“Tôi ơi! Đừng tuyệt vọng. Có đường xa và nắng chiều quạnh quẽ. Có hồn ai đang nhè nhẹ sầu lên”. Lời ca trong một nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn làm cho một khoảnh khắc buồn trong tôi trở nên vô tận. Chợt nhìn lên chiếc đồng hồ cũ kỹ, nhấc từng giọt thời gian trôi đi. Tôi chợt ao ước những cây kim đồng hồ quay ngược, để trở lại ngày xưa, tìm lại những gì tôi đã mất.
niềm tin???
Tôi được đọc ở đâu nó một câu danh ngôn: “Mất tiền là mất ít, mất danh dự là mất nhiều, nhưng mất niềm tin là mất tất cả”. Hình như trong tôi, niềm tin đang cạn dần, cạn dần... Thời trai trẻ, người ta đã gieo vào trong tôi những niềm tin về những mối quan hệ tốt đẹp giữa con người, của một chế độ hạnh phúc đến mức phải gọi đó là thiên đường của xã hội loài người; gieo vào tôi những lý tưởng quá xa vời, khiên cho trái tim bồng bột thời trai trẻ mê muội lao theo như những con thiêu thân.
Và trên con đường “phục vụ nhân dân”, “được đào luyện và lớn lên từ những phong trào cách mạng”, tôi đã từng bước, từng bước một nhận thức từ những căn cứ xác đáng, có cơ sở thuyết phục dựa trên lý luận và thực tiễn, được thử thách và trải nghiệm gần 30 năm đằng đẳng. Cái chân lý mà tôi thờ phượng thuở ấy bây giờ thực chất chỉ là những giáo điều; thần tượng mà tôi tôn thờ hiện nguyên hình thành ra một con quỷ khát máu người, tham lam, tàn nhẫn và độc ác. Hóa ra niềm tin của tôi mấy mươi năm nay đã đặt không đúng chỗ.
Khi niềm tin đã bị bội tín hoặc bị đánh mất bởi những điều phi nghĩa, tôi bị hụt hẫng, não nề và lâm vào hội chứng khủng hoảng niềm tin. Bởi lẽ, khi đối diện với những sự thật diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong đất nước này, trong tôi lại giằng xé, đau đáu khi chứng kiến nền luân lý và những giá trị đạo đức đang bị chà đạp; giả dối đã lên ngôi, sự đê tiện, bỉ ổi và xấu xa vẫn đang ngự trị và luôn có đất sống. Trong xã hội này tất cả mọi giá trị đã bị đánh tráo, khiến cho tôi thấy mình chẳng những bị lừa gạt, còn bị mất luôn chí hướng, không còn sinh khí và chẳng còn mong muốn được sống trên cõi đời này nữa.
Nhưng, mỗi khi đối diện với sợi dây thòng lọng, hay chén thuốc trừ sâu, tôi lại nghĩ về những niềm tin. Bởi một câu danh ngôn nào đó đã lay tôi tỉnh dậy. Nếu trên thế gian này dẫu cho còn lại một người tốt, thì tôi vẫn còn kỳ vọng vào ngày mai, vào sự tốt đẹp trong các mối quan hệ giữa người và người.
Nhưng trớ trêu thay, những nghiệt ngã, những phi lý và những nghịch lý trên cuộc đời này đều trút lên đầu những kẻ hiền lương. Đó là những người nông dân mất đất, hoặc đang sống trên những luống cày màu mỡ. Họ tạo ra hạt ngọc cho đời nhưng lại sống trong tận cùng của sự nghèo khó. Đó là những người công nhân “luôn được mệnh danh là giai cấp lãnh đạo” phải sống bằng đồng lương còi cọc, trong những khu nhà trọ ổ chuột, dột nát và tăm tối. Đó là những giai tầng buôn gánh, bán bưng ngày đêm tảo tần, rong ruổi trên những vĩa hè, phố vắng... lời rao vọng lại trong đêm hay tiếng than não nề của những cuộc đời lao đao, lận đận. Đó là những cảnh chạy trường, chạy lớp, chạy bằng... rồi những học sinh phải học đêm, học ngày, học dồn, học cả học kỳ ba... trong một nền giáo dục xuống cấp đến mức thê thảm. Thế hệ ngày nay thừa kiến thức nhưng thiếu kỹ năng, thừa lý tưởng nhưng thiếu thực tế, thừa “tuân lệnh” nhưng thiếu suy nghĩ, thừa a dua mà thiếu bản lĩnh, thừa sao chép mà thiếu sáng tạo…
Khi đó trong xã hội, những người có chức, có quyền, có tiền thì sống không gương mẫu: tiền tiêu xả láng; rượu thịt, bia bọt tràn lan; gái đẹp, người mẫu chân dài hàng đêm... Lối sống tha hóa đến mức tận cùng của sự bỉ ổi. Ở các cơ quan nhà nước, từ triều đình cho đến tận cơ sở, người ta “nói một đàng làm một nẻo”, chơi trò “ném đá giấu tay”, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”... để đấu đá tranh giành quyền lực, mua bằng, mua chức, để có cơ hội tham nhũng, để giàu có bất chính, để được hưởng thụ… Trong cuộc sống thác loạn, vô độ đó, nhiều người đã đánh mất dần nhân tính, vô cảm trước những nỗi đau của đồng loại.
Những biểu hiện trên cho thấy, không chỉ riêng tôi, giới cầm quyền cũng đang đầu độc giới trẻ ngày nay và lấy cắp niềm tin của những con người thế hệ mai sau. Một bộ phận không nhỏ trong thế hệ 8x, 9x đã và đang bị xoáy mòn lòng tin. Học đòi theo những người lớn “mất dạy”, chúng nói tục, đánh đá nhau trong trường bằng mã tấu, rồi đua xe, thuốc lắc, ma túy, vũ trường thâu đêm suốt sáng. Chúng đã mất niềm tin vào lẽ sống, thực dụng đến mức tôn thờ vật chất và thác loạn như những con thiêu thân không cần biết ngày mai rồi sẽ ra sao.
Rồi một mai, vận mệnh đất nước này, dân tộc này sẽ ra sao khi bắt buộc phải bàn giao cho thế hệ kế thừa mà trong đó có bao nhiêu người đã, đang và sẽ bị lấy cắp niềm tin?
Thế hệ những nhà thơ đã trải qua chiến tranh, phần đông (các nhà thơ Miền Nam) đã bỏ nước ra đi. Những nhà thơ còn lại, tuổi đã cao và rơi rụng khá nhiều. Họ là những người ít, nhiều đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tàn khốc nhất của lịch sử dân tộc, kể từ khi lập quốc đến nay. Có thể nói, dù ở chiến tuyến nào và ý thức hệ có khác nhau, nhưng lòng yêu nước của họ, không ai có thể phủ nhận.
Sau năm 1975, những nhà thơ còn ở lại phải đương đầu với cuộc chiến khác không kém phần khốc liệt. Các thi sĩ thua trận, được đưa ra vùng núi cao Hoàng Liên Sơn để “học tập” thành con người mới. Một số trong họ không thấy trở về. Một nhà thơ tôi quen, may mắn hơn, sau hàng chục năm, khóa “tu luyện” kết thúc, được con cháu đón sang Đức, bị chột, không còn viết lách gì được nữa. Không hiểu ở trong trại, họ cho “học tập” những gì, sau mấy chục năm ở trời Tây, thế mà gặp ai bác vẫn co rúm người lại, cứ tưởng là mấy ông “thầy” quản giáo trong trại. Khiếp thật! Một nỗi ám ảnh đến kinh khủng. Nên mỗi lần nghĩ đến bác thi sĩ này, tôi lại nhớ đến truyện cực ngắn Hạt Thóc của Phù Thăng. Nhưng ngược lại, nhiều bác sau những năm tháng bị học tập, thần kinh càng thêm vững chãi. Khi trốn được ra nước ngoài, các bác cứ nhả đạn đều đều.
Những nhà thơ từ R theo đoàn quân chiến thắng tràn vào thành phố. Nhiều bác nhân lúc nhộm nhoạm tranh thủ ngoặt sang làm chánh trị. Có bác tốt số, gặp thời nhảy tót lên ngồi chỗm trệ chiếu trên. Điều tất nhiên có rất nhiều bạn bè, đồng nghiệp cùng thời đã phải khốn khổ nằm xuống để làm những nấc thang cho bác. Có lần tôi được ngồi chầu rìa, điếu đóm, nghe nhà thơ Xuân Diệu nói chuyện, theo ông cuộc chiến tranh vừa qua, khốc liệt như vậy nhưng đã sản sinh ra nhiều nhà thơ có tài.
Bùi Minh Quốc
Vâng! Đúng như thế, thế hệ này có rất nhiều nhà thơ tài năng, nhưng giữ được linh hồn đích thực thi sĩ lại là chuyện khác. Tôi không phải là người nghiên cứu, phê bình văn học, nên chỉ cảm nhận từ rung động trực tiếp và bằng trực giác riêng của mình về cái hay cái đẹp và tâm hồn, khí phách người nghệ sĩ qua các bài thơ và trang viết của họ. Các nhà thơ, có năm tháng tuổi trẻ đã đi qua chiến tranh, nay tuổi đã cao, sức đã yếu, họ vẫn trăn trở, thai nghén viết ra những câu thơ đọng lại trong lòng người đọc. Trong số họ, để lại những dấu ấn đậm nhất trong tôi là nhà thơ Bùi Minh Quốc và Trần Mạnh Hảo. Về sự nghiệp cũng như tài năng của hai nghệ sĩ này đã được nhiều thế hệ học trò, cũng như các công trình luận văn bậc đại học cho đến tiến sĩ phân tích đánh giá nhiều rồi. Nhưng những bài thơ (chính luận) phản kháng, một cách công khai, khẳng khái với những gì đang diễn ra trong cuộc sống đầy nhiễu nhương này của Bùi Minh Quốc và Trần Mạnh Hảo, làm tôi xúc động mạnh.
Trần Mạnh Hảo
Dù chênh nhau về tuổi tác, nhưng có thể nói Bùi Minh Quốc và Trần Mạnh Hảo đều sinh ra, và trưởng thành trong chiến tranh. Nếu như Bùi Minh Quốc xuất thân từ gia đình tiểu tư sản, công chức thành thị, thì Trần Mạnh Hảo có nguồn gốc gia đình thuần nông ở Miền Bắc Việt Nam. Tài năng văn thơ hai ông, đều bộc lộ ngay từ thuở thiếu thời. Năm tháng của tuổi trẻ, các ông đã trực tiếp cầm súng và cầm viết. Có thể nói các ông là những người có công với chế độ. Nhưng sau chiến tranh, hạnh kiểm hai ông được xếp vào dạng yếu kém, bị loại ra khỏi hàng ngũ những người con ưu tú. Lịch sự như các cụ nhà ta bảo, đứt gánh giữa đường. Bỗ bã của kẻ hàng nước, các bố bị tuột xích. Biên chế nhà nước cũng mất, tức là cái dạ dầy của các bác cũng bị thiến luôn. Vậy là bao công lao vào sinh ra tử của các bác đổ xuống sông xuống bể cả. Thật là, chẳng cái dại nào giống cái dại nào. Cứ thẳng đường tiến “vì chủ nghĩa xã hội” như khẩu hiệu trên trang nhất báo văn nghệ, không tốt số như bác Điềm, bác Thỉnh, các bác cũng có chiếu giữa để ngồi. Đằng này trên đầu của các bác chỉ còn Tổ Quốc và nhân dân, đi đứt là cái chắc rồi.
Bùi Minh Quốc được cho là nhà thơ của tình yêu, nhưng thẻ thông hành của ông đến với làng văn lại là một bài thơ cổ động Lên Miền Tây. Bài thơ này nói lên(tâm trạng thật của Bùi Minh Quốc) cái không khí sục sôi, cháy bỏng của một thời tuổi trẻ. Họ bỏ sách vở, rời xa thành phố, theo tiếng gọi của đảng, lên với Miền Tây, phá rừng khai hoang, làm kinh tế mới:
“..Ôi Miền Tây, ở miền xuôi sao nghe nói ngại ngùng
Mà lúc ra đi lửa trong lòng vẫn cháy
Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy
Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường
Sống ở thủ đô mà dạ để mười phương
Nghe khát vọng chất chồng mơ ước..”
Có lẽ lúc đó, nhà thơ cũng không hiểu rằng, bài thơ này góp phần không nhỏ cho một chính sách sai lầm, di dân phá rừng vô tổ chức của đảng. Làm cho rừng đầu nguồn trơ trụi, thiên nhiên biến dạng, tạo nên những cơn lũ quét kinh hoàng như chúng ta đã thấy. Hậu quả đó không chỉ ở Tây Bắc mà những cánh rừng bạt ngàn Tây Nguyên hôm nay đã, đang đốt phá, nham nhở và môi trường, thiên nhiên bị tàn phá nặng nề. Đà Lạt, nơi nhà thơ đang sống, có lẽ tiếng thông reo sắp trở thành quá khứ.
Tôi yêu thơ Bùi Minh Quốc, vì ông chỉ viết khi con tim của ông rung lên với những cảm xúc thật sự. Nghỉ chân dưới tán rừng già nơi hành quân gian khổ ấy, khi đồng nghiệp, đồng đội của ông viết về những “Đêm Trường Sơn Nhớ Bác” thì ông nhớ và viết về người vợ thân yêu (cũng là nhà văn) vừa hy sinh. Tôi tin rằng, tình cảm lúc đó của Bùi Minh Quốc rất thật, khi ông viết:
“.. Để làm nên những buổi mai đầy nắng
Em bối rối và sững sờ đứng lặng
Vẻ đẹp này em chưa biết đặt tên
Thức dậy bao điều cao quí trong em
Thức dậy bao điều mới mẻ trong em
Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc
Và em gọi đó là hạnh phúc…”
Phải nói thẳng, tâm lý con người, khi xa nhà, việc đầu tiên phải nghĩ đến là vợ con, bố mẹ, anh em và quê hương, nơi đó có bạn bè, xóm giềng. Chỉ có kẻ điên, giữa rừng Trường Sơn âm u, lại nhớ đến người không quen, chưa từng gặp, dù người đó là ai hoặc có là thánh nhân đi chăng nữa. Điều này phi khoa học, trái với qui luật của tự nhiên. Với những thơ văn định hướng, giả dối, nặng mùi tụng ca thế này, văn học nước nhà bao giờ mới lớn lên được. Qủa không ngoa, có một nhà nghiên cứu nói rằng, Việt Nam muốn có giải văn học lớn, nên giải tán hội nhà văn đi, để cho các nhà văn tự thân vận động. Và hãy để họ viết những gì họ đang nghĩ. Những nước nhận được giải Nobel về văn học, vì họ có những ông bà Thủ tướng, Tổng thống không bao giờ dám há mồm ra nói, lãnh đạo, định hướng tư tưởng các nhà văn.
Kỳ đại hội nhà văn vừa rồi, không hiểu sao, những bài diễn văn, dạng xã luận báo nhân dân, micro nghe cứ sang sảng làm nhức cả tai người nghe. Ấy vậy mà đến lúc bác Bùi Minh Quốc và Trần Mạnh Hảo phát biểu là cái micro giở chứng tắc tị, làm hai bác đứng như phỗng, tịt ngòi luôn. Khùng lên, các bác đổ nghiến cho cái đại hội nhà văn là đại hội bịt miệng. Dù Hữu Thỉnh có giải thích, do trục trặc kỹ thuật, sẽ nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm. Nhưng các bác lại cho đây là chủ trương của Hữu Thỉnh và ban tổ chức. Nói như vậy có lẽ oan cho Hữu Thỉnh. Cùng đồng đội, nhà văn với nhau, hơn nữa bác Thỉnh là đảng viên ưu tú, lẽ nào đê tiện, bẩn thỉu đến như vậy?
Nghe nói, sau đó bác Quốc, bác Hảo tuyên bố giã từ đại hội bịt mồm, giã từ hội viên của hội nhà văn. Mấy thằng chúng em ở bên này xin kiến nghị, hai bác đừng tự vất bỏ cái danh hiệu cao sang này (cái thẻ này nhiều thằng rất thèm. Cùng bất đắc dĩ, các bác cà thằng nào nhiều tiền, hám danh, bán lấy tiền ăn chơi, dối già, vứt đi uổng lắm). Lần đại hội tới các bác cứ việc tham dự và xung phong phát biểu. Chúng em đã bàn nhau mua tặng hai bác cái micro và âmly. Phòng khi các bác đang phát biểu, micro của bác Thỉnh, bác Thiều giở chứng như lần trước, các bác chỉ việc rút micro này ra, bấm và tiếp tục đăng đàn như thường... Chắc các bác cũng biết, loa và âmly của thằng Đức, tốt nhất thế giới, nhỏ như cái camera thôi nhưng cũng đủ cả hội trường nghe rõ ràng. Dẫu biết rằng, ý kiến của các bác cũng như đàn gảy tai trâu, nước đổ đầu vịt mà thôi, nhưng nó sẽ thoát được cái ấm ức dồn nén lâu ngày ở trong người. Chúng em ở bên này được nghe cũng mát lòng, mát ruột. Chứ để lâu ngày dồn nén, đóng cục xộc huyết áp lên đỉnh đầu thì chí nguy.
Nếu như thơ tình của Bùi Minh Quốc, nhẹ nhàng, đằm thắm bao nhiêu thì những bài thơ (chính luận) phản kháng của ông hùng hồn, sắc mạnh bấy nhiêu. Nó như nhát dao chọc thẳng vào những cái ung nhọt của xã hội. Nó hơn cả những bản án đập vào mặt bọn cường quyền:
“…Chúng nó nhậu từng cánh rừng dải núi
Từng khoảng trời miệt đất lòng khơi
Nhậu tất cả từ Vua Hùng để lại
Nhậu đến nàng Tô Thị hóa thành vôi
Chúng nó nhậu trên thân em trinh bạch
Trên lưng mẹ già còm cõi một đời bom..”
Có thể nói thơ của Bùi Minh Quốc sù sì, hiên ngang, chính trực như chính con người ông. Với ông, Tổ Quốc và nhân dân là tất cả. Ông đau với cái đau của nhân dân, của đất nước. Và đây là cái đau về cả thể xác lẫn tâm hồn trong một lần ông bị hỏi cung, thẩm vấn. Trong cái nghẹn ngào uất hận ấy, thơ của ông vọt ra, nấc lên trong màn đêm của ngục tối:
“Tổ Quốc hỡi tình chi đau đớn vậy
Con yêu người ngục tối một trời xanh
Ôi! Tổ Quốc trong tay quỷ dữ
Tiếng hát tự do uất nghẹn khắp thân mình..”
Nếu như “Lên Miền Tây” là bản hoan ca vào đời của BMQ thì bài thơ “Cay Đắng Thay” là tiếng thán ca đầy chua xót hôm nay của ông. Bài thơ rất ngắn, đơn giản, nhưng hay nhất của BMQ viết về đề tài chính trị xã hội. Ông dùng thủ pháp ẩn dụ, thông qua hình tượng cỗ máy, để bóc trần bộ mặt giả dối của kẻ cầm quyền. Qua đó bật lên sự cay đắng, chán chường của ông, thế hệ ông, cũng như thế hệ trước và sau ông. Tôi cho rằng, bài thơ này như một lời thú nhận, tổng kết lại cả cuộc đời, sự nghiệp văn thơ của ông từ ngày theo đảng. Có lẽ không riêng tôi, có rất nhiều, rất nhiều người, cảm phục cái yêu như điên cuồng của Bùi Minh Quốc, nhưng dám rũ bỏ, tranh đấu đến tận cùng, khi ông đã nhận ra bộ mặt thật của nó.
“Cái guồng máy nhục mạ con người
Mang bộ mặt hiền lành của kẻ cuốc đất
Ù lì quay
Quay
Thao thao bài đạo đức
Liệu có mấy ai còn ngây?
Cay đắng thay
Mỉa mai thay
Trọn tuổi xuân hiến dâng cuồng nhiệt
Lại đúc nên chính cỗ máy này.”
Có người ví nhà thơ Trần Mạnh Hảo như trái bom chùm, người không có kỹ thuật, nghiệp vụ táy máy động vào, nổ liền tù tì ngay tức khắc. Thật ra người Việt mình ngại va chạm, dĩ hòa vi quí là chính. Nhất là trong giới văn nghệ, đã có ban tư tưởng dẫn dắt, định hướng, nên những bài phê bình thường chung chung, khen, chê mỗi thứ một chút. Vô thưởng vô phạt như vậy bác nào cũng vui vẻ cả. Trong cái không khí thiu thiu, gà gật như vậy, lại nảy lòi ra cái bác Trần Mạnh Hảo mang bom dội vào, chạm phải vía, nhiều bác nhảy cẫng lên. Điềm đạm, vui là chính như trannhuong.com cũng phải khẳng định, nhà thơ Trần Mạnh Hảo là người thỉnh thoảng tạo nên sóng gió trên văn đàn. Nhưng không riêng tôi, có nhiều người lại khoái cách viết rạch ròi, và đi đến tận cùng sự thật này của Trần Mạnh Hảo. Mà không hiểu, già mõ ra rồi, sức lực ở đâu, ngày, vài ngày bác lại bắn ra một bài. Chưa nói đến đến những kiến thức, suy nghĩ lập luận của bài viết, chỉ cần ngồi gõ lọc cọc ngần ấy con chữ trên máy tính, sức giai tơ chưa chắc đã kham nổi. Em bái phục bác.
Bác Hảo cũng kỳ quặc, sao không nhằm mấy ông nhà thơ đang xuống, hấp hối, về chiều, thuận đà đấm đạp, cho tịt luôn. Bác lại cả gan lôi mớ bòng bong (được gọi là thơ) của Nguyễn Quang Thiều, quan lộ đang lên, được nhiều tổ chức tung hô, ra chọc ngoáy. Đường đường là phó chủ tịch hội nhà văn Việt Nam, bị bác Hảo chê, là trường phái thơ tân con cóc, bác Thiều chịu thế chó nào được. Thật là chẳng khác gì sát ớt vào đít nhau. Nhảy cẫng lên thấy kỳ, lý luận với bác Hảo cảm thấy không xong, bác Thiều đành phải chửi độc, theo kiểu mẹ con chị dân quân vùng biển Nam Định, được phong anh hùng bắn rơi máy bay Mỹ, mỗi khi nhà bị mất cắp gà. Quả thật, trong cái mớ chữ lộn xộn này, nếu không thấy tên tác giả Nguyễn Quang Thiều, tôi lại tưởng của người bị bệnh tâm thần, chập cheng viết ra. Ngay cái tựa đề – Sự Mất Ngủ Của Lửa - của mớ chữ này, được coi là hay nhất của Nguyễn Quang Thiều, nó cũng tù mù ngữ nghĩa, tối như đêm ba mươi vậy. Tôi đã đọc Nguyễn Quang Thiều, nhiều bài tôi phải bỏ giữa chừng. Không hiểu sao mỗi lần đọc bài được gọi là thơ của bác Thiều, tôi lại nhớ đến mấy câu(vè) nói về tình trạng thơ hiện nay, vô cùng tục và bậy (trong bài Trò Chuyện Với Hoa Thủy Tiên) của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Tôi chỉ dám trích ra đây có một câu, “.. Vợ tôi nửa dại nửa khôn/ Hôm nay lại bảo: Dí L.. vào thơ..”
Nhắc đến bác Nguyễn Quang Thiều, làm tôi nhớ đến bài viết của mình, đăng trên báo văn nghệ của hội nhà văn Việt Nam (thứ bảy ngày 13/10/2001). Bài viết hai ý, một về nhà văn Hữu Ước, sau khi đi thăm Nga về, ông có viết một bài ký về cuộc sống người Việt trên đất Nga, được đăng nhiều kỳ trên báo văn nghệ. Mấy ông bạn rượu, từ Nga sang Đức tị nạn đọc, bảo Hữu Ước cỡi ngựa xem hoa, viết không đúng. Thấy giọng văn thông tấn, chẳng có tí tẹo văn học nào ở trong đó, đăng báo ngành đúng hơn, nên tôi đề nghị báo văn nghệ xem lại. Phần này bị bác Hữu Thỉnh thiến mất. Chỉ còn phần viết về, bài viết của nhà thơ Trần Đăng Khoa, sau khi đi Mỹ cùng với Nguyễn Quang Thiều. Nhưng bác Thỉnh lại biến tên bác Khoa thành ông X, bác Thiều thành ông Y, đọc lên như phương trình toán học vậy. (Không hiểu sao chúng ta cứ hay phải giấu giấu, diếm diếm cái tên do cha mẹ đặt cho như vậy, đó là việc làm không đàng hoàng. Khi tranh luận, các bác hay lủi vào bóng tối, có bác núp cả vào những con số, cứ như điệp viên 007, nghĩ mà thấy kinh. Thật ra vì hoàn cảnh, hay lý do nào đó các nhà thơ, nhà văn buộc phải lấy bút danh. Chứ tôi ít thấy ông nào lấy bút danh mà có văn hay. Tên đã giả làm sao có văn thật được).
Trong bài bác Khoa bốc thơm bác Thiều nói tiếng Anh nghe như người Mỹ. Không biết đây là câu khen đểu, hay khen thật của bác Khoa. Đã du học ở Tây, chắc bác Khoa cũng thừa biết, tiếng Việt ta đơn âm, tiếng Tây âm kép do vậy, chỉ có các cháu sinh đẻ, hoặc từ nhỏ học ở Tây mới phát âm như Tây. Còn dạng sang Cu Ba học tiếng Tây như bác Thiều, chỉ là giọng Tây rau muống mà thôi.
Nhìn lại một cách hệ thống, thơ văn của Trần Mạnh Hảo trải qua gần nửa thế kỷ, ngoài những bài thơ về tình yêu, thiên nhiên đất nước, mảng viết về đề tài xã hội của ông rất quan trọng. Thơ ông gắn chặt thân phận con người và những thăng trầm của xã hội. Sau ngày hòa bình(30-4-75) ông đã chợt nhận ra, đất nước liền một dải, nhưng lòng người đã phân ly. Nhìn dòng người vượt biên đang chết đuối trên biển, con tim ông rung lên cùng cây viết. Bài Cho Một Nhà Văn Nằm Xuống, là một bài thơ hay, xúc động nhất của TMH viết nỗi đau của đồng loại, khi xã hội ngoảnh mặt quay lưng. Đây là đề tài cấm kỵ, nhạy cảm, vô cùng nguy hiểm của những năm đầu thập niên tám mươi, Trần Mạnh Hảo là một trong số rất ít các nhà văn dám viết:
“…Bãi biển Vũng Tầu đầy những xác chết trôi
Những người Viêt Nam vượt biên chết chìm trên biển
Những em bé
Những người đàn ông
Những người đàn bà
Chết rồi còn giơ tay cầu cứu
Chết rồi còn quờ tay tìm lối thoát
Đâu nhà văn, đâu người cầm bút
Sao nỡ để nhân vật của mình
Chết trôi chết dạt
Biển ơi! Nỡ vô tình
Như ngàn trang sách
Những tay sóng kia, sao không vuốt mắt
Cho những nhân vật của chúng ta?...”
Và đây là một câu hỏi, và lời tự trách, hay một bản án dành cho mỗi con người và xã hội này. Một xã hội vô trách nhiệm, giả dối, thiếu tình người.
“…Biển không nhận
Bờ không nhận
Những trang sách không nhận
Không ai nhận những con người
Ở thời đại mình đang sống?..”
Có lẽ là người sinh ra và lớn lên từ biển, nên Trần Mạnh Hảo hiểu, yêu biển hơn ai hết. Bài nào viết về biển của ông cũng hay, trong thơ như có ngàn ngọn lửa hun đúc từ linh hồn, khí phách ngàn đời của cha ông. Nếu Tổ Quốc Tôi Không Còn Biển là một trong những bài thơ khí phách cao độ nhất, mỗi khi biển, “Tổ Quốc nguy nan/mỗi người Việt Nam/ hóa thành cọc nhọn” đâm nát quân thù:
“…Nếu Tổ Quốc không còn biển
Dân tộc tôi sẽ chết đuối trên bờ
Chết đuối trên cao nguyên
Chết đuối trong bùn boxit
Tổ Quốc không chịu chết
Biển Đông gầm hóa Bạch Đằng Giang”
Trên đây là một vài cảm nhận về linh hồn, khí phách trong thi ca của hai nhà thơ mà tôi yêu thích, Bùi Minh Quốc và Trần Mạnh Hảo. Nếu bác nào thích, đồng cảm cứ cho thằng em một lời khen. Bác nào không thích xin cứ việc chửi, nhưng xin các bác đừng chửi độc địa như Nguyễn Quang Thiều chửi nhà thơ Trần Mạnh Hảo.
- Tổ cha đứa nào hái trộm bưởi của bà! Quân ăn cướp chứ không phải là người nhé. Bà mà bắt được bà thì xé xác chúng mày ra!...
hái trộm bưởi của bà!
Tiếng chửi của bà Kiên cất lên gay gắt, dồn dập. Hôm nay cây bưởi trước cổng bị bọn trẻ con nghịch ngợm mà hái trộm mấy quả. Vì những quả này ở phía ngoài, dấu bẻ cành hãy còn, vì vậy mà bà Kiên biết được. Ở cái làng này người ta nghe tiếng chửi của bà đã quen, nên cũng chẳng ai chú ý. Ít khi ai dám đối đầu với bà, vì bà là người điêu ngoa nhất làng mà, cho đến bây giờ thì kể vẫn chưa có đối thủ nào xứng mặt và xứng tầm. Vì bà chửi nhiều đến nỗi thuần thục thành những điệp khúc có vần có điệu. Khi vắng tiếng chửi của bà thì người ta lại nhớ, như thấy thiếu thiếu một cái gì đó...; mặc dù bà nổi đóa mà cố sức chửi bới, gào thét nhưng vẫn không thấy ai đến nhận là thủ phạm cả. Có lẽ mấy trái bưởi của bà giờ này đang làm trái bóng cho một trận cầu nảy lửa của lũ trẻ ở một góc nào đó.
Chính vì hung dữ như vậy mà cụ ông cũng là nạn nhân của bà. Ông Kiên mặc dù là chồng nhưng cũng chỉ đóng vai trò là nhân vật thứ hai trong gia đình, còn bà mới là số một. Hai ông bà chỉ có mỗi cô con gái lấy chồng xa, thi thoảng mới về thăm bố mẹ, còn ngày thường thì hai ông bà ở với nhau. Lẽ ra như vậy thì vợ chồng già phải thương yêu và đùm bọc lấy nhau, nhưng giữa hai ông bà lại thường xẩy ra chiến tranh. Đó là những cuộc vùng lên khởi nghĩa của ông để chống lại ách áp bức quá đáng do bà áp đặt. Có áp bức thì có đấu tranh, âu đó cũng là quy luật và lẽ thường của cuộc đời này. Vì vậy mà người ta thường xuyên nghe tiếng chửi bới, rồi tiếng đập phá loảng xoảng trong nhà ông bà. Ở đây thì điều đó đã trở thành thông lệ, mỗi khi có cuộc chiến giữa hai ông bà thì người ta lại chép miệng bảo nhau:
- Vợ chồng ông Kiên lại lên đồng đấy!...
Ông Kiên trước đây là một cán bộ bên ngành lương thực của nhà nước. Ông đi làm xa, vì vợ chồng bất hòa nên ông ở lại cơ quan luôn, thi thoảng mới về thăm nhà. Ở cơ quan thì ông là người bộc trực, vì thế mà trở thành cái gai trong mắt những kẻ có chức quyền. Ông thường xuyên tố cáo những hành vi tham nhũng và việc làm sai trái của ban lãnh đạo. Đám quan tham này hận ông lắm, vì thế bàn với nhau kiểu gì cũng phải bứng ông đi chỗ khác hoặc tìm cách mà kỷ luật ông. Và rồi cơ hội hất cẳng ông Kiên cũng đến. Ấy là lần ông viết đơn lên cấp trên, tố cáo tay trưởng phòng và bộ sậu của hắn ta lợi dụng chức quyền để ăn bớt tiền xây dựng trụ sở cơ quan. Nhận được đơn tố cáo của ông, cấp trên cử đoàn thanh tra về để xem xét. Nào ngờ đám thanh tra này lại cùng phe cánh với tay trưởng phòng, vì vậy mà họ bao che cho nhau. Ban thanh tra kết luận không có việc ban lãnh đạo lạm dụng chức vụ để tham nhũng, vì thế mà đương nhiên ông Kiên trở thành kẻ vu khống và nói xấu lãnh đạo. Một cuộc họp cơ quan được triệu tập khẩn cấp, mà nội dung là để kỷ luật ông. Nhân dịp này, đám tay chân thân tín của tay trưởng phòng đấu tố cho ông đến nổi không còn mảnh giáp. Sau những lời chỉ trích và lên án gay gắt mà ban lãnh đạo chụp mũ, thì ông phải gánh chịu mấy tội danh sau: Làm mất đoàn kết nội bộ cơ quan, làm ảnh hưởng đến uy tín của đảng, vu khống lãnh đạo...và nhiều nhiều tội nữa mà ông không thể nhớ hết. Kết quả là ông phải gánh một mức án kỷ luật nặng nhất: Kỷ luật đảng và cho thôi việc (mà thời đó thường gọi một cách ví von và lịch sự là nghỉ mất sức, nghỉ hưu non). Và rồi cứ thế ông khăn gói về quê, không một chút luyến tiếc nào, biết làm sao được – thời buổi như thế mà. Điều ông phải dụng tâm nhiều nhất là hằng ngày phải đối mặt với bà vợ dữ dằn vốn bất hoà bấy lâu nay. Và quả là như thế thực, cuộc chiến giữa hai ông bà không lúc nào ngớt như một món nợ truyền kiếp vậy. Nhưng cũng từ đó mà ông trở nên nghiện rượu, đi đâu người ta cũng thấy ông cầm theo cái chai để mua rượu.
o0o
- Hê hê hê...
Lũ trẻ con trong xóm vừa reo hò vừa chạy theo chú Phước tiên tri để nghe đọc những lời sấm truyền bí ẩn. Chúng chẳng hiểu gì những câu sấm, nhưng nghe chú đọc hay như đọc thơ nên thích lắm. Chú Phước với dáng vẻ thất thểu, một bên ống quần thì xắn lên tận đầu gối, ống quần bên kia thì rách tả tơi, vừa đi vừa đọc to những lời mà người ta vẫn gọi là sấm truyền:
“Gió đông xuất hiện
Vàng xanh rợp trời
Sắc Đỏ hết thời
Lùi vào bóng tối
Hiện lên từ biển
Mặt trời hồng tươi
Hết thảy mọi người
Nhà nhà hạnh phúc...”
Tiếng sấm truyền vang lên đều đều như lời của một thầy phù thủy cao tay đang phù phép vậy. Chú Phước đi đến đâu thì lũ trẻ chạy theo đến đấy, đoàn người cứ thế rồng rắn nhau đi khắp xóm làng. Sau mỗi lời sấm thì lũ trẻ con lại reo lên: “Hê hê hê...” để phụ hoạ. Cảnh tượng thật là náo động.
Gió Đông
Chú Phước là hàng xóm với ông Kiên. Trước đây chú cũng là người bình thường, nhưng bây giờ chú có vấn đề về tâm thần. Cái bệnh này mới phát mấy tháng nay, từ đó mỗi lần lên cơn thì chú lại đi khắp xóm và luôn mồm đọc những câu thơ như trên. Người trong xóm vì thế mà gọi chú Phước là nhà tiên tri. Những lời tiên tri mà chú đọc thì nhiều, người ta không nhớ hết, nhưng từ mà chú hay nhắc đến nhất là “Gió Đông” (Đông Phong). Trước đây chú là người buôn bán làm ăn xa, nghe đâu trong thời gian bôn ba này chú được một ông thầy người Tàu dạy võ cho. Vì thế mà chú Phước trở thành một môn đệ võ Tàu xuất sắc. Đến khi giải nghệ buôn bán, chú về nhà với vợ và mở ngôi quán nhỏ để bán hàng. Thời gian rảnh rổi thì chú mở lớp dạy võ cho lũ trẻ con. Rồi cách nay ba năm, chính quyền cho người đến cưỡng chế khu đất ruộng của chú và mấy người làng nữa. Khu đất này nhà nước quy hoạch để xây chợ. Vì họ đền bù với giá không đúng quy định nên chú và mấy nhà nữa phản đối mà không chịu giao đất. Đến thời hạn, chính quyền cho công an và dân phòng đến cưỡng chế. Chú Phước đứng chống tay trước đám ruộng, có mấy người làng nữa đứng hộ vệ mà ngăn không cho công an xông vào. Đám công an lệnh cho mấy tay dân phòng nhất cầm gậy nhất loạt xông vào hành hung. Nhưng với ngón võ điêu luyện của mình mà chú Phước đã cho đám dân phòng đo ván ngay tức thì, kẻ thì chảy máu mũi, đứa thì trẹo chân tay. Vài tay công an trẻ cũng tức khí cũng xông vào, lại bị chú lia cho vài cước đã nằm rạp như chuối đổ. Vì thế mà vụ cưỡng chế bất thành, buộc phải giải tán. Nhưng đó chỉ là thắng lợi bước đầu của chú Phước và những người dân thấp cổ bé họng. Ngày hôm sau thì công an huyện về, lần này có cả một xe đầy những công an được trang bị tận răng. Ban đầu đám công an dùng loa thông báo và dẹp trật tự, sau đó với những tấm khiên bằng kính chống đạn và dùi cui diện trong tay cùng dàn hàng tiến lên. Người lãnh tụ nông dân (Chú Phước) và những người dân bảo vệ mảnh đất của mình lùi dần, lùi dần và cuối cùng bị khuất phục sau một cuộc hỗn chiến không cân sức. Chú Phước bị bắt và còng tay giải về công an huyện. Tại đây chú bị kết tội “chống người thi hành công vụ, gây hậu quả nghiêm trọng” và “gây rối trật tự công cộng”. Rồi toà án xét xử và tuyên phạt chú mấy năm tù. Ở trong nhà giam, chú bị đám công an đóng giả côn đồ đánh đập để trả thù, vì bị đánh nhiều vào đầu mà chú bị ảnh hưởng tâm thần nặng như vậy.
Ngày thường thì chú Phước cũng tỉnh táo, chỉ khi nào thời tiết thay đổi thì chú mới phát bệnh. Vì thế mà chú hiểu nội tình hoàn cảnh gia đình ông Kiên. Người được chú dành thiện cảm ủng hộ là ông Kiên, còn bà thì được chú ví như gian thần Tào Tháo vì luôn ức hiếp ông. Còn đám cán bộ xã thì khỏi phải nói, ngán chú đến tận cổ vì cứ gặp tay nào ra dáng cán bộ là chú lại chửi tục và chạy theo ném đá. Vì thế mà chú trở thành khắc tinh của đám cán bộ, hễ cứ gặp chú là phải đi vòng tránh đường khác vì sợ bị mất mặt và ném đá.
o0o
- Cái đồ bị đuổi việc, ông cút ra khỏi cái nhà này ngay...
Tiếng bà Kiên hét lên giận giữ, liền sau đó là tiếng ông:
- Ông đập nát cái nhà này cho mà coi, thì cút này, cút này...
Liền sau đó là tiếng loảng xoảng đổ vỡ, tiếng búa đập chan chát vào cửa. Lại tiếng bà Kiên:
- Ối giời đất ơi, ông Kiên ông ấy phá nhà tôi!...
Lần này thì có vẻ ông Kiên thắng thế, tiếng ông át cả tiếng bà:
- Ông đốt nhà, ông thì đốt nhà cho mà xem!
Thằng bé Giang trạc hơn mười tuổi, nhà ở gần đó, nghe ông Kiên nói như vậy liền ba chân bốn cẳng chạy sang nhà ông. Vừa hổn hển thở nó vừa hỏi:
- Ông Kiên ơi, khi nào thì ông đốt nhà?
Nó tưởng ông Kiên đốt nhà thật, và tưởng tượng ra cảnh lửa cháy bùng bùng như trong những cuốn phim màu truyện chiến đấu của Liên Xô mà nó được xem. Bởi vậy mà nó thích lắm và mong cho ông đốt nhà để xem. Ông Kiên đang nổi khùng cũng phải phì cười trả lời nó:
- Mai ông đốt, khi nào ông đốt thì sang mà xem...
Thằng Giang nghe ông nói vậy thì yên tâm, trước khi ra về nó còn ngoảnh lại dặn ông:
- Mai ông nhớ đốt nhà đấy nhé!
Vì tức cười với sự ngây thơ của trẻ con mà ông Kiên dừng cuộc chiến, tiếng đập phá và la hét cũng ngưng bặt.
Lúc này từ trong nhà, chú Phước nhìn qua cửa sổ vừa vỗ tay vừa đọc:
“Muốn thắng Tào Công
Phải dùng hoả công
Muôn việc đều đủ
Chỉ thiếu gió Đông”.
Rồi chú lại vỗ tay: Hê hê hê...để mà phụ hoạ. Thì ra chú cũng ủng hộ ông Kiên đốt nhà để cho bà vợ dữ tợn biết mặt.
o0o
Tin ông Kiên sẽ đốt nhà lan đi rất nhanh và truyền đến tận uỷ ban xã. Vì vậy mà hôm nay cán bộ Dân Vận và Hội Phụ nữ xã phối hợp với nhau để mà đến hoà giải. Thoáng thấy đoàn cán bộ dắt díu nhau từ cổng ông Kiên đã đoán được sự tình. Tuy không ưa gì cái đám tuyên truyền mị dân này nhưng ông cũng lịch sự mời họ vào nhà. Vừa vào đến nhà đám cán bộ đã lập tức thi triển chiêu thức đã được đào tạo. Với cái tài lừa phỉnh người dân phải hết lòng đi theo và trung thành với đảng Cộng sản, vị cán bộ dân vận tỉ tê khuyên giải cụ Kiên không nên gây mất trật tự xóm làng, ảnh hưởng đến tình làng nghĩa xóm. Bên cán bộ Hội Phụ Nữ thì khuyên can cụ bà hãy xứng đáng là người phụ nữ “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” như lời Bác Hồ đã dạy, phải hết lòng thương yêu chồng...; đại loại là như vậy, họ nói nhiều và thật nhiều nhưng ông Kiên cứ để ngoài tai. Vì ông không lạ gì mấy cái loa tuyên truyền giả hiệu này nữa. Tiễn đoàn cán bộ ra đến cổng, ông Kiên liền quay vào nhà và chửi đổng đủ để một mình nghe:
- Chỉ tuyên truyền cho quân tham nhũng thì tài, không thấy tuyên truyền nổi khổ của dân bao giờ cả!...
o0o
Hôm nay như mọi ngày, người ta lại thấy ông Kiên xách theo cái chai đi mua rượu. Dáng ông đi khật khưởng, cái chai trong tay cũng lắc lư theo từng nhịp bước. Bây giờ đang là mùa xuân, cỏ cây cũng đã trở nên xanh tốt. Thiên nhiên đất trời đang nở hoa, còn trong lòng ông thì lại trăm mối tơ vò. Tuy tuổi đã già nhưng một tương lai bất định đang chờ đợi ông, một cuộc sống buồn tủi giữa đám người vô cảm. Chợt một ngọn gió đông thổi qua nghe mát lạnh và làm rạp đám cỏ non ven đường. Không biết ngọn gió đông đã từng thay đổi bao triều đại kia có đổi thay được hoàn cảnh sống của ông bây giờ? Tiếng sấm truyền của chú Phước lại đều đều vọng tới, nghe lúc xa lúc gần:
“Gió đông xuất hiện
Vàng xanh rợp trời
Sắc Đỏ hết thời
Lùi vào bóng tối...”
Sáng thứ Ba, hàng trăm nông dân huyện Văn Giang cùng đến trụ sở Bộ Tài nguyên Môi trường ở Hà Nội yêu cầu được đối thoại với Bộ trưởng, cũng như yêu cầu giải quyết thỏa đáng khiếu nại của bà con.
ngày 26 tháng 6, khoảng 300 nông dân huyện Văn Giang tập trung tại trụ sở tiếp dân của Bộ Tài nguyên Môi trường ở Hà Nội
Dân Văn Giang đòi trực tiếp đối thoại với Bộ trưởng
Cùng lúc, chủ đầu tư dự án Ecopark tiếp tục cho xe ủi khu diện tích còn nằm trong tranh chấp vì bà con chưa nhận tiền. Sáng thứ Ba, ngày 26 tháng 6, có khoảng 300 nông dân huyện Văn Giang tập trung tại trụ sở tiếp dân của Bộ Tài nguyên Môi trường ở Hà Nội để trình bày bức xúc của họ. Cuộc gặp diễn ra từ lúc khoảng 9giờ và kết thúc lúc 11 giờ, là diễn biến mới nhất liên quan đến vụ cưỡng chế cánh đồng khổng lồ rộng 500 ha để xây dựng dự án Ecopark.
Cùng ngày diễn ra cuộc gặp, một nông dân Văn Giang cho chúng tôi biết như sau:
“Toàn bộ những người chưa nhận tiền mới đi, nếu nói cả đầy đủ là khoảng 1 ngàn 800 hộ”. Trong số 4000 ngàn hộ dân dự định sẽ bị cưỡng chế để thực hiện dự án Ecopark, có khoảng 1800 hộ kiên quyết không nhận tiền bồi thường cho đến thời điểm này, bao gồm cả 166 hộ thuộc diện cưỡng chế hồi ngày 24 tháng tư vừa qua.
“Toàn bộ những người chưa nhận tiền mới đi, nếu nói cả đầy đủ là khoảng 1 ngàn 800 hộ”.
Có khá nhiều ý kiến được tham gia đóng góp từ phía nông dân Văn Giang, được hai cán bộ tại Bộ TN-MT ghi nhận lại. Tuy nhiên, chủ yếu tập trung vào hai ý chính, trong đó yêu cầu Bộ TN-MT chỉ đạo cho tỉnh Hưng Yên cho thu hẹp dự án:
“Chúng tôi đề nghị là Bộ TN-MT phải có trách nhiệm điện thoại về tỉnh Hưng Yên yêu cầu dừng dự án ở chỗ mà chúng tôi vẫn còn sổ đỏ, chúng tôi chưa chuyển nhượng. Yêu cầu chúng tôi được hai nhân viên ghi lại”.
Khu vực đất chưa giải quyết nhà thầu đã cho ủi sạch. Blog xuandien
Ngoài ra, bà con nơi đây cũng yêu cầu vào thứ Năm tới phải được trực tiếp đối thoại với Bộ trưởng bộ này, ông Nguyễn Minh Quang.
Lời yêu cầu được gặp người đứng đầu bộ TN-MT được đưa ra khi hôm họp trước Quốc hội vừa qua, ông Quang cho biết sẽ đối thoại nếu được yêu cầu. Sự kiện hôm nay là kết quả của hàng loạt những bức xúc,
những cuộc đối thoại không thành và sự bất đồng thuận giữa người dân, chính phủ và nhà đầu tư sau khi hành trình khiếu kiện kéo dài 8 năm của dân Văn Giang vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Một trong những nguyên nhân là do chính sách, luật đất cũng đai chưa thật sự phù hợp với nguyện vọng người dân, cộng với khâu thực hiện pháp luật không minh bạch và giá bồi thường rẻ mạt
Một trong những nguyên nhân là do chính sách, luật đất cũng đai chưa thật sự phù hợp với nguyện vọng người dân, cộng với khâu thực hiện pháp luật không minh bạch và giá bồi thường rẻ mạt.
Chính quyền không giải quyết thuyết phục, nhà đầu tư không đền bù thỏa đáng, nông dân Văn Giang cho biết họ chỉ còn dựa vào chính mình. Sau khi vụ cưỡng chế đợt hai đối với cánh đồng 72 ha hồi tháng tư vừa qua được thực hiện,nhiều nông dân đã quyết tâm giữ đất, rào chắn lại phần ruộng chưa nhận tiền bồi thường của mình.
Đất chưa giải quyết vẫn bị ủi
Tuy nhiên, nhưng phần đất đang còn bị tranh chấp đó cũng bắt đầu bị chủ đầu tư càn xới. Một nông dân Văn Giang khác cho biết:
“Hôm nay chúng tôi đi Hà Nội thì ở nhà họ đem máy đến ủi những chỗ chúng tôi rào”.
Trên nguyên tắc, cho đến thời điểm này người dân vẫn là chủ sử dụng mãnh đất với sổ đỏ trong tay vừa chưa hoàn thành hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, chính phủ quyết tâm cưỡng chế làm nhiều nông dân tỏ ra rất bức xúc và bắt đầu mất đi sự kiên nhẫn nơi pháp luật. Nông dân Văn Giang cho biết:
Trên nguyên tắc, cho đến thời điểm này người dân vẫn là chủ sử dụng mãnh đất với sổ đỏ trong tay vừa chưa hoàn thành hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, chính phủ quyết tâm cưỡng chế làm nhiều nông dân tỏ ra rất bức xúc
“Hôm nay đáng lẽ là chúng tôi ở nhà để giữ đất vì họ tiếp tục phá tiếp phần chúng tôi giữ lại. Hôm qua thì những người đứng đơn của bà con Văn Giang cho biết là hôm nay ra Bộ Tài nguyên Môi trường để nói chuyện lần cuối cùng cho nên hôm nay chúng tôi ra. Nhiều người cũng bức xúc. Tôi cũng có tham gia phát biểu một câu là cái này sai từ Nhà nước chứ không phải cấp tỉnh, huyện, xã nữa”.
Người nông dân này cũng cho biết nông dân nơi đây cũng muốn một lòng đi theo chính sách của Nhà nước và ĐCSVN nhưng bà cần được giải thích vì sao công an, bộ phận trực thuộc chính quyền lại đánh người dân trong lúc hỗ trợ cưỡng chế.
Dự án Ecopark. File photo
Trong phiên trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 3 QH khóa 13, bộ trưởng Nguyễn Minh Quang cho biết dự án Ecopark đã được phê duyệt từ lâu và cho biết theo tìm hiểu của đoàn công tác Bộ này thì “người dân không kêu ca, phàn nàn gì về chính sách đền bù, hỗ trợ”. Trả lời của ông Nguyễn Minh Quang đã không thỏa mãn được một số đại biểu quốc hội có mặt, cũng như bà con nông dân. Gía đền bù được cho biết là 36 triệu đồng một sào ruộng, trong khi nhiều hộ gia đình chỉ được 1 sào, nên giá bồi thường không thể đảm bảo được việc tái lập cuộc sống mới.
Nhiều nông dân cho biết nếu mấu chốt vấn đề không được giải quyết, thì dân nơi đây vẫn tiếp tục giữ đất đến cùng: “Riêng chúng tôi thì kể cả nếu họ cướp không, chúng tôi cũng không bao giời lấy tiền bồi thường. Còn khoảng 60% người dân chưa nhận tiền, trong đó có 40% rất cứng rắn, kể cả 160 hộ ở Xuân Quan”. Đây không phải là lần đầu tiên người dân Văn Giang yêu cầu được đối thoại với chính phủ, tuy nhiên chưa lần nào thu được đồng thuận đáng kể, cho nên lần này, bà con cũng không tỏ ra lạc quan về yêu cầu của mình:
“Khi ra đấy thì chúng tôi được hứa là vào thứ Năm này sẽ đối thoại chứ cũng chẳng biết là họ giải quyết hay không hay sẽ giải quyết như thế nào. Tất cả dân Văn Giang chúng tôi ước nguyện là phải giữ đất lại, còn những vùng đã bị ủi thì họ lấy. Chúng tôi chẳng có ước nguyện gì hơn”.
Xin được nhắc lại, dự án khu đô thị Ecopark rộng 500 ha, được ký năm 2004 bởi ông Nguyễn Tấn Dũng, lúc đó là phó Thủ tướng. Từ năm 2006, bà con nơi đây đã đi gõ cửa nhiều cơ quan chức năng, nêu lên bức xúc, nguyện vọng cũng như những sai phạm pháp luật của cấp lãnh đạo địa phương. Báo Người Cao Tuổi số 38 vừa qua cũng từng có bài nêu ra những sai phạm pháp lý đối với chính quyền cấp huyện khi quyết định di dời 166 hộ ở Xuân Quan.
Mặc khác, một khiếu kiện gần đây của bà con Văn Giang cũng nêu ra nghi vấn về tính hợp pháp của một số văn bản quyết định phê duyệt dự án của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Tất cả những thắc mắc này của bà con vẫn còn đang bị bỏ ngỏ.
Nhiều người tiếp nhận lời kêu gọi TUẦN HÀNH ÔN HÒA CHỐNG TRUNG QUỐC, ỦNG HỘ LUẬT BIỂN CỦA VIỆT NAM với một ý thức đầy cảnh giác và tâm trạng hoài nghi. Người thì bảo vụ này là do anh Ba, anh Tư nào đó bật đèn xanh, có người lại cho rằng đây là cái bẫy của công an, đừng có ngây thơ mà tin, rằng cần có trái tim nóng và cái đầu lạnh.
Hoàng sa - Trường sa là của Việt Nam
Về lời văn kêu gọi, vẫn cơ bản như những cuộc biểu tình mùa hè năm ngoái như ôn hòa, trật tự, không gây rối, chỉ khác là dùng từ tuần hành thay cho biểu tình. Gọi là tuần hành hay tụ tập thì thực chất vẫn là biểu tình, có điều gọi thế để cho nó có vẻ nhẹ đi mà thôi. Mà biểu tình thì đã sao, có gì ghê gớm đâu nhỉ.
Ngoài ra, người ta còn cân nhắc đến lời khẳng định cuộc tuần hành “Hoàn toàn hợp với HIẾN PHÁP VIỆT NAM”, KHUYẾN KHÍCH mang theo cờ Việt Nam, áo in màu cờ Việt Nam, ảnh Hồ Chí Minh..v..v..
Hơi lạ vì lời căn dặn “KHÔNG ĐƯỢC đốt cờ …” Làm gì có chuyện người biểu tình yêu nước mang cờ đi để đốt. Các cuộc biểu tình năm ngoái từng xảy ra chuyện xé bản đồ Tổ quốc có in đày đủ hai quần đảo HS, TS, giật và vò nát cờ Tổ quốc nhưng đấy là hành động của công an chứ không phải là của người biểu tình.
Việc họ cảnh giác kể ra cũng phải. Những người biểu tình phản đối Trung Quốc mùa hè năm ngoái, để được thể hiện tấm lòng của mình với đất nước đã phải trả giá: bị bắt, bị đưa vào Hỏa Lò, bị đánh đập, dùng nhục hình, thậm chí bị đưa vào trại cải tạo đến 5 tháng. Một số mất việc hoặc bị đuổi khỏi nơi trọ.
Nhưng cảnh giác, hoài nghi gì thì cũng nên ở mức hợp lý. Bảo đây là cái bẫy của công an ư? Vậy họ giăng bẫy để làm gì? Giăng để bắt kẻ nào chống TQ chăng? Mất công. Có ai chối đâu mà phải giăng bẫy. Hỏi nếu ai phản đối TQ âm mưu thôn tính Biển Đông, chắc chắn có hàng triệu, hàng triệu chữ ký. Mùa hè năm ngoái họ có giăng cái bẫy nào đâu mà cũng bắt được khối người và cuối cũng đã có được một danh sách khá dài (danh sách ấy là danh sách đen của công an nhưng lại là danh sách đỏ của những người yêu nước. Ai có tên trong danh sách ấy mà chẳng tự hào). Thế nhưng chính quyền có cần ai xuống đường để bất thêm đâu mà ngược lại còn ra thông báo cấm tiệt biểu tình. Giăng bẫy để cuối cũng bắt được toàn những người yêu nước sao? Có ghét họ lắm thì cũng chỉ đến nước mang cái nghị định 38 ra gán bừa là tụ tập không được phép mà thôi.
Lại còn có ý kiến nếu cuộc biểu tình do chính quyền bật đèn xanh thì không tham gia. Mình đã từng có ý nghĩ như thế, nhưng xét lại thấy làm như vậy là trẻ con, cứ như là hai đứa giận nhau. Họ tức vì chống TQ mà bị đàn áp, họ tức vì ủng hộ Quốc hội mà cũng bị bắt. Nay cần ông đi biểu tình thì ông đéo đi nữa cho biết mặt. Nghĩ như thế là không suy xét mọi nhẽ.
Tức người ta quá, luôn tìm cách làm ngược lại ý của người ta là cực đoan. Nếu biểu tình phản đối kẻ trộm vào nhà ông lớn nào đó cuỗm đi vài tỉ thì thôi cũng được, cho mày chết, tham ô cho lắm vào, có bị trộm chẳng qua là phân phối lại mà thôi. Nhưng đây lại là vấn đề của đất nước. Tổ quốc đâu phải của riêng đảng CSVN hay riêng của Nhà nước mà là của tất cả người Việt nam. Anh tẩy chay lời kêu gọi của người ta (giả sử thế) cho hả nỗi tức nhưng vô hình trung lại bàng quan trước vận mệnh của Tổ quốc. Cần phải xác định tôi đi biểu tình không vì tôi nghe theo anh mà vì đất nước.
Nhận định thì cứ nhận định nhưng đừng có vội mơ đến sự chuyển biến ấy. Những ai cho rằng chính quyền bật đèn xanh cho cuộc biểu tình này cần tính đến chuyện: đã có một vài cựu biểu tình được mời đi uống cà phê để thăm dò hay công an vận động không đi.
Lại có ý kiến nói rằng tại sao mình lại phải đi hưởng ứng lời kêu gọi của một thằng cha nào đó không rõ danh tính. Ngay cả người có tên tuổi, có uy tín kêu gọi chưa chắc đã đi. Thực ra, đi biểu tình đâu phải là vì người đó. Trong giai đoạn hiện nay, việc người ra lời kêu gọi phải ẩn danh thì không có gì khó hiểu, cần có sự cảm thông. Ra lời kêu gọi như thế này thì bất cứ ai cũng ra được nhưng nếu không có người đứng ra thống nhất địa điểm, ngày giờ thì không thành biểu tình. Kể cả lời kêu gọi phát ra từ một chương trình tự động nào đó cũng không sao. Chẳng lẽ muốn phản đối hay ủng hộ điều gì đó, lại đi biểu tình một mình.
Cuộc biểu tình ngày 1/7 được ủng hộ hay bị đàn áp, không nói trước được. Nếu chính quyền ủng hộ thì sẽ diễn ra tốt đẹp. Còn nếu bị đàn áp thì như mọi người đã thấy và đã có khá nhiều kinh nghiệm.
Ngày 1/7 tới đây, đi hay không tùy bạn nhưng đừng phụ thuộc vào những đồn đoán nêu trên có đúng hay không. Việc mình mình làm,việc họ họ làm. Không nên đặt ra điều kiện, nếu biểu tình được ủng hộ thì tôi đi còn nếu bị đàn áp thì thôi. Không bao giờ có câu trả lời ấy đâu.
Dù sao, tham gia vào hoạt động gì thì cũng nên trong khuôn khổ pháp luật. Nhưng cần để ý một điều vẫn pháp luật ấy nhưng ranh giới mỗi lúc có khác nhau. Ví dụ năm ngoái, có cuộc biểu tình được công an giữ trật tự, cũng có cuộc lại vi phạm vào nghị định 38. Thế mới là luật của nước ta. Biết đâu, từ hành vi biểu tình, quan tòa có thể kết tội anh vào điều 79 như thường, theo lối suy diễn: Biểu tình chống Trung Quốc làm nó tức lên, đem quân đánh Việt Nam, như vậy hành vi biểu tình chẳng là hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân là gì.
Đi biểu tình không phải là chuyện đi chơi. Để giành lấy một điều tốt đẹp nào đó đều phải đánh đổi. Dù tham gia biểu tình có bị làm sao thì cũng chỉ là con muỗi so với các vị đã mang cả đời mình, chấp nhận tù tội để đổi lấy những gì tốt đẹp cho đất nước, tự do, công lý cho đồng bào mình.
Đây là bài đóng góp của chú Doanh với anh Lê Thăng Long và phong trào con đường Việt nam. Mong được mọi người giúp phổ biến và giúp chú gửi tới anh Long nếu ai biết cách liên lạc. Xin cảm ơn...!
Kính gửi ông Lê Thăng Long người đại diện cho nhóm khởi xướng
Được biết ông được phép đại diện cho ông Trần Huỳnh Duy Thức, ông Lê Công Định gửi thư mời tới 244 vị kêu gọi tham gia phong trào, thành lập ban Điều hành để đưa phong trào vào hoạt động.
Tôi là Hoàng Đức Doanh, 67 tuổi.
Số điện thoại: 0987.527.178.
Sử dụng internet chưa thành thạo.
Tôi có một số ý kiến đóng góp sau đây:
Đồng ý giữ nguyên tên gọi Phong trào con đường Việt nam. (không là một tổ chức)
1 - Tôn chỉ, mục đích:
Liên Kết
Tập hợp những người có chí hướng quan tâm đến tương lai của dân tộc, sẽ cùng nhau trao đổi, hướng dẫn các cách thức hợp pháp nhằm: Nâng cao Dân trí, Chấn hưng Dân khí, Thúc đẩy Dân sinh. Lấy công ước Quyền con người của Liên hợp quốc làm mục tiêu để hoạt động.
2 - Tổ chức:
Không đồng ý tên gọi Ban lãnh đạo, ban điều hành - những cụm từ có nghĩa bên trên.
Đề xuất tên gọi ban Giúp việc, ban trợ giúp - những cụm từ có nghĩa song hành.
Trong ban này chia ra nhiều bộ phận như: Bộ phận quan hệ quốc tế, Bộ phận theo dõi thông tin (phụ trách trang web), Bộ phận đối nội.....
Thành lập, đăng ký một trang web.
Những người trong ban Giúp việc hoàn toàn tự nguyện, không có thù lao.
Số tình nguyện viên không hạn chế, không lên danh sách, tự do vào, không vào.
Sau 365 ngày phải có thông báo những thay đổi nhân sự trong ban giúp việc.
Quy ước đối với các thành viên của phong trào:
Những người tham gia không nên mang theo khái niệm: đi làm cách mạng, hoạt động chính trị, càng không phải là anh hùng, ngôi sao, nhân vật nổi tiếng...
Khi tham gia cần duy trì thái độ tự tin như tín đồ tôn giáo, niềm tin là: Quyền của con người mà tạo hoá đã ban tặng là bất khả xâm phạm.
Mỗi thành viên động viên nhau nỗ lực học hỏi, trao đổi và phổ biến kinh nghiệm về các vấn đề liên quan đến nâng cao Dân trí, chấn hưng Dân khí, thúc đẩy Dân sinh.
Khi pháp luật chưa cho phép công dân thực thi những điều có trong Công ước Nhân quyền thì phải tôn trọng Pháp luật, sau đó đề xuất ý kiến với phong trào để thống nhất cách thức đề xuất Nhà nước sửa đổi luật pháp.
Khi ai đó hoạt động tích cực cho phong trào (không vi phạm pháp luật) mà bị trấn áp, bắt bớ thì mọi thành viên phải có trách nhiệm bảo vệ.
Khi có vấn đề cần biểu dương lực lượng, phong trào phát động phương cách tỏ thái độ, các thành viên có bổn phận hưởng ứng bằng cách ký tên, hoặc hưởng ứng theo cách mà phong trào hướng dẫn.
..........
Kính thưa ông Long, hoạt động phong trào là của mọi người, mỗi người cần có sự đóng góp thì hoạt động mới có hiệu quả, trên đây là ý kiến của cá nhân tôi.
Hôm nay thử ghi lại những lý giải về sự rỗng tuếch trong tâm hồn, đôi khi, khi con người chuyển từ trạng thái vô cùng buồn bã sang sự rỗng tuếch.
Như thể cái giường bệnh một sáng bỗng thênh thang chỉ còn lại chăn gối: con bệnh sau nhiều ngày vật vã, đã trút hơi thở cuối cùng, đã đem chôn. Như thể công viên một chiều đi ngang: trống trơn, chỉ còn những gốc cây già trơ khấc đang trầm ngâm tự ngạc nhiên vì chính hình dáng xấu xí già cỗi của mình.
Cảm nhận tháng Sáu
Mùa đông dài lạnh đã bí mật phá tan nốt những ký ức cuối cùng của niềm vui sống, để một sáng xuân rạng rỡ, ngồi dưới nắng ấm trên một chiếc ghế dài bạc phếch, con người nhắm mắt lại, không muốn nhìn, không muốn nghĩ, chỉ thấy lòng mình trống rỗng vô cùng.
Đấy là khoảnh khắc chuyển đổi, từ trạng thái sống này sang trạng thái sống kia, suy cho cùng đời sống chỉ là những khoảnh khắc chắp lại, những khoảnh khắc của NHẬN THỨC, đấy là đời sống của tinh thần. Còn việc thỏa mãn các nhu cầu sinh học và vật chất thuộc về cái bên ngoài, để thích ứng với môi trường sống.
Hamvas Béla viết về trạng thái thức tỉnh của con người, khi từ đêm bước ra ánh sáng, khi từ sợ hãi và khổ đau, con người chợt nhận ra tình cảnh của chính nó: sự xa lìa niềm hạnh phúc nguyên thủy đầu tiên, niềm hạnh phúc tự thân của sự sống cổ, chưa bị ràng buộc với những điều kiện của vật chất.
Lúc mới bắt đầu dịch Hamvas, mình không hiểu trạng thái cổ đầu tiên này, mà Hamvas gọi là LINH HỒN ĐẦU TIÊN. Trạng thái cổ đầu tiên này là bản thể của vũ trụ, là chính sự sống, mà định nghĩa của Kant cũng giống như định nghĩa của Hamvas:
169. Bản chất của Sự sống là tính vô tận như là sự vượt bỏ mọi sự phân biệt, là sự vận động thuần túy xoay quanh trục của nó, là sự yên nghỉ tuyệt đối không yên nghỉ, là bản chất vận động của thời gian cô đặc lại thành hình thái vững chắc của không gian. Mọi sự phân biệt trong cơ thể sống đều chuyển hóa trong dòng chảy, nhưng cũng phải có một tính ổn định và tách biệt tạm thời để có thể chuyển hóa như vậy. Tính trôi chảy, sự vận động thuần túy là bản chất của Sự sống” (Bản dịch của Bùi Văn Nam Sơn)
.......
Đời cho con người thời gian chỉ để làm mỗi 2 việc: hoặc chỉ mình với mình, hoặc với người khác. Sự ham chơi đồng bọn cùng thú mải mê đuổi theo vật chất đôi khi làm người ta quên khuấy: sinh ra một mình và chết đi cũng một mình, không thể mang theo bất kỳ ai và bất kỳ cái gì.
Hamvas Béla đã chỉ cho thấy một tia sáng vút lên tận thiên hà, đấy là ánh sáng của tinh thần, thứ khiến Nguyễn Hồng Nhung nhận thức ra bản thân mình, thứ nó đi tìm bấy lâu nay (tuy vô thức không hề hiểu mình tìm gì?)
Giờ đây nó mới hiểu từ ngày xửa ngày xưa tới giờ, từ lúc ra đời tới giờ, một con bé cứ cặm cụi lẳng lặng một mình mơ ước cái gì đó, tìm kiếm một cái gì đó, thiếu vắng một ai đó, cứ đêm ngày đọc tất cả những gì tìm thấy, ngẫm nghĩ, mơ hồ đợi chờ…chính vì nó có khuynh hướng muốn hiểu được sự vô hình của tinh thần. Đúng thế!
Có những người có khuynh hướng hiểu được sự vô hình. Không phải ai cũng có khuynh hướng này, có lẽ trong ngày tháng năm giờ sinh của một cá nhân đã tích tụ một lượng khí, hoặc sức mạnh nào đấy của vũ trụ, để có thể hòa nhịp và hiểu được lời tuyên bố vô hình trong không gian.
Nhờ NGÔN TỪ của con người. Ta gặp Hamvas vì thế, như Hamvas gặp các bậc thày của ông. Một số người giống nhau ở chỗ hiểu được một cái gì đó vô hình của thượng đế, biến thành ngôn từ riêng của từng người, ghi chép lại, và giúp những kẻ đi sau tìm ra bản thân nó.
Tia sáng tinh thần này mạnh mẽ và làm Nguyễn Hồng Nhung tỉnh táo: ở chỗ mỗi ngày nó ngạc nhiên thấy mình hiểu mọi việc trực tiếp hơn, ngắn gọn hơn, đúng hơn vì đủ sức thuyết phục. Không cần quanh co tìm lời giải thích dài dòng. Và quan trọng nhất: bảo nó hãy thực hiện đầy đủ việc của mỗi ngày. Hãy hiện thực hóa những gì mày suy nghĩ! Và trong tình cảm, nó ngạc nhiên thấy mình không đau buồn, không chịu đựng, chỉ bình thản ngắm nhìn xung quanh và suy ngẫm.
….
Hôm nay suy nghĩ thêm về Bản thể sau khi đọc Hamvas Béla.
Hiểu Hamvas nghĩa là hiểu ra cái gọi là siêu hình (metafizika), sự sống hiểu theo siêu hình học là bản thể, thứ không thay đổi, trước sau như một, không có bất kỳ một diễn biến nào xảy ra, nghĩa là thức chất không có tốt cũng chẳng có xấu, không vui không buồn.
Mọi diễn biến của đời sống là do dòng chảy chuyển biến của vật chất. Nghĩa là chính mối quan hệ NGƯỜI. Bởi vậy, nằm trong các mối quan hệ cá nhân với nhau là y như rằng gây ra hệ lụy, hậu quả. Cần nhìn rõ điều này để vứt càng nhiều càng tốt những hệ lụy, những diễn biến các mối quan hệ cá nhân mất thời gian và vô nghĩa.
Đây có thể là bản chất của cái gọi là thế giới vô hình chăng? - chỉ giữ lại cái bản chất, cái chính yếu: như ánh sáng như nắng mặt trời tạo năng lượng, truyền cho ta những sức mạnh vũ trụ vô hình. Đừng phung phí sức mạnh này, khí trời tốt lành này vào các diễn biến quan hệ tầm thường, hoặc chỉ để phục vụ cho sự lười biếng, buông thả. Vậy dùng để làm gì? để hiểu, tìm kiếm, hấp thụ các luồng tư tưởng cao cả hơn, mạnh mẽ hơn và phổ quát hơn.
Hôm nay suy nghĩ và hiểu tại sao mình không thích các loại diễn đàn lao xao cuả các cá nhân chống đối hoặc chứng tỏ cái TÔI to rầm của họ: vì thời đại này đủ quá rồi những lời tố cáo hoặc giải thích. Thời gian để con người hiểu ra sự tha hóa của chính thời đại họ đang sống quá thừa thãi rồi.
Bây giờ, cần chỉ ra cái để THAY THẾ.
Không phải một loại hình thái quan hệ nào của con người nữa, không cần! Bây giờ cần một cái tổng quát hơn, cao cả hơn và trực tiếp hơn: đấy chính là bản chất SIÊU HÌNH của sự sống. Con người cần hiểu ra điều này ngay lập tức, thật rõ ràng, để nhận ra ngay đời sống (vật chất) của họ đang nhiễu nhương đến mức độ nào, để hiểu chính bản thân họ là một cái gì đó cao hơn cuộc đời đang bị tầm thường hóa một cách khủng khiếp.
(2012-06-19)
MỘT TRÍCH ĐOẠN TỪ HAMVAS
"Con người cần "Đời sống”. Khi chúng ta muốn sống, cần nhìn vào bản thân mình, và những gì thấy ở đó ngày nọ qua ngày kia cần hiện thực hóa và sống với chúng. Hình ảnh thực chất của sự vật trong chúng ta luôn luôn nằm trong vô thức, và ta biết rất ít về chúng. Phần lớn chúng ta chỉ cảm thấy và sống với sự sợ hãi về chúng, chúng ta không biết thực sự cái gì đang xảy ra trong ta.Như vậy một nghĩa vụ cần thiết là con người cần nhận ra bản thân mình một cách thực chất và rõ ràng. Nhưng nhiệm vụ này đòi hỏi toàn bộ sức lực của con người, và làm con người hoàn toàn kiệt sức.
Để con người thực sự là mình, cần nhìn bản thân mình từ bên ngoài vào. Khi điều này xảy ra, các cảnh diễn trò, các tập phim chiếu chấm dứt. Đây là thời điểm - trong một khoảnh khắc - sự phân vân đáng giật mình và lạnh lẽo ra đời. Đây là thời điểm, không còn lại gì hết!
Và lúc đó lương tâm một kẻ nào đó từ sâu thẳm lên tiếng, có thể đấy là hiện thực tinh thần riêng của chúng ta, với giọng dịu dàng, khẽ khàng: Đừng sợ! mi không một mình! cần niềm tin, một niềm tin không lay chuyển!
Lúc đó linh hồn lên đường, trên một con đường hoàn toàn xa lạ mà sự tự nhận thức thật sự của chúng ta biết rõ, cái mà chúng ta gọi là đạo đức đích thực.” (PATMOSZ I.)
Tối nay đọc một bài về ma quỷ và sự tươi tỉnh: chợt tỉnh hẳn người.
Tại sao con người thường xuyên u mê, mù mờ, mơ hồ, không có cơ sở để suy luận bởi vậy chao đảo, bấp bênh, không phân tích được tình thế, không thoát ra khỏi trạng thái bị tác động của môi trường? Hamvas đã chỉ ra những tính chất vô hình nằm sâu trong bản chất con người, trong đó tính chất Ma quỷ là rõ nhất, sự ám ảnh ma quỷ tham lam và primitiv: "Đói khát ngay với bản thân” - bởi "Không niềm cảm hứng, không sự tươi tỉnh”. Thế thôi! Hừ!
Khi trong con người không có sự tươi tỉnh, nghĩa là khi không tin vào cuộc sống, bởi chúng đang không sống: "không giữ lại sự sống mà chỉ giữ lại ảo ảnh”. Tại sao? Bởi vì chúng có hiểu gì đâu? Những đức tính xấu (của ma quỷ) nằm trong con người đã làm chúng u mê và che kín mắt chúng: đấy là sự ghen tỵ, sự độc ác, nỗi sướng vui trên đau khổ của người khác, sự hiếu thắng, sự kiêu ngạo. Đầy rẫy quanh ta. Bởi vậy kẻ tự trọng tốt nhất là một mình.
Bác Hamvas thỉnh thoảng làm ta phá lên cười, vì bác viết đúng quá. Một văn phong trực tiếp, chính xác, đúng đến nỗi bản thân những từ ngữ ấy đã có sức nổ như một quả bom, phá tan sự mù mờ và xướng đích danh bản chất sự vật. Đời sống thực ra trực tiếp và chính xác đúng như thế! Nếu hiểu ra điều này, mi sẽ hòa toàn bộ cơ thể, ngày sống, phút giây sống của mi vào từng khoảnh khắc của thời gian đang trôi qua không trở lại… Hamvas quyến rũ bởi không chỉ giúp ta nhận thức mà càng ngày càng khẳng định những gì ta đã hiểu.
…..
Có lẽ trạng thái đặc trưng nhất của con người: vơ vẩn. Một mình. Trong tâm trí. Người khác nhìn vào thấy nó đang bận rộn, hết sức bận rộn, giữa những mối quan hệ. Đâu có! Nó chỉ bận rộn với bản thân mà thôi. Những ý nghĩ trong đầu là của nó - hay không hề là của nó? - có trời biết! đúng hơn: vừa của nó vừa không phải của nó.
Một người bạn viết mail: tớ rất bế tắc, bi quan, nước mình rồi đi đến đâu?
Nó trả lời: cậu đang ở giữa châu Âu cơ mà, có phải ở Việt Nam đâu?
Con người Việt Nam hay con người châu Âu trong cậu bế tắc?
Một người khác viết mail khác: Anh rất không thích bài viết của em. Đừng có vô ơn với nơi sinh ra mình "cáo chết ba năm còn quay về núi”
Nó ngẫm nghĩ rồi trả lời: Núi của nhân loại dài lắm, trải khắp quả đất, đủ cho tất cả các con cáo của thế gian muốn quay đầu về đâu thì quay, anh đừng lo!
Một mail khác: Bài viết của em mang lại cho anh rất nhiều đồng cảm, anh cũng nghĩ như em, nhất là khi vật lộn trên xe buýt thủ đô…
Nó trả lời: vậy mà ít nhất ba người bảo em vô ơn với (cái gọi là) đất nước quê hương rồi đấy, hì, hì…
Mail đó tiếp: nghe câu "vô ơn” mà thấy buồn cười. Từ bảo giờ cái thể chế chính trị nhất thời được gán thay cho từ đất nước quê hương thế?...
Mail của một người bạn khác: Bài của em làm anh sợ. Nỗi sợ suốt đời đeo đẳng trong anh bị em gọi tên. Té ra không gọi tên hay có gọi tên ra cũng làm anh càng sợ hơn…Em đừng viết nữa. Hoặc viết thành tác phẩm để đấy, bao giờ in được thì in…
Nó lang thang dạo chơi trong một ngày chủ nhật nắng ấm. Ra một hòn đảo xinh đẹp nằm giữa sông Đanuyp. Len lỏi chán chê giữa những bụi hoa dại và những con đường nhỏ xíu dẫn đến những bãi cỏ mênh mông, để rồi nằm lăn ra đấy, vòng tay qua đầu, chân duỗi thẳng, ngắm bầu trời cao, xanh ngắt vô tận trên kia, và nghĩ ngợi.
Tại sao phải viết thành tác phẩm để đấy, bao giờ in được thì in?
Tại sao không cất thành lời ngay hôm nay, bây giờ, phút này, những ý nghĩ vừa ập đến trong đầu?
……
Cảm giác ngây ngất không lời - khoảnh khắc sống thực sự. Thật lạ, cái vô hình lại là cái có thật nhất!
Văng vẳng bên tai một giai điệu buồn lay lứt từ một bài hát sến, hết sức sến, nhưng mãnh liệt làm sao, hòa làm một với những bước chân lãng đãng lang thang trong phố vắng. Phố vắng xưa kia, nơi sau chín giờ tối đã lạnh ngắt, chỉ còn những ngọn đèn vàng vọt soi chính giữa lòng đường và hàng lim già xum xuê lá xanh sẫm trầm ngâm….Thuở đó cảm giác ngất ngây cũng vô hình như bây giờ, lúc đang ngồi bên laptop bấm phím, giữa một xứ sở xa xôi, chỉ khác lúc này có thể đặt vô số tên gọi cho nó.
Nó là cái gì vậy? chính là nguồn chảy nóng bỏng và thân thiết làm sao từ cơ thể mình nhập với muôn vàn sắc thái của sự vô hình, có tên: mùa hè nóng, kỷ niệm không nhạt phai, một cảnh trong một bộ phim, hình ảnh lũ chim chiều qua thi nhau mổ xẻ những quả dâu ngọt đẫm nước dưới gốc dâu, hay chữ, những ký hiệu lạ lẫm đi qua cái đầu, hiện thành vô vàn ý nghĩa tuyệt vời nhất. và vẫn cả giọng hát ngân dài rất sến này nữa: "người yêu ơi, ta chợt…nhớ…t-ê-n e-m…”
Cảm giác ngất ngây là nén đọng của bao nhiêu phút sống. Đêm đầu tiên đặt chân xuống nhà ga phía Đông của thủ đô tráng lệ này. Ô tô buýt chở cả lũ học sinh đi vào thành phố, mà hình ảnh đầu tiên con bé luôn yêu sự ngây ngất này nhìn thấy là một người phụ nữ mặc một chiếc quần ống loe màu đỏ, áo cộc tay trắng cổ ren nhét sâu vào quần, tạo thành một dáng hình eo thon ở trên như một bông cúc trắng nhưng lại xòe nở đỏ rực ở dưới như một đóa loe kèn. Nó ngắm bông hoa hai màu ấy không chớp mắt đến tận khi chiếc cầu dài cong vắt như một làn mây nuốt chửng hình ảnh đó, và thay thế vào là làn nước lững lờ xanh chảy rủ rỉ dưới chân cầu. Đanuýp. Ngất ngây trong cảm giác reo vui: Đanuýp xanh đây rồi….
Không, những ngày sống trong mẩu đời trẻ trung ấy, ta không hề nhận biết được sự ngây ngất tươi tỉnh này. Bởi đang còn bận lòng bởi những nỗi buồn, những nỗi buồn triền miên, vô tận. Mãi sao này ta mới hiểu tại sao có những cơn buồn ấy, dai dẳng lặp đi lặp lại một cách kỳ lạ? Bởi thời đó ta chưa hiểu gì về một Nguyễn Hồng Nhung phổ quát - như một thế gian thu nhỏ - như một hình thức tạm thời để thể hiện sự vô hình của tổng thể, còn được gọi là sự sống, hay bản thể, hay siêu hình…
Ôi! thế gian! là ta! là ngần ấy năm hữu hình nhưng vô hình vì chính thế gian ấy chẳng hiểu gì về chính nó! May sao, nó vẫn cảm giác được, vì cảm giác ngất ngây…Vậy thôi, sự tươi tỉnh sống này…. (2012-06-20)
….
Chiều. Đang định…ný sự một mình trên phím (như thường lệ), sau khi đã chịu đựng cái nóng rồ dại của cả một ngày Hạ Chí, bỗng mở mail, và nhận được thư B. chàng trai xứ Huế, nhưng lại gắn liền với kỷ niệm Sài gòn hôm nào...
Chàng gửi vài dòng ngắn, nhưng đầy ắp những từ ngữ dịu dàng, tặng thêm một bài ca, đề nghị tôi mở ngay và đố ai hát đấy? Tôi mở "Không ai ngăn nổi lời ca"
Một giọng nữ tựa hồ xót xa sâu lắng vang lên. Không đau. Tha thiết và dặt dìu như tự kìm nén, tôi bất giác hình dung ngay ra chân dung chàng, cùng những kỷ niệm êm đềm tự nhiên dội về. Sao thế?
Tôi ở Sài gòn hơn một tháng, gặp chàng chưa đến chục lần, nhưng toàn bộ những kỷ niệm ấy đẹp rạng rỡ màu da cam (vì một truyện ngắn của chàng?). B. có giọng nói rất dịu dàng, nhỏ nhẹ, thanh nhưng rõ ràng, có đôi mắt biết nói với cái nhìn bình thản và tràn ngập cả con người chàng là một thứ tri thức giản dị nhưng sâu rộng, trực tiếp, đúng.
Đến nỗi, tôi thường mang cảm giác biết ơn, sau mỗi lần gặp chàng. Biết ơn ai? vì điều gì? tôi không biết - nhưng B. để lại trong tôi một tình cảm trong sáng lành mạnh như thể ta đang khỏe mạnh, không nhất thiết phải yêu đời, nhưng rõ ràng cảm xúc đang tràn ngập con tim. Ta bước vào ngày mới, ra đường bằng những bước chân rắn rỏi, nụ cười mơ hồ nở trên môi, sẵn sàng đón nhận những gì sắp đến…đấy, B. mang lại cho tôi cảm giác ấy, không phụ thuộc vào thời điểm khác nhau để hò hẹn của chàng.
Chưa ngủ dậy, mới tảng sáng, chuông đã réo: "Dậy chưa Hoa Hồng? đi ăn sáng nhé?”- lần hẹn đầu tiên, chưa bao giờ nhìn thấy chân dung của nhau. Tôi mắt nhắm mắt mở chuẩn bị vội vã, rồi bước ra cổng. Một xe máy, một đàn ông đợi sẵn, một khuôn mặt bị che lấp bằng chiếc mũ bảo hiểm, chỉ thấp thoáng đôi mắt tươi vui. Chàng đưa tôi chiếc mũ bảo hiểm khác mà chàng cẩn thận mang theo, tôi ngồi ra sau tấm lưng mang màu áo xanh da trời, để chàng phóng vút đi. Đến tận khi ngồi vào một nhà hàng rộng, tối om nhưng mát rượi, đối diện nhau, lúc đó chúng tôi mới nhìn rõ mặt nhau.
Giờ đây, khi đang nghe bài hát chàng gửi và nhớ đến chàng, tôi chỉ hình dung mơ hồ khuôn mặt ấy, nhưng giọng nói và nội dung của tất cả những gì chúng tôi trao đổi với nhau, dường như tôi nhớ hết…Không, thế này đúng hơn: bài hát này làm tôi ngỡ lập tức nhìn thấy chàng, chàng trai trí thức xứ Huế, một nhà văn, nhà thơ, kẻ theo đạo Phật, một linh mục thiên chúa giáo?... - không biết! - chỉ biết đối với tôi lúc này sao chàng giống giọng hát đang nghe đến thế.
Hình ảnh bên ngoài, nét gợi về tâm hồn một con người sao lại giống một giọng ca? Vậy mà giống đấy, bởi lời ca này, giọng hát này, tiếng nhạc đệm này, ca từ này, nghe giữa một chiều hè châu Âu chợt nhắc tôi đến một cái gì đấy rất riêng, chỉ liên quan đến tôi, chỉ tôi trải qua và từng vật vã mãi với nó. Việt nam, xứ sở của riêng tôi, xúc cảm riêng của tôi, phải, giọng ca này chính là xứ sở Việt nam của tôi, một cái gì đấy từng xót xa, lắng xuống, nhẫn nhục, khao khát, và êm đềm….
Và thật lạ, gắn liền với những kỷ niệm về B.
Bất kỳ lúc nào nhớ đến chàng, tình cờ hay trong liên tưởng, tôi đều bắt gặp cảm xúc về xứ sở Việt nam của mình. Tại sao thế nhỉ? Có một cái gì rất gần gũi, rất trong sáng, rất dịu dàng và trực tiếp, và ngang tầm…
Ngang tầm với cái gì? với sự hình dung về cái đã qua đi không trở lại, nhưng không làm ta hối tiếc, vì biết quay trở lại, ta sẽ gặp lại đúng như thế, không đổi thay, không thất vọng, ngang tầm với niềm tin của ta về con người ấy, cảm xúc ấy, nhận thức ấy. Chàng là một trong những mẩu đời ít ỏi của ta những ngày ở quê hương, gần như chỉ mình chàng biết tạo ra cho tôi cảm giác trực tiếp này, như thể chàng hiểu tôi muốn điều đó, hay đơn giản chỉ vì cả hai biết dản dị trình bày mình khi ở bên cạnh nhau?
B. thích ăn phở. Thế là theo hương vị phở tôi khám phá ra những ngóc ngách Sài gòn. Đằng sau mỗi tiệm phở ẩn náu một câu chuyện, B. kể cho tôi nghe khi chờ đợi người ta mang lên bát phở nóng ngào ngạt, tôi nghe như nghe chàng đọc sách, vì khi ngồi ra sau lưng chàng để chiếc xe máy của chàng vèo phóng đi, tôi quên sạch, quên tuốt, chỉ biết mỗi một giọng nói dịu dàng bay bên tai cùng gió…
B. có lối kể chuyện rất sinh động, chàng thường kết luận vào một tóm tắt vừa chính xác vừa trực tiếp, chỉ để làm nảy sinh thêm những câu hỏi mới của tôi. Bởi chúng liên quan tất yếu đến nhau. Nói chuyện với chàng chẳng bao giờ chán. Không phải thể loại giao tiếp hỏi - đáp, mà là tự sự. Chính thế. Như với bản thân mình.
Còn nữa. Ở chàng có một cái gì đấy tinh tế, nhậy cảm không thể diễn tả được. Giống như hương thơm thoang thoảng của hoa dạ hương trong đêm hay như một nét nhạc nghe khiến ta chợt rùng mình, buốt giá đi vài giây, có phải đấy là lúc tâm hồn nghệ sĩ của chàng chạm đến cảm xúc của tôi?
Cảm xúc này thường xuyên. Thế mới lạ! Cho dù xe phóng vèo vèo giữa nắng trưa gay gắt, hay nhẹ nhàng trôi trên phố lộng gió buổi chiều, hay cả hai ngồi nhấp nháp ly cafe trong quán, hay dừng chân bước vào một nhà thờ, một ngôi chùa bên phố, hay như giờ đây tôi ngồi gõ phím một mình nghe bài ca chàng gửi… một cái gì đó từ chàng luôn chạm đến trái tim tôi.
Một lần, đang phóng xe trên đường, nghe giọng chàng bay bên tai hỏi tôi hay nghe nhạc của ai, thích nhất bài nào? Tôi trả lời. Đi thêm lúc nữa, chàng dừng lại, dẫn tôi vào một ngôi biệt thự cũ, có mảnh sân hẹp ngập lá rơi, chàng đưa tôi vào một phòng khách rộng, mời tôi ngồi xuống chiếc ghế băng dài và bảo tôi đây là nhà của chị chàng.
Tôi chưa kịp nhìn quanh hết căn phòng, đã nghe thấy nốt piano đầu tiên vang lên…B. ngồi quay lưng lại phía tôi, trước cây đàn piano và bắt đầu dạo bản nhạc ban nãy hỏi tôi trên đường. Ngoài sân lá xoay xoay lơ lửng trước khi rơi xuống đất, cành hoa cắm bên bàn nước rung lên nhè nhẹ, và tiếng dương cầm tràn ngập căn phòng…
Người con trai ngồi chơi đàn mê mải kia, có lẽ nào chỉ do câu chữ tạo nên?
Sự tồn tại của Nguyễn Tấn Dũng như thể đang giữa ngã ba đường, khi cả hai ngả đường rẽ về Trung Quốc và Mỹ đều đã bị án ngữ bởi những vật cản tăng tiến theo cấp số nhân.
Mùa hè oi bức cùng hơi thở nóng hổi của đợt chỉnh đốn đảng vào tháng 7/2012 đang phả vào gáy của các quan chức cao cấp. Gần một năm rưỡi sau Đại hội Đảng lần thứ 11 hồi đầu năm 2011, Thủ đô Hà Nội lại một lần nữa được sưởi ấm với những biến động tin đồn xuất hiện ngày càng dày đặc.
Một trong những tin hành lang gây chú ý nhất có lẽ là khả năng có thể phải ra đi của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào thời điểm giữa nhiệm kỳ, tức đầu năm 2013.
Tin đồn trên đã hiện hình cùng với một sự kiện nho nhỏ: Tô Linh Hương – ái nữ 24 tuổi của Trưởng Ban tổ chức Trung ương Đảng Tô Huy Rứa – đã từ nhiệm chức vụ Chủ tịch và thành viên Hội đồng quản trị Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Vinaconex chỉ sau hai tháng chấp nhiệm. Sự kiện này xảy ra vào những ngày cuối tháng 6/2012, tức chỉ còn chưa đầy một tháng trước khi đợt chỉnh đốn đảng được tiến hành.
Nhưng khác với loại tin đồn hành lang vào thời gian trước Đại hội Đảng lần thứ 11, lần này cái ghế thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng có vẻ bị thách thức nghiêm trọng bất thường. Cần nhớ lại rằng chỉ mới vào thời điểm cuối năm 2011, đầu năm 2012, đây vẫn là một địa chỉ mà người khác không thể lai vãng tới.
Như một quy luật, xu hướng chuyển biến nhân sự hầu như được tiếp nối ngay sau những biến động tiêu cực về kinh tế và tài chính. Vào lần này, khác hẳn với thời kỳ năm 2009 là lúc Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước còn có thể kiểm soát được huyết quản của cơ thể kinh tế và còn tích lũy được một gói kích cầu 8 tỷ USD nhằm phục hồi các thị trường đầu cơ như chứng khoán và bất động sản, năm 2012 lại là hệ quả tất yếu của thời kỳ 2011 trượt dốc và đổ vỡ về hình ảnh doanh nghiệp.
Vào quý 1/2011 vừa qua, tại Hà Nội đã không hiếm lời bàn tán về khả năng Chính phủ phải cho in thêm tiền, thậm chí một phương án về đổi tiền cũng được đặt ra. Một phần ba số doanh nghiệp lâm vào tình thế phá sản, nhưng số còn lại vẫn hầu như không thể nào tiếp cận được “nguồn vốn vay giá rẻ” từ các ngân hàng. Tất cả những nghịch lý như thế đã khiến cho bộ máy được gọi là “tân chính phủ” – thành lập từ tháng 8/2011, trở nên chông chênh hơn bao giờ hết trước áp lực dư luận xã hội và sức ép chính trị từ những phe phái khác ngay trong Bộ Chính trị.
Hầu như khắp nơi trên đất nước, người ta xoáy vào một thực trạng và dằn vặt hơn là xu thế chuyên quyền của người đứng đầu Chính phủ. Điều đáng nói là trong suốt một thời gian dài, đặc biệt từ đầu năm 2011 đến nay, tính độc đoán của Nguyễn Tấn Dũng đã gần như chỉ phục vụ cho một nhóm lợi ích có vai trò độc tôn: ngân hàng.
Blog Quan Làm Báo
Tổng thống Nguyễn Tấn Dũng?
Không phải ngẫu nhiên mà vào đầu tháng 6/2012, cùng với làn sóng tin đồn về thay đổi nhân sự có thể diễn ra ở Hà Nội, một blog mới và hết sức ấn tượng cũng xuất hiện: Quan Làm Báo. Ngay từ “số ra” đầu tiên của blog này, người được đã nhận ra một nét khác biệt rất lớn so với nhiều blog khác. Đó là lần đầu tiên kể từ khi hiện diện tờ báo chui Người Sài Gòn vào năm 1998, rất nhiều tin tức nội bộ trong đảng và chính quyền đã được công bố bởi Quan Làm Báo. Trong đó, vai trò và những ảnh hưởng của thủ tướng gần như được gắn liền với hoạt động của những nhân vật được coi là cận kề như Nguyễn Văn Hưởng – nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, phụ trách về an ninh; Bầu Kiên, tức Nguyễn Đức Kiên, một nhân vật đã không còn giữ vẻ thầm lặng trong những lời dị nghị của giới đầu tư và tài chính Hà Nội, người đã mau chóng biến thành một “bố già” trên gương mặt đương đại quốc gia. Gắn bó đầy hữu cơ với Bầu Kiên lại là Nguyễn Văn Bình – Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, người từng có thời là trợ lý đắc lực cho Nguyễn Tấn Dũng, giờ đây đang phủ sóng toàn bộ khu vực tín dụng quốc gia và siết chặt yết hầu tài chính đất nước…
Dường như cỗ xe cải cách nhân sự đang chuyển động gấp rút hơn. Những phân tích và quan trọng hơn cả là những bằng chứng chi tiết đáng ngạc nhiên được trưng ra bởi blog Quan Làm Báo về chiến dịch thao túng thanh khoản và và thâu tóm ngân hàng – diễn ra từ giữa năm 2011 đến nay, đã trở nên một mắt xích sống động nếu liên hệ với những động thái chính trị ở Hà Nội.
Câu hỏi cần đặt ra là những thông tin có tính đa diện của Quan Làm Báo hay dư luận râm ran ở Thủ đô liệu có phản ánh trung thực đời sống chính khách và hoạt động tài phiệt ở Việt Nam đương đại?
Một thực tế giản đơn mà hầu hết các giới chính yếu ở đất nước này đều nhận ra là cho dù những dị nghị của dư luận và blog Quan Làm Báo có bị coi là đồn thổi, vai trò cá nhân của Nguyễn Tấn Dũng cũng đã in quá đậm dấu ấn về hành vi dung túng cho các nhóm lợi ích bao cấp và ngân hàng. Bởi cho đến giờ, trong khi đang hiện diện những hậu quả ghê gớm không thể phủ nhận về tình hình đình đốn của nền kinh tế, lượng doanh nghiệp phá sản và kéo theo tỷ lệ thất nghiệp có thể không thua kém gì con số 25% của Tây Ban Nha, tình cảnh phân hóa về thu nhập giàu nghèo giữa 5% có thu nhập cao nhất với 5% thu nhập thấp nhất có thể đã lên đến 60-70 lần như hiện trạng nóng bỏng ở Trung Quốc.., nhóm tài phiệt ngân hàng vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt chiến dịch thôn tính đối thủ của họ.
Cũng cho đến giờ, đã có thể định hình một phát hiện có thể xem là khủng khiếp: để tiến hành và đạt kết quả thâu tóm nhau lẫn thâu tóm doanh nghiệp nằm trong tầm ngắm của mình, nhóm tài phiệt ngân hàng, với sự hỗ trợ trực tiếp từ Ngân hàng Nhà nước, đã chấp nhận biến nền kinh tế, doanh nghiệp và người lao động thành con tin của nó. Từ đầu năm 2011, bằng vào sự “vận dụng linh hoạt và uyển chuyển” Nghị quyết 11 về thắt chặt chi tiêu công và tín dụng, tiền mặt lưu thông trên hệ thống thị trường 2 (liên ngân hàng) đã được Ngân hàng Nhà nước rút mạnh về. Thiếu trầm trọng tiền mặt, thị trường 2 nhanh chóng rơi vào túng quẫn và vô hình trung đẩy lãi suất cho vay giữa các ngân hàng lên trên 20%, thậm chí có thời điểm gần 30%. Tương ứng, thị trường 1 (dân cư và doanh nghiệp) cũng lâm vào tình trạng khốn quẫn khi không được cung ứng đủ tiền để bù đắp cho hoạt động sản xuất và kinh doanh.
Tình hình trầm kha như thế kéo dài cho đến tận cuối quý 1/2012, vào lúc mà nền kinh tế đã kiệt quệ, nhưng lại hoàn toàn tương phản với hình ảnh những ngân hàng như Eximbank, Vietcombank, kể cả một ngân hàng nhỏ như Phương Nam và lẽ dĩ nhiên không thể thiếu ngân hàng Bản Việt của con gái Nguyễn Tấn Dũng, đã gia tăng đáng kể bản đồ bành trướng ngoài lãnh địa của chúng.
Ngã rẽ nào?
Hoạt động thâu tóm của giới tài phiệt ở Việt Nam không chỉ nhằm mục đích kinh doanh và phát triển ảnh hưởng – như một hoạt động thường xuyên của thế giới tư bản tài chính. Chủ đề xã hội học cần bàn là thâu tóm đã trở thành một cái mốt của những kẻ lắm tiền nhưng vẫn cần nhiều tiền hơn, đồng thời chuyển hóa tiền thành một thứ quyền lực cụ thể. Trong lịch sử cách đây không quá lâu, người đời đã kết luận được nhiều bài học tiền – quyền như thế từ các tập đoàn mafia ở nước Nga hậu Liên Xô – cái nôi sản sinh ra tầng lớp mafia người Việt đầu tiên.
Rất có thể, chính sách lấn sân không chỉ về tài chính mà cả sang lãnh địa chính trị của Nguyễn Tấn Dũng và nhóm tài phiệt ngân hàng đã trở nên chủ quan và hãnh tiến đến mức khiến cho chính ông và những tập đoàn của ông phải nhận lấy quá nhiều phản ứng quyết liệt như ngày hôm nay. Lần đầu tiên kể từ lúc tại vị thủ tướng, sân sau của Nguyễn Tấn Dũng đang trở thành nơi hỗn chiến giữa các niềm đam mê. Khác hẳn với nửa cuối năm ngoái, giờ đây vị trí của Thủ tướng trong Bộ Chính trị gần như là một sự tách rời giữa chính quyền với đảng.
Không có sự đồng nhất, cũng không còn được đồng thuận bởi phần lớn nhân vật trong Bộ Chính trị, Nguyễn Tấn Dũng dường như đang tự cô lập mình. Ở một chiều kích ngược lại, sự xích lại gần nhau của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng đã kéo theo một số nhân vật khác – vốn trước đây theo quan điểm “chiết trung”.
Hãy trở lại với Quan Làm Báo. Dù chỉ là một trong vô số blog và còn sinh sau đẻ muộn, nhưng rất có thể đây chính là một tín hiệu chính trị. Cả việc từ nhiệm của người con gái của ủy viên Bộ Chính trị Tô Huy Rứa hay việc điều chuyển con trai của nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng thế – cũng có thể coi là những tín hiệu bất thường cho đợt chỉnh đốn đảng mà xu thế gần như tất yếu là tái sắp xếp về nhân sự. Những sự việc này lại diễn ra chỉ sau ít ngày nổi lên scandal Dương Chí Dũng, người đã được Thủ tướng ký quyết định bổ nhiệm và Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng – một người thân tín của Thủ tướng – bao che, khi Dũng bỏ trốn trước sự bất lực của toàn bộ ngành công an Việt Nam…
Điểm trùng hợp là cũng đã diễn ra một cuộc “chạy trốn” của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình tại phiên họp thứ ba Quốc hội khóa XIII vào tháng 6/2012. Trong khi tuyệt đại đa số đại biểu quốc hội nhất trí cao về Luật Biển với chủ quyền về quần đảo Hoàng Sa – một ý tưởng không in đậm dấu ấn đề xuất của cá nhân Thủ tướng, thì Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã “thu xếp” để Nguyễn Văn Bình không phải trả lời bất cứ một câu hỏi chất vấn trực tiếp nào về những khuất tất trong hệ thống ngân hàng.
Sự xuất hiện của Nguyễn Tấn Dũng cũng có vẻ thưa thớt hơn. Tiếng nói của ông, một thời có sức nặng trong Bộ Chính trị, giờ đây lại trở nên xao xuyến hơn bởi thói quen nói vo.
Dường như sự tương phản trong một nhân vật – có thể được coi là có ngoại hình “chính khách” nhất trong Bộ Chính trị Việt Nam – với tật nói vo thiếu tư duy đang biểu hiện rõ hơn.
Nếu ai đó dị đoan đôi chút vào mối liên hệ giữa sự thay đổi của giọng với số phận của con người, thì hàng loạt hệ lụy có thể xảy đến với Nguyễn Tấn Dũng và các cộng sự của ông trong những tháng tới. Hàng loạt nước cờ gai góc mà ông đang phải buốt đầu tính toán, trước khi nghĩ đến vai trò tổng thống đất nước của mình trong tương lai. Chẳng hạn là sự an toàn theo đúng nghĩa đen đối với Nguyễn Thanh Phượng – con gái ông ở Ngân hàng Bản Việt; cũng như thân phận của Nguyễn Thanh Nghị – con trai của ông ở Bộ Xây dựng – làm sao có thể thoát được câu chuyện “hồi tố” như số phận con trai Nông Đức Mạnh; hoặc khả năng tồn tại mà không bị lật đổ hay bị tiêu diệt của nhóm tài phiệt ngân hàng, trong khi vẫn phải tiếp tục duy trì mục tiêu thâu tóm và bành trướng, đồng thời ngay trước mắt phải giải phóng khối hàng tồn kho khổng lồ về vốn và bất động sản…
Nhưng quan yếu hơn cả là vấn đề của bản thân Nguyễn Tấn Dũng. Nói một cách bóng gió, sự tồn tại của ông như thể đang giữa ngã ba đường, khi cả hai ngả đường rẽ về Trung Quốc và Mỹ đều đã bị án ngữ bởi những vật cản tăng tiến theo cấp số nhân.
Chẳng lẽ người từng xưng là “công bộc” chỉ còn cách quay trở về với nhân dân?
Bộ Luật Biển của Việt Nam mong chờ từ bấy lâu nay cuối cùng được quốc hội thông qua ngày 21 tháng 6 năm 2012 với đa số tuyệt đối 495/496. Ngoài một số chi tiết được báo chí tiết lộ, toàn bộ nội dung bộ Luật này vẫn chưa được công bố để toàn dân được tham khảo, mặc dầu tin tức cho rằng hiệu lực của nó sẽ được áp dụng bắt đầu từ đầu năm 2013. Bộ Luật gồm 7 chương với 55 điều. Có lẽ chương 2 của bộ Luật sẽ gây nhiều chú ý cho mọi người, vì nó quy định về vùng biển Việt Nam với các quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, đảo, quần đảo… Riêng điều 1 bộ Luật tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Nếu đúng vậy thì bộ Luật phần nào đã thỏa mãn sự quan ngại của người dân về chủ quyền (và quyền chủ quyền) của Việt Nam tại hai quần đảo này. Tin tức cũng cho biết nội dung bộ Luật Biển Việt Nam (LBVN) được dựa trên nguyên tắc của bộ "Luật quốc tế về Biển của Liên Hiệp Quốc", tức bộ Luật quốc tế về Biển 1982.
Về phía quốc tế, phản ứng chống đối đầu tiên và gay gắt mà mọi người có thể tiên đoán là phía Trung Quốc. Một số điểm ghi nhận được là Quốc hội nước này đã gởi thư phản đối và yêu cầu Việt Nam phải "tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc", phải lập tức "sửa sai"; Việt Nam phải "nỗ lực bảo vệ đối tác chiến lược giữa hai nước". Thư này cũng tố cáo Việt Nam "vi phạm qui tắc đồng thuận mà lãnh đạo hai nước đã đạt được" đồng thời khẳng định "không có tranh chấp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa". Lập luận của phía học giả Trung Quốc, được BBC ghi lại, gồm có các lập luận đáng chú ý của bà Cung Ảnh Xuân, chuyên gia về luật pháp quốc tế tại Đại học Ngoại giao Trung Quốc ở Bắc Kinh: "Các luật mà Việt Nam thông qua phải phù hợp với luật pháp quốc tế… điều kiện tiên quyết khi thông qua các điều luật trong nước là phải ‘tôn trọng chủ quyền của nước khác’". Bà này cũng nói rằng: "cơ sở pháp lý mà Việt Nam tuyên bố cũng không tồn tại theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc". BBC cũng dẫn lời ông Cổ Tú Đông (Học Viện quốc tế Trung quốc): "việc Việt Nam thông qua Luật Biển đã xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích của Trung Quốc ‘một cách trắng trợn’". Ông này cũng lên giọng hăm dọa: "Trung Quốc nên làm cho các quốc gia hiểu rõ rằng một khu đụng chạm tới chủ quyền của Trung Quốc thì Trung Quốc sẽ bóp nghẹt không gian và thời gian xâm phạm của họ cho đến khi nào họ rút lui thì thôi". Một bài báo khác thì hối thúc: "Trung Quốc nên có những ý tưởng cứng rắn hơn, bao gồm cả việc sử dụng vũ lực để bảo vệ quyền lợi của mình khi cần thiết để cho thấy sự quyết tâm và khả năng bảo vệ chủ quyền"…
Về phía Việt Nam, ông Dương Danh Huy cũng có lên tiếng trên BBC, một ngày trước khi Luật Biển Việt Nam được thông qua, nội dung khuyến cáo Việt Nam nên thay đổi một số quan niệm về "đường cơ sở", về "quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải", nguyên văn: "Luật biển năm 1982 của Việt Nam có một số điều không tuân thủ với Công ước Luật Biển của LHQ, ví dụ như Việt Nam vạch đường cơ sở quá xa bờ, lấn ra biển hơi nhiều. Ngoài ra, luật đó cũng không tôn trọng đầy đủ các quyền đi qua không gây hại trong vùng lãnh hải của Việt Nam và cũng không tuân thủ đầy đủ quyền tự do hàng hải trong vùng tiếp giáp lãnh hải. Thành ra có một số nước, trong đó Mỹ, đã phản đối luật biển 1982 của Việt Nam."
Ta có thể đánh giá thế nào về Luật Biển Việt Nam, nhất là các tuyên bố của phía Trung Quốc chung quanh bộ luật này?
1/ Thái độ phải có của Việt Nam:
Dĩ nhiên "minh bạch" sẽ là thái độ đúng nhất mà Việt Nam cần phải làm. Việc chưa công bố bộ Luật Biển Việt Nam, mặc dầu nó đã được Quốc Hội thông qua, là một yếu tố thiếu minh bạch. Nó cho thấy Việt Nam, do một số điểm còn lấn cấn nào đó, khiến Việt Nam chưa đủ tự tin để phổ biến bộ Luật Biển Việt Nam. Thái độ này không phù hợp với nguyện vọng của toàn dân, thể hiện qua tỉ số 495/496 của dân biểu ở quốc hội. Trong khi đó, trước áp lực về mọi mặt của phía Trung Quốc, về kinh tế, ngoại giao và nhất là răn đe quân sự, Việt Nam cần được sự ủng hộ của toàn dân và dư luận quốc tế. Hiện nay, nghe nói ở Việt Nam có nhiều người muốn biểu tình ủng hộ Luật Biển Việt Nam. Nhưng những người này sẽ ủng hộ cái gì khi toàn bộ nội dung bộ luật này chưa được công bố? Trong khi đó, phía Trung Quốc yêu cầu Việt Nam "sửa sai". Việc không công bố bộ Luật Biển Việt Nam làm cho người ta nghi ngờ rằng VN cần thời gian để sửa đổi nội dung để Luật Biển Việt Nam cho phù hợp với đòi hỏi của Trung Quốc. Những chi tiết về nội dung Luật Biển Việt Nam mà báo chí trong nước "xì" ra, chẳng qua là quả bóng thăm dò phản ứng của Trung Quốc. Nếu đúng như vậy, lợi bất cập hại, đừng nên cho ra đời bộ Luật Biển Việt Nam làm chi trong lúc này.
2/ Về các lý lẽ phản đối của Trung Quốc:
2.1 Ta thấy phần lớn các lý lẽ của phía TQ hiện nay, chính thức như bộ Ngoại giao hay Quốc hội, hay của các học giả, phần lớn tập trung ở vấn đề "chủ quyền" (ở các đảo Hoàng Sa và Trường Sa). Quốc hội Trung Quốc gởi thư yêu cầu "Việt Nam phải tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc" và khẳng định "không có tranh chấp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa", các học giả TQ thì nói Việt Nam "xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích của Trung Quốc".
Đây là một dấu hiệu cho thấy Trung Quốccũng đã thay đổi chiến lược cho phù hợp với quan điểm mới của Việt Nam về chủ quyền hải đảo.
Các nhà nghiên cứu chiến lược quốc tế gần đây đã nhận ra sự thay đổi sâu sắc sách lược về Biển của Việt Nam, từ việc đặt trọng tâm trên "hiệu lực các đảo theo luật Biển 1982" của nhiều năm trước, chuyển sang việc khẳng định và đòi hỏi "chủ quyền các đảo", sau tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 11 năm 2011. Điều này phù hợp với khuyến cáo của tác giả qua bài viết "Việt Nam cần điều chỉnh lại chiến lược biển Đông" vào tháng 6 năm trước.
Vấn đề "chủ quyền" như thế trở thành trục chính cho việc tranh chấp. Điều này đúng, và nó có lợi cho Việt Nam. Trước nay, phía "học giả" của Việt Nam chỉ loay xoay trong việc thu hẹp hiệu lực các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhằm phủ nhận tấm bản đồ "lưỡi bò" (bản đồ chữ U 9 gạch), mà điều này tác giả đã có cảnh báo trong quá khứ rằng nó chỉ là "diện" của phía Trung Quốc. Nhiều "học giả" Việt Nam đã lâm vào hỏa mù này, chỉ lo giải thích hiệu lực các đảo Hoàng Sa và Trường Sa quá nhỏ không thể có hiệu lực vùng độc quyền kinh tế (ZEE), hy vọng sẽ thu hẹp lại đòi hỏi của Trung Quốc (qua bản đồ chữ U chín gạch). Nhưng khi bàn luận như thế, một cách gián tiếp, đã nhìn nhận chủ quyền của TQ tại hai quần đảo này rồi! Vì nếu các đảo này là của Việt Nam, thì không ai giải thích như thế. Trong khi "điểm" của Trung Quốc là "chủ quyền" ở các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Những ngày gần đây ta thấy tuyên bố vùng biển theo bản đồ chữ U của Trung Quốc không còn chắc chắn như trước. Tháng 3 năm 2012, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Trung Quốc đã có tuyên bố rằng: "không có bất cứ nước nào trong đó bao gồm Trung Quốc đưa ra yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ khu vực Nam Hải, Trung Quốc cho rằng cần phải làm sáng tỏ việc này". Tuyên bố biển Đông là "lợi ích cốt lõi", tương tự Đài Loan, Tây Tạng… cũng được rút lại không kèn không trống. Việc này do từ các phản đối của cộng đồng quốc tế, nhất là Hoa Kỳ. Không ai cho rằng đòi hỏi về hải phận của Trung Quốc dựa trên tấm bản đồ chữ U là phù hợp với luật pháp quốc tế. Hoa Kỳ cho rằng Hoa Kỳ cũng có lợi ích ở biển Đông. Tuyên bố này là gáo nước tạt vào ngọn lửa tham vọng của Trung Quốc đang ngún cháy. Biển Đông không phải là biển Đen, Việt Nam không phải là Georgia, Trung Quốc không thể ngang ngược áp đặt ý muốn của mình thế nào cũng được. Hầu hết các nước trên thế giới không có "quyền lợi" ở biển Đen nhưng ở biển Đông thì phần lớn lượng hàng hóa trao đổi của thế giới đi ngang qua đó.
Việt Nam có lợi điểm này nhưng không ý thức được, có lẽ là do chính trị ảnh hưởng nhiều ở các thế lực thân Trung Quốc. Phe này đưa ra lý lẽ rằng nếu Georgia bị Nga đánh mà không có nước nào can thiệp, thì khi Việt Nam bị Trung Quốc đánh cũng sẽ không có nước nào can thiệp. Đây là điều mà tác giả gọi là "hội chứng Georgia", lấy hứng từ "hội chứng Việt Nam" nảy sinh từ Hoa Kỳ sau cuộc chiến 1975 (sẽ nói lại trong một bài khác). Chỉ đến khi Việt Nam bị Trung Quốc dồn đến chân tường, Việt Nam mới bắt đầu nhận ra rằng chiến lược biển Đông của họ có quá nhiều sai lầm. Trung Quốc được đằng chân lân đàng đầu, vừa dành Hoàng Sa và Trường Sa vừa dành trọn biển Đông.
Việc thay đổi chiến lược của Việt Nam ở biển Đông cũng khiến Trung Quốc thay đổi quan điểm. Vấn đề chủ quyền, như đã nói, trở thành trọng tâm. Việc giải quyết tranh chấp là giải quyết tranh chấp về chủ quyền các đảo. Ở điểm này thì hồ sơ của Việt Nam thuyết phục hơn mọi hồ sơ khác, như của Trung Quốc và Phi.
Tuy vậy, vẫn không thấy Việt Nam lên tiếng đề nghị đưa tranh chấp ra một trọng tài giải quyết. Việc Trung Quốc lên tiếng phản đối bộ Luật Biển Việt Nam là một cơ hội hiếm hoi. Vì sao vậy? Người ta thấy ngay rằng việc Việt Nam im lặng là do các yếu tố pháp lý có hại cho Việt Nam, như công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958 hay các hứa hẹn của lãnh đạo hai bên trong quá khứ.
Tranh chấp biển Đông là một vấn đề thuộc phạm vi địa lý chiến lược. Cách giải quyết do đó sẽ phải là một sách lược đứng đắn, mềm dẽo theo từng giai đoạn. Việc hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng là một tính toán giai đoạn của sách lược đó. Nếu muốn đưa Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế và Việt Nam có nhiều hy vọng thắng, việc hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng và các hứa hẹn của cấp lãnh đạo trong quá khứ là việc phải giải quyết tiên khởi. Việc này người viết đã từng đề nghị phương pháp trong quá khứ.
2.2 Về các đe dọa sử dụng vũ lực:
Phía Trung Quốc, nhất là trên các mạng thân chính phủ, luôn có các bài viết mang giọng điệu thù hận, thúc giục quân đội Trung Quốc cho Việt Nam một bài học về tội phản bội, "ăn cháo đá bát", hay hô hào mở các cuộc tấn công Việt Nam để "giải phóng" các vùng lãnh thổ còn bị Việt Nam chiếm giữ (ý nói các đảo Trường Sa).
Lãnh đạo Việt Nam hiện nay, nhất là các thế hệ lãnh đạo trước, đều mang mặc cảm phản bội đối với Trung Quốc. Bởi vì, giang sơn, sự nghiệp chính trị của họ hôm nay có được đều đến từ sự giúp đỡ của Trung Quốc. Trận chiến mà Việt Nam hãnh diện nhất là trận Điện Biên Phủ, một số tài liệu của phía Trung Quốc tung ra gần đây cho thấy vai trò của Trung Quốc trong chiến thắng này là chủ yếu. Để ý, mỗi lần "sứ thần" Việt Nam đi sang Trung Quốc, từ lãnh đạo cao cấp nhất đến ngoại giao hay lãnh vực quân sự, thảy đều có diễn từ ca tụng công ơn của đảng CS Trung Quốc đối với đảng CSVN, đồng thời hứa sẽ không làm điều gì ảnh hưởng đến quan hệ hai nước. Các thế hệ lãnh đạo mới sau này, quan điểm chính trị, một số có thiện cảm với Hoa Kỳ, nhưng một số lớn khác thì vẫn nằm trong vòng kềm tỏa của Trung Quốc.
Trong khi đó, nhờ kinh tế phát triển mạnh và bền vững trong nhiều thập niên, mọi sinh hoạt xã hội của Trung Quốc cũng được nâng lên tầm cao hơn. Quân đội được nỗ lực hiện đại hóa từ hơn ba thập niên. Với lực lượng mà họ hiện có, việc "giải phóng" Đài Loan đã trở thành việc khả thi. Tuy nhiên cái giá phải trả, về chính trị quốc nội và ngoại giao quốc tế, có thể quá lớn. Cuộc chiến xảy ra có thể làm Trung Quốc bị cô lập về phương diện quốc tế, trong khi dân chúng Đài Loan từ lâu đã trưởng thành trong dân chủ, việc này có thể tạo một cuộc cách mạng "hoa hòe" nào đó, xảy ra ngoài ý muốn của các lãnh đạo Bắc Kinh.
Trung Quốc, về mọi mặt, nội trị ổn định, ngoại giao đặt thành quả đáng kể (như việc chinh phục các nước Châu Phi). Trong xã hội, các phương diện kinh tế, giáo dục, khoa học… đều đạt được thành quả to lớn. Mức sống người dân được tăng cao. Các tỉnh miền biển đã đạt được mức sống gần như mức sống của dân chúng các nước tiên tiến. Chỉ có một phía, là quốc phòng chưa chứng tỏ được một điều gì, trong khi ngân sách dành cho nhóm này đặc biệt cao hơn các mặt khác trong xã hội. Những nhóm dân tộc cực đoan, những "học giả" với đầu óc kế thừa thời phong kiến, luôn cao giọng thúc hối phe quân sự làm nhiệm vụ của mình: thống nhất đất nước, tức là phải lấy Đài Loan, Hoàng Sa và Trường Sa (và các vùng đất có tranh chấp với Ấn Độ) về với đất mẹ. Hồ Cẩm Đào, gần đây cũng tuyên bố đại khái: quân đội cần chuẩn bị để chiến thắng một cuộc chiến cục bộ. Cuộc chiến "cục bộ" cần phải hiểu là cuộc chiến tương tự cuộc chiến vùng Vịnh đầu thập niên 90, lúc Hoa Kỳ trừng phạt Irak về việc nước này xâm lăng Koweit. Vì vậy, rất có thể Trung Quốc sẽ có những tính toán sai lầm trong thời gian tới.
Hải quân Trung Quốc hiện nay có thể mở được các cuộc chiến "cục bộ". Điều đáng lo ngại nhất cho Việt Nam không phải là hàng không mẫu hạm Thi Lang đưa vào hoạt động mà việc Trung Quốc đã làm chủ được các kỹ thuật về không gian và các soái hạm kiểu mẫu (Mistral của Pháp) cùng với các tàu đổ bộ có vận tốc cao. Soái hạm của Trung Quốc chế tạo có đặc tính tương tự soái hạm Mistral của Pháp, có khả năng chở 4 trực thăng hạng nặng, một trung đoàn (khoảng 1.000 người), tàu đổ bộ, với đầy đủ quân trang cần thiết. Các tàu đổ bộ của Trung Quốc có kỹ thuật đệm hơi (do đó có thể đổ bộ dễ dàng ở các bờ biển cạn), chạy với vận tốc cao, có thể chở một tiểu đoàn đầy đủ với pháo binh và thiết giáp hỗ trợ. Các khí cụ này, cộng với tàu Thi Lang, có thể hải quân Trung Quốc sẽ làm mưa làm gió ở biển Đông. Các đảo ở Trường Sa hiện do Việt Nam chiếm đóng có thể bị Trung Quốc chiếm trong một đêm. Phòng thủ ở các đảo này đã trở thành lỗi thời với lực lượng tối tân và hùng hậu của hải quân Trung Quốc.
Sự lo ngại của Việt Nam có thể thấy qua các thể hiện như đón bộ tưởng Quốc phòng Hoa Kỳ tại vịnh Cam Ranh, hay các tuyên bố của các viên chức uy tín Hoa Kỳ về khả năng bán "vũ khí sát thuơng" cho Việt Nam. Vũ khí "sát thương" ở đây khó lòng mà định nghĩa. Nhưng có thể đoán được là các vũ khí dùng để củng cố phòng thủ ở các đảo. Thử hình dung một kịch bản: Một đoàn trực thăng chở quân bay sát mặt nước để tránh ra đa, thình lình đáp xuống các đảo, đổ khoảng 100 quân thiện chiến. Hoặc các tàu đổ bộ quân số tiểu đoàn với cả thiết giáp và pháo binh, đổ vào các đảo. Mặc dầu đã chôn mìn, thủy lôi chung quanh các đảo, nhưng quân Việt Nam sẽ khó chống trả nếu cuộc chiến mà phía Trung Quốc được hỗ trợ thêm không quân (từ tàu Thi Lang) và lực lượng tàu ngầm. Vì vậy Việt Nam rất cần loại vũ khí gọi là "sát thuơng" của Hoa Kỳ. Chúng có thể là các dàn ra đa có khả năng phát hiện tàu chiến (furtif), phi cơ… nó có thể là các hỏa tiễn địa không cầm tay để hạ máy bay, có thể là hỏa tiễn tinh khôn để hạ tàu chiến v.v… Tuy nhiên, viêc trao đổi có thể sẽ không tương xứng. Phía Hoa Kỳ yêu cầu Việt Nam giải quyết hồ sơ nhân quyền. Tình hình gần đây ở Việt Nam cho thấy việc này sẽ được thực hiện, nhưng chỉ là giả dối. Không phải cho phép một số người nào đó lập phong trào đòi nhân quyền thì Việt Nam đã tôn trọng nhân quyền. Nếu Hoa Kỳ bán vũ khí "thật", Việt Nam cũng cần phải trả lại "tiền thật". Cụ thể là phải thả hết tất cả các tù nhân chính trị, lương tâm… mà nhà cầm quyền đã bắt bớ tùy tiện từ nhiều năm nay.
3/ Về các góp ý của "học giả" Việt Nam:
Trả lời phỏng vấn BBC, ông Dương Danh Huy nói rằng: "Luật biển của VN hiện nay ra đời năm 1982, lúc đó có Chiến tranh Lạnh, xung quanh Việt Nam tứ bề thọ địch. Năm 1982 cũng là năm Công ước Luật Biển ra đời và lúc đó Việt Nam chưa phê chuẩn Công ước này của LHQ, có lẽ lúc đó Việt Nam cũng chưa hiểu rõ về Công ước đó".
Việt Nam không có bộ luật biển nào ra đời năm 1982.
Ngày 12 tháng 11 năm 1982 chính phủ nước CHXHCNVN ra "tuyên bố" về "đường cơ bản để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam". Trước đó, ngày 12 tháng 5 năm 1977, Chính phủ CHXHCN Việt Nam ra "tuyên bố" về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa. Tuyên bố này được Thường vụ quốc hội phê chuẩn. Về lãnh thổ, Việt Nam có bộ luật "Biên giới quốc gia" năm 2003.
Ông Dương Danh Huy nói:
"Luật biển năm 1982 của Việt Nam có một số điều không tuân thủ với Công ước Luật Biển của LHQ, ví dụ như Việt Nam vạch đường cơ sở quá xa bờ, lấn ra biển hơi nhiều."
Điều gọi là "luật biển Việt Nam 1982", có thể là tuyên bố về "đường cơ bản để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam". Theo tin tức báo chí loan tải thì bộ Luật biển Việt Nam "công nhận đường cơ sở đã được Chính phủ công bố năm 1982". Như vậy, nói theo ông DD Huy, những người làm bộ Luật biển Việt Nam 2012 không thông hiểu luật Biển 1982 của LHQ? Cả Quốc hội, những người biểu quyết đồng ý thông qua bộ luật này, tất cả đều không hiểu bộ luật quốc tế về Biển 1982?
Tôi không nghĩ rằng các tác giả bộ luật và những người đồng ý với nó không hiểu về Luật biển 1982 của LHQ. Hệ thống đường cơ bản của Việt Nam (theo hình dưới đây) không hề vi phạm nội dung bộ Luật Biển 1982 của LHQ. Nếu so sánh với các nước khác, như Trung Quốc, đường cơ bản của Việt Nam không lấn biển nhiều. Mặt khác, đoạn đường cơ bản xa bờ nhất trong hệ thống đường cơ bản của Việt Nam (A5-A6), nằm trước một vùng biển chịu nhiều biến động của những cửa sông (sông Cửu Long, sông Đồng Nai), bờ biển khúc khuỷu, vì thế địa mạo của bờ biển thay đổi thường xuyên. Các điểm cơ bản của Việt Nam lại là những hòn đảo. Vì thế, đường cơ bản của phù hợp với nguyên tắc xác định đường cơ bản của Luật biển 1982 của LHQ.
Tôi cũng không thấy hệ thống đường cơ bản này sẽ làm thiệt hại cho Việt Nam cái gì (như tựa đề bài báo trên BBC)? Trong một bài viết cách đây khá lâu, tôi có đề cập việc khi Việt Nam tuyên bố hệ thống đường cơ bản để tính lãnh hải của Việt Nam năm 1982 thì một số nước (Hoan Kỳ, Pháp, Trung Quốc…) phản đối đường này. Tôi viết rằng, việc chống đối của các nước này mang sắc thái chính trị hơn là do Việt Nam lấn nhiều ra biển. Bởi vì, trên thực tế, có rất nhiều nước trên thế giới lấy đường cơ bản là đường thẳng (các nước trong vùng như Thái Lan, Trung Quốc, Phi, Mã Lai, Indonesia…), phần lớn lấn biển không kém Việt Nam. Nhưng không thấy nước nào bị phản đối. Rõ ràng là việc chống đối hay không chống đối chỉ là vấn đề chính trị. Các anh theo phe tôi thì tôi ủng hộ. Các anh có sai chút đỉnh thì tôi du di cho. Anh không theo phe tôi thì bé xé ra to, không có làm cho có, cái gì của anh tôi cũng chống. Đó là phản ứng "pavlov" đúng - sai đến từ chiến tranh ý thức hệ.
Chiến tranh ý thức hệ đã đi vào quá khứ. Việt Nam và Hoa Kỳ ngày càng thân thiện với nhau hơn, cho dầu Việt Nam vẫn nghi ngờ Hoa Kỳ đang tìm cách thay thế chế độ XHCN bằng một thể chế dân chủ đa nguyên. Thật vậy, qua diễn văn của TT Obama nhân ngày giỗ các Liệt Sĩ ở Washington vừa qua, ông này đề cao chính nghĩa của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam, ca ngợi các cựu chiến binh, tuyên dương tổ quốc ghi ơn những người đã đổ máu cho cuộc chiến này. Tin tức trên "báo blog" cũng cho biết nhiều nhân vật trong chính trường Hoa Kỳ có chủ trương lật đổ chế độ CSVN hiện nay. Nguyên nhân của các việc này, dĩ nhiên là hai chế độ chính trị "bất tương dung" của hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ. Dân chúng Hoa Kỳ chắc chắn sẽ không hài lòng khi ngân sách quốc gia (là tiền bạc của họ đóng góp) lại đem đi giúp cho một chế độ mà họ đã từng chống, từng có chiến tranh, những người Mỹ đổ xương máu đã được ca ngợi công lao cũng như chính nghĩa của cuộc chiến được vinh danh.
Tuy nhiên, trên bình diện bang giao quốc tế, Việt Nam hiện nay không có đối nghịch với ai, không là kẻ thù của ai, Việt Nam do đó không ai có lý do chống Việt Nam (ngoài Trung Quốc). Mặt khác, chủ trương đường cơ bản của Việt Nam lại có lợi cho Hoa Kỳ (nếu Việt Nam có nhiều ưu tiên cho nước này). Hoa Kỳ không có lý do nào để chống. Việc chống đối (nếu có) sẽ đơn thuần là một công việc của bộ ngoại giao.
Đường cơ bản. Nguồn: Atlas Géopolitique
des espaces martimes. Editions Technip.
Về hiệu lực các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hình như bộ Luật Biển Việt Nam áp dụng đúng theo tinh thần của bộ Luật quốc tế về Biển của LHQ. Theo báo chí trong nước, khoản 3 Điều 20 có nội dung: "Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các đảo, quần đảo được xác định theo quy định tại các điều 9, 11, 13, 15 và 17 của Luật này và được thể hiện bằng hải đồ, bản kê tọa độ địa lý do Chính phủ công bố." Chưa có gì để kết luận, nhưng e rằng bộ Luật Biển Việt Nam 2012 sẽ làm phật lòng nhiều "học giả" Việt Nam. Nếu áp dụng theo các điều của Luật quốc tế về biển, một số các đảo thuộc hai quần đảo này sẽ có hiệu lực về hải phận kinh tế độc quyền (ZEE) và thềm lục địa.
Một số "học giả" Việt Nam thuộc "Quĩ nghiên cứu biển Đông" có chủ trương thu hẹp hiệu lực các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cho rằng các đảo này là đảo đá, không có người sinh sống, do đó không có hiệu lực "đảo" như qui định chủa Luật biển 1982. Gần đây, nhóm này có viết một "Lời kêu gọi" bằng tiếng Anh, gởi đi đến báo chí các nước trong vùng, kêu gọi dân chúng các nước ủng hộ việc thu hẹp hiệu lực các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mục đích của "lời kêu gọi" là nhằm "hóa giải" đường "lưỡi bò" của Trung Quốc. Nhưng "hóa giải" đâu không thấy, phía Trung Quốc nhận ra đây là dấu hiệu nhượng bộ của Việt Nam, do đó lại càng lấn tới. Việc cắt cáp tàu Bình Minh II năm ngoái là một thí dụ điển hình.
Như đã nói, tranh chấp biển Đông là một tranh chấp về địa chiến lược. Một nước cờ thoái lui là tạo khoảng trống cho quân cờ định tiến tới. Mà khi cờ địch tiến tới thì quân cờ mình không còn đường rút lui. Khi các "học giả" Việt Nam ra tuyên bố về hiệu lực các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như một nước cờ thoái, thì sẽ không bao giờ điều chỉnh lại được. Cũng may tiếng nói của những người này không phải là tiếng nói của toàn dân Việt Nam. Bộ Luật Biển Việt Nam sẽ chứng minh điều này.
Vì thế, tôi cho rằng các ý kiến, các "lời kêu gọi" của các tổ chức, các học giả Việt Nam trong chừng mực đi ngược lại quyền lợi của đất nước Việt Nam. Chúng ta không tranh dành phần hơn với ai, không chủ trương chèn ép ai, chúng ta chỉ muốn sự công bằng được tôn trọng. Mà việc cụ thể để làm điều này là áp dụng đúng nội dung bộ Luật biển 1982 của LHQ. Các ý kiến của các "học giả" Việt Nam mà tôi vừa nói đều diễn giải sai nội dung của bộ luật Biển 1982 của LHQ.