06/26/12 - VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Bớt đi hai chữ… Nhân Dân

Đăng bởi Biên tập viên vào Thứ ba, ngày 26 tháng sáu năm 2012

Nhân đọc bài “Lặng lẽ ra khỏi đảng”, chợt giật mình, lo thay cho người rời đảng thì về đâu. Quan nhất thời, dân vạn đại. Làm dân thì làm tới cuối đời, không lo tăng chức, chẳng sợ mất chức, vừa sướng, vừa khổ.
Nhân dân. Ảnh: internet
Trước kia, nhiều nước trên thế giới họ hay nhấn mạnh từ Nhân dân trong các tên gọi của quốc gia, các tổ chức chính quyền hay xã hội, kể cả lực lượng vũ trang hay an ninh thường ăn theo.

Nay chỉ còn 5 quốc gia có People (nhân dân) là Trung Quốc, Bắc Triều tiên, Lào, Bangladesh và Algeria. Còn hầu hết có thêm chữ Cộng hòa (republic).

Quốc gia nào thêm chữ “nhân dân” trong tên gọi là y như khổ. Sang hỏi Lào, Trung Quốc hay dân Bắc Triều tiên là biết ngay.

Chính quyền Mỹ phi… nhân dân

Riêng nước Mỹ chẳng có Cộng hòa hay Nhân dân gì hết. Tên nước Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Quân đội gọi là USA Army, cảnh sát điều tra gọi là FBI, công an là police, gián điệp là CIA. Chính phủ gọi là Nhà Trắng, Quốc hội gọi là đồi Capitol.

Tòa án tối cao (Supreme Court) chỉ là..tòa án, vì gọi Tòa án Nhân dân chắc chỉ xử nhân dân, không xử cán bộ, trong khi tòa án Mỹ xử cả Tổng thống nếu phạm tội.

Nhân dân Mỹ chống chính phủ. Ảnh: HM
Từ chính quyền 50 bang và một tỉnh DC đến quận huyện chẳng thấy People đi kèm. Bang Texas đơn giản chứ không phải là Tiểu bang Nhân dân Texas. Bang Virginia, bang Maryland, tỉnh Washington DC là thủ đô đều thế cả.

Các hội đồng, tổ chức xã hội, nhân đạo các cấp không có people nốt.

Khổ thế, một quốc gia số một thế giới mà chính quyền các cấp không có nổi hai chữ “nhân dân”.

Không có people, chính quyền có “của dân, do dân và vì dân” hay không thì Tổng Cua chịu. Có lẽ cần vài trăm cuốn sách mới viết nổi.

Chính quyền Việt Nam đầy… nhân dân

Nước mình có bàn giao thế hệ hẳn hoi. Mới đẻ gọi là sơ sinh. Đi học vỡ lòng làm nhi đồng, hết tuổi nhi đồng thành thiếu niên tiền phong. Sau đó là đoàn viên nếu muốn. Ai may thành đảng viên. Ra đoàn, rời đảng, chỉ còn cách thành quần chúng, hay còn gọi chung là nhân dân.

Số đảng viên khoảng 3 triệu, số đoàn viên khoảng 6 triệu. Khối quần chúng đông đảo, khoảng 80 triệu người. Có lẽ vì thế mà đất nước này luôn có những từ kèm “nhân dân” rất đặc thù. Ít nhất là trong các tên gọi.

Ủy ban Nhân dân từ trung ương đến địa phương, Hội đồng Nhân dân các cấp.

Viện Kiểm sát Nhân dân và Tòa án Nhân dân.

Quân đội Nhân dân “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”

Cảnh sát Nhân dân, Công an Nhân dân “Đối với nhân dân, phải kính trọng lễ phép”

Rồi danh hiệu như Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Nghệ sỹ Nhân dân đến mảnh giấy nho nhỏ Chứng minh… Nhân dân.

Kể ra thì rất nhiều tổ chức, cơ quan chính phủ mang danh nhân dân. Chưa kể tờ báo Nhân Dân, Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân mà độc giả hướng tới là quân đội, công an, đảng viên.

Cứ như là không có nhân dân thì người ta không biết những lực lượng này không phục vụ quần chúng.

Đơn giản hóa các tên gọi

Hội nhập, internet, thông tin quá nhiều, cần ngắn gọn ngay cả trong cái tên. Để đỡ tốn mực in laser, giấy in, báo chí tiết kiệm từ ngữ, nói năng đỡ dài dòng, nghe lặp đi lặp lại từ “nhân dân” rất nhàm, hay quần chúng đỡ mang tiếng xấu, ta nên đơn giản hóa các tên tổ chức chính quyền hay xã hội.

Quân đội Nhân dân Việt nam – tại sao không gọi là Quân đội Việt Nam

Công an Nhân dân Việt Nam – Công an Việt Nam đơn giản hơn nhiều

UB Nhân dân Tỉnh – UB tỉnh, xã, huyện. Ủy ban Tỉnh Ninh Bình chắc là ngắn và đầy đủ hơn là UB Nhân dân tỉnh Ninh Bình.

Tòa án Nhân dân Tối cao – Tòa án Tối cao để đảm bảo không ai ngồi trên luật.

Và nhiều tên có từ “nhân dân” khác có thể viết ngắn lại mà không mất đi ý nghĩa “vì dân, do dân và của dân”.

Ai cũng biết, có hai từ đó hay không, các tổ chức và lực lượng này đều phục vụ nhân dân. UB Nhân dân Hành chính xã lại thành “hành dân là chính” thì càng không nên thêm hai chữ này vào.

Tại sao vậy. Vì rằng dân cũng sướng và… khổ lắm rồi.

Nhân dân gánh vác trọng trách và cả lỗi lầm

Quần chúng mang vác rất nhiều trọng trách, nhỏ thì tầm địa phương, lớn hơn là tầm quốc gia, xa hơn là khu vực, không kể cả vai trò nhân loại. Đôi lúc cũng sướng như các chân dài trên bãi biển dưới đây. Lúc nào đói kém, bán vài cái, vừa sướng vừa kiếm ối tiền.

Dân mình cũng sướng. Ảnh: TPO
Thời chống Mỹ, chống Pháp, chúng ta là nhân dân mang trên vai sứ mệnh lịch sử, phải chiến thắng mọi kẻ xâm lược, từ nhỏ đến to, từ mạnh đến yếu.

Chiến tranh với Campuchia, và Tầu, lời kêu gọi bảo vệ Tổ quốc được vang lên “Một lần nữa, sứ mệnh lịch sử lại giao phó cho nhân dân ta đánh bại chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh”.

Đến nỗi, người ta tự hỏi, lịch sử là thằng nào mà toàn giao cho quần chúng toàn sứ mệnh…khó thế.

Khi chiến thắng, được nghe những câu “vẻ vang này thuộc về nhân dân”, mất mát cũng thế “sự hy sinh xương máu cao quí này thuộc về nhân dân”.

Đôi lúc lỗi lầm, bất cập của chính quyền cũng thuộc về số đông này.

Văn hóa xuống cấp là các bác trên đổ luôn cho dân trí.

Giao thông lộn xộn, anh La Thăng nói đó là dân ý thức kém, Bộ Giao thông chẳng có trách nhiệm.

Kiến trúc tạp nham do dân trình độ thấp, không biết thiết kế nhà cửa cho ra hồn.

Nói bậy, chửi thề, toàn do dân hết.

Tham nhũng hối lộ cũng tại đám dân đen, chứ quan nào lại nhận tiền của người nghèo, họ cứ nhét vào tay, chả lẽ không nhận.

Nhớ vụ phá đổ cái lều trông cá của anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên lãng, đại tá Ca thản nhiên nói “đó là do nhân dân bức xúc phá”. Sau này người ta hiểu “nhân dân” không phải là… nhân dân.

Kết luận về việc cưỡng chế ở Văn Giang, Tiên Lãng và nhiều nơi khác, có nhiều sai lầm, nhưng chính quyền địa phương vẫn khẳng định “được nhân dân đồng tình ủng hộ”.

“Nhân dân” ở đây là mấy ngàn cảnh sát vũ trang, quân đội, đại gia giầu có, nhân dân thật thì bị cưỡng chế mất đất.

Đất cát chiếm xong rồi, chỉ có số ít “nhân dân” có tiền mua biệt thự, văn phòng trong đó. Còn “đại bộ phận nhân dân là tốt” đứng ngoài hàng rào nhìn cùng với “quân đội nhân dân, công an nhân dân” vì họ giải ngũ rồi cũng thành…quần chúng

Ở nước mình làm gì tốt xấu đều mang danh chung chung như thế. Kể cũng khổ, dân có tiếng không có miếng.

Vì thế, xin các vị hoạch định chính sách, các nhà chính trị, nhà trí thức, văn hóa khi định đặt tên cho tổ chức nên bỏ chữ nhân dân đi, mà chỉ cần thực hiện đúng lời hứa, chính quyền là “của dân, do dân và vì dân”, thế là phúc cho quần chúng lắm rồi.

25-06-2012

© Hiệu Minh
Theo blog Hiệu Minh

---------------------------

Đọc thêm: Tôi có phải là Nhân Dân không? (Blog Anh Vũ)


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Hoàng Đức Doanh - Cảm nhận con đường Việt Nam

Thời gian vừa qua cư dân mạng xôn xao về Phong trào Con đường Việt nam của ông Lê Thăng Long đại diện cho nhóm Thức, Định, Long khởi xướng.

Bloger Huỳnh Ngọc Chênh có bài Con đường của chúng ta còn nói rõ hơn. Cụ thể hơn và khẳng định: Con đường của chúng ta nhiều người, nhiều nhóm người đang đi, họ đi theo cách riêng của họ nhưng lại về chung một đích đó là quyền con người, thường gọi là Nhân quyền được ghi trong 30 điều công ước của Liên Hợp Quốc mà nước Việt nam cũng đã ký.
Änh minh họa, nguồn Internet
Trong Con đường VN có một điểm mà nhiều ý kiến trái chiều, gây nên nghi ngờ là việc mời cả đảng viên cộng sản tham gia, rộng rãi hơn đồng hành cùng c/s?

Vấn đề này cũng giống như mấy chục năm qua có nhiều ý kiến phê phán tư tưởng dân chủ của cụ Phan Chu Trinh biểu hiện ở phương châm : Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh. Quan điểm của cụ Phan là hợp tác với Pháp để thực hiện phương châm đó, rồi sau sẽ giành độc lập. Các lý lẽ phê phán cụ Phan rất thuyết phục, mọi ý kiến đều dẫn về một kết luận : Giao chứng cho ác (quạ). Tuy rằng thuyết phục nhưng vẫn chỉ là lý thuyết, còn thực tế thì sao?

Ai cũng biết, các nước lân cận với chúng ta cách đây hơn thế kỷ hầu hết là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, vậy mà ngày nay tất cả đã giành được độc lập. Lấy Thái lan làm ví dụ, cách thức dành độc lập của họ đúng như phương châm của cụ Phan. Cho nên quan điểm đồng hành với Pháp để nâng cao dân trí không thể nói là sai lầm!

Vậy thì Con đường VN đồng hành cùng c/s có thể chấp nhận được bởi vì Nhân quyền là đích tất yếu. Hiện nay giới cai trị đang khống chế Nhân quyền là bởi truyền thống độc tài của c/s, đúng với câu: c/s không thể thay đổi, chỉ có thể đạp đổ. Nhưng thời kỳ làm mưa, làm gió của c/s đã qua, bây giờ còn vài nước lực lượng tương quan đã vào thế yếu ớt cho nên c/s đã thay đổi phương thức cai trị cũng như điều chỉnh mục tiêu, chấp nhận nền kinh tế tư bản.

Một lý do nữa phải chấp nhận là, nếu đối lập với c/s thì sẽ bị tiêu diệt từ khi còn là trứng nước, ngay khi vừa nhú mầm. Cho nên cách phù hợp là cộng tác với những đảng viên phản đối độc tài ( có thể lúc tại chức bắt buộc họ phải độc tài). Vẫn nên nhớ mục tiêu mà đạt được là rất lâu dài, không thể đốt cháy giai đoạn được. Muốn nhanh thì chỉ dùng bạo lực, mà dùng bạo lực chỉ có thể thay đổi thể chế chứ chưa thể nâng cao dân trí theo hướng hiểu và thực thi Nhân quyền, mà Nhân quyền là cốt lõi của xã hội dân chủ. Thời đại văn minh bạo lực luôn bị lên án, dân chúng chán ghét, căm thù bạo lực.

Hiện trạng VN vẫn là nước bị quốc tế chỉ trích, phản đối hoặc xếp vào loại kém về Nhân quyền. Nếu căn cứ vào hiến pháp có nói đến tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do biểu tình..v..v.. nhưng xuống đến các bộ luật thì lại bị ngăn chặn từng phần, thất vọng hơn nữa là thi hành công vụ theo luật bất thành văn vẫn xảy ra thuộc nhiều lĩnh vực đặc biệt nghiêm trọng là ở ngành công an. Cư dân mạng gọi tắt là: Luật là tao, Tao là luật. Cấm báo tư nhân, ngăn chặn internet, độc quyền thông tin hay là trấn áp những người dân mà họ chỉ sử dụng quyền cá nhân mà VN đã cam kết là thêm bằng chứng về vi phạm Nhân quyền tại Việt Nam. Ba lần sửa hiến pháp là 3 lần tước đoạt Nhân quyền.

Kể từ khi Nhân quyền được quốc tế hoá c/s độc quyền thông tin, nghiêm cấm đa truyền thông nên dân chúng không được tiếp cận, chỉ trừ một số ít như Cù Huy Hà Vũ và những người hoạt động dân chủ khác, còn hầu hết dân chúng không biết bởi vì c/s luôn bưng bít. Nhưng mà dân chủ quảng bá bì bị quy chụp tội tuyên truyền chống pháp nhà nước cho nên Nhân quyền vẫn là thứ xa vời đối với đa số dân chúng.

Nhận thức được điều đó, nhóm Thức, Định, Long đã khởi xướng Con đường VN từ 2006 dựa vào phương châm Khai dân trí, Chấn dân khí.... Có một thực tế xét theo số liệu thống kê bình quân đầu người đã học qua lớp học, cấp học của VN là cao, nhưng không đồng nghĩa với dân trí cao. Việt nam giành được độc lập ngót thế kỷ mà dân trí dường như rất thấp cho nên có những ý kiến nhận xét rất đúng ví dụ như: Đạo đức xã hội xuống cấp, chúng ta đang sống trong một xã hội vô cảm, một không gian sợ hãi... Nhân quyền không ngoài dân trí thấp, dân khí khiếp sợ cho nên “sống chết mặc bay” Điển thứ 3 về dân sinh thì khỏi phải bàn, xem trên mặt báo chỗ nào cũng thấy cướp,giết, hiếp rồi bán dâm, rồi bức xúc trên nghị trường quốc hội, lạm phát gia tăng, sản xuất trì trệ, đời sống dân nghèo điêu đứng là thấy rõ nền kinh tế, xã hội Việt nam.

Lúc đầu khởi xướng cả nhóm đều là trẻ tuổi nên không tránh khỏi sự ngây thơ, bỡ ngỡ, non kém về chính trị nên 3 ông đã phải trả giá với hơn 20 năm tù.

Nói đến một xã hội dân chủ thường là quan tâm đến nhiều chỉ tiêu khác nên ít ai nghĩ đến đa số người dân được sử dụng Nhân quyền một cách công khai, không sợ sệt là điều cốt lõi. Xã hội đa đảng mà dân chúng chưa hiểu quyền của mình thì nội chiến là khó tránh khỏi, c/s lo xa là có cơ sở. Khi Nhân quyền được bảo vệ, được công khai, được tôn trọng thì bất kể kẻ nào cầm quyền mà không vì dân tức thời sẽ bị lật đổ, cho nên Nhân quyền đúng là nền tảng của xã hội dân chủ. Một xã hội văn minh như những nước tiên tiến đã thực chứng.

Đến hôm nay chắc nhiều người đồng tình với Con đường VN của nhóm Thức, Định, Long. Tương lai đang đòi hỏi mọi người nỗ lực, dân tộc Việt nam sẽ là quốc gia dân chủ.

Ngày 26/06/2012
© Hoàng Đức Doanh - VAOL

———————–
Bài viết do tác giả gửi – BBT.VANGANH biên tập và minh họa…
———————–


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Công Nghiệp Nặng Thời Đại: Mài Lưỡi Gỗ

thằng cuội ngồi gốc cây đa
giận mình dối chú lừa cha thua người
mà mang tiếng xấu đời đời
trong khi thầy nó bao người hoan hô
thơ Nguyễn Hữu Nhật
Lê Doãn Hợp nhất định là một danh nhân. Bởi đã tuôn rất nhiều danh ngôn.

Chưa ai quên định nghĩa “Quản lý là quản có lý”. Hay định danh “Giáo trí – Cuộc cách mạng đầu tiên để nâng cao dân trí”. Hay định hướng “Làm kinh tế bằng văn hóa” (các bộ trưởng đều thành doanh gia bán bằng/ghế/giấy phép). Hay, định tính cho bộ máy công quyền là “Chậm, Chờ, Chán, Chạy”. Hay, định vị bản lĩnh chính mình là “Tâm, Trí, Tín, Tình”. Hay, định lượng tự thân: “Lương là của vợ – Nhà là của con – Sức khỏe là của mình”. Hay, định giá “Cán bộ thì cần có 4 chịu và 4 biết: Chịu học, chịu đọc, chịu nghe, chịu đi; Biết viết, biết nói, biết làm, biết điều”. Hay, định thức thời đại: “Phụ nữ Việt Nam có hai thiên chức quan trọng nhất là làm Vợ và làm Mẹ”. Hay định luật Báo Chí Có Lề buộc báo chí phải chấp hành luật giao thông trên con lộ truyền thông… với định suất 10 chữ “Trung thực, Nhanh nhạy, Dũng cảm, Sáng tạo, Hướng thiện”.

Mài Lưỡi Gỗ
Từ phát biểu lúc nhậm chức bộ trưởng 4T: “Tôi hạn chế việc đứng ngoài báo chí để quản lý báo chí”, với “Quyết tâm làm Bộ Thông tin và Truyền thông sáng giá”.

Cho tới phát biểu nhân ngày phục viên: “Tôi vinh dự được Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương cho thôi chức danh Bộ trưởng khi tín nhiệm trong đội ngũ cán bộ chủ chốt của toàn Ngành Thông tin và Truyền thông dành cho tôi đang ở đỉnh cao (93%)”.

Gần nhất là khẳng định báo chí “không có vùng cấm nào, chỉ có báo chí ngại không vào mà thành vùng cấm”.

Đây là một phê bình sâu sát về 2 chữ Dũng Cảm trong định suất 10 chữ nói trên. Tiếc quá, với ngần đó phát biểu, danh nhân Lê Doãn Hợp lẽ ra không nên lấy làm vinh dự quay về vui thú điền viên mà phải vào BCT thay vì Tô Huy Rứa.

Bởi, cứ theo đó, thì không còn nghi ngờ gì nữa, là ngoài những tay có thẻ Hội nhà báo mà dám chơi blog và facebook, thì hơn vạn rưỡi nhà báo còn lại đều …thiếu dũng cảm.

Như Tổng biên tập (Tuổi Trẻ) Kim Hạnh, chỉ vì đăng bản tin nói về bài thơ của Lý Thụy gửi người vợ Tàu là Tăng Tuyết Minh mà bị “trên” rút thẻ. Là thôi.

Như phóng viên Lan Anh (Tuổi Trẻ), điều tra và viết phóng sự Giá thuốc cao: người dân chịu đựng đến bao giờ? để cố tìm nguyên nhân của hiện tượng giá thuốc tây “ở trên trời”, nhưng khi vừa chạm đến các đường dây “cũng trên trời”, thì lập tức bị truy tố về tội danh “chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước”. Là bị bắt. Và sau đó, bị xử lý biện pháp hành chính.

Như vụ án Năm Cam, báo chí lần từng nút thắt các đường dây chằng chịt từ Cao Duy Phước, Triệu Quốc Kế, Lê Thanh Đạo, Nguyễn Mạnh Trung, Võ Hoàng Thúy, Dương Minh Ngọc, Phạm Sỹ Chiến, Trần Mai Hạnh, lên tới cấp thứ trưởng UV/TWĐ là Bùi Quốc Huy… thì được lệnh “trên” bảo ngưng ngay ở “giai đoạn 1”. Là ngưng.

Như vụ án PMU18, hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến (Thanh Niên) và Nguyễn Văn Hải (Tuổi Trẻ) đã lãnh án tù vì thọc ngòi sâu sát vào quá trình điều tra lần dây động rừng. Sau đó, các báo đã nhận được chỉ thị không được tiếp tục đăng về vụ việc. Là dừng. Báo Pháp Luật (thuộc Bộ Tư Pháp) và Báo Đại Đoàn Kết (thuộc Mặt trận Tổ quốc) rán thêm vài bài ém sẵn, đều bị kỷ luật cảnh cáo. Là dừng thật.

Như trường hợp nhà báo Đoan Trang, bị bắt với tội danh “vi phạm an ninh quốc gia”, căn cứ vào nội dung các bài viết đăng trên blog TrangRidiculous: Bài Ném đá hội nghị; bài Tóm lược hội thảo khai thác bauxite Tây Nguyên ; bài Phim hành động: Nhiệt liệt hưởng ứng cuộc thi toàn quốc viết về biển, đảo VN … Thế là Tổng biên tập nhận chỉ thị của “trên” bảo nhà báo có đầy đủ định suất 10 chữ kể trên phải rời VietnamNet.

Như vụ án nhà báo Hoàng Khương (Tuổi Trẻ) làm một phóng sự lẻ về nạn tham nhũng dày đặc trên các tuyến giao thông, và bị truy tố về tội “đưa và nhận hối lộ” trong quá trình tác nghiệp. Là ra tòa.

Vân vân…

“Ai đó đã nói về ‘chiến dịch’ đưa tin của báo chí trong và sau các vụ Tiên Lãng, Văn Giang như sau: ‘Một cuộc vật lộn để được nói sự thật’. Thực tế còn hơn thế nữa: Một cuộc vật lộn để được biết sự thật, để được viết sự thật, và để được khách quan (tất nhiên cũng chỉ dám mong ở mức độ tương đối)… Tệ hơn nữa là chuyện ấy lại diễn ra cùng với đây đó những mệnh lệnh (miệng) yêu cầu báo chí ‘hạn chế đưa tin’…” – TrangRidiculous.

Dường như độc giả chưa kịp đặt vấn đề Dũng Cảm đối với các nhà báo bút sắc, theo kiểu danh nhân Lê Doãn Hợp định nghĩa. Lý do là vì độc giả còn đang loay hoay với biết bao nỗi hoang mang về những điều khó tin khủng khiếp hơn:

Do đâu mà có tờ công văn Tối Mật lệnh cho: 1) Sở Thông tin và Truyền thông tiến hành xử phạt hành chính Blogger Nguyễn xuân Diện; 2) Viện khoa học xã hội Việt Nam chỉ đạo tiến hành kiểm điểm, có hình thức xử lý theo luật Viên Chức; 3) Bộ Thông Tin và Truyền Thông đóng blog cá nhân của Nguyễn Xuân Diện; 4) Bộ Công an tấn công nghiệp vụ nhằm vô hiệu hóa, hạ thấp uy tín đối với Nguyễn Xuân Diện để xử lý về hình sự khi cần thiết ?

Do đâu mà báo chí (và cả QH) không được chạm tới các dữ kiện động trời Vinashine & Vinalines?

Do đâu mà những chiến hạm ngụy trang trên Biển Đông đâm chìm tàu cá ngư dân ta được toàn thể báo chí gọi đích danh trong đồng phục là… “tàu lạ”?

Do đâu mà mọi văn kiện/bản đồ về các hiệp ước biên giới hải đảo được ký kết từ 1999 đến nay vẫn chưa được công khai hóa trên báo đài cho công chúng nghe/đọc/tham khảo?

Do đâu mà những bản tin có liên hệ đến thiên triều đều lần lượt bị cấp tập gỡ xuống?

Do đâu mà Luật Biển được QH thông qua nhưng không được báo chí đăng tải đại trà?

Do đâu mà có đến ba ủy viên Bộ chính trị (Đinh Thế Huynh/Phùng Quang Thanh/Trần Đại Quang) đã đồng nhịp dõng dạc yêu cầu báo chí phải giữ đúng ‘định hướng chính trị’ nhân ngày nhà báo Việt Nam 21/6 năm nay?

Vân vân…

Các nhà báo nhà đài nghĩ sao, một khi nhìn rõ hầu hết những sự kiện kể trên xảy ra ngay trong thời danh nhân Lê Doãn Hợp còn tại chức và vừa mới vinh dự được thôi chức?

Các nhà báo nhà đài sẽ nghĩ thêm thế nào, một khi danh nhân Lê Doãn hợp còn cố trào ra thêm một danh ngôn khác, mới đây: “Một thiết chế chính trị mà báo chí đủ uy trước tiêu cực là thiết chế chính trị tuyệt vời”?

Những nhận định từ “không vùng cấm” đến “chưa tuyệt vời” này có liên hệ gì với nhau, ngoài cái lưỡi gỗ mới mài?

Trong lãnh vực công nghiệp nặng thời đại, nếu Google có công năng dịch thuật ra tiếng Nôm (na), thì nhiều phần cặp danh ngôn sóng đôi này của nguyên Bộ trưởng TT-TT Lê Doãn Hợp sẽ có chung (ẩn) nghĩa Thật (thà) là:

Bố khỉ nó deck đứa nào dám đào tới hố xí của đảng! Ặc! Ặc!

***

Mặc cho hàng trăm Youtube Clips còn đang hoạt động trên mạng…

Mặc cho hàng trăm, dễ là nhiều trăm bài tường thuật/nhận định/phân tích/tổng hợp về tình hình công an đánh dân đổ máu, gãy cổ què tay, đi viện cấp cứu… thậm chí bắn dân xuyên xương chậu, thủng bụng, đứt ngón, thả cho về nhà chết, bỏ mạng ngay trong đồn công an rồi báo cáo tự tử âm thầm hay tự tử mà có để lại thư tuyệt mệnh hoan hô bác Hồ v.v…

Mặc, máy mài lưỡi gỗ vẫn chạy đều trong khu công nghiệp mài lưỡi gỗ. Át cả tiếng rên la:

Ủy viên BCT, Thượng tướng Bộ trưởng Bộ công an kiêm Đại biểu QH Trần Đại Quang vẫn trịnh trọng đằng hắng trước khi gằn giọng: “Công an không cưỡng chế giải phóng mặt bằng, chỉ bảo đảm an ninh trật tự cho các đợt cưỡng chế”.

Cũng vậy, đám thường phục và đầu gấu mang băng đỏ đánh dân tơi tả thì được mệnh danh là “giữ trật tự”.

Còn ngược lại, mỗi khi nông dân phải tự vệ trước đám thường phục và đầu gấu thì bị bắt ngay về tội “chống người thi hành công vụ”.

Há chẳng phải là máy mài lưỡi gỗ quá bén đó sao?

***

Chưa hết: Blogger Điếu Cày biểu tình chống TQ thì trở thành một trong những người VN đầu tiên và rất hiếm bị bắt tù về tội trốn thuế cho thuê nhà (400.534.062 đồng), đến khi mãn hạn tù thì bị chồng thêm án khác mà không cần ra tòa và cũng không một thân nhân nào được gặp. Trong lúc Cục trưởng Cục hàng hải Dương Chí Dũng “làm thất thoát” hàng nghìn tỷ đồng, “gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho nhà nước, có tính chất phức tạp, gây nhức nhối trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến uy tín của chính phủ Việt Nam” thì đã nhanh chóng đào thoát…

Bộ trưởng Bộ công an kiêm Đại biểu QH Trần Đại Quang tuyên bố: “Cơ quan cảnh sát điều tra cần kiểm điểm, rút kinh nghiệm về công tác nghiệp vụ”.

Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng nhấn mạnh: “Việc bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng giữ chức cục trưởng Cục Hàng hải là đúng quy trình”.

Thứ trưởng Bộ GTVT Lê Mạnh Hùng phân trần: “Khi ông Đinh La Thăng về bộ chúng tôi vẫn thấy ông Dương Chí Dũng bình thường, cho nên lúc bổ nhiệm chưa nghe mùi khét của cơm khê, chứ đã nghe thấy mùi khét thì ai làm”.

Ủy viên thường trực Ủy ban Pháp luật QH Ngô Văn Minh nhận định: “Ông Dương Chí Dũng từ chỗ làm chủ tịch hội đồng thành viên (HĐTV) Vinalines sang làm cục trưởng Cục Hàng hải là thuyên chuyển cán bộ chứ không hẳn là đề bạt. Nghĩa là không phải lên chức”.

Cục trưởng Cục Chống tham nhũng, Trưởng đoàn thanh tra Hoàng Đức Vinh cho biết “Hoàn toàn không có bất cứ trao đổi nào” với hai bộ GTVT và Nội vụ về việc bổ nhiệm Dương Chí Dũng trong lúc đang thanh tra tại Tổng công ty Hàng hải VN (Vinalines).

Nghĩa là không một ai trách nhiệm.

Há chẳng phải là công nghiệp nặng chuyên mài lưỡi gỗ đang hoạt động trên cả tuyệt vời đó sao?

***

Đã có thời, người biểu tình ở Hà Nội trưng một biểu ngữ vô cùng bắt mắt. Đó là trang báo Thanh Niên phóng lớn đăng lời tuyên bố của Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh, Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh II – Bộ Công an, kiêm Giám đốc Công an Hà Nội in đậm: “Không chủ trương trấn áp người biểu tình yêu nước”.

Ngày 2-8-2011, tại cuộc họp giao ban báo chí của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, trung tướng CA Nguyễn Đức Nhanh đã trả lời về sự việc một số người tập trung biểu tình tự phát phản đối Trung Quốc gây hấn tại biển Đông ngày 17-7-2011 đã bị lực lượng công an thành phố đàn áp thô bạo rằng: “Đây là những cuộc biểu tình yêu nước tự phát, cho nên các cấp và Công an Hà Nội không có chủ trương trấn áp, bắt giữ người biểu tình tự phát. Do phải bảo vệ các đại sứ quán và bảo vệ an ninh trật tự trên địa bàn TP, nên lực lượng Công an Hà Nội kiên trì vận động, giải thích, thuyết phục người biểu tình rời xa khu vực Đại sứ quán Trung Quốc. Lực lượng công an không bắt giữ người biểu tình, chỉ đưa một số người lên xe buýt về đồn công an để giải thích”.

Thế là rõ: Đại úy CA Phạm Hải Minh không có chủ trương đạp vào mặt người biểu tình đang bị 4 công an khác khiêng quăng lên xe buýt.

Tướng Nhanh nêu bật nỗi băn khoăn không rõ đoạn video clip đó “có bị cắt dán hay không”.

Như vậy chỉ còn vài xác suất có thể xảy ra: 1) Đồng chí nạn nhân tự hất mặt vào đế dép của CA, cứ bật ra thì lại hất mặt lần nữa vào đế dép của CA Minh, cả thảy 4 lần; 2) CA Minh đang bước xuống đường chùi dép thì gặp đúng ngay mặt nạn nhân, và chỉ chùi có đúng 4 lần, không hơn, không kém; 3) CA Minh đã kiên trì 4 lần vận động thuyết phục nạn nhân rằng trong nhiều trường hợp, yêu nước và dập mặt không xa nhau nhiều…

Tuần kế tiếp đó thì hầu hết những người biểu tình đều có dịp cùng hô khẩu hiệu trên xe buýt, được đưa về nhiều đồn CA khác nhau ở ngoại thành, chỉ vì CA muốn biết rõ từng người xem có phải đúng là nhân dân yêu nước không, hay là người nước ngoài yêu nước họ mà lại tụ tập ở thủ đô này…

Thế cũng rõ nốt: Công nghiệp nặng thời đại đang chạy hiệu quả và gần hết công suất.

***

Đập Sông Tranh 2 bị nứt!

Từ đầu tháng 3 năm 2012 khi nước phun ra như suối trên mặt hạ lưu đập, EVN ra sức trám bịt các miệng phun này. Hành động này không phải là sửa chữa đập mà là phá hoại đập. Bởi khi ra sức bịt miệng phun, có nghĩa là cố tình giữ nước lại trong thân đập. Nước đó sẽ làm hỏng bê tông thân đập! EVN khẳng định nước thấm qua khe nhiệt. Nghĩa là các tấm đồng dạng Ô-mê-ga, bịt khe nhiệt, được lắp đặt từ đỉnh đập đến đáy đập phía thượng lưu đã bị hỏng. Như vậy, mỗi tấm đồng bị hỏng (thủng, rách) dù chỉ 1 cm vuông thôi, thì hiện nay toàn bộ khe nhiệt đã chứa đầy nước rất nguy hiểm.

Sau khi Chính phủ chỉ đạo xả nước, EVN đang tiến hành bịt các vết nứt trên mặt thượng lưu của đập. Việc này là hoàn toàn cần thiết, nhưng chưa đủ. Điều đáng lo lắng hơn nhiều là EVN không nói đến việc tìm kiếm khe nứt, tìm kiếm khoảng trống trong thân đập, xử lý khe nứt khoảng trống, xử lý lượng nước nằm trong đó, kể cả xử lý lượng nước nằm trong khe nhiệt, cũng không thấy nói đến việc kiểm tra và xử lý nền đập.

Trích báo VietnamNet 7-5-2012.

Tiến sĩ Bùi Trung Dung, Phó cục trưởng Cục kiểm định chất lượng công trình xây dựng thuộc Hội đồng thường trực Hội đồng Nghiệm thu Nhà nước – Bộ Xây dựng – sau khi đi kiểm tra, đã đưa ra một số nhận định ban đầu: “Đập vẫn đang vận hành an toàn đúng như thiết kế nhưng việc để nước thấm ra ngoài thân đập gây phản cảm và yêu cầu thủy điện Sông Tranh 2 đưa nước về lại để không gây phản cảm nữa”.

Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My thì ngạc nhiên: “Tại sao trước đây nước chảy ào ạt thì giới hữu trách khẳng định là 30 lít/giây, còn bây giờ nước ít chảy lại khẳng định là 75 lít/1giây?”.

Báo cáo với Đoàn giám sát của QH ngay tại hiện trường, đại diện EVN vẫn khẳng định “Đập Sông Tranh 2 an toàn, mặc dù nước vẫn tuôn chảy phía hạ lưu thân đập chính”.

Lại thêm một sự cố khó lý giải: Ai đã thuê “dân tự phát” ném đá, chận đánh các ký giả mon men đến chụp hình?

Tức là vừa đổ lỗi qua lại, vừa đá lỗi vòng quanh, lại vừa có biện pháp bịt miệng công chúng.

Chẳng phải là công nghiệp mài lưỡi gỗ đang “phủ sóng” khắp nơi đó sao?

***

Vẫn chưa hết chuyện Vinashin & Vinalines.

Theo VietnamNet, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố ở Hội nghị tổng kết 10 năm sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 rằng: “Tôi nhận trách nhiệm chính trị với tư cách người đứng đầu Chính phủ, chứ tôi cũng không ra quyết định nào sai”.

Cũng theo tường thuật của VietNamNet, Nguyễn Tấn Dũng đã trần tình rằng “Chưa hề quyết định một trường hợp cán bộ nào” liên quan tới các lãnh đạo của tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước.

Câu hỏi nảy sinh từ đó là: Ai chịu trách nhiệm các quyết định sai về các tập đoàn khủng vỡ nợ nói trên? Ai buôn ghế mà không báo cáo cho thủ tướng? Ai bổ nhiệm các tổng giám đốc? Nguyễn Thanh Phượng, hay Nguyễn Xuân Phúc, hay Hoàng Trung Hải, hay là… cậu đánh máy?

Theo đúng quy luật của ngành công nghiệp nặng thời đại: Không ai cả.

***

Có nên bình bầu một giải vô địch lưỡi gỗ chăng?

Rất nhiều xác suất huy chương vàng quán quân lưỡi gỗ sẽ lọt vào tay đương kim Đại sứ VN tại Mỹ, nguyên Thứ trưởng thường trực bộ Ngoại giao kiêm Trưởng đoàn đàm phán biên giới Lê Công Phụng, với tuyên bố: “Lẽ ra theo thực tiễn thì chúng ta chỉ được 1/3. Nhưng sau đàm phán, chúng ta và bạn đã thỏa thuận thác Bản Giốc được chia đôi, mỗi bên được 50%” (trả lời phỏng vấn của phóng viên VASC Orient ngày 28/01/2002). Và ta được bạn nhường cho phần tốt nữa!

Trong lần trả lời phỏng vấn của nhà báo Lý Kiến Trúc, Lê Công Phụng khẳng định: “Mục Nam Quan là cái ải để quan sát phía Nam cho nên Trung Quốc nó xây để quan sát phía Nam, chư hầu của nó trước đây”. Tức là không phải của VN. Rồi “tâm tình” thêm trước khi chia tay, rằng: “Bây giờ Trung Quốc ngày càng phát triển mạnh, mình không ngăn người ta đừng mạnh được, thì mình phải học cách sống được với người ta, bên cạnh một nước mạnh. Và cũng nói thật với các vị là có vấn đề gì phức tạp với Trung Quốc, thì mình đâu có yên được”.

Không một ai ngạc nhiên là nguồn sông chảy ngang thác Bản Giốc có tên là Qui-Thuận.

Cũng không một ai ngạc nhiên khi biết toàn bộ hệ thống máy mài lưỡi gỗ có đóng dấu/dán tem Made-in China.

Đặc biệt, cũng sẽ là chuyện bình thường, một khi toàn bộ 14 lưỡi gỗ bén nhất Hà Nội đồng loạt tuyên bố: Nhân kỷ niệm ngày giỗ Phục Ba Tướng Quân Mã Viện, nhân dân tỉnh Việt Nam ta, sau hơn 2000 năm lưu lạc, nay lại sung sướng trở về nằm trong lòng mẹ Trung Quốc.

Lúc đó người dân VN sẽ tự đánh giá là dân tộc “Hạnh Phúc Đứng Đầu Thế Giới” chứ không phải xoàng xĩnh hạng nhì như hôm nay.

Há chẳng phải đó là thành quả phi thường của nền công nghiệp nặng thời đại đó sao?

***

Nguyễn Ngọc Tư có một tản văn rất dễ thương tựa là Mảnh Vá Cũ, viết về những người thợ dạo vá soong nồi, vá lu khạp, vá dép đứt, sửa bếp gas, và mài dao kéo. E rằng những con người đó đã tuyệt tích thời nay. Không thể nào cạnh tranh nổi với công nghiệp nặng thời đại: Mài lưỡi gỗ. Mỏng và sắc đến mức vô tư/vô duyên/vô khối/vô chừng/vô hồi/vô lối/vô ơn/vô tri/vô thức/vô cảm/vô can/vô hậu/vô đạo/vô sỉ/vô loài, và vô địch về môn… vô lại.

24-06-2012 – Kỷ niệm 24 năm Họa sĩ Bùi Xuân Phái tạ thế.

© Đinh Tấn Lực
Theo blogger Đinh Tấn Lực


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Nhàn đàm về trò nhân cách hoá người đã cắm cờ trên Dinh độc lập ngày 30/04/1975

Tối nay lên mạng muộn khuya, biết vừa hôm nay chú Bùi Quang Thận đã qua đời, cảm động tâm tư có đôi dòng nghĩ ngợi.

Vào những năm đầu thập niên 80 thế kỷ 20, sách giáo khoa cũng như giáo án giảng dạy cho học sinh rất ưu ái cho bài giảng về sự kiện ngày 30/04/1975 xe tăng T54 của lực lượng gọi là quân giải phóng ầm ầm tiến vào Đô thành Sài Gòn, đã húc đổ ngay tức thì cánh cổng Dinh Độc Lập, xông vào phòng Tổng thống đứng nghiêm dõng dạc hô vang trước nội các Dương Văn Minh, và treo cờ trên nóc Dinh, xem đó là cột mốc ghi dấu không chỉ là sự chiến thắng của một lực lượng, mà hơn hết là như muốn khẳng định bằng chứng sinh động sự chiến thắng của một hệ tư tưởng Chính trị đương thời "dân chủ gấp vạn lần tư bản" áp dụng thành công vào các dân tộc từng bị thực dân dô hộ. Tất nhiên hơn hết và xuyên suốt là sự vênh mặt nhau giữa 2 cực của Chiến tranh lạnh của thế giới bấy giờ.
Ông Bùi Quang Thận (cầm cờ) tại dinh Độc Lập ngày 30/4/1975
Quá quan trong như thế trong bối cảnh như thế nên khi quan chức giáo dục cấp thẩm quyền về dự đánh giá các trường, Đảng uỷ trường thường chỉ đạo lớp được chọn cho quan chức dự tiết giảng, phải chọn bài về ngày 30/04/1975 việc cắm cờ. Học sinh bị ép học như đã thuộc làu trước. Và câu chuyện lịch sử thì tất nhiên quá hoành tráng, nào là ông Thận từ trên xe tăng nhảy xuống chạy thẳng lên phòng Tổng thống, nào là Nội các thấy ông Thận vào liền sợ quá bật dậy như cái lò xo, nào là ông Thận nói Ngụy quyền đã sụp đổ hoàn bởi các cuộc tấn công và nổi dậy của toàn quân và nhân dân...

Bài giảng thuộc làu như thế, học sinh tuổi măng non nghe như chuyện trận giả, mê lắm, nhanh thuộc là phải, số con em gia đình Đảng viên CS và kể cả số học sinh là con em của số cha mẹ chế độ cũ vừa mới bại trận mấy năm trước, vì thấy như trò chơi con trẻ nhanh đánh nhanh thắng nói năng hùng hồn oanh oách giọng vang. Nào đâu, trong tâm trí bọn trẻ học sinh thế hệ ấy khi đó, có được dạy dẫu cho khái niệm đơn sơ thôi cho biết được rằng Liên hiệp quốc là gì, thế giới Lưỡng cực là gì, Quốc gia được Liên hiệp quốc công nhận lại bị gọi là Ngụy bởi phe đã gọi phe kia là Ngụy đó chỉ là phần lãnh thổ có vài nước công nhận là quốc gia nhưng Liên hiệp quốc lại không công nhận.

Ít nhất cả một thế hệ 7X đời đầu bị "chém gió" về lịch sử.

Oái ăm thay, trên số báo của Công an hẳn hoi, báo An ninh thế giới, số ra ngày 30/04/2005 nhân kỷ niệm 30 năm sự kiện chiến thắng Sài Gòn, có bài phỏng vấn ông Thận. Chẳng rõ do ý của ai "bật đèn xanh" hay không, mà đăng những lời bộc bạnh của ông Thận thật mộc mạc lắm thay. Từ chuyện xe tăng quân miền Bắc qua cầu vượt sông Sài Gòn tiến vào nội đô vẫn bị đối phương kiên cường chống trả quyết liệt bắn cháy, chuyện hai xe tăng đi đầu mà xe ông Thận đi thứ nhì vì chưa hề biết Sài Gòn, chưa biết Dinh nằm ở đâu nên đến trước ngã tư không biết đường nên dùng lại, xuống xe gặp người phụ nữ chận lại hỏi mới biết đang đứng trước cổng Dinh.

Rồi, chuyện thấy hàng rào sắt chẳng biết đâu là cổng nên xe tăng trước húc vào cổng phụ hẹp quá mắc kẹt lại, xe tăng thứ nhì của ông Thận húc phần sau nhằm cổng chính nên cổng sập xe chạy vào sân; chuyện ông tháo cờ trên xe tăng cầm chạy vào nhà Dinh lên cầu thang lên tầng chợt thấy số đồng người ngồi đoán là có Tổng thống liền chạy vào va phải tấm kính trong suốt không thấy nên ngã ra bất tỉnh; chuyện lúc tỉnh lại vào phòng có người xưng là Tổng thống cùng Nội các nói chờ phe Mặt trận đến để bàn giao, rồi ông Thận trả lời đánh nhau thua nay bị bắt thì là tù binh chỉ có đầu hàng chứ không có bàn giao gì cả; chuyện ông Thận hỏi cột cờ đâu và được người dẫn lên nhưng khi đến cuối hành lang ông thấy có cái thùng sắt như thùng đựng thóc ở quê ông nên ông thấy sờ sợ, sau được giải thích đó là thang máy để lên sân thượng có cột cờ; chuyện ông không biết gỡ móc sắt ra sao nên ông tháo cờ bằng cách xé theo mép dây luôn cờ.v.v...

Sâu xa hơn, qua đoạn đối thoại vội vàng của ông với Nội các, toát lên chuyện đâu là ý thức con người về chủ quyền quốc gia được công nhận về mặt ngoại giao là gì, mặt bằng của mỗi bên về nhận thức thông lệ quốc tế đối với chuyển giao Nhà nước trong thời đại văn minh.

Có lẽ hay sao ấy lịch sử rất công bằng khi cũng có những ngày như thế sự thật được miêu tả, khi con người ta được nói lên những lời chân thật đúng những gì đã diễn ra, mà ở câu chuyện trên, đó là những nét chân quê của những người nông dân Việt Nam hiền hoà, theo dòng chảy của lịch sử với áp lực của thời cuộc, họ chỉ có một chọn lựa phe này hay phe kia, và họ đã sống hết mình trong phạm vi nhận thức lý tưởng họ có được.

Dẫu tố chất mỗi con người mỗi khác, song hành động của họ trong hoàn cảnh cụ thể phản ánh nhiều rõ nét môi trường họ đã sống, mức độ văn minh của phần lãnh thổ họ từng cư trú, địa bàn họ hoạt động, từ đó phản ánh cả một cuộc chiến mà lịch sử đã ghi nhận phe thắng phe thua ai văn minh hơn ai.

Dẫu sao, chuyện thật 30 năm ông mới dám kể thật, có lẽ ông dằn vặt suốt từng năm ấy, dằn vặt khi thấy những đứa trẻ thơ con cháu đọc bi bô lịch sử về ngày 30/04 cảnh ông vào Dinh không đúng như ông là chứng nhân, cho đến cái ngày năm 2005 ông có cơ hội để nói.

7 năm từ ngày ông dám nói sự thật, có lẽ cuộc sống của ông ít ra trong tâm đã thấy nhẹ nhõm phần nào. Cuộc chiến tương tàn mất bao con dân Việt ông và nhiều đồng đội không có lỗi gì cả, thế hệ ấy đã sống hết mình trong phạm vi nhãn quan Chính trị của mình.

Lịch sử sẽ ghi dấu tinh thần bất khuất trong mỗi con người đã dâng hiến, những sai lầm cho đất nước đâu phải đến từ trong Dân tộc ta.

Ông hãy bình yên ra đi thanh thản!

Theo FB Suối Hoa Mơ


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Mệnh lệnh của nhân dân

Lâu lắm mới nghe được một câu nói có tính an ủi từ miệng một lãnh đạo cao nhất của đất nước, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang rằng, phải thành công trong việc chống tham nhũng vì đó là “mệnh lệnh của nhân dân”. Mới chỉ là an ủi vì từ câu nói này đến thực tế còn xa lắm. Mà cũng chỉ là toa thuốc xoa bóp lúc cơn đau hành hạ, chứ còn để chữa lành căn bệnh ung thư di căn phải cần đến phép màu. Nhưng thực tế vẫn có người khỏi bệnh ung thư đó thôi? Vậy vẫn còn hy vọng được chăng? Có con đường nào cho Việt Nam? Bây giờ ai tìm ra con đường đó dám chắc được giải nobel lắm?

Ảnh minh họa. Nguồn: VAOL
Nhìn vào cuộc sống thì mệt mỏi lắm rồi, kiệt quệ lắm rồi. Đất đai, tiền bạc bị ăn cắp, ăn cướp, cái đói nghèo như bệnh kinh niên. Kinh tế giờ đây như chiếc xe lao xuống dốc không phanh. Bao giờ thì vực dậy để có ấm no, hạnh phúc? Tôn giáo cũng vẽ nên một thiên đường chưa ai thấy. Nhưng tôn giáo bảo đảm cho mọi người một khán chiếu vào thiên đường đó bằng đạo hạnh, hướng thiện. Còn thiên đường mà bao năm đất nước này vẽ ra cũng sẽ không bao giờ ai trông thấy, mà chỉ luôn là “định hướng”, là “con đường tất yếu”. Nhưng khán chiếu, visa của người dân vào thiên đường đó bị gán cho đói nghèo, còn quan chức là tiền tài không kể xiết. Không một đạo hạnh nào được thiết lập kể từ khi thiên đường ấy hình thành trên câu nói cửa miệng. Kể đến là tội ác, giả dối, nghèo đói, bất công, thiếu minh bạch, áp đặt, đểu giả… lên ngôi.

Chưa khi nào tội ác nhiều và kinh hoàng như bây giờ. Càng ngày càng gia tăng số lượng và “chất lượng” tội phạm. Một xã hội rất dễ tổn thương và tâm hồn con người nhiều đau đớn, lo âu, nghi ngờ, hoang mang. An ninh, mạng sống con người mong manh và thiếu an toàn hơn bao giờ hết. Đến như trụ sở an ninh, cảnh sát (nơi bảo vệ an ninh, bảo vệ tính mạng người dân) mà người dân sợ nhất khi vào đó thì thử hỏi ở đâu là an toàn?

Nơi đào tạo con người thì tranh cãi năm này qua năm khác, qua mấy mùa Quốc hội mà vấn nạn “đồi Ngô” vẫn tái diễn, ngàng càng trầm trọng hơn. Vậy con người được giáo dục từ môi trường đó sẽ ra chất lượng và sản phẩm gì? Thế mới hay từ cái lò giáo dục đó mới cho ra lũ cán bộ mua tàu Hoa sen, mua ủ nổi rác rưởi, ăn cắp, thất thoát hàng ngàn tỷ đồng là hợp logic. Chỉ có nền văn hoá và giáo dục đó mới có những người chỉ biết nói câu “rút kinh nghiệm”; “chỉ là hịên tượng cá biệt”; “tôi xin nhận khuyết điểm”; “đây là quyết định của chung”… mà không hề hổ thẹn và không bao giờ có văn hoá từ chức…Nói như Chủ tịch nước Trương Tấn Sang “công tác quản lý cán bộ có vấn đề”. Có vấn đề bao năm nay rồi chứ có phải gần đây đâu? Giải quyết tồn đọng của mấy mươi năm thế nào đây? Bởi sau mấy mươi năm xây dựng con người mới XHCN mà đất nước bi bét thế này thì biết con người mới của nền giáo dục ấy là ra sao? Nhưng đổ tội cho một mình ngành giáo dục e không công bằng. Giáo dục cũng bắt nguồn từ hướng đi của đường lối, chính sách mà thể chế qui định. Nhiều người nói về lỗi hệ thống rồi. Nói đến nhàm mấy năm nay nhưng có suy xuyển gì đâu? Thay hệ thống là thay đổi tư duy. Thay đổi tư duy là bắt đầu từ hy sinh quyền lợi của nhóm lợi ích, của quan chức? Ai dám nào?

Nhân dân chỉ có một mệnh lệnh: Hãy lột mặt nạ dối trá, tham lam, tham nhũng của từng quan tham xuống.

Nhân dân có thể tha thứ cho người hồi đầu. Nhưng sẽ không tha thứ cho hành động che dấu và ngụy tạo tội ác.

Liệu có được chăng? Vì như Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nói: “Chúng ta không có con đường nào khác, chỉ có một lựa chọn duy nhất là phải thành công. Cho dù phải chấp nhận những biện pháp đau đớn cũng phải làm”.

Hy vọng đây không phải là bánh vẽ như rất nhiều bánh vẽ mà nhân dân đã phải gánh chịu dù “ông chủ” đã “được phép” ra mệnh lệnh cho đám “đầy tớ” nhiều năm trước đây…

© Thùy Linh
Theo blog Thùy Linh


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Khai trí, chấn khí để đòi lại quyền làm người

Cách đây hơn 100 năm, quyền làm người của nhân dân Việt Nam bị chế độ độc tài phong kiến và thực dân Pháp tước đoạt, người Việt Nam sống trong cảnh nô lệ, không hơn súc vật bao nhiêu. Phan Châu Trinh và các đồng chí của cụ là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng đã khởi xướng ra phong trào Duy Tân để kêu gọi toàn dân đứng lên đòi lại quyền làm người.
Khai trí, chấn khí để đòi lại quyền làm người.
Ảnh nguồn VAOL
Các cụ đã mở nhiều trường học để nâng cao dân trí và khai sáng cho người dân thấy rằng quyền làm người của mình đã bị bọn cường quyền tước đoạt như thế nào, làm thế nào để đòi lại và đòi lại được thì làm thế nào để bảo vệ.

Theo các cụ, muốn đòi lại thì phải chấn khí từ niềm tự tin vào trí tuệ được khai sáng của mình, tạo ra sự dũng cảm, tập hợp lực lượng, xây dựng tinh thần dân chủ, đấu tranh lại với cường quyền đòi lại dân quyền đồng thời với chủ quyền quốc gia.

Khi đã đòi lại được trọn vẹn quyền làm người thì để bảo vệ nó, phải xây dựng một nhà nước pháp quyền theo định chế dân chủ với ba quyền phân lập rõ ràng. Chỉ có một nhà nước pháp quyền thực sự như vậy do người dân dựng lên mới đảm bảo bền vững quyền làm người trọn vẹn của người dân.

Quyền làm người của toàn dân là cái gì đó còn quý báu hơn vàng nên luôn là món mồi béo bở kích thích sự thèm muốn của những kẻ cầm quyền. Bọn cầm quyền phong kiến trong hàng ngàn năm trên toàn thế giới chưa bao giờ nghĩ đến việc trả lại cho người dân những quyền cơ bản để làm người. Khi chế độ phong kiến sụp đổ, một chế độ khác thay thế nếu không theo định chế dân chủ, không tam quyền phân lập hoặc dân chủ trá hình sẽ tạo cơ hội cho cá nhân hay một nhóm cá nhân cầm quyền nổi lên lòng thèm khát, tái tước đoạt quyền làm người của toàn dân.

Quyền làm người của nhân dân để trước mắt nhà cầm quyền mà không có định chế dân chủ trùm lên bảo vệ cũng giống như mỡ để trước miệng mèo mà không có lồng che. Hầu hết những nhà nước phi dân chủ tiếp theo sau chế độ phong kiến đều đã xử sự như vậy, hiếm hoi và may mắn lắm mới xuất hiện đâu đó một ông độc tài nhưng mà tốt, biết kiềm chế cơn thèm khát quyền lực của mình.

Nhà cầm quyền cộng sản do ông Hồ Chí Minh lập ra, sau khi Nhật đầu hàng đồng minh thì đối mặt ngay với cuộc chiến 30 năm đã tạo lý do cho họ đưa toàn bộ quyền làm người của từng người dân vào chế độ quân quản thời chiến. Vì lí do nầy hay lí do khác hoặc vì thấy cần thiết phải hy sinh cho chiến thắng nên người dân có thể chấp nhận điều nầy.
Nhưng vào giai đoạn hòa bình, nhà nước đặt dưới quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng Sản, lại đưa cả nước tiến lên CNXH theo đường lối kinh tế hoạch định. Toàn bộ tài sản, đất đai, tư liệu sản xuất, phương tiện sản xuất đều được quốc hữu hóa để đặt dưới quyền quản lý của nhà nước. Quyền làm người của từng người dân, tuy không phải là vật chất nhưng cũng được nhà cầm quyền duy vật đưa vào tập thể, được quốc hữu hóa và cũng được quản lý nghiêm ngặt như các loại tài sản vật chất khác. Từ đó, sinh ra khái niệm "quyền làm chủ tập thể của nhân dân" mà người khai sinh ra nó là ông Lê Duẩn rất đắc ý.

Trong đêm dài bao cấp của "quyền làm chủ tập thể", hầu như người dân mất toàn bộ quyền tự do để làm người. Tư do riêng tư, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do mưu sinh, tự do ngôn luận, tự do biểu tình, tự do hội họp, tự do lập hội... Tất cả những cái quyền ấy đều được nhà cầm quyền cất giữ, ai muốn tạm xin lại phải làm đơn để cơ quan chức năng xét duyệt và không phải quyền nào cũng xét trả tạm lại được. Nhớ lại thời ấy, người dân muốn làm cái gì cũng phải xin phép nhà cầm quyền. Đi từ địa phương nầy sang địa phương khác, phải xin phép. Tạm trú qua đêm tại nhà khác cũng phải xin phép.

Rồi có những việc xin phép cũng không làm được làm như: Ngôn luận, lập hội, biểu tình... và chuyện mưu sinh cũng bị cấm đoán. Vì thế mới có chuyện vua lốp tự ý sản xuất ra lốp xe nên bị bắt bỏ tù và những tư nhân làm ăn khấm khá bị đưa đi cải tạo.

Thậm chí cái quyền cốt lõi của con người là quyền được sống cũng bị xâm phạm nghiêm trọng. Hàng vạn người chết vì cải cách ruộng đất và gần cả triệu người bỏ xác trên biển vì đi tìm đất sống đã nói lên điều đó.

Cho đến khi đất nước rơi vào hoàn cảnh khó khăn cùng cực, hết đường xoay sở, nhà cầm quyền mới "đổi mới" chấp nhận làm ăn theo cơ chế thị trường đồng thời trả lại cho người dân một số quyền tự do như quyền tư hữu, quyền tự do mưu sinh, tự do đi lại, tự do cư trú... để phục vụ cho sự vận hành của cơ chế thị trường. Vì nếu không tư hữu, không tự do đi lại, không tự do cư trú, không tự do mưu sinh thì không thể nào làm cho thị trường lưu thông được.

So với với thời "quyền làm chủ tập thể", ngày nay, đời sống người dân trở nên thoải mái hơn, một bộ phận dân chúng đã tăng cao thu nhập, bộ mặt xã hội nhờ vậy đã được cải thiện đáng kể.

Tuy vậy, người dân Việt Nam vẫn còn thiếu nhiều quyền tự do để trở thành con người bình đẳng với người dân của rất nhiều nước trên thế giới cũng như các nước trong khu vực.

Những người dân đã khai trí, hiểu mình bị mất những quyền gì và luôn luôn tìm cách đòi hỏi.

Không được ra báo tư nhân để thực thi quyền tự do ngôn luận, nhiều người dân đã thay thế bằng cách ra blog, ra web, vào mạng xã hội... để viết lên chính kiến của mình. Những trang nầy càng ngày trở nên lớn mạnh và uy tín đến mức trở thành một luồng truyền thông khác bên cạnh luồng truyền thông của nhà cầm quyền.

Nhà cầm quyền đang tìm mọi cách dẹp luồng truyền thông nầy, nhưng e rằng không thành công vì người dân đã biết quyền của mình đến đâu. Nhà xuất bản tư nhân cũng được nhiều người tự thành lập mà không cần xin phép nhà nước.

Không được cho phép biểu tình, người dân vẫn đi biểu tình vì họ biết rằng đây là quyền tự do phổ quát của họ, tự nhiên có, đã được hiến pháp công nhận, không cần phải xin xỏ ai. Biểu tình đòi lại đất, biểu tình chống bất công, biểu tình chống ngoại xâm... tuy bị nhà cầm quyền ngăn cấm, trấn áp nhưng vẫn cứ diễn ra khắp nơi.

Quyền hội họp, quyền lập hội cũng đang được nhiều người dân đòi lại quyết liệt dù họ phải bị trả giá bằng tù đày. Câu lạc bộ nhà báo Tự Do của anh Điếu Cày, nhóm 8604, nhóm Thức - Long - Định - Trung...là những ví dụ.

Tóm lại người dân Việt Nam trong thời đại thông tin bùng nổ đã biết tự khai trí, tự chấn khí để biết mình còn bị mất những gì và tự tin đòi lại những gì thiêng liêng thuộc về mình.

Cái gì của con người phải trả lại cho con người, hy vọng nhà cầm quyền đang được khai trí cũng hiểu ra điều đó.

© Huỳnh Ngọc Chênh
Theo blog Huỳnh Ngọc Chênh


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Chúng ta nói về dân chủ và quyền con người

Chúng ta nói về dân chủ và quyền con người.

Có nhiều điều liên quan đến dân chủ và quyền con người.

Có nhiều người nói đến đảng phái, hệ thống chính trị, hay luật pháp…
Có nhiều người nói đến tự do ngôn luận, báo chí, kể cả internet, và blogger.

Nhưng có lẽ chúng ta đã bỏ qua nhiều cái. Những điều nhỏ nhặt trong đời sống của chúng ta.

Chuyện CSGT thu mãi lộ.

Chuyện BS thu phong bì

Chuyện giáo viên ép học thêm và phong bì

Chuyện nông dân mất đất

Chuyện công nhân đòi quyền lợi

Chuyện người dân trong các khu đô thị đấu tranh vì các thứ lệ phí

….

Nhiều, nhiều lắm

Chuyện chân tay miệng, và những bệnh dịch khác

Chuyện dịch lợn tai xanh, lưu hành thịt thối trên thị trường, và những hoa quả thực phẩm không an toàn



Nhiều nhiều chuyện lắm

Chuyện vàng miếng SJC và phi SJC

Chuyện tái cơ cấu ngân hàng

Chuyện các tập đoàn nhà nước thua lỗ (Vinashine, Vinaline) và không thua lỗ (điện, xăng dầu…)

….

Nhiều nhiều lắm…

Nhưng kể ra thế để làm gì? Nó có liên quan gì đến dân chủ và quyền con người của chúng ta? Nó liên quan gì đến đảng phái, chính trị?

Nếu suy nghĩ kỹ lại, chúng ta thấy là hình như chúng ta có một vài quyền liên quan đến những thứ xảy ra hàng ngày xung quanh chúng ta.

Những chuyện phong bì ở khắp mọi nơi từ bệnh viện, trường học, đến giao thông, cơ quan công quyền hành chính… thì có liên quan gì đến quyền của chúng ta không? Chắc là có, đúng không? Xưa nay chúng ta quen với việc rằng người dân không có quyền gì, chỉ những người kia – BS, GV, CSGT, cán bộ chính quyền… mới là người có quyền. Tất cả những lời “công bộc của dân” chỉ là mỹ từ sao rỗng. Nếu bây giờ, chính những người dân bình thường, bằng hành động cụ thể, tự mình dành lấy cái quyền của mình. Người dân có quyền được hưởng những thứ dịch vụ mà không cần phải có phong bì. Đó là quyền của dân. Đó chính là dân chủ. Một hành động nhỏ thôi, nhưng từng ngày, dân chủ sẽ đến trong chính đời sống của chúng ta.

Những người nông dân mất đất, những người công nhân đình công, những người dân ở khu đô thị biểu tình,… đòi lấy cái quyền của họ. Cái mà họ dành được không chỉ là mảnh ruộng, là đồng lương, là phí vệ sinh… Mà hơn thế, những người dân bình thường đó biết về quyền của mình. Trước đây họ không biết rằng họ có quyền. Trước đây trong cơ chế xin cho, người dân được cho cái gì thì đã lấy làm mừng rồi. Giờ đây họ biết đó là quyền của họ, và họ tự đòi lấy quyền của mình. Họ biết cách làm thế nào để đòi được quyền của mình, biết cách giữ được quyền của mình. Tất cả những điều đó có nghĩa là một nền dân chủ đang hình thành trong xã hội Việt Nam. Quyền con người đang dần dần được thực thi. Như vậy chính những con người bình thường đang tự mình xây dựng nền dân chủ.

Hiện nay nông dân ở nhiều nơi đang lên tiếng giữ đất của họ. Những người nông dân mất đất đã đòi được quốc hội, chính phủ phải đứng ra giải quyết cho họ. Họ đã đòi được quyền của họ.

Hiện nay những người dân ở các khu đô thị mới đang đấu tranh chống lại việc thu phí bất hợp lý. Những người dân ở khu đô thị đã đứng ra lập hợp tác xã, lập ban quản trị. Họ đòi lại phần diện tích tầng 1, và tự điều hành các dịch vụ trong tòa nhà, nhằm giảm các chi phí. Họ đã đòi được quyền của họ. Giờ đây, HTX của họ đã đi cung cấp dịch vụ cho những tòa nhà cao tầng khác. Phổ biến kinh nghiệm của họ, tuyên truyền về quyền của người dân.

Hiện nay những người dân ở xung quanh các hồ trong thành phố đang đòi giữ lại hồ. Những người dân ở những phường có hồ nước đã đòi lại được phần hồ đang đe dọa bị san lấp. Họ đã chặn đứng được những âm mưu của các nhóm lợi ích hòng chiếm đất công. Họ đã tự quản được vùng đường ven hồ, vùng sân chơi ven hồ. Họ kiến nghị thực hiện đúng quy hoạch. Họ đã thực hiện được quyền của người dân trong quy hoạch không gian ở, và không gian công cộng.

Rồi những chuyện thực phẩm không an toàn trôi nổi trên thị trường, rồi dich bệnh xảy ra ở đây đó, … Trước đây, những chuyện như thế là chuyện của các cơ quan quản lý, người dân không có cách gì để biết thông tin, không có tư cách gì để có ý kiến. Nay thì người dân đã biết đến quyền được biết thông tin, quyền có ý kiến… Các cơ quan chức năng cần công khai thông tin. Hơn thế, người dân có trách nhiệm giám sát, và phát hiện các vụ việc.

Người dân không chỉ đòi quyền của họ - cái quyền được pháp luật quy định, mà họ còn thực thi những quyền đó. Trước đây, tất tất mọi điều đều “có Đảng, nhà nước lo”. Người dân chỉ sống một cách thụ động, bảo gì nghe nấy, cho gì thì hưởng nấy, không kêu ca, phàn nàn. Nhưng ngày nay, rất nhiều hoạt động do người dân, cộng đồng chủ động tham gia. Không phải cái gì chính quyền cũng lo, cũng quản được hết. Những gì người dân, cộng đồng có thể làm tốt được thì người dân được quyền làm. Đây chính là cái mà gọi theo tiếng Tây là xã hội dân sự. Hoặc gọi nôm na là cộng đồng tham gia. Hay gọi theo cách Việt Nam hóa là nhà nước và nhân dân cùng làm. Những hoạt động có sự tham gia của người dân là tăng thêm tính chủ động, tăng thêm sự giám sát của nhân dân. Và điều quan trọng là người dân hiểu hơn về quyền của mình. Người dân có trách nhiệm hơn với đời sống của cộng đồng. Khi có trách nhiệm hơn với cộng đồng, người ta sẽ bớt vô cảm – điều vẫn thường xảy ra trong xã hội chúng ta. Có thể nói, tăng cường xã hội dân sự sẽ giúp đẩy lùi sự vô cảm trong xã hội Việt Nam.

Đến chuyện thuộc tầm vĩ mô như chuyện quản lý vàng, tái cơ cấu nền kinh tế, … cũng liên quan đến dân chủ và nhân quyền. bởi vì xét về thực chất, tất cả những hoạt động đó làm ảnh hưởng đến đời sống người dân vì nó đều sử dụng tiền ngân sách, tiền thuế của dân, và nó ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế đất nước. Trước đây, các quan chức chỉ quyết định những chuyện đó mà không hề biết đến phản ứng của người dân ra sao. Họ toàn quyền sử dụng tiền thuế của dân mà không hề phải “thế chấp” gì cả. Trong khi đó, các vị lãnh đạo ở các nước Tư bản giẫy chết đều phải đặt cược sinh mạng chính trị của mình vào mỗi quyết định hệ trọng. Nếu có vấn đề gì xảy ra, họ sẽ phải xin lỗi quốc dân, rồi nhẹ thì tự từ chức, nặng thì ra tòa. Tiền thuế của dân là chuyện hệ trọng chứ không phải chuyện đùa như ở ta. Điều đó có nghĩa là dân ở Tây họ có tiếng nói với tiền thuế của họ. Vì vậy, cho dù hiện nay, dân ta chưa có quyền đối với chính đồng tiền thuế do mình đóng, thì chí ít, dân cũng có thể bằng cách này cách khác tỏ được thái độ của mình, qua báo chí, qua đại biểu quốc hội. Con đường còn dài, và dân ta vẫn còn đang bước tiếp.

Chúng ta nói đến đa đảng làm gì. Nếu không có dân chủ thì lại thành độc quyền, độc tài.

Chúng ta nói đến hệ thống chính trị làm gì. Nếu không có nhân quyền thì lại thành hệ thống lợi ích nhóm, bóc lột nhân dân.

Chúng ta nói đến luật pháp làm gì. Nếu không có dân quyền thì lại thành những vụ án oan sai.

Tác giả Hồng Nhụng, sinh năm 1989.
Ảnh nguồn: Hong Nhung Facebook
Nói tất cả những điều này có nghĩa là đa đảng, hệ thống chính trị, và luật pháp là mục tiêu, nhưng điều bản chất ở đây là dân chủ, nhân quyền. Nếu không có dân chủ, nhân quyền thì những mục đích tốt đẹp kia chỉ là những cái lá nho che đậy một bản chất độc tài, tàn bạo. Dân chủ, và nhân quyền là điều kiện cần cho những mục đích tốt đẹp về đảng phái, chính trị, luật pháp. Dân chủ, nhân quyền sẽ đi song hành cùng với việc xây dựng hệ thống chính trị, luật pháp. Có lẽ dân chủ, nhân quyền là điều kiện cần, còn hệ thống chính trị và luật pháp là điều kiện đủ cho một đất nước văn minh, và phát triển.

Cái mà những người dân bình thường chúng ta có thể làm được có lẽ là trên mảng dân chủ, nhân quyền. Còn mảng hệ thống chính trị và hệ thống luật pháp thì có lẽ cần có những chuyên gia, những nhà hoạt động lão luyện. với người dân bình thường, những chuyện liên quan đến cuộc sống hàng ngày như y tế, giáo dục, hành chính công … thì mỗi người đều có thể làm được, và chia sẻ giữa những người cùng quan tâm sẽ giúp chúng ta có thể thực hiện được một cách tốt hơn. Bằng chứng là những người nông dân, những người dân bình thường vẫn hiện đang thực hiện quyền của họ. Và chính họ đang xây dựng nên nền dân chủ cho tương lai.

Đến đây một câu hỏi đặt ra là làm thế nào, và bằng cách gì người dân có thể thực thi những quyền của họ? Câu hỏi này là dành cho những nhà hoạt động xã hội, và những nhà trí thức. Đến đây vai trò của trí thức xuất hiện. Và ai dám bỏ công sức, dám vượt qua trở ngại, dám dấn thân để tham gia vào việc trả lời những câu hỏi này của xã hội người đó là trí thức. Bất kể người đó có bằng cấp, học hàm, học vị ra sao.

HN 25/6/2012

Hồng Nhung
---------------
Theo blog Hồng Nhung Facebook


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Khi Chủ tịch nước cũng kêu buồn

Đào Tuấn

Trả lời Tuổi Trẻ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói “Không thấy có những lời lẽ nào khó nghe, mà thậm chí tất cả đều là những lời cần nghe. Tôi muốn nghe sự thật”. Còn trên Tiền Phong: “Ở Việt Nam chưa có văn hóa từ chức. Nghe mà buồn quá”. Nhân dân sẽ là người phải nói lời xin lỗi vì đã làm ông buồn?

Cả “trăm vấn đề” đã lại được đặt ra trong buổi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc cử tri.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang
Ảnh: Viễn Sự
VietnamNet dẫn lời cử tri Bùi Công Sự bày tỏ lo ngại về tình trạng quản lý lỏng lẻo khi để cho người nước ngoài vào mọi địa bàn thu mua nông, hải sản, nuôi trồng không tuân thủ luật lệ của nhà nước, thao túng giá cả, gây thiệt hại cho người dân, có dấu hiệu phá hoại nền kinh tế. Cử tri này đề nghị: Quốc hội, Nhà nước xem lại con người trong hệ thống của mình. Đặc biệt là cần quy trách nhiệm tập thể, cá nhân gây ra hậu quả, chứ không thể nói mãi việc rút kinh nghiệm nghiêm khắc, nhưng nói xong cho an dân rồi để đấy.

Cử tri Hoàng Hữu Hiền thì bức xúc trước thực trạng một số tổng công ty, tập đoàn nhà nước như Vinalines, Vinashin… đã làm thất thoát hàng ngàn tỷ đồng, nhưng không thấy ai đứng ra nhận trách nhiệm, không thấy ai đưa đơn từ chức mà chỉ nói rút kinh nghiệm: “Người dân chúng tôi rất không đồng tình. Cá nhân làm sai, tập thể phải chịu, toàn dân phải gánh nợ, điều đó thật không công bằng”.

Cử tri cũng phàn nàn lãi suất cho vay của các ngân hàng là quá cao. Tình trạng nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đang đứng trên bờ vực phá sản do thiếu vốn, trong khi trên thực tế chẳng mấy doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi để vực dậy sản xuất.

Cử tri đề nghị Quốc hội, Chủ tịch nước giám sát tình trạng sản phụ, thai nhi tử vong ngày càng nhiều; tình trạng đầu cơ, thu gom đất; tình trạng thiếu giáo viên trầm trọng; tình trạng mạng lưới y tế tuyến dưới yếu kém dẫn đến quá tải tuyến trên; tình trạng phòng khám Trung Quốc thành lập nhiều, quảng cáo rầm rộ nhưng chất lượng khám chữa bệnh bị buông lỏng; bất cập trong công tác thu hồi đất, đền bù, giải tỏa; và vấn đề tham nhũng đang gây nhức nhối trong xã hội…

Đúng là cả “trăm vấn đề”, cả “ngàn nỗi bức xúc”. Những “vấn đề” đó, là thực tế cuộc sống. Những bức xúc đó, là nỗi lòng người dân. Bức xúc trước thực tế cuộc sống. Và buồn vì cái gọi là trách nhiệm.

Tại sao con khóc?
Chỉ đáng tiếc đây là những vấn đề lại được đặt ra ngay sau kỳ họp Quốc hội. Không mới hơn so với những gì người dân đã gửi gắm trước kỳ họp. Cũng chẳng có gì khác so với những kỳ họp trước. Sự lặp đi lặp lại những vấn đề, những tình trạng, và những nỗi bức xúc từ kỳ họp này sang kỳ họp khác, từ năm này qua năm khác cho thấy việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri là chưa được rốt ráo, hoặc ít nhất việc giải quyết cũng chưa làm thỏa mãn, chưa làm vơi đi nỗi bức xúc trong lòng người dân. Người đáng buồn, có lẽ phải là nhân dân.

“Nhiều lần tiếp xúc cử tri, tôi rất chạnh lòng. Bà con cô bác nói ở nước ngoài, chỉ cần sập cầu, ngay lập tức bộ trưởng từ chức. Ở Việt Nam chưa có văn hóa từ chức. Nghe mà buồn quá. Tôi khẳng định việc bỏ phiếu tín nhiệm sẽ được thực hiện trong năm nay” – Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói trên Tiền Phong. Cụ thể hơn là: Trung ương Đảng sẽ họp kiểm điểm cụ thể theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 trước tháng 10-2012.

Khi được hỏi cảm nhận của mình về bầu không khí “bức xúc, có lúc gay gắt, ít thấy lời khen” trong buổi tiếp xúc cử tri, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lời Tuổi trẻ “Tôi không thấy có những lời lẽ nào khó nghe, mà thậm chí tất cả đều là những lời cần nghe. Tôi muốn nghe sự thật chứ không phải đến và mất thời gian để nghe những lời hoa mỹ, không đúng sự thật”.

“Cuộc sống đang diễn ra như thế nào thì cần nói thế đó, không được quy kết thế này thế kia. Những gì dân còn muốn nói với người đại biểu của mình, muốn lãnh đạo biết, hay các phản ánh của báo chí thì suy cho cùng những ý kiến đó cũng nhằm mong muốn phản ánh sự thật, phản ánh những điều nóng bỏng của cuộc sống, mong muốn sớm được giải quyết, chứ không có ý làm cho vấn đề nóng lên hay làm phức tạp thêm”- Câu này cũng là của Chủ tịch nước.

Người dân xin cảm ơn Chủ tịch nước cũng như các đại biểu QH đã lắng nghe sự thật. Duy chỉ có điều, họ mong muốn Chủ tịch, mong muốn các vị đại biểu QH thể hiện bằng việc làm cụ thể, trên diễn đàn của cơ quan quyền lực nhà nước tối cao là QH để sau mỗi kỳ họp, cử tri không còn thấy ông nói buồn quá.

© VAOL

------------------------

Nguồn: Khi Chủ tịch nước cũng kêu buồn - blog Đào Tuấn


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Từ “Tiếng hát sông Hương” đến công nghệ… mãi dâm

Theo tác giả: Nhân đọc bài Hoan nghênh Quốc hội trả lại nhân quyền cho phụ nữ bán hoa của Luật gia Trần Đình Thu, đăng trên trannhuong.com), chủ trang đăng tải lại bài ký này (có chỉnh lý, bổ sung) để bạn đọc có thêm một cái nhìn về tệ nạn mại dâm ở Việt Nam

Cách đây gần năm mươi năm, khi còn ngồi trên ghế nhà trường cấp 3 phổ thông, có một lần, trong buổi ngoại khóa, chúng tôi được thầy Hoàng Bỉnh Nhu bình bài Tiếng hát sông Hương của nhà thơ lớn Tố Hữu. Thầy bị cụt một tay, người chỉ được một mẩu, đuôi mắt trái lại có mụn ruồi to đùng nhưng giảng văn thì cực hay. Dường như những khi đứng trên bục giảng, thầy đã hóa thân vào tác phẩm, để rồi, trong phút xuất thần, chuyển tải cái nhân sinh quan cộng sản của một ông râu xồm mãi bên trời Tây vào con tim ngu ngơ của đám học trò nông thôn, quần âm lịch, chân đất, vốn chưa có một chút khái niệm nào về loại nghề buôn phấn bán son.

Theo sự phân tích rất logic từ mỹ học Marx - Lenin, thầy Nhu khẳng định, cô gái sông Hương là nạn nhân của chế độ thực dân phong kiến, bị dày vò cả thể xác lẫn tâm hồn. Tuy nhiên, nỗi ô nhục ấy sẽ mất đi, người con gái vướng vào kiếp nạn ê chề sẽ được hoàn lương một khi Cách mạng vô sản thành công. Chân trời mới sắp mở ra. Những thân phận bọt bèo, lạc loài sẽ được sống trong một xã hội công bằng, hạnh phúc, đầy hoa thơm quả ngọt. Cả lớp lặng đi. Một vài bạn gái len lén lấy ống tay áo quệt nước mắt. Ôi ! Sức mạnh của nghệ thuật. Chúng tôi cảm phục thầy Nhu một thì cảm phục Tố Hữu mười, bởi ông đã đem đến cho lớp trai trẻ dốt nát một cảm quan mới, một chân lý sáng ngời trong chế độ XHCN tốt đẹp có Bác, Đảng dẫn đường.

Quả thật, bằng vào cái huyễn tượng về một tương lai xán lạn ấy, sau năm năm tư, (1954) Nhà nước ta đã tiến hành những cuộc tảo thanh trên quy mô lớn để bài trừ tận gốc những gì còn rơi rớt lại của nền văn hóa thực dân phong kiến trên nửa phần đất nước mà điểm nhấn của nó là nạn mại dâm. Các đối tượng hành nghề bị lực lượng công an thu gom đưa vào các nhà tù trá hình được gán cho danh xưng mỹ miều là "Trại phục hồi nhân phẩm". Tại đây, những chị em "cải tạo" tốt còn được "ưu tiên" chuyển sang lực lượng thanh niên xung phong hoặc nông trường quốc doanh trồng chè hay cao su ở vùng sơn cước. Và thế là, chỉ sau một kế hoạch ba năm, ngành Lao động - Thương binh - xã hội miền Bắc XHCN đã hoàn thành xuất sắc kế hoạch triệt phá tệ nạn mại dâm. "Từ ấy"... mảnh đất ngàn năm văn hiến được xem như tuyệt giống "gái bán hoa"!?. Thật là một kỳ tích mà chỉ có những người thật sự yêu chủ nghĩa cộng sản mới làm được.

Cũng vào thời gian này, trên các phương tiện tuyên truyền chính thống, trong đó có cả những tờ báo lớn công bố số phụ nữ làm nghề mại dâm ở thành phố Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam cộng hòa là ba mươi vạn!? Tất nhiên chúng tôi tin sái cổ. Lại dám không tin báo chí của Đảng à? Có họa là tên phản động hoặc kẻ mắc chứng tâm thần phân liệt mới có đủ bản lĩnh đặt dấu hỏi nghi ngờ. Sau này, khi non sông đã về một mối, các nguồn thông tin không còn bị ách tắc như trước, tôi có đọc một bài trên mạng Đối thoại mới hiểu con số ấy được người ta thổi phồng ít nhất là năm mươi lần. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Phách, tính vào thời điểm những năm sáu mươi, trừ cánh mày râu, cộng với các bà già trên sáu mươi cùng các cháu gái dưới mười sáu tuổi, thì tất cả phụ nữ Sài Gòn đều làm... điếm nếu ta tin vào con số kỷ lục nặng về màu sắc chính trị kia.
Tác giả Đặng Văn Sinh, Cử nhân Khoa Ngữ văn
Đại học Tổng hợp Hà Nội; nguyên giáo viên
Ngữ văn Trung học phổ thông; hội viên Hội Nhà
văn Việt Nam. Nguồn: Blog dangvansinh.blogspot
Sau ba mươi bảy năm giải phóng miền Nam, tức là một phần ba thế kỷ, một nửa đời người, có vẻ như những kỳ tích chống tệ nạn xã hội đã đi vào dĩ vãng, đặt dấu chấm hết cho một thời vàng son. Chưa bao giờ và chưa lúc nào nạn mại dâm hoành hành dữ dội và đều khắp như lúc này. Không ít khách sạn tên tuổi với nhãn hiệu ba sao, thậm chí năm sao có hẳn một đường dây gọi gái. Các nhà nghỉ thường kèm thêm dịch vụ "tươi mát". Mỗi nhà hàng karaoke đèn mờ là một động lắc thâu đêm suốt sáng. Mỗi tiệm hớt tóc, gội đầu là một nhà thổ trá hình. Ngày trước "ra ngõ gặp anh hùng" thì ngày nay, mỗi khi bước chân ra đường toàn gặp lũ tham nhũng và ca ve. Các Tú Ông, Tú Bà nhan nhản khắp hang cùng ngõ hẻm, nhân danh thời mở cửa lại được các anh Hai, anh Ba, anh Tư, anh Năm... ngồi ngất ngưởng trên cao bảo kê, tha hồ bóc lột đám chị em chân yếu tay mềm. Đến lúc này, thi hào Tố Hữu, con chim đầu đàn của nền thơ cổ động Việt Nam, nếu còn sống, chắc ông sẽ phải viết lại "Tiếng hát sông Hương". Ta hãy nghe lại tác giả thương hoa tiếc ngọc bằng một bài thơ kết hợp giữa lục bát truyền thống với thể loại dân ca Huế và gieo bằng vần "eo", tạo ra một không gian nhẹ tênh, mang nét thanh thoát yêu kiều của sông Hương, đối lập hẳn với thân phận nhục nhã của cô gái làng chơi:

Em buông mái chèo
Trời trong veo
Nước trong veo
Em buông mái chèo
Trên dòng Hương Giang


Rồi tấm lòng cộng sản vô bờ bến của ông thương cảm người con gái đã hơn một lần lầm lỡ :

Thuyền em rách nát
Mà em chưa chồng
Em đi với chiếc thuyền không
Khi mô vô bến rời dòng dâm ô!


Nhưng điều đáng chú ý nhất là ông phó chủ tịch HĐBT (Hội đồng Bộ trưởng) tương lai đã thổi vào tâm hồn cô gái một ảo tưởng ngọt ngào, tạo cho cô niềm phấn khích vô bờ bến, nếu không bỏ nghề, dấn thân vào sự nghiệp cách mạng thì cũng nhẫn nại đợi thời cơ đến ngày được chiêu tuyết :

Ngày mai bao kiếp đời dơ
Sẽ tan như đám mây mờ hôm nay
Cô ơi tháng rộng ngày dài
Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng
Trên dòng Hương Giang...


Hương Giang thơ mộng trong một chiều tím biếc, con đò rách nát bồng bềnh trôi mang nỗi u uất cuả một thân phận còn rách nát hơn cả nó, phút chốc như đốn ngộ bởi thứ ánh sáng lung linh của chân lý. Nhà thơ thật khéo chuyển được cảm xúc, đem cái huyễn tưởng ngoài nghìn dặm đặt vào tâm thức cô đào xứ Thần Kinh trong gang tấc.

Ngược lại với Tố Hữu lúc ấy, tám mươi năm trước (nếu tính từ thời điểm những năm ba mươi của thế kỷ XX), Nguyễn Công Trứ, cũng sau những lần xuôi đò trên sông Hương , đã không giấu giếm sự đắc ý của mình cho dù ông là một nhà nho từng được đào luyện kỹ càng trong trường học Khổng Mạnh:

Lênh đênh một chiếc đò ngang
Một cô đào Huế, một quan đại thần
Ban ngày quan lớn như thần
Ban đêm quan lớn lần mần như ma
Ban ngày quan lớn như cha
Ban đêm quan lớn ngầy ngà như con...


Chúng ta kính phục Nguyễn Công Trứ dám nói thẳng nói thật tuy có chút mỉa mai, tự trào cái sự hành lạc với một cô gái làng chơi dù có lúc ông là quan đầu triều. Hành vi của cụ Thượng hoàn toàn tương phản với phần lớn các bậc "dân chi phụ mẫu" ngày nay, đi nhà thổ như điên, bồ bịch tùm lum, ăn cắp công quỹ thành thần nhưng lại lên mặt đạo đức giả, lúc nào cũng muốn nêu tấm gương "cần kiệm liêm chính".

Sau những năm ép xác, nhịn thèm nhịn nhạt phục vụ chủ thuyết "Thế giới đại đồng", nay, xã hội Việt Nam đang ở vào thời kỳ "ăn trả bữa". Cái "thằng" quy luật tâm lý ấy lại lừng lững xuất hiện, chẳng khác gì ma dẫn lối, quỷ đưa đường, dẫn dụ các nạn nhân của nó vào "kiếp đoạn trường" trong một mê lộ quanh co đầy cạm bẫy. Chưa có bao giờ trên đất Việt thân yêu của chúng ta lại nở rộ tệ nạn mại dâm như bây giờ. Nó hiện diện theo quy luật của dòng nước lũ, từ lâu bị chặn lại, đương nhiên là tích tụ năng lượng, đến một lúc nào đó tìm ra lối thoát, thế là "tức nước vỡ bờ" thành một cơn hồng thủy. Hiện tượng này đã được nhà thơ Trần Nhuận Minh khái quát bằng mấy câu trong bài "Thoáng" như sau :

Sách cấm xưa lòe loẹt cổng Đền Thờ
Ngõ tối bật tiếng coóc xê tanh tách
Gã trốn tù tội đánh người và khoét ngạch
Vào quán ghểnh chân làm choác bia hơi.


Còn thi sỹ Nguyễn Trọng Tạo ở bài "Quán Lý Thông" thì lại tiếp cận các cô gái "bán hoa" ở khía cạnh văn hóa:

Tôi hỏi ca ve, ca ve cười ngất
Chợt nhận ra mình giữa quán Lý Thông


Hiển nhiên, mại dâm không chỉ dừng lại ở thành phố, thị xã, thị trấn mà từ lâu nó đã lan đến cả những vùng quê hẻo lánh. Các đức ông chồng mất nết, từ những lão già sáu bảy mươi đến lũ ranh con miệng còn hơi sữa, rủ nhau thập thò trước quán cà phê hay hớt tóc trá hình vào lúc trời còn nhập nhoạng. Không có tiền thì xúc trộm thóc của vợ bán dấm giúi, thậm chí có anh chàng còn "ký sổ nợ" hẹn đến mùa thanh toán...

Cũng như nạn tham nhũng, mại dâm bây giờ đã trở thành một thứ "văn hóa". Loại "văn hóa" này hình như đang được phát triển và nâng cao đến mức "đậm đà bản sắc " tùy thuộc vào đẳng cấp xã hội của các đấng mày râu. Các quan chức là những kẻ vừa có quyền vừa có tiền luôn là "thượng đế" của những nhà chứa cao cấp. Có những ông lớn nuôi hẳn ba, bốn bồ nhí ở mấy nơi khác nhau (tất nhiên là bằng tiền chùa), để thứ bảy, chủ nhật đánh xe về thư giãn. Không hiếm các ông "đầy tớ của dân", ban ngày thì lên diễn đàn rao giảng đủ thứ đạo đức nhưng ban đêm lại mò vào các động mãi dâm lăn lóc với "mấy ả mày ngài", sáng ra mệt phờ râu trê, đến nỗi quên cả cuộc họp quan trọng mà chính mình phải chủ trì.

Từ môi trường xã hội cởi mở để con người thả lỏng bản tính của mình như vậy, tự nhiên hình thành một loại gái điếm cao cấp mà cách hành xử của type người này có những lúc khá ngược đời như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết trong bài thơ "Việt Nam, nhìn từ xa tổ quốc" :

Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng
Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn
Vật giá tăng
Nên hạ giá linh hồn


Loại "ca ve" này, tất nhiên không chỉ bán phấn buôn son mà thực chất là bán buôn "cái gì đó" lớn hơn bằng "vốn tự có" của mình. Chị em biết lợi dụng thời cơ, nắm chắc tâm lý các sếp sòng, triệt để vận dụng lời dạy "vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề" của tổ sư Tú Bà, để len vào bộ máy công quyền. Từ chiêu "mỹ nhân kế", đã có không ít trường hợp thành công, thậm chí còn được bổ nhiệm vào những chức vụ không nhỏ chút nào, cho dù loại hình hoạt động duy nhất của chị em chỉ là... trên giường.
Người mẫu kiêm diễn viên kiêm nghề buôn vốn tự có mặc quần lót màu gì, lông ... nách dài hay ngắn, các anh công an nhân dân đều biết hết, giỏi ghê dzậy đó! Chứ tình báo Trung Quốc giả người nuôi tôm sống hà rầm ở Vịnh Cam Ranh và tình Phú Yên trong mấy năm qua thì các anh ... hổng dám biết đâu! Nguồn: Onthenet
Nhà nước CHXHCN Việt Nam chẳng bao giờ công bố con số phụ nữ làm nghề mãi dâm, nhưng đến giờ này, theo những nguồn tin của một vài tổ chức phi chính phủ thì có thể đã đến hàng chục vạn (?). Phần lớn trong số này là những cô gái còn rất trẻ đều có gốc gác nông thôn, thất học, không nghề nghiệp, bỏ nhà lên thành phố làm gái bán hoa, sau một vài năm kiếm được chút vốn thì hoàn lương, về quê lấy chồng. Đây là đối tượng dễ bị các Tú Ông, Tú Bà hành hạ, bóc lột nhất. Các cô thường xuyện bị chủ ăn quỵt sau mỗi lần đi khách, nếu có biểu hiện phản ứng lập tức bị bọn ma cô, đầu gấu "thượng cẳng chân hạ cẳng tay", đành nhắm mắt buông xuôi mặc dòng đời đưa đẩy cho đến lúc thân tàn ma dại. Cũng phải kể đến đội ngũ "ô sin" trong chương trình xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Một lượng không nhỏ người hầu gái này chấp nhận hành nghề mãi dâm nhằm mục đích thu ngoại tệ qua các công ty môi giới. Có trường hợp, một "Ô sin" buộc phải đáp ứng nhu cầu tình dục cho cả gia đình, thậm chí, để giảm bớt chi phí, gã chủ nhà còn rủ thêm một vài anh hàng xóm "đánh ké". Tất nhiên họ không được ăn cả mà thường là phải chia năm sẻ bảy dưới danh nghĩa "lệ phí" hoặc thuế cho các công ty lừa đảo núp dưới những cái tên rất ấn tượng, mặc dù các khoản thu ấy chẳng bao giờ được chuyển vào ngân sách nhà nước.

Loại mạt hạng nhất là dịch vụ lấy chồng Tàu đại lục qua các tổ chức buôn bán phụ nữ đang hoành hành gần như công khai từ hai chục năm qua. Không hiếm những nàng quá lứa nhỡ thì được bọn cò mồi tân trang, qua biên giới bỗng nhiên thành đắt giá. Có điều rất ít trường hợp kiếm được tấm chồng tử tế. Đa số các cô bị đưa đến những nơi xa xôi hẻo lánh vùng dân tộc thiểu số, gá nghĩa với những "chàng rể" bất thành nhân dạng, trong một môi trường sống vô cùng mông muội. Ngôn ngữ bất đồng, thân gái dặm trường, thậm chí còn bị bán chuyền tay qua vài ba ông chủ để rồi cuối cùng lọt vào một nhà chứa nào đó nơi đất khách, liệu còn có dám nghĩ đến ngày về cố hương?

Như trên đã nói, cũng như tệ tham nhũng, mại dâm ở Việt Nam đã trở thành một thứ "văn hóa", nếu nói theo các nhà xã hội học, hay một thứ "công nghệ", nếu nói theo thuật ngữ của các nhà kinh tế học. Cái đáng bàn ở đây là Đảng và Nhà nước dứt khoát không thừa nhận. Kể cũng đúng thôi. Nhà nước ta là nhà nước XHCN, lấy chủ nghĩa Marx - Lenin làm kim chỉ nam. Thừa nhận loại hoạt động "đồi trụy" này thì còn gì là thể diện? Vì lẽ đó, tuy là một thực thể tồn tại khách quan, là thị trường hoạt động rất sôi nổi và đầy màu sắc, nhưng mại dâm bị vứt ra ngoài lề đường, sống vất vưởng như những cô hồn phiêu bạt, không bị chi phối bởi bất cứ chế tài nào.

Lịch sử cho biết, mại dâm, với tư cách là một loại hình hoạt động tham gia vào cơ cấu xã hội đã có từ rất lâu, chí ít ra là từ nền văn minh Hy - La, Ai Cập, Xuân thu chiến quốc... Như vậy, mại dâm là hiện tượng xã hội, chính quyền khôn ngoan là chính quyền biết cách kiểm soát nó thông qua chế tài chứ không thể triệt tiêu nó. Còn vì hệ ý thức mà sĩ diện, bỏ rơi nó là thiếu sáng suốt, sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường.

Trước năm 1954, chắc chắn số lượng đĩ điếm trên lãnh thổ Việt Nam không đáng là bao nhưng người Pháp đã có đạo luật rõ ràng cho những đối tượng hành nghề này. Các chính quyền địa phương quản lý chị em bằng môn bài đồng thời buộc các chủ chứa đóng thuế. Mặt khác, nhằm bảo vệ sức khỏe cho gái mại dâm, tránh tình trạng gieo rắc bệnh hoa liễu, nhà nước bảo hộ còn xây nhà thương chuyên chữa bệnh phụ khoa. Ai không tin điều này xin đọc phóng sự Lục xì của văn hào Vũ Trọng Phụng. Về một mặt nào đó, có thể nói, người Pháp, tuy là thực dân nhưng cũng có một số chính sách nhân đạo. Trong bộ tiểu thuyết Ông cố vấn của nhà văn Hữu Mai có đoạn Ngô Đình Diệm vi hành ra đường phố Sài Gòn. Ngồi trong xe hơi quan sát cuộc sống dân tình, tổng thống bị các cô gái bán hoa xúm vào chèo kéo, sau khi về dinh Gia Long, được cận vệ nói rõ sự thật, ông cho gọi Tổng Giám đốc Nha cảnh sát phải triệt hết các ổ mại dâm, làm trong sạch đường phố. Em ruột ông, cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu không đồng tình với biện pháp trên. Ông ta nói đại ý rằng, một nhà nước dân chủ, văn minh phải chấp nhận hoạt động mại dâm, điều quan trọng là phải biết cách kiểm soát nó.

Thực trạng mại dâm ở Việt Nam đã trở thành quốc nạn phát triển theo kiểu phản ứng dây chuyền vì nó chưa bao giờ được nhìn nhận như một nguy cơ làm tổn thương danh dự dân tộc, băng hoại đạo đức, phá vỡ những giá trị văn hóa tốt đẹp bằng nguy cơ "diễn biến hòa bình" thường trực trong não trạng của các nhà lãnh đạo quốc gia. Mại dâm bị thả nổi thực chất là môi trường béo bở để các quan chức tham nhũng đua nhau hành lạc bằng tiền chùa và lũ đệ tử của thần Bạch My kiếm những món lợi kếch xù trên thân xác người phụ nữ. Đó là thứ quan hệ hai chiều trong một liên minh ma quỷ luôn hành xử như những băng đảng của thế giới tội phạm ngầm. Đại dịch HIV/AIDS đang phát triển với tốc độ chóng mặt. Tính đến cuối năm 2011, Việt Nam với hơn 90 triệu triệu con Lạc cháu Hồng, mà nạn mãi dâm gần như bị thả nổi triền miên, thử hỏi, đến thời điểm này chúng ta đã có bao nhiêu người nhiễm căn bệnh thế kỷ?

Bảy mươi tư năm đã qua kể từ khi Tiếng hát sông Hương ra đời, giờ, mỗi khi đọc lại tôi vẫn còn nghe văng vẳng đâu đây lời bình đầy cảm xúc của thầy Hoàng Bỉnh Nhu, cho dù ông đã thành người thiên cổ. Ông chết tức tưởi sau những năm liệt giường vì xuất huyết mạch máu não. Cô Hoàng Lệ Chi, con gái út của thầy bỏ học giữa chừng bởi nhà nghèo, có bao nhiêu tiền dồn vào thuốc thang cho bố, đành phải từ biệt bà mẹ già mắc chứng quáng gà, ra Hà Nội làm nghề rửa bát thuê. Và rồi đây liệu em có thoát khỏi kiếp đoạn trường?

VAOL



Nguồn:

(1) Từ “Tiếng hát sông Hương” đến công nghệ… mãi dâm. Blog Đặng Văn Sinh, 21 tháng Sáu năm 2012

Warning: No under 18 years old - Cấm trẻ em dưới 18 tuổi
video


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều