTHải của Lê Anh Hùng với DBQH Dương Trung Quốc

Kính thưa quý báo và các bạn,

Tình hình đang diễn biến nhanh chóng và rất khó lường. Trong trường hợp tôi bị bắt hoặc có mệnh hệ gì, đề nghị quý báo hãy cho đăng hoặc phổ biến những tài liệu mà tôi đính kèm trong các bức thư. Tôi hy vọng và tin là những người liên can ngoài ý muốn sẽ hiểu và lượng thứ cho tôi.

Trân trọng cám ơn quý báo.

Lê Anh Hùng

Lê Anh Hùng và ĐBQH Dương Trung Quóc. Photo by VAOL
Giấy xác nhận được đơn tố cáo của DBQH Dương Trung Quốc. Photo do Lê Anh Hùng cung cấp
———————–
Bài viết và tài liệu do tác giả gửi đén VAOL cậy đăng và xin phổ biến đến mọi người để rộng đường dư luận.
———————–

 Nghe cược đàm thoại giửa Lê Anh Hùng và ĐBQH Dương Trung Quốc xin bấm vào các video phía dưới:


Xem thêm các tin liên quan:  
Đơn tố giác băng đảng ma túy của ông Hoàng Trung Hải

NỘI DUNG CUỘC TRAO ĐỔI
GIỮA LÊ ANH HÙNG VÀ ĐBQH DƯƠNG TRUNG QUỐC
Thời gian: 11h45 ngày 22/6/2012

Địa điểm: Toà soạn Tạp chí Xưa & Nay, 216 Trần Quang Khải, Hà Nội.

LAH: Cháu chào chú ạ.

DTQ: Mình vừa tiếp khách ở trên gác. Đoàn Đảng CS Nhật Bản.

LAH: À thế ạ, Đảng CS Nhật.

DTQ: Bây giờ thế này. Tại sao bây giờ tôi mới mời anh là bởi vì nhiều đơn [thư] quá.

LAH: Vâng.

DTQ: Với lại hôm nay mới xin được cái mẫu giấy theo đúng quy định, mẫu nhận đơn, để anh có cái bằng chứng là đã chuyển đơn [cho tôi] rồi. Sáng nay tôi vừa đến Văn phòng Quốc hội lấy cái này (mẫu giấy xác nhận việc tiếp nhận và chuyển đơn thư – LAH).

LAH: Vâng.

DTQ: (Nói với thư ký) Đưa tôi cái bút. Tôi quên không mang cái đơn [của anh]…

LAH: Chú là địa chỉ của niềm hy vọng cho nên là…

DTQ: Bây giờ thế này nhé. (Ông DTQ ghi vào mẫu giấy xác nhận.)

LAH: Hôm nay là ngày 22 ạ.

DTQ: Không, tôi ghi cái hôm tôi gửi đơn [cho ông Chủ tịch QH]. Tôi ghi ngày 19 nhé.

LAH: Vâng.

DTQ: Kính gửi anh Lê Anh Hùng phải không?

LAH: Vâng.

DTQ: Địa chi của bạn trong đơn, nhưng mà tôi không mang cái đơn nên…

LAH: Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội ạ. Chứng minh thư của cháu đây ạ.

DTQ: Vì tôi sẽ gửi [hồi âm đơn thư] qua đường bưu điện mà.

LAH: Vâng.

DTQ: Anh có nhớ cái đơn đề ngày bao nhiêu không?

LAH: Đơn cháu đề ngày mồng 6 tháng 6 [2012] ạ.

DTQ: Vì tôi mới nhận cái [mẫu giấy xác nhận] này về. Lẽ ra về nhà tôi mới lấy cái hồ sơ của anh ra tôi viết lại. Nhưng thôi tiện anh ở đây, vì mai tôi đi công tác rồi mà.

LAH: Vâng.

DTQ: Hôm anh gặp tôi là ngày bao nhiêu nhỉ?

LAH: Hôm gặp đó là ngày 3/6 ạ.

DTQ: Không. Đơn đề ngày 6/6 sao lại gặp ngày 3/6 được.

LAH: Gặp ngày 3/6, sau đó ngày 6/6 cháu mới làm đơn gửi chú.

DTQ: Thôi, đề ngày 6/6 cũng được.

(Ông DTQ viết và ký vào giấy xác nhận.)

DTQ: Sở dĩ tôi gửi ông Chủ tịch QH là bởi vì mấy lý do. Thứ nhất, ông ấy là người có thẩm quyền cao nhất của Quốc hội. Và hơn nữa, những nhân vật được đề cập đến trong đơn của anh đều là những cán bộ cao cấp của Đảng. Với hai tư cách ấy thì ông ấy đủ quyền hạn…

LAH: Vâng, cháu hiểu ạ.

DTQ: Đương nhiên là đi cùng với cái văn bản [đơn thư] của anh thì có ý kiến của tôi với tư cách Đại biểu Quốc hội.

LAH: Vâng. Các địa chỉ kia cháu cũng đã gửi qua đường bưu điện (tức những người có trách nhiệm giải quyết đơn thư, còn gửi cho ông DTQ là “đồng kính gửi” – LAH).

DTQ: Người ta có hỏi tôi là không biết những nhân vật mà anh đề tên gửi tới đã nhận được chưa?

LAH: Đây, cháu cầm theo 2 cái (biên lai chuyển phát nhanh bảo đảm của Bưu điện Bờ Hồ - LAH), cả thảy là tám cái (tức 8 nhân vật khác ngoài ông DTQ).

DTQ: (Ông DTQ cầm 2 tờ biên lai) Trần Đại Quang rồi, Nguyễn Xuân Phúc à…

LAH: Tức là cháu gửi thêm 8 địa chỉ nữa.

DTQ: (Ông DTQ đóng dấu vào giấy xác nhận) Tôi chỉ có con dấu này thôi. Con dấu này đề rõ địa chỉ của tôi, chứ không có cái gì cả. Văn bản này là văn bản chính thức…

LAH: (Đưa 2 tờ biên lai bưu điện cho ông DTQ) Chú có cần cái này để theo dõi không?

DTQ: Không, đấy là việc của anh chứ. Tôi cần cái đó làm gì, tôi chỉ làm đúng trách nhiệm của tôi thôi.

LAH: Dạ.

DTQ: Bởi vì nói thật với Hùng thế này này. Câu chuyện này nó kéo dài lâu lắm rồi.

LAH: Cháu biết.

DTQ: Mình biết thông tin ấy, như bạn đã gửi cho tôi qua mạng. Nhưng mà mình chưa có quy định về văn bản điện tử, nên mình không thể xử lý được.

LAH: Vâng.

DTQ: Khi mà anh gặp tôi, tôi sẽ thực hiện đúng chức trách của tôi. Trước hết tôi phải đọc kỹ. Đương nhiên tôi cũng có sự cân nhắc nhất định. Bởi vì vấn đề, như anh quá biết rồi, nó vượt quá cái bình thường.

LAH: Cháu biết ạ.

DTQ: Thế cho nên tôi phải cân nhắc, thậm chí trao đổi với một số người, để xem mình thực thi cái quyền của mình thế nào cho vừa đúng với trách nhiệm với cử tri, vừa đúng và phù hợp với cái thể chế này. Vì nó đụng chạm đến những người mà lẽ ra họ phải xử lý việc này.

LAH: Cháu hiểu ạ.

DTQ: Cho nên tôi cũng rất thận trọng. Sau đó tôi quyết định gửi. Tôi gửi trực tiếp cho ông Chủ tịch QH. Tôi chuyển cho anh [giấy xác nhận] để anh nắm được, coi như đây là văn bản pháp lý là tôi đã nhận được đơn của anh.

LAH: Vâng. (Nhận tờ giấy xác nhận từ tay ông DTQ) Cháu cám ơn chú rất nhiều.

LAH: Theo chú thì bao giờ họ trả lời ạ?

DTQ: Thì anh cũng đã gửi cho các cơ quan chức năng rồi còn gì. Đương nhiên tôi có trách nhiệm giám sát, nhắc nhở… Thế còn trả lời thế nào thì phụ thuộc vào ý kiến của họ. Trong quá trình trao đổi, tôi cũng có trao đổi với một số anh em, họ cũng bảo [là họ] biết việc này. Họ cũng thấy tầm mức nó quá lớn. Và hơn nữa họ phải nhận được đơn của anh thì họ mới vào cuộc được. Kể cả ông Bộ trưởng Bộ Công an cũng vậy. Những nhân vật khác thì tôi không tiện hỏi.

LAH: Dạ.

DTQ: Tinh thần là như thế.

LAH: Dạ. Thế thì họ trả lời qua chú và cháu liên lạc với chú à?

DTQ: Họ trả lời qua anh chứ. Tất nhiên là họ phải cho tôi biết, thế nhưng mà họ sẽ trả lời qua anh. Còn nếu họ trả lời qua tôi thì tôi sẽ gửi cho anh.

LAH: Dạ vâng.

DTQ: Thế còn nếu mà lâu họ không trả lời thì anh cứ giục, không ngại.

LAH: Vâng, cháu sẽ liên lạc với chú.

DTQ: Và tôi sẽ giục, tôi cũng sẽ giục [họ] theo đúng luật.

LAH: Dạ vâng ạ.

DTQ: Chỉ có là trong việc này, anh [cần] ý thức là vấn đề nó lớn, nghiêm trọng, nên nó không dễ dàng như những việc khác. Những việc khác thì đơn giản hơn. Chắc anh cũng quá biết điều này rồi còn gì.

LAH: Dạ, cháu rất hiểu chuyện đó.

DTQ: Và cũng có thể người ta sẽ có những cái kênh để trao đổi trực tiếp với anh. Thì cái đó tôi không biết. Họ cũng nói là có rất nhiều vấn đề cần phải gặp anh…

LAH: Vâng, cháu cũng hy vọng, bất cứ cách gì mà họ giải quyết. Cháu cũng biết vụ việc phức tạp nên cháu cũng không cầu toàn, không đòi hỏi phải đúng quy trình, mà vấn đề là họ phải giải quyết, theo một cách nào đó.

DTQ: Chắc là họ phải yêu cầu, ấy là mình mường tượng thế thôi, là anh giải trình bằng cứ cho những vụ việc cụ thể.

LAH: Dạ vâng.

DTQ: Tinh thần thế thôi Hùng nhé.

LAH: Dạ vâng. Cháu cám ơn chú rất nhiều ạ.

DTQ: Mình sẽ làm theo đúng chức trách của mình.

LAH: Dạ vâng. Cháu cám ơn chú. Cháu chào chú ạ.

Đơn tố cáo 01
Đơn tố cáo 02

NHẬT KÝ BỔ SUNG V

Ngày 15/4/2012:

Tôi gửi thư tố cáo qua mạng đến các cơ quan hữu quan ở Việt Nam cùng hàng loạt địa chỉ email khác (lần thứ 62).

Ngày 16/4:

7h30 sáng 16/4/2012, tôi đến trụ sở Công an Quảng Trị, đề nghị trực ban gọi vào Thanh tra Công an tỉnh để làm việc. Viên cảnh sát bảo vệ gọi điện vào và bảo tôi đợi một lát sẽ có người ra làm việc. Tôi đi vào phía trong cổng đợi thì anh ta bảo tôi ra ngoài cổng. Bực mình, tôi đi ra ngoài và cầm tờ biểu ngữ “HÃY TRẢ LỜI ĐƠN TỐ CÁO CỦA TÔI” trước ngực, đứng ngay một bên cổng trụ sở Công an tỉnh. Nhiều người đi ra đi vào cũng như người đi đường cứ trố mắt nhìn.

Chừng 10 phút sau, một viên cảnh sát bảo vệ khác chạy ra bảo tôi bỏ tờ biểu ngữ xuống và vào phía trong cổng đợi. Tôi vẫn để tờ biểu ngữ bên ngoài túi tài liệu mà tôi mang theo. Tôi nghe loáng thoáng một tay cảnh sát, chắc là “sếp” của viên cảnh sát trực ban bảo vệ, mắng anh này: “Thấy người ta cầm biểu ngữ đứng trước cổng thế mà cứ ngồi nhìn…” Khoảng 5 phút sau, có một viên trung tá an ninh mặt mũi khá bặm trợn (tôi chỉ nhớ là anh ta mang họ Hồ) đi xe máy vào. Anh ta hỏi chuyện tôi, nửa khuyên nhủ nửa nạt nộ, bảo tôi hãy về đi, người ta đang giải quyết vụ việc. Tôi bèn bỏ ra ngoài cổng và tiếp tục trưng tờ biểu ngữ lên. Mấy viên cảnh sát vội chạy theo, đề nghị tôi bỏ biểu ngữ xuống và vào trong cổng đợi.

Tôi đi vào cổng thì thấy trung tá Nguyễn Quang Trung xuất hiện đằng xa. Viên trung tá họ Hồ kia đi vào phòng làm việc ở cổng cùng trung tá Nguyễn Quang Trung và tôi. Anh ta lớn tiếng nạt nộ, doạ dẫm tôi, nhưng chừng như thấy không ăn thua gì, vả lại anh ta cũng chẳng có phận sự gì cả nên một lát sau anh ta rút. (Tay này chắc chắn là thuộc hạ của những người bị tôi tố cáo.)

Tôi tiếp tục làm việc với trung tá NQ Trung. Anh ta hỏi xác nhận của Công an P5 về việc chấp hành pháp luật của tôi từ tháng 8/2010 đến nay. Tôi nói tôi đã nộp cho Công an P5 rồi, nhưng họ chưa xác nhận; hơn nữa, đó là yêu cầu ngoài lề, không quan trọng. Tôi cho anh ta biết là tôi đã gửi thư tố cáo đi khắp 64 tỉnh thành cả nước rồi. Anh ta nói là họ đã biết hết. Tôi đề nghị họ tìm vợ tôi về, vì vợ tôi mới là nhân vật trung tâm của câu chuyện. Tôi cung cấp ảnh của Nhung, cô gái nằm trong băng đảng ma tuý của ông HT Hải với vợ tôi, đã bị ông ta và đàn em thủ tiêu, nhưng anh ta nói vụ đó sẽ giải quyết sau. Tôi đề nghị anh ta tiếp nhận USB có chứa các file tài liệu chi tiết liên quan đến đơn tố cáo cũng như đoạn ghi âm cuộc điện thoại giữa hai vợ chồng tôi (để chứng minh vai trò của vợ tôi trong câu chuyện). Anh ta nói là sẽ báo cáo lãnh đạo và khi cần sẽ liên lạc với tôi để in ra (vì tôi nói là tôi không có điều kiện để in).

Nói chung, thái độ làm việc của họ là theo kiểu “câu giờ”. Nếu muốn giải quyết nhanh thì trước hết là cần triệu tập vợ tôi đến để làm rõ đơn thư tố cáo, đằng này họ lại cứ vòng vo. Vụ việc vô cùng phức tạp, liên quan đến nhiều lãnh đạo cấp cao. Dường như người ta muốn thách thức sự kiên nhẫn của tôi. Tuy nhiên, tôi cũng nói rõ là tôi không còn lựa chọn nào khác mà sẽ theo đuổi vụ việc đến cùng. Tôi sẽ còn tiếp tục đem biểu ngữ đến trước cổng để buộc họ phải nhanh chóng giải quyết vụ việc.

Ngày 19/4:

7h30 sáng, tôi đến trụ sở Công an Quảng Trị. Viên cảnh sát trực ban bảo vệ thấy tôi từ đằng xa liền gọi điện đi đâu đó. Tôi đến trước cổng, lấy tờ biểu ngữ “HÃY TRẢ LỜI ĐƠN TỐ CÁO CỦA TÔI” ra giơ trước ngực. Hai viên cảnh sát bảo vệ vội chạy ra, đề nghị tôi vào trong cổng đợi để họ liên lạc vào trong. Tôi miễn cưỡng vào phía trong cổng đợi. Một lát sau, một viên cảnh sát bảo vệ chạy lại bảo tôi đợi đấy, sẽ có người ra làm việc. Tôi ngồi đợi mãi mà chẳng thấy ai ra làm việc với tôi cả. Đến khoảng 9h, tôi thấy trung tá Nguyễn Quang Trung đi xe máy từ trong ra. Anh ta tỏ vẻ bất ngờ và hơi khó xử khi gặp tôi. Hoá ra là chẳng có ai báo với anh ta cả. Do có việc phải đi ra ngoài nên anh ta mới biết tôi đang đợi ở cổng. Anh ta bảo tôi ngồi đợi để anh ta gọi người khác xuống làm việc với tôi. Anh ta nói là ngày hôm qua mới làm về vụ việc của tôi cả ngày. Tôi hỏi làm việc gì nhưng anh ta bảo là không nói được. (Họ làm việc với vợ tôi chăng?)

Tôi tiếp tục ngồi đợi. Đến gần 10h, một viên cảnh sát bảo vệ chạy lại báo cho tôi là hôm nay Thanh tra bận, hẹn hôm khác. Tôi rất bực nhưng đành phải ra về.

Ngày 21/4:

Vợ tôi nhắn tin cho tôi: “Có lệnh bắt anh rồi đấy. Anh nên dừng lại đi…”

Ngày 22/4:

Tôi gửi thư tố cáo qua mạng đến các cơ quan hữu quan ở Việt Nam cùng hàng loạt địa chỉ email khác (lần thứ 63).

Ngày 23/4:

7h30 sáng 23/4, tôi đến trụ sở Công an tỉnh Quảng Trị. Tôi đứng ngoài cổng và giơ túi tài liệu clear-bag, trong đó có tờ biểu ngữ “HÃY TRẢ LỜI ĐƠN TỐ CÁO CỦA TÔI” nằm ở phía ngoài, lên trước ngực. Mấy tay bảo vệ vội chạy ra đề nghị tôi vào phía trong đợi để họ liên lạc vào Phòng Thanh tra. Sau một lúc giằng co, tôi miễn cưỡng vào phía trong cổng đợi. Khi vào trong, tôi vẫn cố để tờ biểu ngữ cho nhiều người đi qua nhìn thấy. Một lát sau, một tay bảo vệ chạy lại cho biết là Phòng Thanh tra báo bận, không gặp tôi được.

Tôi bèn đi ra ngoài cổng và tiếp tục giơ túi tài liệu cùng tờ biểu ngữ lên trước ngực. 3 tay cảnh sát mặc thường phục liền chạy ra đuổi tôi đi, thái độ và hành vi của họ rất hung hãn. Tôi buộc phải lùi dần, lùi dần, nhưng bọn chúng vẫn không buông tha, mà cứ xấn tới. Cách cổng trụ sở Công an tỉnh khoảng 100m chúng vẫn tiếp tục xô đẩy tôi. Một tên còn tìm cách giật túi tài liệu của tôi. Trước phản ứng gay gắt của mấy người dân xung quanh, chúng mới chịu dừng tay. Trong khi giằng co với chúng, tôi thấy một viên trung tá an ninh đi xe máy từ cổng ra, gật đầu ra dấu khích lệ một trong 3 tên cảnh sát. Viên trung tá này chắc chắn là tay chân của những kẻ bị tôi tố cáo, còn mấy tay cảnh sát bảo vệ mặc thường phục kia đã được ngấm ngầm chỉ đạo trấn áp tôi.

3 tên cảnh sát kia vẫn đứng chặn không cho tôi tiếp cận cổng trụ sở Công an tỉnh. Một số người dân hỏi han, tỏ vẻ thông cảm và không dấu nổi sự bất bình trước cách hành xử của lũ côn đồ đội lốt công an.

Không còn cách nào khác, tôi đành phải ra về. Tôi cảm thấy vô cùng đơn độc trong cuộc chiến không cân sức này.

Ngày 24/4:

9h30 sáng, tôi đi mạng về thì gặp thượng uý Nguyễn Minh Đông, Phó CA P5, đang ngồi nói chuyện với mẹ vợ tôi. Viên sỹ quan này đã biết vụ việc của tôi ngay từ khi tôi mới bán nhà chuyển từ Hà Nội vào Đông Hà tháng 5/2008, đã từng cùng một viên trung uý CS khác và viên CSKV Lê Phước Giải đến nhà tôi vào tháng 7/2008 để tìm hiểu xem tôi có “bị” gì không, rồi sau đó chính anh ta lại có mặt trong đám công an “bắt quả tang” tôi tại tiệm Internet vào ngày 25/12/2009. Tôi cũng từng trao đổi với anh ta về vụ việc của mình, cũng như việc tôi đã gửi đơn tố cáo ở Công an tỉnh và mang biểu ngữ đứng trước trụ sở Công an tỉnh. Hôm nay, anh ta khuyên tôi nên đi ra Hà Nội hoặc Hà Tĩnh tìm việc làm một thời gian trong khi chờ đợi người ta giải quyết đơn tố cáo của tôi, vì vụ việc của tôi rất phức tạp, liên quan đến nhiều vị lãnh đạo cấp cao nên phải mất hàng tháng, thậm chí cả năm mới giải quyết được. (Chắc chắn là phải có ai đó chỉ đạo anh ta làm việc này.)

Đã mấy lần bà ngoại vợ tôi nói toạc móng heo với tôi về chuyện gia đình vợ tôi không muốn tôi ở đó nữa. Tôi rất buồn và cảm thấy cay đắng về chuyện đó. Thực ra, tôi cũng đã muốn đi khỏi ngôi nhà này từ lâu. Nhưng phần vì không biết đi đâu về đâu, phần vì còn cố nấn ná để tìm mọi cách thúc đẩy diễn tiến của vụ tố cáo. Lúc đầu, tôi cứ ngỡ chiến thuật mang biểu ngữ đứng trước cổng trụ sở Công an tỉnh sẽ khiến cho người ta phải giải quyết nhanh vụ việc của tôi. Tuy nhiên, sau sự cố sáng 23/4, tôi lại thấy mình vô cùng đơn độc và bất lực. Vì thế, tôi nói với thượng uý NM Đông là tôi cũng đã dự định hết tuần này sẽ đi rồi. Tôi bảo Ty (em gái vợ) tìm người bán bộ loa vi tính để lấy tiền lộ phí. Suốt thời gian vừa qua, vợ tôi vẫn đòi li dị, và bảo tôi ra đi.

Ngày 25/4:

Buổi sáng, tôi đi mạng và tiêu hết những đồng tiền lẻ cuối cùng.

Buổi chiều, tôi kiểm tra lại túi tài liệu thì phát hiện một Bản Cam Đoan (đánh máy) và hai lá đơn tố cáo có chữ ký và điểm chỉ của vợ tôi đã biến mất. Tôi biết là chỉ có mẹ vợ tôi lấy trộm theo chỉ đạo của vợ tôi mà thôi.

Khoảng 16h, tôi hỏi mẹ vợ thì bà chối bay chối biến, lại còn cong cớn chửi rủa tôi, đòi đuổi tôi ra khỏi nhà. Nói qua nói lại một lúc, bà mẹ vợ cầm chiếc ghế nhựa xông vào đánh tôi. Bà đánh tôi mấy cái vào đầu khiến tôi bị chảy máu. Bị kích động, tôi phản ứng, đấm lại bà một cái rồi bỏ chạy. Bà liền gọi điện thoại cho thiếu tá Hùng, Trưởng CA P5. Chỉ một nhoáng sau, viên CSKV Đoàn Kim Thuyết và một viên cảnh sát khác xuất hiện. Lúc này, tôi đã vào nhà tắm táp để cho trôi hết máu me trên người và vụ việc đã tạm lắng xuống. Mọi người cũng bảo là chuyện qua rồi, tôi cũng không muốn ra CAP làm gì. Nhưng thái độ của hai viên CS lần này khác hẳn với mọi ngày, họ tỏ ra rất cương quyết, đòi cưỡng chế nếu tôi không chịu ra CAP làm việc (?).

Tôi đành phải ngồi lên xe của một viên CS. Mẹ vợ tôi đi đón con, sau đó đến sau. Bà nói với phía Công an là không cho tôi tiếp tục ở trong nhà nữa. Ra tới trụ sở CAP5, người làm việc với tôi là thiếu tá Trương Văn Thể và một viên thiếu tá khác mà tôi quên mất tên. Tôi viết bản tường trình về vụ việc. Thiếu tá TV Thể lập biên bản lấy lời khai, thể hiện theo đúng nội dung mà tôi đã tường trình (tức là mẹ vợ lấy trộm đơn thư của tôi, đánh tôi chảy máu đầu, sau đó tôi đấm lại bà một phát rồi bỏ chạy). Tôi bảo họ là mọi chuyện không có gì ghê gớm, tôi mới là người bị khiêu khích, bị tấn công và bị thương tích đáng kể. Dù vậy, tôi vẫn thừa nhận là việc đánh lại mẹ vợ cũng là chuyện chẳng hay ho gì. Tôi đề nghị họ bỏ qua, bởi tôi cũng sắp đi khỏi đây rồi. Họ bảo tôi ngồi đợi một lát, rồi họ mang bản tường trình và biên bản lấy lời khai kia đi ra khỏi phòng.

Lát sau, họ quay lại. Viên thiếu tá kia lập biên bản xác nhận thương tích cho tôi, và tôi ký vào chỗ người bị hại. Sau đó, thiếu tá TV Thể chìa cho tôi một tờ biên bản sự vụ, trong đó chỉ nêu vắn tắt là ngày nọ giờ nọ có vụ xô ẩu giữa tôi và mẹ vợ, dưới đó vẫn còn nhiều dòng trống. Anh ta bảo tôi ký vào dưới chỗ người bị hại, nhưng lệch sang bên trái, sát mép tờ giấy, chứ không phải ngay dưới chỗ dành cho người bị hại. Lúc đó, tôi đã băn khoăn, nhưng nghĩ chắc vụ việc không có gì nên người ta sẽ bỏ qua thôi. Vì vậy, tôi vẫn làm theo chỉ dẫn của anh ta. Trước khi ra về, tôi còn gặp thượng uý NM Đông. Anh ta tỏ ra rất nhã nhặn, lắng nghe và chia sẻ, cả vụ việc tố cáo của tôi, cũng như chuyện mới xẩy ra ở nhà bà ngoại vợ tôi. Tôi báo với anh ta là ngày mai sẽ đi khỏi đây. Anh ta nói là nếu có gì cần giúp đỡ thì hãy gọi cho anh ta, anh ta rất sẵn sàng. Lúc đó, tôi thực sự cảm kích và nghĩ đây là một con người hiểu biết và có tâm, mặc dù trước kia tôi vẫn có ác cảm với anh ta.

Buổi tối, Ty (em vợ) đưa cho tôi 300.000VNĐ tiền bán bộ loa vi tính để tôi lấy tiền đi.

Ngày 26/4:

Buổi sáng, tôi đi mạng rồi đi mua vé xe ra Hà Nội. Khoảng 9h sáng, tôi về xóm và gặp một số người trong xóm, cho họ biết là tôi sẽ ra HN vào chiều tối. Tất cả mọi người trong xóm đều không biết gì về thực chất của câu chuyện, nhưng họ đều tỏ ý trách vợ tôi và gia đình vợ (vợ tôi nói với họ là đòi chia tay tôi, tôi đi thì cô ấy mới đưa con về). Mọi người động viên tôi, một số người còn góp tiền cho tôi làm lộ phí. Vài người bảo tôi họ nghi vợ tôi là bồ của ông Nguyễn Đình Hùng, nguyên GĐ Nông trường Cao su Cồn Tiên. Họ nói ông này bị vợ bỏ vì nợ nần tùm lum (trước đó mấy tháng, vợ tôi cho tôi biết ông Hùng bỏ vợ vì vợ nghi ông bồ bịch rồi hành xử quá đáng với ông).

Như vậy, có thể khẳng định rằng những khó khăn về tài chính sau này của vợ tôi là xuất phát từ phía ông NĐ Hùng. Hoặc là ông ta vỡ nợ thật, hoặc là ông ta đã bị những người mà tôi tố cáo khống chế, mua chuộc rồi làm tay sai cho họ. (Ở đây, tôi cần phải nói rõ là do vợ tôi không muốn tôi bức xúc mà tiếp tục tố cáo nên nhiều khi gặp khó khăn về tiền bạc cô ấy không muốn cho tôi biết. Phía Bộ Chính trị biết điểm yếu này của vợ tôi nên khai thác triệt để, họ cứ hứa hươu hứa vượn hết lần này đến lần khác để vợ tôi cộng tác với họ, nhưng lại không đưa tiền cho vợ tôi, hòng khiến chúng tôi ngày càng rơi vào cảnh khó khăn và làm cho tôi nghi ngờ vợ.) Trong hai khả năng nói trên của ông NĐ Hùng, tôi vẫn nghiêng về khả năng thứ hai nhiều hơn: ông ta bị mua chuộc rồi tiếp tay cho người ta để làm hại vợ chồng tôi. Gần Tết, vợ tôi thú nhận với tôi là số tiền 80 triệu VNĐ mà ông TĐ Quang đưa cho (ngày 3/1/2012 là 70 triệu và sau đó mấy ngày ông đưa thêm 10 triệu nữa) vợ tôi đã giấu tôi mua thêm một lô cao su nữa ở Cồn Tiên, do ông NĐ Hùng giúp. (Trước đó tôi vẫn băn khoăn, tuy không nói ra với vợ, là không hiểu cô ấy tiêu tiền kiểu gì mà thấy mau hết.) Thực ra, nếu tôi biết trước chuyện này thì tôi đã can ngăn vợ, vì tôi biết là mình cần phải dự phòng một ít tiền mặt để theo đuổi vụ tố cáo này. Tức là, một mặt phía Bộ Chính trị vẫn đưa tiền cho chúng tôi sinh sống, một mặt lại có người ngay lập tức chỉ đạo ông NĐ Hùng tìm cách rút ruột vợ tôi, mà ở đây là bày ra chuyện mua cao su. (Trong BCT có nhiều phe phái khác nhau.) Ông Hùng là ân nhân của vợ tôi, nhất là thời gian tôi bị bắt, nên cô ấy dễ tin lời ông ta. Những chuyện liên quan đến ông này vợ tôi đều kể hết cho tôi. Vợ tôi có thể phạm tội giết người, và đôi khi vì những lý do khác nhau mà giấu tôi chuyện này chuyện nọ, nhưng riêng đức tính chung thuỷ thì tôi rất tin vợ, tin vào trực giác của mình.

Nhỏ (bạn vợ tôi) còn cho tôi biết là cách đó khoảng mươi hôm, một lần vợ tôi gọi điện cho nó và “thổ lộ” là tôi đã hẹn cô ấy vào khách sạn Thành Đô rồi ép cô ấy ký và điểm chỉ vào đơn thư tố cáo. (Những kẻ bị tôi tố cáo biết các sỹ quan Công an Quảng Trị đang [ngầm] thụ lý vụ việc của tôi vẫn theo dõi điện thoại của cô ấy, nên việc vợ tôi “tâm sự” với bạn như thế là một diễn biến logic nếu cô ấy khai với công an là việc ký đơn thư tố cáo là do tôi ép buộc.) Thông tin này khiến tôi thấy chột dạ.

Trên đường ra Hà Nội vào tối 26/4, tôi bắt đầu xâu chuỗi sự kiện và rút ra kết luận là có thể người ta sắp bắt tôi về tội vu khống. Tuy nhiên, khác với lần trước, ngày 25/12/2009, khi người ta “bắt quả tang” tôi ngoài tiệm Internet về tội “tuyên truyền chống phá Nhà nước” rồi sau đó mới chuyển sang tội danh “vu khống các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước”, lần này, sau khi “điều tra”, có thể người ta sẽ ra lệnh bắt khẩn cấp đối với tội về tội danh “vu khống”, qua các diễn biến sau: (i) ngày 21/4, vợ tôi nhắn tin cho tôi là “có lệnh bắt anh rồi đấy.”; (ii) bọn họ ép vợ tôi bảo mẹ lấy trộm đơn thư của tôi, dẫn đến cuộc xô xát để tạo cớ cho Công an P5 vào cuộc và dở trò bẩn thỉu với tôi. Lúc này, tôi mới thấm thía là mình đã ngây thơ đến thế nào khi mấy tay công an P5 bảo ký gì thì ký nấy. Rất có thể nội dung biên bản sự vụ sẽ bị họ “làm xiếc” theo hướng gây bất lợi cho tôi: họ sẽ bổ sung vào biên bản này nội dung theo đó tôi là người gây sự, đánh mẹ vợ trước, và mẹ vợ tôi sẽ ký vào chỗ người bị hại của tờ biên bản. Nếu tôi bị bắt, khi ra toà người ta sẽ rêu rao rằng tôi là người không có tư cách, dám ngang ngược đánh cả mẹ vợ, qua đó thuyết phục mọi người việc tôi bắt ép vợ ký vào đơn thư tố cáo là chuyện hoàn toàn có thể. (Trong khi đó, nếu tôi bị kiếm chuyện, bị đánh trước và phản ứng vừa phải với mẹ vợ thì mọi người dễ thông cảm hơn. Bản tường trình của tôi, biên bản lấy lời khai và bản xác nhận thương tích của tôi là chân thực; còn biên bản sự vụ thì bị họ làm xiếc; bọn họ sẽ dùng những thứ này để “mặc cả” với những kẻ cần chúng.)

Ngày 27/4:

Do tắc đường ở Thanh Hoá nên khi tôi ra đến Hà Nội và về nhà mẹ thì đã 11h trưa. Mẹ tôi bảo tôi ở lại rồi xin việc làm.

Buổi chiều, mẹ tôi về quê với em trai tôi nhân dịp nghỉ lễ. Tôi đi mua một máy điện thoại Trung Quốc cũ, có chức năng ghi âm, và một thẻ nhớ mới, tất cả chỉ vỏn vẹn 180.000VNĐ. Tôi dự định sẽ điện thoại cho tay thượng uý Nguyễn Minh Đông để làm cho ra nhẽ, rồi gọi điện cho cậu Tuấn, anh mẹ vợ tôi (ở gần nhà bà ngoại vợ), để tìm kiếm nhân chứng bảo vệ mình.

Ngày 28/4:

8h20 sáng, tôi bắt đầu gọi cho thượng uý NM Đông, và tiến hành ghi âm các cuộc gọi. Đúng như tôi tiên đoán, anh ta nói là tôi đánh mẹ vợ trước. Lúc tôi nói đến biên bản sự vụ thì anh ta trả lời lấp liếm. Khi thì nói là tôi và mẹ vợ ký cùng nhau (thực ra tôi ký trước), khi thì nói là mẹ vợ tôi ký chỗ khác, chứ không phải ký vào chỗ người bị hại trong biên bản sự vụ. Khi tôi tiếp tục truy vấn đến cùng thì anh ta lại trở giọng với tôi, mặc dù lúc đầu anh ta rất nhã nhặn, thậm chí còn gọi điện lại cho tôi khi máy không nghe rõ. Đúng là bọn họ đã giở trò hèn hạ với tôi. Suy cho cùng, tay thượng uý này, cũng mấy viên cảnh sát kia, cũng chỉ là “thiên lôi” trong tay kẻ khác thôi. “Nhà dột từ nóc”, “các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước” mà còn thế thì trách gì họ.

Sau đó, tôi gọi điện cho cậu Tuấn (anh ruột mẹ vợ). Rất may là ông thừa nhận ông đã chứng kiến toàn bộ vụ xô xát, ngay từ khi tôi và mẹ vợ còn nói qua nói lại, cho đến khi mẹ vợ cầm ghế nhựa tấn công tôi, sau đó tôi đấm lại mẹ vợ một cái rồi bỏ chạy. Ông còn nói là nếu tôi không chạy thì còn ăn cả cái ghế vào đầu nữa. Tôi đã ghi âm các cuộc điện thoại này.

12h02: Thấy số điện thoại vợ gọi đến, tôi bắt máy thì gặp con gái Lê Thanh Mai (tên thường gọi ở nhà là Mimi) và hai bố con nói chuyện với nhau.

12h23: Lại thấy số máy vợ tôi gọi tới, lần này vợ tôi nói chuyện với tôi. Vợ tôi cho tôi biết là sẽ đưa con ra Hà Nội để vào các đại sứ quán nước ngoài tố cáo. Cô ấy nói là thu xếp xong sẽ đưa con ra. Tôi động viên vợ. Khá lâu rồi vợ tôi mới nói chuyện tử tế với chồng. (Tôi đã ghi âm được cuộc trao đổi này.)

Với đoạn ghi âm cuộc điện thoại này, mọi “bài vở” mà họ đối phó với tôi xem ra đã thất bại, mặc dù tôi vẫn không hoàn toàn tin là vợ tôi sẽ hành xử như đã nói với tôi.

Ngày 2/5:

Vợ tôi nhắn tin hỏi về vết thương trên trán của tôi: “Trán anh sao rồi? Đau lòng lắm nhưng phải thế thôi.” Khi tôi cho biết là vết thương vẫn chưa lành, vợ tôi nhắn lại: “Khốn nạn thật. Em xin lỗi anh.”

Như vậy là đã rõ, việc mẹ vợ tôi kiếm chuyện với tôi vào ngày 25/4 để đuổi tôi ra khỏi nhà là vở kịch do bọn họ dàn dựng và ép buộc vợ tôi xúi mẹ thực hiện.

Ngày 5/5:

Tôi gặp 5 vị lão thành cách mạng tại nhà của một người trong số họ, từ 8h30 cho đến 11h sáng. Họ đã in sẵn thư tố cáo của tôi (từ mạng Internet) thành tập dày côp. Tôi trình bày tóm tắt vụ tố cáo, giải đáp một số thắc mắc của họ. Rất cảm phục tinh thần và tấm lòng vì dân vì nước của họ.

Các cụ cho tôi biết một tin động trời là ông HT Hải là người Hán, và đấy chính là một cơ sở khiến họ càng tin vào câu chuyện của tôi.

Mấy hôm qua, vợ con tôi vẫn không về nhà, mặc dù khi tôi còn ở Đông Hà thì cô ấy nói với mọi người là tôi đi thì cô ấy mới về. Rõ ràng, nếu vợ tôi đưa con về thì Công an Quảng Trị sẽ có cớ gọi cô ấy lên làm việc, và với lời khai của cô ấy, họ có thể làm nên chuyện (nếu họ quyết theo đuổi vụ việc đến cùng – dĩ nhiên là với sự hậu thuẫn của thế lực nào đó ở Hà Nội). Nếu không, để họ đồng ý ém nhẹm vụ việc thì những kẻ bị tôi tố cáo (thậm chí cả Bộ CT) sẽ phải chi cho họ một số tiền không nhỏ.

Vợ tôi vẫn nói với tôi là tối Chủ nhật (6/5) sẽ đưa con ra Hà Nội để cùng tôi tố cáo.

Theo lời khuyên của các cụ lão thành cách mạng, tôi đã viết bản tóm lược câu chuyện tố cáo dài 9 trang (câu chuyện chi tiết dài những 285 trang).

Ngày 7/5:

Vợ tôi không đưa con ra như đã hứa với tôi. Qua các tin nhắn gửi cho tôi từ máy của vợ, tôi biết là cô ấy đã bị bọn họ khống chế và đe doạ.

Tôi gửi thư tố cáo qua mạng tới các cơ quan hữu quan và hàng ngàn địa chỉ khác (lần thứ 64). Trong lần tố cáo này, tôi gửi kèm bản tóm lược câu chuyện tố cáo (9 trang) và đính kèm thêm đoạn ghi âm điện thoại với vợ vào ngày 28/4 vừa rồi.

Ngày 8/5:

Vợ tôi cho tôi biết là cô ấy đưa 3 đứa đi tàu vào miền Nam.

Buổi tối, trả lời phỏng vấn Diễn đàn Hội luận Phỏng vấn Hiện tình Việt Nam trên mạng Paltalk về vụ tố cáo trong khoảng 1h30. Phóng viên Chim Quốc Quốc (Nguyễn Khắc Long) là người dẫn dắt cuộc phỏng vấn.

Ngày 12/5:

Buổi tối, tiếp tục trả lời phỏng vấn Diễn đàn Hội luận Phỏng vấn Hiện tình VN. Phóng viên Chim Quốc Quốc hỏi tôi là có biết gì về tin ông Hoàng Trung Hải là người của Cục Tình báo Hoa Nam (Trung Quốc) hay không? Tôi trả lời: “Trong câu chuyện tố cáo của tôi không có thông tin đó. Tuy nhiên, mấy ngày gần đây, một số vị lão thành cách mạng ở Hà Nội cho tôi biết rằng bố ông HT Hải là người Hán, và lý lịch ông ta có vấn đề.” Người phỏng vấn cũng cho tôi biết đó là tin từ nguồn tin quốc nội của họ.

Ngày 13/5:

Buổi sáng, gặp lại các vị lão thành cách mạng mà tôi đã gặp hôm 5/5. Lần này các cụ đưa cho tôi bức Tâm Huyết Thư đề ngày 7/5/2007 của một số cán bộ, đảng viên đã và đang công tác tại Ban Tổ chức TW, Uỷ ban Kiểm tra TW, Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ, tố cáo lý lịch mờ ám của ông HT Hải (bố ông ta là người Hán, tên là Sì Sồi).

Buổi chiều, lại gặp thêm một số vị lão thành cách mạng khác nữa.

Ngày 14/5:

Tôi công bố bức Tâm Huyết Thư nói trên (bản chụp dưới dạng file PDF) qua hàng loạt địa chỉ mà tôi vẫn gửi thư tố cáo.

Ngày 15/5:

Tôi rời khỏi nhà mẹ, đi tìm việc làm chân tay (vì với “lý lịch” của tôi thì không thể tìm được công việc phù hợp với khả năng của mình) để kiếm sống và để tiếp tục theo đuổi vụ việc.

Ngày 21/5:

Quốc hội khoá XIII khai mạc kỳ họp thứ 3.

Buổi sáng, tôi gọi điện cho Thanh tra Công an Quảng Trị để hỏi về đơn thư tố cáo. Xin gặp trung tá Nguyễn Quang Trung nhưng người cầm máy cho biết là anh ta đi học (?). Tôi xin gặp thượng tá Đoàn Thị Mỹ Hạnh, Phó phòng. Bà thượng tá nói là cho người ta thời gian giải quyết. Khi bị tôi truy là tôi đã nộp đơn hơn 6 tháng, nếu theo luật thì đã quá hạn trả lời của cơ quan chức năng, bà liền chuyển máy cho một người mà bà nói là “có trách nhiệm trả lời về vụ việc của anh”. Tay này hình như mới tiếp nhận vụ việc từ trung tá Nguyễn Quang Trung. Anh ta cứ trả lời tôi quanh co, yêu cầu tôi phải cung cấp giấy tờ nọ, giấy tờ kia (không theo quy định nào của pháp luật) thì họ mới chịu “thụ lý” vụ việc. Anh ta không biết gì đến bản kết luận điều tra trước đây của tôi, đồng thời coi Bản Cam Đoan của vợ tôi như tờ giấy lộn. Tôi đã ghi âm lại cuộc điện thoại này.

Buổi chiều, tôi tiếp tục gửi thư tố cáo qua mạng đến các cơ quan chức năng và hàng loạt địa chỉ khác (lần thứ 65). Lần này tôi đính kèm theo file ghi âm cuộc điện thoại giữa tôi và Thanh tra Công an Quảng Trị. Đây là một bằng chứng quan trọng, cho thấy (i) tôi đã nộp đơn thư tố cáo trực tiếp ở cơ quan Công an, không phải là chỉ tố cáo qua mạng, và (ii) thái độ quanh co, phớt lờ vụ việc của Công an Quảng Trị (qua đó là của cấp lãnh đạo cao nhất ở Việt Nam).

Ngày 26/5:

Diễn đàn Chính trị Tranh luận Dân chủ trên mạng Paltalk phỏng vấn tôi. Cuộc phỏng vấn do anh Lý Trinh Châu thực hiện (đây là người đã từng nhân danh Đài Tiếng nói Việt Nam Tự Do phỏng vấn tôi vào ngày 16/12/2009). Tuy nhiên, sau chừng 40 phút thì điện thoại của tôi bị cắt sóng, anh Trinh Châu cho biết qua email là liên lạc lại mà không được. Đây là lần đầu tiên người ta phá ngang cuộc điện thoại của tôi.

Ngày 3/6:

Khoảng 11h, tôi gọi điện thoại cho ĐBQH Dương Trung Quốc (số điện thoại do một vị lão thành cách mạng đưa cho tôi) và xin gặp ông để trao đổi về vụ việc tố cáo của mình. Ông hẹn gặp tôi vào 4h chiều tại nhà riêng (số 8 Lê Văn Hưu).

Đúng 4h chiều, tôi có mặt tại nhà ông. Thái độ của ông rất nhã nhặn và đúng mực. Cuộc gặp kéo dài trong gần 40 phút, ông xác nhận một số điều và thể hiện quan điểm như sau:

1) Ông đã nhận được đầy đủ các đơn thư tố cáo mà tôi gửi qua mạng, kể cả bức thư ngỏ mà tôi gửi cho ông với tư cách một ĐBQH;

2) Đây là một vụ việc quá lớn, quá khủng khiếp, quá đụng chạm;

3) Thư tố cáo của tôi đã tràn lan trên mạng suốt mấy năm nay và ai cũng biết;

4) Thực hư nội dung thư tố cáo thì chưa biết nhưng việc cứ để thông tin đó vởn vơ như thế là rất tai hại;

5) Ông đã đọc kỹ thư tố cáo của tôi, đối chiếu các tình tiết về các sự kiện mà tôi kể trong câu chuyện và thấy khớp với thực tế; ông cũng đã đọc một số bài báo của tôi;

6) Ông Nguyễn Bình Giang (Uỷ viên BCHTW Đảng các khoá 6, 7, 8; nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ) có chuyển cho ông bức Tâm Huyết Thư của một số cán bộ, đảng viên đã và đang công tác tại Uỷ ban Kiểm tra TW và Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ, tố cáo lý lịch mờ ám của ông Hoàng Trung Hải (bố ông ta là người Hán, tên là Sì Sồi). Ông đã chuyển bức thư đó cho người có trách nhiệm, nhưng người ta không trả lời ông;

7) Ông đề nghị tôi gửi đơn thư tố cáo bằng văn bản, có chữ ký của tôi cho những người có trách nhiệm và đồng kính gửi cho ông. Ông sẽ thực hiện đúng chức trách của mình;

8) Vì đây là vụ việc nghiêm trọng nên việc giải quyết, trả lời đơn thư cũng có thể phải khác lệ.

Trang Bauxite Việt Nam đăng bài viết mới của tôi (Từ chuyện xây dựng tiêu chí “Người Hà Nội thanh lịch, văn minh” nghĩ về một nền văn hoá bị cưỡng bức): http://www.boxitvn.net/bai/37574. Tuy nhiên, do là một trang mạng trong nước nên BBT đã lược bớt một vài chỗ “nhạy cảm”. Cũng chính vì thế mà bài viết mất đi ít nhiều giá trị. Tôi đã gửi bản gốc cho các trang mạng tiếng Việt ở hải ngoại như Dân Luận, X-CafeVN, Thông Luận, Dân Làm Báo, v.v. Bài trên trang Dân Làm Báo có nhiều comment thú vị (http://danlambaovn.blogspot.com/2012/06/tu-chuyen-xay-dung-tieu-chi-nguoi-ha.html).

Ngày 6/6:

Buổi sáng, tôi đến Bưu điện Bờ Hồ gửi đơn thư tố cáo bằng văn bản đến một số cá nhân có trách nhiệm (Chủ tịch nước TT Sang, Chủ tịch Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm, Viện trưởng Viện KSNDTC Nguyễn Hoà Bình, Chánh án TANDTC Trương Hoà Bình, Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra TW Ngô Văn Dụ). Khoảng hơn 12h, tôi đến nhà riêng ông DT Quốc và gửi cho ông một bộ đơn thư qua vợ ông (ông họp Quốc hội chưa về).

Thời gian qua, tôi cũng có gặp một số vị lão thành cách mạng nữa, nhưng tôi chưa tiện nêu danh tính và địa chỉ của họ.

Ngày 10/6:

Tôi gọi điện thoại cho ĐBQH Dương Trung Quốc. Ông xác nhận là đã nhận được đơn thư của tôi. Ông dự định chuyển cho Chủ tịch QH và sẽ theo dõi việc xử lý. Tôi đề nghị xin tờ giấy xác nhận ông đã nhận đơn thư của tôi, ông nói là sang tuần, để ông thu xếp rồi báo cho tôi qua điện thoại.

Một vị lão thành cách mạng mà tôi mới gặp gọi điện thoại cho tôi biết là “anh em nhiều người đã biết chuyện rồi”.

Ngày 19/6:

Gửi bài viết mới (Những danh hài chính trị ở Việt Nam) cho các trang mạng. Trước đó, trang Bauxite Việt Nam đề nghị chỉnh sửa cho lời lẽ nhẹ nhàng hơn thì họ mới đăng được. Nhưng tôi hồi âm là nếu vậy thì sẽ làm mất ý nghĩa đả kích của bài viết, vì vậy tôi đành phải gửi cho các trang báo hải ngoại.

Ngày 20/6:

Tôi gọi điện cho ĐBQH Dương Trung Quốc. Ông thông báo là ông đã chuyển đơn thư của tôi cho ông Chủ tịch QH. Ông hẹn tôi sáng ngày 22/6 gặp ông để ông chuyển cho tôi giấy xác nhận việc tiếp nhận và chuyển đơn thư của tôi.

Ngày 22/6:

Buổi trưa, gần 12h, tôi gặp ĐBQH Dương Trung Quốc tại cơ quan ông, 216 Trần Quang Khải. Ông trao cho tôi tờ giấy xác nhận việc tiếp nhận và chuyển đơn thư của tôi cho ông Chủ tịch QH. Ông nói ông sẽ giám sát việc họ giải quyết đơn thư. Trong trường hợp lâu họ không trả lời thì tôi cứ việc gọi điện giục ông và ông sẽ giục những người có trách nhiệm theo đúng luật định.

Trong tình thế này ngài Thủ tướng lại muốn “đoái công chuộc tội” chăng?

Đây nữa, “bảo bối” của ông TT Sang chính là đơn thư tố cáo trực tiếp của tôi, đặc biệt là với sự hiệp sức của ĐBQH Dương Trung Quốc:

Ngày 27/6:

Buổi sáng, tôi từ Gia Lâm về nội thành Hà Nội để gặp cụ Nguyễn Văn Tuyến (cựu đại tá quân đội, cán bộ tiền khởi nghĩa, nhà ở P106 – C16 Thanh Xuân, người mà tôi đã gặp mấy lần trước) theo đề nghị của cụ. Khoảng 9h tôi đến nhà cụ và gần 10h thì rời khỏi đấy.

Khoảng 10h, khi tôi đang bắt xe buýt tại điểm đỗ đối diện với đường Nguyễn Quý Đức thì một chiếc xe con trờ tới. Mấy người mặc thường phục tiếp cận tôi và hỏi, “Anh có phải là Lê Anh Hùng không?” Tôi nói phải. Họ nói, “Chúng tôi là cơ quan an ninh mời anh đi theo chúng tôi để làm việc về thư tố cáo của anh.” Họ đưa tôi lên xe và đi luôn. Hai người ngồi trước, tôi ngồi giữa hai người khác ở ghế sau.

Họ lái xe vào trụ sở Công an P. Thanh Xuân Bắc. Tại đây, họ yêu cầu tôi bỏ các điện thoại và USB ra bàn. Họ đưa ra một số đơn thư tố cáo dày hàng trăm trang mà tôi đã tố cáo trên các trang mạng Internet. Tôi xác nhận đó là đơn thư của tôi, và tôi ký và các tập tài liệu đó.

Sau đấy, họ mở túi tài liệu mà tôi mang theo người. Trong đó có tập đơn thư tố cáo mà tôi đã ký (với nội dung giống như bộ đơn thư tôi đã gửi trực tiếp cho ĐBQH Dương Trung Quốc và 8 vị khác qua đường bưu điện), giấy xác nhận (bản gốc) của ông DT Quốc về việc đã tiếp nhận và chuyển đơn thư của tôi, 8 biên lai chuyển phát nhanh đơn thư tố cáo cho 8 vị ngày 6/6/2012, cùng vài thứ không quan trọng khác.

Họ đòi lập biên bản, nhưng tôi từ chối làm việc với họ, với lý do là “đơn thư tôi tố cáo công khai, như các anh đã thấy, các anh muốn làm việc với tôi thì phải có giấy mời đàng hoàng”. Họ nói là cứ làm việc với họ đi, muốn có giấy mời thì sẽ có. Tôi vẫn yêu cầu có giấy mời thì mới làm việc.

Khoảng 11h30 thì họ đưa giấy mời đến. Nội dung giấy mời là mời tôi đến trụ sở Công an P. Thanh Xuân Bắc vào hồi 10h ngày 27/6/20112 để làm rõ nội dung đơn thư tố cáo, người làm việc với tôi là Trung tá Hoàng Văn Dân. Giấy mời do một viên đại tá, Cục phó Cục A67 ký.

Sau đó, họ lập nhiều biên bản khác nhau, với nội dung na ná nhau, trong đó chỉ có một tờ “Biên bản lấy lời khai” là đúng mẫu, còn lại họ viết trên giấy A4. Viên trung tá Hoàng Văn Dân (chừng 45 tuổi) tỏ thái độ sừng sộ với tôi, theo kiểu áp chế đối phương, nào là tôi vu khống, nào là đơn thư của tôi không có căn cứ, v.v. Tôi cũng chẳng vừa, cũng nổi nóng và đập bàn với anh ta, dẹp ngay bài trấn áp của anh ta, khiến anh phải dịu dọng, chấp nhận lập luận của tôi. Mấy viên sỹ quan khác trẻ hơn và tỏ thái độ nhã nhặn hơn viên trung tá này. Riêng trong tờ “Biên bản lấy lời khai” theo mẫu của Bộ CA thì họ hỏi nhiều đến quan hệ giữa tôi và cụ Nguyễn Văn Tuyến cùng Câu lạc bộ Hồ Chí Minh của một số vị lão thành cách mạng, tuy nhiên tôi cố gắng khai sao để khỏi ảnh hưởng đến cụ (cũng như những người khác).

Nội dung các biên bản đại khái là tôi đã tố cáo qua mạng 66 lần như thế, đã gửi đơn thư trực tiếp và làm việc với Công an Quảng Trị 4 lần, đã gửi đơn thư bằng văn bản qua đường bưu điện đến 8 địa chỉ nêu trên và đến trực tiếp ĐBQH Dương Trung Quốc; đơn thư tố cáo của tôi dựa trên lời kể của vợ tôi, người đã viết bản cam đoan khẳng định việc cung cấp thông tin cho tôi và thừa nhận vai trò của mình trong câu chuyện.

Bọn họ còn lập biên bản kiểm tra các tài liệu mà tôi mang theo người, và biên bản kiểm tra các vật dụng trong người tôi. Lúc đầu tôi không chịu ký các biên bản này, nhưng sau đó, họ cứ nói mãi, tôi thì mệt nên cũng tặc lưỡi ký cho họ thoả mãn. Họ yêu cầu tôi cung cấp địa chỉ cư trú hiện tại, nhưng tôi từ chối vì không muốn liên luỵ đến nơi minh đang tá túc và làm việc.

Sau khi ký xong xuôi các biên bản (khoảng 14h30), họ đòi kiểm tra USB của tôi. Tôi phản đối nhưng đơn độc trước một đám người như vậy nên bất lực và đành chấp nhận. Họ đưa USB của tôi vào máy tính xách tay của họ, kiểm tra sơ qua, và chắc chắn đã bí mật copy toàn bộ nội dung USB của tôi trước khi rút ra bỏ trên bàn, làm ra vẻ là chưa xem kỹ. Sau đó, trung tá Hoàng Văn Dân bảo một viên sỹ quan trẻ đi lấy phong bì và bỏ USB của tôi vào đấy, dán lại, bảo là hôm nay muộn rồi, phải cất USB để mai làm việc tiếp. Anh ta cho tôi ký niêm phong, và bảo tôi viết bên ngoài phong bì là “Tôi để lại USB này theo yêu cầu của cơ quan an ninh để ngày mai làm việc tiếp”. Dù bực mình nhưng tôi đành phải làm theo ý họ.

Bọn họ bảo đưa các biên bản, các tài liệu mà tôi mang tới và cả giấy mời làm việc nữa để đi photo. Tôi đã nghi ngờ “bài” của họ, kiên quyết từ chối trao lại giấy mời làm việc cho ho, nhưng rồi cũng đành bất lực.

Sau đó, trung tá Hoàng Văn Dân đọc cho tôi viết bản cam kết là sẽ sẵn sàng làm việc với Cục A67 Bộ Công an khi họ gọi điện yêu cầu, phải đảm bảo điện thoại luôn luôn mở.

Từ 16h, bọn họ ra làm việc ở các phòng khác bên ngoài phòng tôi ngồi; khi tôi ra ngoài thì thấy bọn họ tập trung khá đông, khoảng mười mấy người, dường như họ đang kiểm tra và bàn tán về các file tài liệu trong USB của tôi (mà trước đó họ đã bí mật copy vào máy tính).

Khoảng 17h, họ trả lại điện thoại cho tôi (3 chiếc). Tôi liền bật một chiếc để bí mật ghi âm bọn họ được chừng nào hay chừng ấy.

Khoảng 18h, tôi bất ngờ khi thấy mẹ tôi đến. Hoá ra là bọn họ đã đến tận nhà mẹ tôi chở bà đến. Với một người suy nghĩ đơn giản như mẹ tôi thì sao dám tin vào câu chuyện của tôi được. Tiếng là cựu y sỹ bệnh viện tâm thần nhưng thực ra mẹ tôi chỉ học đến lớp 7, sau đó học trung cấp y; mẹ tôi chỉ mới chuyển từ bệnh viện G5 của Bộ GTVT sang làm ở Bệnh viện Tâm thần Nghệ Tĩnh vài năm trước khi nghỉ hưu vào năm 1990. Có thể họ đã sẵn sàng cho phương án tiếp tục vu cho tôi bị bệnh tâm thần đây. Ngoài ra, dường như họ cũng muốn tôi về nhà mẹ tôi để tiện cho họ mỗi khi muốn làm việc với tôi.

Tuy nhiên, tôi từ chối về nhà mẹ mà quyết định trở về nơi tôi vẫn đang tạm tá túc và làm việc ở gần Gia Lâm. Họ cho xe con đưa mẹ tôi về nhà và đưa tôi tới cổng Công viên Thống Nhất để bắt xe buýt. Cuối buổi làm việc họ cũng không chịu trả lại túi tài liệu mà tôi mang theo, cũng như giấy mời làm việc, với lý do là hôm sau còn làm việc tiếp với họ. Không biết điều gì đang chờ đợi tôi, và đất nước này, ở phía trước. Dù sao tôi cũng đã sẵn sàng cho tất cả.

Hà Nội, ngày 27/6/2012
Lê Anh Hùng
———————–
Bài viết và tài liệu do tác giả gửi đén VAOL cậy đăng và xin phổ biến đến mọi người để rộng đường dư luận.
———————–


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Biểu tình chống Trung Quốc: Tất cả họ đã có nhiều kinh nghiệm hơn

Sau khi Trung Quốc lên tiếng phản đối việc Quốc hội Việt Nam thông qua luật biển, xuất hiện trên mạng Internet lời kêu gọi tuần hành ôn hòa phản đối Trung Quốc vào ngày 1 tháng 7 tới đây.

Liệu lời kêu gọi này có được đáp ứng tạo ra những cuộc biểu tình giống mùa hè năm ngoái hay không? Và liệu sẽ có những điểm khác biệt khi cả phía an ninh và người biểu tình học được những kinh nghiệm từ những gì xảy ra năm ngoái?
Bà Bùi Thị Minh Hằng cùng đoàn người biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội năm 2011. Photo by Nguyen Lan Thang

Từ kinh nghiệm của người biểu tình

Ngày 21 tháng 6, Quốc hội Việt Nam thông qua luật biển Việt Nam trong đó khẳng định chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự việc ngay sau đó bị phía Trung Quốc phản đối trên hàng loạt các tờ báo nhà nước cũng như nước này triệu đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh yêu cầu hủy bỏ luật này. Trước phản ứng gay gắt của Trung Quốc đối với việc khẳng định chủ quyền Việt Nam, cùng thời gian xuất hiện lời kêu gọi “tuần hành ôn hòa” nhằm phải đối hành động của Trung Quốc cũng như ủng hộ luật biển Việt Nam.

Lời kêu gọi được xuất phát từ trang facebook có tên Nhật Ký Yêu Nước và được cho là của trang này phát động. Trang Nhật Ký Yêu Nước cũng là nơi phát động lời tuần hành ôn hòa phản đối Trung Quốc hồi hè năm ngoái. Blogger Uyên Vũ, một trong những cây bút xông xáo của các sự kiện chính trị xã hội và từng tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc cho biết theo sự quan sát của ông, các blogger miền Nam cảm thấy phấn khởi và bắt đầu có những lời kêu gọi hưởng ứng cuộc tuần hành:

“Năm ngoái, nhóm NKYN khởi xướng lời kêu gọi và năm nay cũng vậy. Tôi thấy mọi người hào hứng kêu gọi nhau đổi avatar để ủng hộ”.

Không khí của các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc kéo dài hàng tháng trời xuất phát từ lời kêu gọi của trang Nhật Ký Yêu Nước phần nào vẫn còn trong một số người.

Chính vì thế, sẽ là thiên kiến nếu cho rằng trang mạng này không có một chút ấn tượng hay uy tín đối với một số người tham gia tuần hành. Tuy nhiên, một năm trôi qua với sự phát triển của các trang mạng xã hội đủ để nhiều người tìm hiểu thêm thông tin và tỏ thái độ dè dặt. Anh Nguyễn Lân Thắng ở Hà Nội cho rằng một khi lời kêu gọi xuất phát không từ những con người thật và có uy tín xã hội, thì khó lòng kêu gọi được nhiều người tham gia:

“Để có một cuộc như năm ngoái thì đòi hỏi phải có sự tham gia của rất nhiều thành phần, không phải của những người trẻ thôi mà phải của cả những người có uy tín xã hội. Họ nghĩ như thế nào, có tham gia không và có cùng kêu gọi không... chứ không căn cứ vào việc ai phát động lời kêu gọi”.

Tính đến khi các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc chấm dứt vào năm ngoái thì tại Hà Nội đã có 11 cuộc biểu tình, tại Sài Gòn có ít nhất 2 cuộc với các đợt cao điểm là hàng ngàn người tham dự. Tuy nhiên, cũng theo anh Nguyễn Lân Thắng, đã có những đồn đoán trong cộng đồng mạng cho rằng những cuộc biểu tình diễn ra hồi năm ngoái có sự tham gia và đứng sau của các tổ chức chính trị. Chính điều này làm một số người dè dặt:

Qua một năm, họ đã suy nghĩ khác và họ có cả một năm để tìm hiểu thêm thông tin và các vấn đề khác. Cho nên có lẽ họ sẽ cảnh giác hơn trước những lời kêu gọi như thế này.
Anh Nguyễn Lân Thắng
“Tôi nghĩ cuộc tuần hành này sẽ khác năm ngoái ở chỗ, lời kêu gọi biểu tình năm ngoái lúc đầu được đưa ra bởi một nhóm mà có thể là một tổ chức chính trị hay một tổ chức xã hội nào đó, sau đó được các blogger hưởng ứng. Lúc đó thì số đông người tham gia còn “ngây thơ” và không có nhiều thông tin. Thế nhưng qua một năm, họ đã suy nghĩ khác và họ có cả một năm để tìm hiểu thêm thông tin và các vấn đề khác. Cho nên có lẽ họ sẽ cảnh giác hơn trước những lời kêu gọi như thế này”.

Hiện tại, một số blogger, người sử dụng mạng xã hội Sài Gòn đã gởi đường link chia sẻ lời kêu gọi, tuy nhiên, ngoài sự cẩn trọng và dè dặt, chưa thấy giới blogger Hà Nội có phản ứng nào đáng kể.

Đến kinh nghiệm của người trấn áp biểu tình

Trấn áp người biểu tình tại Hà Nội hôm 21/8/2011.
AFP photo
Các cuộc biểu tình hồi hè năm ngoái mặc dù cũng kéo dài được vài tháng nhưng nó không diễn ra một cách dễ dàng. Đã có nhiều hành động từ phía chính quyền như cấm đoán, gây khó khăn, thậm chí bắt bớ và đàn áp. Ngoài một số biểu tình viên bị bắt tại đồn công an Mỹ Đình và một số nơi khác, việc bà Bùi Hằng bị đưa vào trại phục hồi nhân phẩm (mặc dù không bị chính quyền qui tội là tham gia biểu tình) được cho là những ví dụ khiến nhiều người ứng xử một cách kinh nghiệm và xét nét hơn.

Trong lúc thời gian một năm cho người biểu tình có thêm thời gian để xử lý thông tin và ứng xử cẩn trọng, nó cũng tạo điều kiện cho phía chính quyền có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc đối phó. Sau khi lời kêu gọi tuần hành ngày 1 tháng 7 được đưa ra, một số blogger tại Sài Gòn cho biết họ bị theo dõi chặt chẽ hơn. Blogger với tên Facebook là Yêu Nước Việt cho biết anh bị cảnh sát khu vực “mời” đi uống cà phê hôm 22 tháng 6:

“Tôi đoán chính xác là vì cuộc kêu gọi biểu tình ngày 1 tháng 7 nên tôi mới bị mời đi uống cà phê để làm rõ một số vấn đề về việc có tham gia hay không”.

Blogger này cho biết trong buổi nói chuyện, vị cảnh sát tập trung hỏi những câu hỏi về cuộc biểu tình sắp tới. Cùng thời điểm, blogger Huỳnh Công Thuận và Uyên Vũ cho biết cũng bị an ninh theo dõi chặt chẽ hơn từ mấy ngày gần đây. Blogger Huỳnh Công Thuận cho biết:

“An ninh mời cà phê là một hình thức cảnh cáo. Còn đối với tôi thì lúc nào cũng có hai an ninh canh cửa. Nếu tôi đi làm thì thôi, nhưng đi những chuyện khác thì sẽ khó khăn.”

Theo suy đoán của một số blogger tại Sài Gòn, những blogger từng tham gia biểu tình, từng bị bắt hoặc có những hoạt động lên tiếng cho những sự kiện liên quan đến tình hình đất nước sẽ bị an ninh quan sát chặt chẽ hơn trong bối cảnh lời kêu gọi tuần hành đang lan truyền trên mạng.

Cái chuyện mình hy vọng thì vẫn phải hy vọng vì rõ ràng có những động thái từ phía chính quyền. Nhưng mà tất cả những động thái đó chưa đủ để nói rằng cuộc tuần hành được bật đèn xanh.
Blogger Uyên Vũ
Việc Quốc hội thông qua luật biển Việt Nam, đồng thời người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam hôm 21 tháng 6 cũng phản đối lại những quan ngại của Trung Quốc cho thấy luật biển không những được người dân mà còn chính phủ ủng hộ. Đây có thể được xem là một sự đồng thuận hiếm hoi về vấn đề biển Đông giữa thành phần lãnh đạo và người dân, tạo cơ sở để người ta tin rằng cuộc tuần hành sắp tới được “bật đèn xanh”. Tuy nhiên, blogger Uyên Vũ lại chia sẻ sự dè dặt của mình:

“Cái chuyện mình hy vọng thì vẫn phải hy vọng vì rõ ràng có những động thái từ phía chính quyền. Nhưng mà tất cả những động thái đó chưa đủ để nói rằng cuộc tuần hành được bật đèn xanh. Cộng với việc một số blogger được mời uống cà phê hay được chăm sóc chu đáo thì nó vẫn là một ẩn số”.

Hồi tháng 8 năm ngoái, trong cuộc họp giao ban báo chí của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, tướng Nguyễn Đức Nhanh, Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh II - Bộ Công an, Giám đốc Công an Hà Nội khẳng định các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc diễn ra lúc đó là do yêu nước và cho biết không có chủ trương trấn áp người biểu tình. Tuy nhiên sau đó, có nhiều tố giác rằng các hoạt động trấn áp vẫn diễn ra.

Chắc có lẽ đây cũng là một trong những trải nghiệm khiến những ai làm an ninh cân nhắc hơn về lời nói của mình; đồng thời làm những người biểu tình cũng cân nhắc hơn trước khi dựa vào một lời tuyên bố nào đó của phía chính quyền.

Có lẽ khi cuộc tuần hành chưa diễn ra thì vẫn hãy còn sớm để biết trước kết quả. Mặc dù vậy, cũng phải nói rằng “Tất cả họ đã có nhiều kinh nghiệm hơn”.

© Quỳnh Chi, phóng viên RFA


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều