06/22/12 - VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Thư giải trình của Lê Thăng Long về bản thân và phong trào Con Đường Việt Nam

Đăng bởi Biên tập viên vào Thứ sáu, ngày 22 tháng sáu năm 2012

Thưa quý vị và các bạn !

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn những người đã ủng hộ Phong trào Con đường Việt Nam rất nhiều. Các bạn đã giúp cho những hạt giống đầu tiên của Phong trào nảy mầm. Nhưng tôi cũng thật lòng cảm ơn những người đã chỉ trích những thiếu sót của cá nhân tôi và việc điều hành hoạt động của Phong trào trong 10 ngày vừa qua. Quý vị đã giúp điều chỉnh các yếu kém để những mầm sống đầu tiên của Phong trào có được một môi trường phát triển tốt đẹp.
Lê Thăng Long, nguồn: VietNamNet
Mấy ngày qua có nhiều người gửi mail đến động viên an ủi tôi, nói tôi đừng buồn trước những mặt trái của dân chủ. Nhưng tôi nói thật là tôi cảm thấy vui vì lần đầu tiên tôi được tham gia các hoạt động chính trị – xã hội một cách dân chủ như vậy. Tôi cũng không xem những chỉ trích gay gắt đối với cá nhân mình trước công luận là mặt trái của dân chủ. Tôi thấy rằng sự khen chê, ủng hộ hay phản đối là một sự tồn tại cần thiết trong một xã hội dân chủ để giúp con người tự điều chỉnh mình đến một trạng thái cân bằng tốt hơn. Cho dù là có nhiều những ý kiến cả khen lẫn chê đều chưa chính xác, nhưng trách nhiệm này đối với tình trạng này thuộc về những đối tượng mà công chúng hướng đến. Nếu những đối tượng này cung cấp đủ thông tin cho công chúng thì sẽ giảm thiểu những ý kiến thiếu chính xác. Do vậy tôi nhận trách nhiệm về các vấn đề gây ra bởi việc thiếu thông tin liên quan đến việc phát động Phong trào Con đường Việt Nam. Nên tôi viết thư này giải trình trước công luận.

Thứ nhất, về tư cách đại diện cho anh Trần Huỳnh Duy Thức và anh Lê Công Định đứng tên phát động Phong trào. Tôi xin khẳng định lại trước công chúng rằng cả ba anh em chúng tôi Thức – Long – Định đã thống nhất hình thành nên một Phong trào mang tên “Con đường Việt Nam” từ cuối năm 2008 đến trước khi bị bắt vào tháng 05,06 năm 2009, chúng tôi đã chuẩn bị được rất nhiều tài liệu cho Phong trào. Ngày 11/05/2010, tại phiên tòa phúc thẩm, đến trước phần bào chữa của luật sư tôi vẫn khẳng định mình vô tội. Trong lúc đó, đánh giá tình hình thì chúng tôi thấy rằng việc kháng án giảm bớt số năm tù của anh Định không có khả năng gì đạt được. Trong lúc các luật sư đang bào chữa thì anh Định nói với tôi và anh Thức rằng nên “xin khoan hồng” để rút ngắn thời gian tù nhằm sớm đưa Phong trào Con đường Việt Nam vào hoạt động. Anh Thức cũng đồng ý và khuyên tôi hãy cố gắng chịu đựng. Khi đến phiên tự bào chữa của tôi, thẩm phán hỏi tôi có nhận thấy tội của mình và xin khoan hồng không. Tôi đã trả lời là “tôi nhận lỗi thiếu sót và xin khoan hồng”. Trong giờ giải lao chờ nghị án, anh Thức và anh Định động viên tôi hãy nhẫn nhịn trong thời gian ở tù để tiếp tục được giảm án để có thể đưa Phong trào ra hoạt động sớm nhất. Đây thật sự là một sự chịu đựng không dễ dàng.

Sau phiên xử, chờ gần 02 tháng, vào ngày 07/07/2010 cả ba chúng tôi bị đưa đi thụ án tại phân trại số 01, Trại giam Xuân Lộc, Đồng Nai. Chúng tôi ở chung một buồng trong một khu riêng biệt. Chúng tôi đã có hơn một tháng trước khi anh Định chuyển về Trại giam Chí Hòa (vào ngày 10/08/2010) để trao đổi về việc tôi sẽ phát động Phong trào thay mặt cho hai người còn lại. Tôi và anh Định phải cố gắng để ra tù sớm nhất dù phải ở trong nước hay nước ngoài. Có ý kiến cho rằng sao tôi không có giấy viết tay ủy quyền của anh Thức và anh Định. Xin thưa rằng giấy tờ ra vào trại giam đều bị kiểm soát gắt gao, mà nếu những giấy ủy quyền ấy bị phát hiện thì làm sao Phong trào có thể ra đời được nữa. Sự thật sẽ luôn là sự thật và tôi tin sự thành thật của tôi sẽ được chứng thực. Rất may là mới đây bác Trần Văn Huỳnh đã chính thức khẳng định đúng điều này.

Cũng có ý kiến hỏi tôi rằng việc tôi phát động Phong trào như thế có làm ảnh hưởng đến việc ra tù sớm của anh Định và anh Thức không. Xin khẳng định là việc ra đời được Phong trào là ưu tiên số một của cả ba anh em chúng tôi nên không ai tính toán đến việc ảnh hưởng đến thời hạn tù. Nhưng tôi tin rằng việc làm cho Phong trào lớn mạnh sẽ góp phần đưa hai người bạn chí cốt của tôi sớm trở về trong vinh quang. Chúng tôi không chỉ cùng phấn đấu chung cho một mục đích mà còn chia sẻ nhau từng chén cơm manh áo trong tù. Do vậy tôi cũng sẽ cố gắng bằng mọi cách để các anh về sớm.

Thứ hai là việc tôi công khai danh sách những người được mời tham gia sáng lập Phong trào Con đường Việt Nam . Trước hết tôi xin nói rõ nguyên tắc đầu tiên trong tôn chỉ của Phong trào CÔNG KHAI. Công khai không chỉ là một yêu cầu bắt buộc của các hoạt động dân chủ mà còn là cách để bảo vệ sự an toàn cho những người tham gia sáng lập Phong trào . Công khai không chỉ là cách để công chúng giám sát các hoạt động chính trị, xã hội mà còn là môi trường để những người tham gia các hoạt động đó tự điều chỉnh mình một cách tốt nhất.

Đã một lần trải qua bị điều tra trong một vụ án an ninh quốc gia, tôi thấu rõ những nguy hại của việc sử dụng quyền bảo vệ sự riêng tư của công dân được Hiến pháp bảo vệ. Việc này đã bị biến thành những chứng cứ và lý luận quy là chúng tôi có hoạt động bí mật với mưu đồ đen tối. Đã có rất nhiều người chẳng liên quan gì đến hoạt động của chúng tôi đã bị mời thẩm vấn liên tục chỉ vì chúng tôi có nhắc đến họ khi trao đổi với nhau. Trong đó đã có những lời khai không đúng sự thật mà tôi nghĩ là do sức ép hoặc do sợ. Khi bị thẩm vấn người ta sẽ bị nghe nói rằng người này đã nói thế này, người kia đã nói thế khác mà không hề biết được có đúng là có người đã nói như vậy hay không. Nhiều lúc cũng vì muốn yên thân mà họ đã phải chấp nhận những lời khai không đúng. Do vậy, nếu lần này tôi gửi thư riêng rẽ đến từng người mời họ tham gia sáng lập Phong trào thì họ có thể sẽ bị rơi vào trường hợp như trên. Việc tôi gửi đồng loạt đến nhiều người và công khai nội dung và danh sách người được mời sẽ ngăn cản sự bóp méo nội dung của nó. Trong các phản ứng gay gắt về việc này, có người đã viết rằng: Xin hãy xem cho rõ, đây là danh sách mời tham gia chứ không phải là danh sách những người sẽ tham gia hoặc sẽ nhận lời. Nếu tôi mời và trao đổi riêng với những người này thì chắc sự việc sẽ không dừng lại ở đây.

Tuy nhiên, tôi đã không lường hết được những vấn đề do việc công khai trên gây ra, dẫn đến việc phản ứng gay gắt của một số người về cách làm này. Nhân đây tôi xin được xin lỗi các việc này về sự phiền toái đã gây ra cho quý vị. Nhưng tôi cũng xin nói rõ rằng danh sách mà tôi mời dựa trên đánh giá của tôi và các đồng sự tin rằng những người được mời sẵn sàng chia sẻ mục đích và việc làm của Phong trào Con đường Việt Nam thông qua nhận thức của chúng tôi từ những gì mà họ thể hiện trước công chúng. Nhưng rõ ràng là chúng tôi đã thiếu sót mà tôi nghĩ chúng tôi sẽ không thể nhận ra những thiếu sót này nếu không công khai hóa việc làm của mình.

Việc đưa các hoạt động của Phong trào ra công khai còn xuất phát từ một quan điểm là: Phong trào là một hoạt động chính trị – xã hội của quần chúng nên người dân phải được tham dự ngay từ trong quá trình thành lập nó. Chúng tôi phản đối cách làm theo kiểu thỏa thuận trong hậu trường rồi đem nội dung thỏa thuận ra công bố trước dân chúng. Nếu quý vị và các bạn đọc kỹ các tài liệu của Phong trào Con đường Việt Nam thì sẽ nhận ra rằng Phong trào tranh đấu cho việc người dân phải can dự vào các hoạt động và quyết định về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… của đất nước ngay từ lúc chúng bắt đầu cho đến khi kết thúc. Chúng tôi luôn tin vào trí khôn quy ước của đại chúng (conventional wisdom), nếu người dân được công khai để có đủ những thông tin cần thiết thì kết quả cuối cùng sẽ xác lập ở một trạng thái tốt nhất cho dù có rất nhiều xu hướng khác nhau, trái chiều nhau. Sự thỏa hiệp, tức là những thỏa thuận trong hậu trường mà không có sự giám sát của dân chúng thì không phải lúc nào cũng tốt, mà đa phần tạo ra những kết quả đi ngược lại nguyện vọng của người dân.

Việc công khai tất cả các hoạt động của Phong trào rõ ràng là đã tạo ra nhiều xu hướng dư luận khác nhau, trái ngược nhau. Điều này là rất cần thiết để chúng tôi điều chỉnh cách thức hoạt động của mình để cuối cùng sẽ nhận được sự ủng hộ của công chúng nhiều nhất. Chúng tôi cho rằng không ai, dù có tài giỏi đến đâu, lại có thể tiên liệu được hết những tâm tư nguyện vọng của người dân mà xây dựng nên những sách lược phù hợp. Chỉ có cách công khai thì mọi thứ mới có thể bộc lộ ra hết được, kể cả những yếu kém của những người quản trị điều hành như tôi.

Chúng tôi đang nghiên cứu mọi ý kiến của công luận sau 09 ngày phát động Phong trào để điều chỉnh cách thức của mình tốt hơn, kể cả cách thức sáng lập, tham gia và ủng hộ, và cả về mục tiêu, tôn chỉ, phương thức hoạt động của Phong trào . Do vậy tôi mong tiếp tục nhận được những ý kiến góp ý, chỉ trích cho những vấn đề trên để chúng tôi có thể hoàn thiện được Phong trào một cách tốt nhất, phù hợp với đa số công chúng.

Có những nghi ngại cho rằng Phong trào Con đường Việt Nam là cái bẫy, là cách để đảng Cộng sản Việt Nam hạ cánh an toàn thì tôi nghĩ rằng những phân tích của công luận đã làm sáng tỏ là không phải như thế. Đây là sự thật và tôi cũng sẽ có giải trình rõ ràng trước công luận vào lần khác. Vì thời gian và nguồn lực có hạn nên chúng tôi không thể đáp ứng ngay mọi yêu cầu giải trình cùng một lúc. Xin mọi người thông cảm.

Cuối cùng tôi xin một lần nữa cảm ơn các bạn đã ủng hộ Phong trào và mong tiếp tục nhận được các ý kiến đóng góp của các bạn để việc thành lập, quản trị điều hành các hoạt động của Phong trào sẽ được hình thành theo cách mà đa số các bạn muốn, chứ không phải theo ý chủ quan của những người khởi xướng hay sáng lập. Tôi cam kết nguyên tắc này trước công luận.

Xin chân thành cảm ơn quý vị và các bạn. Kính chào trân trọng.

Người sáng lập Phong trào Con đường Việt Nam 

Lê Thăng Long
Theo blog Phong trào Con Đường Việt Nam


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Một vụ đàn áp giáo dân tại giáo điểm Quỳ Châu, hạt Phủ Quỳ, Giáo phận Vinh

GPVO - Vào lúc 7 giờ sáng ngày 11/06/2012, tất cả các linh mục trong hạt Phủ Quỳ cùng giáo dân trên địa bàn huyện Quỳ Châu và bà con láng giềng tập trung về gia đình ông Nguyễn Văn Vị thuộc Bản Bình 2, xã Châu Bình, huyện Quỳ Châu để cùng dâng Thánh Lễ cầu bình an cho gia đình nhân dịp vừa hoàn thành ngôi nhà mới.
Anh Kim Văn Anh
Khi các linh mục và giáo dân tập trung tại nhà ông Nguyễn Văn Vị, về phía chính quyền địa phương có công an huyện Quỳ Châu, công an xã Châu Bình và đại diện một số Ban ngành của xã Châu Bình, cụ thể là bà Đài Duệ - trưởng hội phụ nữ xã Châu Bình; bà Phong - chủ tịch mặt trận xã Châu Bình; ông Bứng - già làng; ông Phòng; ông Sách là dân bản và một số người khác đến gia đình ông Vị quan sát và đề nghị gia đình không được tổ chức mừng lễ thánh Antôn, nhưng ông Nguyễn Văn Vị, chủ nhà nói, chúng tôi không tổ chức mừng lễ thánh Antôn mà chỉ mời các Cha lên mừng tân gia – dâng thánh lễ cầu bình an cho gia đình. Lúc đó, bà Phong - chủ tịch mặt trận xã Châu Bình yêu cầu gia đình tháo gỡ băng rôn (băng rôn này đã được treo trước để Mừng Lễ Thánh Antôn, tờ trình gửi huyện Quỳ Châu, xin cử hành vào ngày 13/6/2012), thì mới được dâng Thánh Lễ. Gia đình ông Nguyễn Văn Vị cùng Ban hành giáo đồng ý tháo gỡ băng rôn.





Sau khi tháo gỡ băng rôn xuống, bà con giáo dân đọc kinh, các linh mục mặc phẩm phục, chuẩn bị dâng thánh lễ. Đang khi đọc kinh thì bị cúp điện, nhưng giáo dân vẫn tiếp tục đọc kinh. Trong lúc đó bà Phong lại yêu cầu gia đình cất tượng thánh Antôn và một số người gây rối lớn tiếng để át lời kinh của giáo dân, đồng thời một số kẻ lạ mặt, khoảng 50 người (bà con giáo dân đã nhận ra một số trong họ là công an), kéo đến ngăn cản bằng cách chụp hình, quay phim cận cảnh khủng bố tâm lý và ném những quả trứng thối lên nền nhà, nơi dâng lễ...



Thấy sự việc xảy ra như thế, các linh mục cởi phẩm phục và yêu cầu chính quyền địa phương lập biên bản, nhưng họ không chịu lập biên bản và nói không được dâng thánh lễ. Vì không được dâng lễ, các linh mục chào tất cả mọi người và ra về. (Tất cả những sự kiện trên đều xảy ra trong căn nhà gia đình ông Nguyễn Văn Vị).

Sau khi các linh mục ra về, gia đình ông Nguyễn Văn Vị tổ chức bữa cơm thết đãi quý khách được mời ở lại cùng chung vui với gia đình. Tham dự bữa cơm, có bà con giáo dân cùng những người láng giềng lương dân. Sau bữa ăn, ai về nhà nấy.

Vào khoảng 12 giờ trưa, bà Thoán với ông Chính và anh Danh đang ngồi uống nước ở nhà ông bà Trần Văn Lương (hàng xóm của ông Vị), thì có ba anh em anh Thuận (con ông Bứng, già làng) vào hỏi: Ông bà Lương đi đâu? Bà Thoán trả lời: Không biết bà Lương đi đâu, còn ông Lương thì đang ngủ trong nhà. Sau đó bà Rự (vợ ông Lương, từ đây gọi là bà Lương) từ nhà bà Ngoãn bên cạnh về và rót nước mời họ uống, nhưng họ không uống mà anh Thuận còn lấy chén nước ném bà Thoán rồi nắm tóc bà Thoán lôi ra khỏi nhà, đồng thời đánh đập bà Lương đến bất tỉnh. Anh Thuận vừa đánh vừa nói: Tao giết chết cả nhà mày… Thấy vậy, ông Chính đưa bà Lương ra phía sau để sơ cứu. Tiếp đó, những người hành hung xông vào trong buồng đánh ông Lương lúc ông đang ngủ. Còn anh Phi, con ông bà Lương ngủ trong phòng, tỉnh dậy chạy ra can ngăn cũng bị đánh tới tấp. Một giáo dân khác là anh Kim Văn Anh, con bà Ngoãn, nhà bên cạnh nghe tiếng la hét chạy sang can ngăn cũng bị đánh đến bất tỉnh. Sự việc đang xảy ra thì công an huyện Quỳ Châu và công an xã Châu Bình xuất hiện (cụ thể là ông Hiệu, công an huyện Quỳ Châu và ông Phó công an xã Châu Bình), nhưng không can ngăn cũng không lập biên bản mà còn ôm vai ôm cổ anh Thuận như bạn bè đưa lên nhà anh Hoài – trưởng công an xã. Sau khi sự việc lắng dịu, vợ anh Anh là chị Ngô Thị Trinh đưa chồng lên cấp cứu ở trạm xá Châu Bình, khi đó anh Thuận theo lên trạm xá và nói: Hôm nay tao chưa giết được mày, ngày mai tao sẽ giết mày. Sau đó, những người bị thương cũng được đưa đến trạm xá xã, nhưng vì vết thương quá nặng nên phải chuyển xuống bệnh viện Nghĩa Đàn…
Ông Trần Văn Lương
Bà Trần Thị Rự (vợ ông Lương)
Anh Kim Văn Anh
Chúng tôi thấy việc tổ chức cầu nguyện và dâng lễ tại gia đình giáo dân là không trái với quy định của Pháp luật. Tại Khoản 1, Điều 7 Nghị Định 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 đã được lặp lại cùng nội dung tại Điều 9 Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004, quy định: “Tín đồ có quyền thực hiện các hoạt động tôn giáo không trái với chủ trương, chính sách và Pháp luật của Nhà nước, tiến hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo, học tập giáo lý, đạo đức, phục vụ lễ nghi tôn giáo tại cơ sở thờ tự”. Do đó, việc gia đình ông Nguyễn Văn Vị dùng nhà ở của mình làm nơi thờ tự cho bà con giáo dân trong suốt thời gian qua, đã được chính quyền chấp thuận, nay tổ chức mừng lễ tân gia làm phép nhà mới và cầu bình an cho gia đình là điều chính đáng và được Pháp luật bảo hộ.

Vì thế, việc chính quyền xã Châu Bình chỉ đạo, tổ chức ngăn cản các Linh mục và gia đình ông Nguyễn Văn Vị cũng như cộng đồng giáo hữu nơi đây thực hiện các quyền nói trên là hành vi vi phạm Pháp luật. Toàn bộ vụ đàn áp, đánh đập dã man các giáo dân tại giáo điểm Tân Bình diễn ra dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch UBND huyện Quỳ Châu, ông Trần Văn Chương, như trong mục 3, Công văn số 03 đã nêu: “Giao cho Chủ tịch UBND xã Châu Bình chỉ đạo không cho bất cứ ai tổ chức các hoạt động tôn giáo trái phép diễn ra trên địa bàn huyện khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép. Tổ chức vận động các hộ giáo dân, các tầng lớp nhân dân không tham gia các hoạt động tôn giáo trái phép”, là những việc làm trái với Pháp luật. Sự có mặt của công an xã Châu Bình và công an huyện Quỳ Châu trong vụ việc xẩy ra tại nhà ông Nguyễn Văn Vị để hậu thuẫn cho những hành động côn đồ này là bằng chứng để nói lên vụ việc có sự chỉ đạo của các cấp chính quyền.

Đây là những việc làm bất chấp pháp luật, không tôn trọng những quyền tối thiểu của con người của cán bộ đảng viên xã Châu Bình, huyện Quỳ Châu, đã được quy định trong Hiến pháp hiện hành của Nhà nước Việt Nam và các Công ước Quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

Tân Bình là một giáo điểm thuộc giáo xứ Nghĩa Thành do cha Gioan Nguyễn Văn Hoan quản nhiệm, hiện có 35 hộ gia đình với khoảng trên 120 giáo dân, đa số là dân nhập cư từ Ninh Bình vào và từ Quỳnh Lưu lên làm ăn sinh sống trên địa bàn. Trong quá trình chung sống với bà con dân tộc thiểu số như Thanh, Thổ, Mường, Mán… cộng đoàn giáo dân này đã tạo được bầu khí hòa thuận thương yêu nhau, không hề có sự xích mích mâu thuẫn xẩy ra giữa các cộng đồng. Theo một số bà con giáo dân cho chúng tôi biết thì mọi tổ chức sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo giữa các cộng đồng dân tộc cũng như các hoạt động xã hội khác, họ đều tham gia tích cực và thậm chí còn đi đầu trong các phong trào quyên góp, để thực hiện các công việc thiện ích chung. Điều đáng nói là cộng đồng Công giáo nơi đây đã có nguồn gốc từ xa xưa. Hai giáo xứ Bàn Tạng và Phú Phương đã được thành lập từ thời các cố Tây và phát triển rất mạnh trong những thời kỳ sau đó. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, giáo dân thuộc hai giáo xứ này phải di dời đến nơi khác, số ít còn lại không đủ điều kiện duy trì những hoạt động theo quy mô của một giáo xứ. Cùng với cộng đoàn giáo dân tản mác này, một số giáo dân di cư từ Ninh Bình vào và một số hộ gia đình từ Quỳnh Lưu đến theo chính sách kinh tế mới sau 1975, họ đã tạo nên một cộng đoàn đức tin nhỏ bé nơi đây. Từ năm 1999, khi cộng đoàn đã lớn mạnh, giáo dân làm đơn xin thành lập giáo họ. Nhưng trải qua 14 năm (1999 – 2012) với 4 lần gửi đơn mà không lần nào nhận được trả lời của các cấp có thẩm quyền.

Thiết nghĩ, nguyện vọng chính đáng của người dân không được giải quyết thỏa đáng mà chỉ đáp lại bằng những hành vi thô bạo, đánh đập và ngăn cản thực hành các việc phụng thờ tôn giáo của họ là thể hiện một cách quản trị xa dân và không quan tâm đến đời sống người dân của một số cán bộ đảng viên trong huyện Quỳ Châu, xã Châu Bình.

Trong cuộc Hội thảo Tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế - Những kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ do Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp với Liên hiệp châu Âu (EU) tổ chức tại thủ đô Hà Nội vào ngày 14/06/2012 vừa qua, các học giả đã nói lên chính sách tôn giáo của đảng và Nhà nước VN là: “luôn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Ðồng thời, nhìn nhận, phát huy những giá trị tích cực về văn hóa và đạo đức của tôn giáo, khuyến khích các hoạt động tôn giáo tiến bộ vì lợi ích của Tổ quốc, nhân dân”.

Nhưng sự việc xẩy ra tại Quỳ Châu ngày 11 tháng 06 năm 2012 phải chăng là mặt trái vấn đề?

GPVO

*****

Kinh thưa Quý vị, đặc biệt các bạn trẻ,

Trong số những người thân của chúng ta

Không phải tất cả đều đã có máy điện toán (vi tính) hoặc có dùng email, hoặc đã có thể nhận được những tài liệu này...

Vì vậy, xin hãy ủng hộ chúng tôi bằng cách phổ biến tài liệu này bằng email hoặc in ra, photocopy và gởi cho người thân của Quý vị.

Đặc biệt xin gởi cho những ai chưa có sử dụng internet

Xin chân thành cám ơn

conggiaovietnam@gmail.com

------------------------------------------

Nguồn:


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Khổng Tử và thùng phiếu bầu cử

Tại sao những giá trị châu Á không hề cản trở dân chủ

Bắt đầu từ giữa những năm 1980, làn sóng dân chủ hóa thứ ba đã quét qua châu Á, mang nền chính trị đa đảng sôi động đến cho các chế độ độc tài trước đây như Hàn Quốc và Đài Loan. Tuy vậy, ngày nay, theo tính toán của Doh Chull Shin, trong 16 nước Đông Á và Đông Nam Á hiện nay chỉ bao gồm sáu nền dân chủ đang hoạt động - một tỷ lệ kém hơn so với mức trung bình trên toàn thế giới là cứ 10 nước thì có 6 nền dân chủ. Khu vực này tiếp một số chế độ độc tài dai dẳng nhất của thế giới. Trong khi đó, Campuchia, Philippines, và Thái Lan đã từ lâu chơi trò bập bênh giữa các chính phủ được bầu và không được bầu. Thêm vào đó,thành công kinh tế cũng như sự ổn định chính trị của Trung Quốc đã khiến cho quốc gia này trở thành một mô hình nghiên cứu đáng ghen tị bởi những “ông lớn” trên khắp thế giới. Vậy, mô hình này có ý nghĩa như thế nào đối với châu Á mà sao quá khó khăn để dân chủ bám rễ?

Một phần giải thích có thể bắt nguồn từ nền văn hóa. Tuy nhiên, các cuộc thảo luận về văn hóa đôi khi có thể bóp méo hơn là soi rọi mối quan hệ giữa các giá trị và nền quản trị. Đây chính là cuộc tranh luận kéo dài về việc liệu các giá trị truyền thống châu Á có tương thích với nền dân chủ - một tranh cãi mà cuốn sách của Shin cố gắng giải quyết bằng cách tách biệt những gì là huyền thoại khỏi những sự kiện và những gì là giả định khỏi bằng chứng.

CÁC GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH

Khổng Tử và thùng phiếu bầu cử
Cuộc tranh luận về các giá trị châu Á khởi phát vào những năm 1990 từ các nhà lãnh đạo của Malaysia và Singapore, những người lo ngại sự chấm dứt Chiến tranh Lạnh và áp lực của Mỹ đối với Trung Quốc về nhân quyền và dân chủ sau sự kiện Thiên An Môn sẽ làm mất ổn định khu vực.Trong bài phỏng vấn của Tạp chí Foreign Affairs năm 1994 với Fareed Zakaria ("Văn hóa là số mệnh," Tháng Ba / Tháng Tư 1994), nhà lãnh đạo Singapore khi đó, Lý Quang Diệu, cảnh báo các nước phương Tây "không nên gán một cách bừa bãi hệ thống của họ lên những xã hội vốn không thể dung nạp." Lý tuyên bố rằng dân chủ kiểu phương Tây, với sự nhấn mạnh về các quyền cá nhân, không phù hợp với các nền văn hóa hướng vê gia đình của khu vực Đông Á.Trong một bài phát biểu một vài năm trước đó, Lý đã lập luận rằng các xã hội châu Á sẽ phát triển mạnh không phải bằng cách áp dụng các mô hình kinh tế, các chuẩn mực xã hội, và các chiến lược quản trị phương Tây mà bằng cách bảo tồn những gì ông mô tả là năm mối quan hệ (ngũ thường) quan trọng nhất đối với đạo Khổng: "Một là, lòng yêu thương giữa cha và con (nhân); hai là, nghĩa vụ giữa người cai trị và dân chúng (nghĩa); ba, sự tôn kính giữa vợ và chồng (lễ); bốn là, tôn kính người có tuổi (kính), và năm là, đức tín giữa những người bạn (tín)".

Những quan điểm của Lý, và quan điểm tương tự của những người khác, trở thành giả thuyết "các giá trị châu Á". Theo quan điểm này, không chỉ các giá trị châu Á xung đột với dân chủ tự do phương Tây, mà cả những giá trị từng là yếu tố chính đằng sau sự tăng trưởng kinh tế mà các nước châu Á hưởng thụ trong những năm 1990. Nhưng giả thuyết này chưa bao giờ được chấp nhận rộng rãi, ngay cả trong khu vực. Như Kim Dae-jung, một nhà bất đồng chính kiến Hàn Quốc - người sau này trở thành Tổng thống của Hàn Quốc, lập luận trong số tiếp theo của Tạp chí Foreign Affairs ("Văn hóa là số mệnh? Các giá trị kháng dân chủ của câu chuyện thần thoại châu Á," Tháng Mười Một / Tháng Mười hai năm 1994) thì trở ngại lớn nhất để dân chủ hóa ở châu Á không phải là văn hóa khu vực, cái mà Kim cho là: "đã có cả một di sản triết học và truyền thống định hướng dân chủ ", mà là "sự kháng cự của các nhà cầm quyền độc tài và những người biện hộ cho họ." Kim buộc tội Lý về việc thúc đẩy một quan điểm về văn hóa Châu Á là "không những không đáng ủng hộ mà còn có mục đích phục vụ nhu cầu riêng."

Cuộc tranh luận đã trở nên gay gắt từ đó đến nay. Tuy nhiên, trong quá trình tranh luận đã lộ ra rất nhiều những ý tưởng mơ hồ và mâu thuẫn về “các giá trị châu Á”. Vậy, "các giá trị châu Á" thực sự đòi hỏi những gì?

THEO KHỔNG TỬ THÌ NÊN LÀM GÌ?

Shin đi theo hướng nghiên cứu đó bằng cách nhìn lại lịch sử của Khổng giáo: rà soát các văn bản cổ điển của triết học, lên biểu đồ tiến hóa của Khổng giáo theo thời gian, và ghi chép biên niên sử lan truyền Khổng giáo từ Trung Quốc tới Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, và Việt Nam, sáu quốc gia mà ông đã phân loại thuộc nhóm "Châu Á Khổng giáo ", dựa trên ảnh hưởng lâu dài của Khổng tử ở những nơi này. Ông xác định năm giá trị tiếp tục định hình nền văn hóa của các xã hội này ngày nay: chủ nghĩa tập thể thứ bậc (sự trung thành với các nhà lãnh đạo nhóm), chế độ tuyển chọn nhân tài gia trưởng (sự cai trị nhân từ của một giới tinh hoa đạo đức), sự nhân nhượng và thích nghi giữa các cá nhân (tránh xung đột với những người khác), nhấn mạnh lợi ích cộng đồng và sự hài hòa (hy sinh lợi ích cá nhân cho cộng đồng), và chủ nghĩa gia đình kiểu Khổng giáo (đặt gia đình lên trên bản nhân). Những đặc điểm này được cho là mang lại hiệu ứng mang tính khu vực trong đó đánh giá tập thể cao hơn cá nhân và sự hài hòa cao hơn sự tự khẳng định. Shin thiết kế việc đo lường xem mỗi giá trị này mạnh mẽ như thế nào ở các nước châu Á khác nhau bằng cách phân tích dữ liệu từ hai dự án nghiên cứu quan điểm được tiến hành trong giai đoạn 2005-8: một cuộc khảo sát ở 57 quốc gia do Hiệp hội Khảo sát Các Giá trị Thế giới thực hiện và một cuộc Khảo sát Phong vũ biểu Châu Á ở 13 quốc gia . (Tôi là thành viên của ủy ban chỉ đạo Khảo sát Phong vũ biểu châu Á, và là đồng chủ biên một cuốn sách với Shin và các cộng sự khác dựa trên những phát hiện về làn sóng trước đây từ cuộc khảo sát.)

Các nhà phê bình coi nghiên cứu về văn hóa dựa trên khảo sát là khiếm khuyết dưới ba góc độ. Thứ nhất, nếu văn hóa là cái gì đó được chia sẻ bởi tất cả các thành viên trong xã hội, xem văn hóa như là việc phân bổ các giá trị và các quan điểm giữa các cá nhân sẽ bỏ qua biểu hiện văn hóa như một trải nghiệm mà cộng đồng cùng chia sẻ. Thứ hai, bằng cách giản đơn văn hóa xuống còn một loạt các mục câu hỏi, phương pháp khảo sát tỏ ra quá đơn giản hóa những quan điểm vốn phức tạp, nhiều lớp. Thứ ba, định dạng câu hỏi vô hình chung buộc người trả lời lựa chọn trong số các câu trả lời cứng nhắc có thể không phản ánh đầy đủ niềm tin của họ.

Dẫu biết tất cả những điều đó, phương pháp khảo sát vẫn không thể không có. Không có cách tiếp cận nào khác tốt hơn thế để tìm ra những điều chung nhiều người đang thực sự tin tưởng vào. Và phương pháp này cũng chỉ rườm rà hơn chút ít so với phương pháp “biểu lộ” cũ rích theo đạo diễn và tuyên bố rằng tất cả các thành viên của quốc gia chia sẻ một số chuẩn mực mơ hồ. Việc Shin sử dụng dữ liệu là đặc biệt chuyên nghiệp. Ví dụ, ông đo sức mạnh của chủ nghĩa gia trưởng ở mỗi nước trên cơ sở số người trả lời Khảo sát Phong vũ biểu châu Á đã nhất trí với hai mệnh đề: "Mối quan hệ giữa chính phủ và dân chúng nên giống như mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái" và "các lãnh đạo chính phủ giống như ông chủ của một gia đình; tất cả chúng ta nên tuân theo quyết định của họ ". Shin kết hợp những dữ liệu này với câu trả lời đối với hai mệnh đề về chế độ tuyển chọn nhân tài : "Nếu chúng ta có các nhà lãnh đạo chính trị ngay thẳng về mặt đạo đức , chúng ta có thể phó mặc họ quyết định tất cả mọi thứ" và "Nếu có thể, tôi không muốn tham gia trong các vấn đề chính trị." Ông sử dụng bốn câu hỏi để tạo ra một thang điểm gắn với chế độ tuyển chọn nhân tài gia trưởng. Ông nhận thấy đây là giá trị mà công dân của các chế độ độc tài ở Trung Quốc, Singapore, và Việt Nam theo đuổi cao nhất và công dân của các chế độ dân chủ ở Nhật Bản và Đài Loan ít theo đuổi nhất, theo đúng như giả thuyết các giá trị châu Á dự đoán.

Tuy nhiên, dữ liệu của Shin cho thấy một vài phát hiện mâu thuẫn với giả thuyết đang bàn. Trước hết, các giá trị của những người châu Á Khổng giáo không hề là "Khổng giáo hơn" so với những người ở nơi khác; mà quả thực, lại thường ít hơn. Có một tỷ lệ nhỏ hơn công dân trong khu vực “tôn thờ” chế độ tuyển chọn nhân tài gia trưởng so với khu vực châu Á Không Khổng giáo theo định nghĩa của Shin bao gồm Indonesia, Malaysia, Mông Cổ, Philippines, và Thái Lan. So với sáu khu vực khác trong Khảo sát Giá trị Thế giới, châu Á Khổng giáo chỉ ở vị trí thứ tư về hệ thống thứ bậc, sau thế giới Hồi giáo, châu Phi và Mỹ Latinh. Một giải thích thỏa đáng cho những phát hiện này là các giá trị Khổng giáo không hề mang tính đặc sắc Châu Á; thay vào đó, những giá trị này thuộc về một nhóm các giá trị truyền thống mang tính phổ quát. Giải thích đó được ủng hộ bởi một thực tế là các quốc gia châu Á Khổng giáo không hoàn toàn đồng nhất về chuẩn mực và niềm tin. Có ít hơn bảy phần trăm người Nhật Bản tuân thủ các giá trị về thứ bậc, so với hơn 40% của người Việt Nam; hơn một nửa số người Hàn Quốc theo chủ nghĩa quân bình, so với chỉ 30% của Trung Quốc.

SỬ DỤNG (VÀ LẠM DỤNG) VĂN HÓA

Sự kiện chủ nghĩa truyền thống là khác nhau giữa và trong các xã hội hầu như không đáng ngạc nhiên: một số phiên bản của phát hiện đó được đúc kết thành phương pháp khảo sát tích hợp từ các dữ liệu cấp độ vi mô. Phát hiện của Shin có ý nghĩa bởi nó xác nhận một lý thuyết thống trị về một trong những lý do chính vì sao các giá trị cá nhân và do đó các giá trị của các nhóm quần chúng thay đổi theo thời gian. Các giá trị truyền thống thường phổ biến trong số những người châu Á lớn tuổi, ít học, và có thu nhập thấp - nói cách khác, đó là những người ít tiếp xúc với các ý tưởng, công nghệ, và các hoạt động kinh tế đang ngày càng định dạng cuộc sống hiện đại ở thế giới phát triển và đang phát triển. Các học giả làm việc với các dữ liệu khảo sát cho thấy lâu nay các quan niệm truyền thống mất dần đi khi người dân di chuyển ra các thành phố, biết đọc biết viết, tiếp thu giáo dục chính thức, làm việc trong các doanh nghiệp hiện đại, và hòa mình với các phương tiện truyền thông hiện đại. Vì thế Shin lập luận rằng việc đa dạng giá trị trên toàn châu Á bắt nguồn từ những tác động không đồng đều của hiện đại hóa.

Các nền dân chủ cũng có thể ảnh hưởng hoặc khai thác văn hóa thành lợi thế riêng của mình. Shin phát hiện trên thực tế rằng sinh sống trong một nền dân chủ có tác động lớn hơn quá trình hiện đại hóa trong việc thay đổi quan điểm của dân chúng về giá trị truyền thống. Ông đã cho thấy một con người với giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, và thu nhập nào đó nhiều khả năng sẽ từ bỏ cam kết của mình đối với các giá trị truyền thống nếu người đó sống trong một quốc gia dân chủ hơn là nếu họ sống trong một hệ thống độc tài. Điều này phản ánh thực tế rằng một hệ thống dân chủ, một khi đặt đúng nơi, sẽ thúc đẩy các giá trị giữa các công dân của nó và những người này giúp nền dân chủ ấy hoạt động. Một số hình thức của chủ nghĩa truyền thống châu Á thậm chí có thể hữu ích cho nền dân chủ. Theo Shin, người Khổng giáo ủng hộ thuyết gia đình mạnh để giúp cố kết niềm tin và sự khoan dung trong xã hội rộng lớn hơn, trái ngược với nhận thức phổ biến cho rằng lòng trung thành tuyệt đối lại không tương thích với các chuẩn mực dân chủ. Cũng không phải chế độ lựa chọn người tài gia trưởng là một trở ngại cho dân chủ hóa: trong thực tế, điều đó dường như có khả năng thúc đẩy việc bảo vệ các chế độ dân chủ cũng y như bảo vệ chế độ độc tài. Giả thuyết các giá trị châu Á đã thất bại trong việc giải thích khả năng các chế độ định hình văn hóa, điều vốn được xem như là một nguồn tài nguyên được khai thác bởi các chế độ và các đối thủ của họ trên cả hai mặt của sự phân chia dân chủ - độc tài. Các giá trị của công dân không phải là điều duy nhất xác định kiểu chính phủ một xã hội sẽ có.

Nhưng các chế độ không hề bó tay trong việc chống lại các lực lượng này. Các chính phủ độc tài có thể sử dụng các hệ thống giáo dục và tuyên truyền để thuyết phục công dân rằng các quy tắc hiện hành mà họ có là đủ dân chủ. Shin thấy rằng hầu hết người châu Á nói rằng họ thích sống trong một nền dân chủ, nhưng sự ủng hộ cho dân chủ giảm mức độ khi họ được truy vấn về những nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho dân chủ chính hiệu. Điều nổi bật hơn cả là khoảng trống giữa ủng hộ cho dân chủ như là một thương hiệu và ủng hộ cho dân chủ như là một tập hợp các thủ tục được thể hiện rõ ràng hơn trong những hệ thống độc tài so với trong những hệ thống phi độc tài. Ví dụ, ở Trung Quốc, 65% số người được hỏi ủng hộ dân chủ trên nguyên tắc, nhưng chỉ có 28% cho rằng cơ hội thay đổi chính phủ thông qua bầu cử là cần thiết để có dân chủ, và ít hơn bốn phần trăm nói rằng sự tự do chỉ trích người nắm quyền lực là điều cần thiết.

Bằng cách nuôi dưỡng những giá trị phi tự do trong lòng công dân của mình, một số chế độ châu Á được bên ngoài phân loại là độc tài, chẳng hạn như Trung Quốc và Việt Nam, có thể miêu tả bản thân mình là dân chủ trước các công dân của họ. Thực tế các quốc gia đã thành công hơn trong việc tự huyễn hoặc này so với các chế độ độc tài nhất ở những nơi khác cho thấy có ít điều để nói về các giá trị của công dân nước họ hơn so với việc bàn về các kết quả kinh tế sống động và hệ thống tuyên truyền tinh vi.

Các nền dân chủ cũng có thể ảnh hưởng hoặc khai thác văn hóa thành lợi thế riêng của mình. Shin phát hiện trên thực tế rằng sinh sống trong một nền dân chủ có tác động lớn hơn quá trình hiện đại hóa trong việc thay đổi quan điểm của dân chúng về giá trị truyền thống. Ông đã cho thấy một con người với giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, và thu nhập nào đó nhiều khả năng sẽ từ bỏ cam kết của mình đối với các giá trị truyền thống nếu người đó sống trong một quốc gia dân chủ hơn là nếu họ sống trong một hệ thống độc tài. Điều này phản ánh thực tế rằng một hệ thống dân chủ, một khi đặt đúng nơi, sẽ thúc đẩy các giá trị giữa các công dân của nó và những người này giúp nền dân chủ ấy hoạt động.

Một số hình thức của chủ nghĩa truyền thống châu Á thậm chí có thể hữu ích cho nền dân chủ. Theo Shin, người Khổng giáo ủng hộ thuyết gia đình mạnh để giúp cố kết niềm tin và sự khoan dung trong xã hội rộng lớn hơn, trái ngược với nhận thức phổ biến cho rằng lòng trung thành tuyệt đối lại không tương thích với các chuẩn mực dân chủ. Cũng không phải chế độ lựa chọn người tài gia trưởng là một trở ngại cho dân chủ hóa: trong thực tế, điều đó dường như có khả năng thúc đẩy việc bảo vệ các chế độ dân chủ cũng y như bảo vệ chế độ độc tài.

Giả thuyết các giá trị châu Á đã thất bại trong việc giải thích khả năng các chế độ định hình văn hóa, điều vốn được xem như là một nguồn tài nguyên được khai thác bởi các chế độ và các đối thủ của họ trên cả hai mặt của sự phân chia dân chủ - độc tài. Các giá trị của công dân không phải là điều duy nhất xác định kiểu chính phủ một xã hội sẽ có.

MỘT GIẢ THUYẾT SAI LẦM

Do văn hóa không phải là một cái lồng sắt nên người ta phải xem xét các yếu tố khác để dự đoán tương lai của nền quản trị ở châu Á. Một chỉ báo quan trọng là kết quả thực hiện. Xét cho cùng, sự ổn định của một chế độ nào đó phụ thuộc phần lớn vào năng lực của chế độ ấy đáp ứng nhu cầu của công dân của mình. Kinh tế trì trệ, bất bình đẳng thu nhập, và tham nhũng sẽ làm suy yếu tính hợp pháp của bất kỳ chính phủ nào.

Tuy nhiên, phát hiện của Shin hàm ý rằng hệ thống độc tài dễ bị tổn thương hơn trước các cuộc khủng hoảng về tính hợp pháp so với hệ thống dân chủ. Ở các nước độc tài châu Á, một tỷ lệ cao công dân xem dân chủ vừa là điều mong muốn vừa là sự hợp lý đối với đất nước mình. Ngược lại, ở các quốc gia mà dân chủ đã thay thế chế độ độc tài mất uy tín (ví dụ: lãnh đạo quân sự tại Hàn Quốc, chế độ độc đảng tại Đài Loan, và chế độ cai trị kiểu hoàng đế tại Nhật Bản), sự ủng hộ cho các giải pháp thay thế chế độ độc tài thay đổi từ 4% đến 17%. Các nền dân chủ châu Á đã chứng minh năng lực ứng phó với tác động của hoạt động yếu kém bởi trên thực tế công dân ở các nước này luôn nhìn thấy chính quyền của họ hợp pháp ngay cả khi có đấu tranh. Trong khi đó, các nước láng giềng độc tài có thể tránh cuộc khủng hoảng tính hợp pháp bằng cách ém nhẹm tham nhũng và giữ nền kinh tế tăng trưởng. Khi nền kinh tế hoặc các hệ thống phúc lợi xã hội của họ “trục trặc”, công dân sẽ có xu hướng đòi hỏi quyền lợi nhiều hơn từ phía chính phủ.

Văn hóa tương tác với các lực lượng kinh tế-xã hội, các thể chế chính trị, thực hành chế độ, và giới lãnh đạo để xác định số phận của chế độ, và không có bất cứ yếu tố duy nhất nào là nguyên nhân chính yếu. Giả thuyết các giá trị châu Á đã sai lầm khi tuyên bố rằng dân chủ không thể tồn tại ở châu Á. Tuy nhiên, điều tương tự cũng đúng khi phản biện rằng hiện đại hóa sẽ tự động hủy diệt các chế độ độc tài ở khu vực. Họ có thể sống sót trong một thời gian dài tới đây. Tuy nhiên, cửa đặt cược vào văn hóa đang được xếp chồng lên nhau chống lại họ.

ANDREW J. NATHAN là Giáo sư Khoa học Chính trị Lớp 1919 tại Đại học Columbia và là đồng tác giả, cùng với Andrew Scobell, của cuốn sách sắp xuất bản mang tên Trung Quốc Kiếm tìm An ninh.

Bản dịch của Quang Thành
Theo Viet-Studies

Bàn dịch bài: Confucius_Democracy_Jul2012
---------------------
Nguồn: Confucius and the Ballot Box, Foreign Affairs
July/August 2012


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Đúng là báo chí cách mạng

Ngày 21/6/2012, các cấp đảng, nhà nước và các cấp Hội nhà báo, các cơ quan báo chí long trọng, phấn khởi và rầm rộ tổ chức mừng ngày báo chí cách mạng Việt Nam tròn 87 năm. Tối 21/6, điểm nhấn của ngày kỷ niệm quan trọng đó là chương trình trao giải báo chí quốc gia tại Hà Nội.

Mừng ngày báo chí Cách mạng, tranh biếm họa của Kỳ Văn Cục
Cũng lạ, rất nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cơ quan, trường học, khi tổ chức kỷ niệm hình thành/thành lập, lâu nay, thường cố ý đẩy lùi thời gian về phía quá khứ, vượt qua những cái mốc 1945, 1954, 1975... để có tuổi đời cao hơn. Độ dài được đẩy lùi có thể thuộc vào thời kỳ thực dân đế quốc hoặc ngụy quyền Sài Gòn cũng được. Thậm chí, như Ngày Nhà giáo Việt Nam, vừa lấy ngày 20/11 của thế giới, vừa kỷ niệm truyền thống nhà giáo cả từ thời Vua Hùng. Cách làm ấy rộ lên từ thời “đổi mới”, khiến người ta thấy có cảm giác mềm hơn về cách đối xử/đánh giá lịch sử trong tinh thần trân trọng quá khứ, hòa hợp hòa giải dân tộc. Chỉ có báo chí, lịch sử từ Gia Định báo năm 1865 xem như bỏ đi và lấy ngày 21/6/1925 để chỉ kỷ niệm báo chí “cách mạng”. Dĩ nhiên, sau ngày 21/6/1925 ấy, vẫn có rất nhiều báo chí khác “không cách mạng”, do tư nhân làm, cũng có thể có lợi cho cách mạng, nhưng không được kể đến. Trên mặt trận này, đảng kiên trì khái niệm “báo chí cách mạng”, với hàm nghĩa chỉ là các loại hình và sản phẩm báo chí do đảng lãnh đạo, khởi xướng, thành lập và quản lý, nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng của đảng, là báo chí của đảng.

Trong ngày kỷ niệm, người ta nói nhiều đến những từ nhà báo dấn thân, tính chân thật, sự thật, sức hấp dẫn như là những biểu hiện giá trị phổ quát của hoạt động xã hội đặc thù này. Riêng với cụm từ “nhà báo dấn thân”, khi được xướng lên tạo cảm xúc về một cái gì đó rất lãng mạn, giống như cái thời triết học hiện sinh và phong trào hippy hòa vào cuộc đấu tranh chống chính quyền ở miền Nam, đấu tranh phản chiến diễn ra ở các đô thị Nam Việt Nam và một số nước như Mỹ, Pháp vậy. Nhưng thời ấy, đó là cái lãng mạn có thật, chân thành, vô tư lợi và tự do. Bây giờ, với hơn 17.000 nhà báo được cấp thẻ, ăn lương của dân, phục vụ cho việc tuyên truyền, bảo vệ đảng và chế độ chính trị thì cớ gì không dấn thân ? Nếu không dân thân thì đó là vì năng lực kém hoặc vì hèn và sợ hãi của nhà báo trong cái vòng kim cô của đảng như cách nói của nhiều blogger, hoặc vì không có lợi về việc kiếm chác thu nhập thêm.

Đúng là sẽ có rất nhiều giá trị trong nghiệp dĩ báo chí và cũng rất cần trân trọng, cảm động kỷ niệm những giá trị đó nếu hoạt động báo chí diễn ra giống như nó đang diễn ra ở nhiều nền văn hóa chính trị khác, trong đó nhà báo tự nguyện và được khuyến khích, được tạo điều kiện để thực hiện những thiên chức xã hội, cộng đồng, công chúng của mình. Còn ở Việt Nam, để có được những giải báo chí quốc gia, được chọn lựa từ hàng ngàn tác phẩm dự thi, trước hết, như được quảng cáo trước đó trên VTV1, phải bám sát các chủ trương chính sách của đảng, nhà nước.

Có lẽ vì vậy, cũng trong sáng ngày 21/6/2012, Quốc hội làm việc, bỏ phiếu thông qua một số luật, trong đó có Luật Biển, song cho đến tối ngày 21, rất ít cơ quan thông tin nhà nước đưa tin này như nội dung điểm tin trên anhbasam.wordpress.com. Riêng với VTV1, buổi trưa có lướt qua nội dung làm việc buổi sáng nhưng không có đưa tin tại chỗ, xem như Quốc hội họp kín; đến buổi tối thì không còn nội dung gì của phiên làm việc buổi sáng nữa. Phương án chọn lọc thông tin đó hết sức lạ lùng trong hoàn cảnh đây là bộ luật mà đúng ra đã thông quan trong nhiệm kỳ Quốc hội trước. Không biết đó là bám sát chủ trương của đảng, nhà nước hay thực hiện đúng cam kết của nhà đài VTV trong văn bản hợp tác với phía đài Trung Quốc; hoặc cũng có thể, đó là quyết định chọn tin theo quan điểm Trọng Thủy để phù hợp với việc có 01 đại biểu Quốc hội bỏ phiếu chống việc thông qua Luật Biển.

Với những người không làm báo, chỉ thụ hưởng thông tin trong xã hội ta, cách làm của báo chí như thế nào chắc cũng là đúng, là có lý, là hợp chủ trương, quan điểm lãnh đạo của đảng, vì đó là báo chí cách mạng. Nhờ vậy mà báo chí được tự do, hưởng nhiều mưa móc của chế độ, chả so với báo chí tư sản, chẳng hạn như Mỹ, giải báo chí danh giá nhất là giải Pulitzer, cũng chỉ giao cho một trường đại học tổ chức; nhà nước cũng không bỏ ra đồng bạc nào để thăm viếng ngày nhà báo và tài trợ cho giải thưởng; cũng không có vị lãnh đạo nào đến dự buổi trao giải. Giá trị giải thưởng cũng trên dưới 10.000 dollar.

Có thể, trong niềm hân hoan như vậy, không một nhà báo Việt Nam nào nghĩ đến việc tạo ra những tác phẩm báo chí bám sát chủ trương chính sách của Đảng Dân chủ, Đảng Cộng hòa và nhà nước Hoa Kỳ để nhận giải Pulitzer.

© Xích Tử
Theo Dân Luận


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Trung Quốc chỉ trích Việt Nam qua việc tranh chấp chủ quyền

Tin New York Times

Trung Quốc chỉ trích Việt Nam qua việc tranh chấp chủ quyền

Bắc Kinh – Bày tỏ tính kiên quyết của mình qua chuyện tranh chấp ở biển Nam Hải, Trung Quốc đã chỉ trích Việt Nam dữ dội hôm thứ Năm ngày 21 tháng Sáu sau khi Việt Nam thông qua một đạo luật cho mình có chủ quyền lên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Bắc Kinh nói những quần đảo này là lãnh thổ của Trung Quốc “không thể tranh cãi được”.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc ở Bắc Kinh đã mời đại sứ Việt Nam ông Nguyễn Văn Thọ đến để phản đối mạnh mẽ về đạo luật mới này, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc ông Hong Lei nói.

“Luật Hàng hải Việt Nam, tuyên bố chủ quyền và quyền pháp lý lên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là một sự vi phạm chủ quyền của Trung Quốc trầm trọng,” theo bản tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc. “Trung Quốc bày tỏ sự phản đối cương quyết và mãnh liệt của mình.”

Sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam về đạo luật này, vốn được soạn thảo trong nhiều năm qua, là một thí dụ gần đây nhất về tính cương quyết của Trung Quốc muốn cho các nước láng giềng trong vùng châu Á thấy biển Nam Hải là lãnh thổ của Trung Quốc.

Bản tuyên bố của Trung Quốc ra đời hai tuần trước khi có buổi họp của các Bộ trưởng Ngoại giao trong khối Đông Nam Á châu (ASEAN) sẽ xảy ra ở Phnom Penh, thủ đô Cam-bốt, và Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ bà Rodham Clinton sẽ đến tham dự, người ta cho rằng việc tranh chấp chủ quyền ở biển Nam Hải sẽ là điểm chính trong chương trình nghị sự.

Để gia tăng tính chủ quyền của mình, Trung Quốc thông báo là họ đã gia tăng mức quản lý lên ba quần đảo nằm trong vùng này: Hoàng Sa, Trường Sa và Dãi Macclesfield, được biết đến dưới tên đảo Nansha, Xisha và Zhongsha theo cách gọi của Trung Quốc.

Quốc Sự Vụ Trung Quốc đã thông báo cho hay cấp quản lý hành chánh của ba quần đảo này và vùng biển chung quanh mang tên Sansha được nâng lên cấp cao hơn cấp huyện như trước đây.

Thông tấn xã Xinhua của nhà nước đưa lại lời phát biểu của phát ngôn viên Bộ Nội vụ nói rằng sự nâng cấp hành chánh của những quần đảo này sẽ “cũng cố hơn nữa sự phát triển và quản lý” của Trung Quốc lên nhóm đảo này.
Hình một hòn đảo nhỏ đang chìm trong nước biển thuộc chùm đảo Trường Sa, chụp hôm 18 tháng Tư năm 2010. Nguồn hình: Reuters
Trung Quốc và Nam Việt Nam đã từng đánh nhau vì tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa năm 1974, và một Việt Nam thống nhất cũng đã có đụng độ ngắn ngủi với Trung Quốc năm 1988 cũng vì những quần đảo này. Trung Quốc hiện đang kiểm soát quần đảo Hoàng Sa và những bãi cát cạn cũng như bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa, theo Nhóm Khủng hoảng Thế giới, là một tổ chức nghiên cứu. Dãi Macclesfield bao gồm một vùng san hô và đá ngầm nằm gần hai quần đảo lớn hơn là Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong một sự tranh chấp khác ở vùng biển Nam Hải, Tổng thống Phi Luật Tân ông Behigno S. Aquino nói hôm thứ Tư là ông sẽ ra lệnh cho tàu hải quân Phi trở lại vùng Scarborough nếu Trung Quốc không chịu đưa tàu của họ ra khỏi vùng này như Trung Quốc đã hứa.

Cuộc dùng dằng kéo dài hai tháng giữa Trung Quốc và Phi Luật Tân ở bãi cát ngầm này được lắng dịu lại cuối tuần rồi khi một trận bão quét qua đây làm các tàu đánh cá và một chiến hạm Phi buộc phải rời khỏi vùng này. Trung Quốc cũng cam kết là đưa các tàu của họ ra khỏi vùng này, Phi Luật Tân cho hay.

Nhưng trong tuần này, viên chức Phi nói là cả chục chiếc tàu đánh cá và tàu của nhà nước Trung Quốc vẫn còn hoạt động ở đây. Vị trí chính xác của tàu Trung Quốc - ở trong hay ở ngoài cái phá lớn của bãi cát ngầm này – thì không rõ.

Phát ngôn viên chính phủ Phi Luật Tân ông Raul Hernandez nói là là một thỏa thuận bằng lời giữa hai bên Trung Quốc và Phi Luật Tân chỉ áp dụng cho việc rút tàu ra khỏi phá nằm bên trong bãi cát ngầm, là nơi các tàu đang tránh bão, và cũng là nơi ngư dân Trung Quốc đánh trộm cá và hàng san hô hiếm.

“Cả hai bên vẫn đang thảo luận về những chiếc tàu đang nằm bên ngoài phá,” ông Raul nói ở một đài phát thanh Phi Luật Tân.

Buổi họp của các Bộ trưởng Ngoại giao của khối ASEAN ở Phnom Penh lần này chắc chắn sẽ bị hai áp lực cạnh tranh nhau giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về những căng thẳng ở vùng Biển Nam Hải.

Mới tháng rồi, ở một buổi họp thường kỳ của khối ASEAN tại Phnom Penh để chuẩn bị cho buổi họp của các bộ trưởng sắp tới, Cam-bốt là nước đang đóng vai trò chủ tịch khối ASEAN trong năm nay và cũng là một đồng minh gần gũi của Trung Quốc, đã từ chối không phép ban hành một tuyên cáo về sự cần thiết phải có một giải pháp hoà bình cho những tranh chấp ở biển Nam Hải.

Giới quan sát thời cuộc tin rằng Hoa Kỳ sẽ kêu gọi khối ASEAN cũng cố hơn nữa nguyên tắc ứng xử ở biển Nam Hải hiện đang được áp dụng, bất chấp sự phản đối của Trung Quốc.

© DCVOnline
---------------------
Nguồn:

(1) China Criticizes Vietnam in Dispute Over Islands. The New York Times, by Jane Perlez and research contributed by Bree Feng, 21 June 2012


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Họp báo đệ trình Kiến Nghị Thư tại trụ sở Quốc Hội Liên Bang Úc

Kiến Nghị Thư yêu cầu Thượng Viện Quốc Hội Úc trực tiếp đặt cuộc Đối Thoại Nhân Quyền với cộng sản Việt Nam dưới sự kiểm sát của Quốc Hội và đặt điều kiện cải tiến nhân quyền trong mọi viện trợ phát triển của Úc cho cộng sản Việt Nam đã được Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu khởi xướng và Thượng Nghị Sĩ Liên Bang Ron Boswell bảo trợ.

Đây là một bước tiến vô cùng quan trọng vì Kiến Nghị Thư này gia tăng vai trò của Cộng Đồng Người Việt Tự Do trong việc theo dõi, đóng góp ý kiến và cập nhật tin tức về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam, khi cuộc Đối Thoại Nhân Quyền song phương diễn ra tại Úc Châu, và tạo cơ hội cho Quốc Hội thẩm định tra cứu hiệu quả của các cuộc Đối Thoại.

Kiến Nghị Thư với trên 55000 chữ ký của đồng hương và thân hữu khắp nơi:

Vào sáng ngày Thứ Năm 21/6/2012, một phái đoàn của CĐNVTD Liên bang Úc Châu đã tổ chức một cuộc họp báo tại trụ sở Quốc Hội Liên Bang Úc vào lúc 9:30 sáng, để đệ trình Kiến Nghị Thư với hơn 55 ngàn chữ ký của đồng hương, yêu cầu chính phủ Úc hãy chú trọng hơn nữa về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam.

Đáp lời kêu gọi của Ban Chấp Hành CĐNVTD, mặc dù thời tiết giá lạnh sáng sớm mùa đông dưới 10 độ C, đồng hương từ Sydney đã lên xe buýt khởi hành từ 5 giờ sáng và đồng hương từ Melbourne đã lên đường từ tối hôm trước tới thủ đô Canberra để yểm trợ tinh thần cho phái đoàn, đồng thời nêu rõ ước vọng của người Úc gốc Việt là muốn có tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.

Phái đoàn đại diện CĐNVTD gồm có LS Võ Trí Dũng và anh Nguyễn Thế Phong, tân và cựu Chủ Tịch CĐNVTD Liên Bang, anh Lê Công Chủ Tịch CĐNVTD/ACT, anh Nguyễn Văn Bon Chủ Tịch CĐNVTD/VIC và anh Nguyễn Toàn Phó Chủ Tịch CĐNVTD/NSW. Ngoài ra còn có sự hiện diện của anh Trương Quốc Việt, người đã tọa kháng đòi hỏi CSVN "Hãy trả căn nhà nhỏ cho gia đình tôi và trả lại căn nhà lớn cho dân tộc tôi" trong số hai trăm đồng hương tham dự.

Đồng hương đã tập họp trước tiền đình Quốc Hội Úc sáng thứ năm 21/6/2012:


Sau phần nghi lễ chào quốc kỳ Úc - Việt và một phút mặc niệm, phái đoàn Đại Diện Cộng Đồng và các cơ quan truyền thông đã rời nơi đồng hương tập trung, tiến vào tòa nhà Quốc Hội để gặp các Thượng Nghị Sĩ.

LS Võ Trí Dũng trình bày về tình hình nhân quyền tại Việt Nam và kết quả của Kiến Nghi Thư. TNS Mark Furner và TNS Ron Boswell phát biểu với truyền thông Úc - Việt, nói lên quan tâm vi phạm nhân quyền của CSVN, nêu tên LM Nguyễn Văn Lý, HT Thích Quảng Độ, BS Nguyễn Đan Quế, Nhạc sĩ Việt Khang như vài thí dụ. LS Dũng đã đại diện CĐNVTD trao đến TNS Ron Boswell tập Kiến Nghị Thư gồm trên 55000 chữ ký.

TNS Mark Furner và TNS Ron Boswell phát biểu với truyền thông Úc, Việt:

LS Võ Trí Dũng trao Kiến Nghị Thư với trên 55 ngàn chữ ký cho các TNS Úc:



Sau đó các TNS và phái đoàn đã ra ngoài Quốc Hội để gặp gỡ và trình bày quan điểm với các đồng hương.

TNS Philip Ruddock, Cựu Tổng Trưởng Di Trú lên tiếng về vi phạm nhân quyền của CSVN:

LS Võ Trí Dũng và các TNS tường trình và trưng bày tập Kiến Nghị Thư với đồng hương:


Đồng hương chụp hình lưu niệm với các Thượng Nghị Sĩ Úc:



Buổi lễ đã chấm dứt vào lúc trưa cùng ngày, đồng hương lên xe buýt trở về Sydney và Melbourne trong tinh thần phấn khởi. Tin giờ chót Thượng Viện Úc đã cùng đồng ý thông qua kiến nghị kêu gọi chính quyền Canberra tăng sức ép đối với Việt Nam về nhân quyền, những nguồn tài trợ cho Việt Nam cần có chú trọng về vấn đề cải thiện nhân quyền.

Anh Thư tường trình
Úc Châu, 21.06.2012
———————–
Bài viết do tác giả gửi – BBT.VANGANH biên tập và minh họa…
———————–


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Luật Biển, báo chí và nhân dân

Một bộ luật mà người dân có muốn cũng không thể biết có thể gọi là gì nếu như không phải là một bộ luật bí mật?

Điều mà báo chí quan tâm nhất trong phiên bế mạc kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII, có lẽ chính là việc QH có thông qua luật Biển? Và báo chí sẽ đưa những gì, đưa như thế nào về dự án được xem là quan trọng nhất trong kỳ họp lần này?

Câu hỏi thứ nhất có thể trả lời ngay: Hóa ra các vị đại biểu QH không kém như người ta tưởng. Căn cứ vào bản giải trình tiếp thu, thì trong các phiên thảo luận mà báo chí không được phép tham dự và đưa tin trước đó, rất nhiều đại biểu đề nghị quy định rõ về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngay tại Điều 1 của dự thảo Luật. Có ý kiến thậm chí đề nghị cần quy định trong Luật này vị trí địa lý của các đảo, quần đảo. Điều này đã được Ban soạn thảo tiếp thu và ngay trong điều 1 luật Biển, chủ quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định. Khoảng 10h20 phút sáng qua, Quốc hội với 495/496 đại biểu tán thành đã thông qua luật Biển Việt Nam.

Chỉ có một điều đáng nói. Đó là vị đại biểu thứ 496. Dù không đồng ý thông qua hay không bỏ phiếu thông qua thì vị đại biểu duy nhất này cũng đã tạo ra sự ngạc nhiên đến sững sờ đối với những người chứng kiến. Thật khó có thể cắt nghĩa “lá phiếu thứ 496” này.

Có lẽ là tình cờ khi luật Biển, một bộ luật có ý nghĩa cách mạng - được thông qua đúng vào ngày báo chí cách mạng Việt Nam 21-6. Chỉ có điều, báo chí không “cách mạng” như người ta tưởng. VietNamNet là tờ đầu tiên đưa tương đối chi tiết luật Biển vào buổi trưa 21-6. Có điều, bài báo được gỡ xuống gần như ngay sau đó. Không cần phải đọc báo sáng nay cũng biết: Luật Biển chỉ được thể hiện dưới dạng tin một dòng. Đại khái QH thông qua luật Biển. Không chi tiết. Ngoại trừ trường hợp cực khó cắt nghĩa, là một bài to uỵch trên báo Nhân dân dưới dòng tít: “Quốc hội thông qua luật Biển Việt Nam”.

Nguyên Bộ trưởng Bộ 4T Lê Doãn Hợp, trong ngày báo chí cách mạng đã khẳng định hùng hồn: “Không có vùng cấm nào, chỉ có báo chí ngại không vào thì thành vùng cấm”. Đã không có “vùng cấm” mà báo chí lại chỉ đưa “tin một dòng” - không chi tiết, không bình luận về một bộ luật được quan tâm nhường đó thì chỉ có một khả năng: Các nhà báo, các tòa soạn cho rằng dân không được phép biết, hoặc không cần biết.

Tháng 8 năm ngoái, đại biểu QH Dương Trung Quốc đã có phát biểu vô cùng thẳng thắn xung quanh báo cáo về tình hình Biển Đông, một “báo cáo không đầy 1 tiếng và không có thảo luận”, rằng: “Trừ một vài nội dung chi tiết, còn về căn bản nếu những nội dung báo cáo đó được trình bày cho dân chúng thì chỉ có tốt trở lên, dân sẽ tin hơn vào những gì Chính phủ đã làm. Nó làm sáng tỏ phần nào những băn khoăn, trăn trở của dân và quan trọng hơn là sự ủng hộ của dân được tổ chức, được huy động có hiệu quả”. Vị đại biểu, đồng thời là một nhà sử học nhấn mạnh: “Cái gì cần tế nhị trong quan hệ ngoại giao ta phải giữ, nhưng với dân thì không cần đến sự tế nhị mà cần sự tin cậy, thẳng thắn. Cái gì cần mềm mỏng với ngoại giao thì cũng cần mềm mỏng trong “nội giao”, đừng tạo ra những khoảng cách, những xung đột không đáng có giữa Chính phủ và nhân dân, cho dù sự cảnh giác là cần thiết”.

21-6 năm nay thì lại là một bộ luật “bí mật”.

Ai sẽ là người bảo vệ chủ quyền nếu không phải là nhân dân! Ai sẽ là người thực thi các bộ luật ngoài nhân dân! Nhưng liệu người dân có thể thực thi các bộ luật khi nó được các tòa báo “dấu kín”. Liệu họ có thể bảo vệ chủ quyền biển đảo nếu như hoàn toàn mù tịt, không biết bộ luật đó nói về cái gì!

Và liệu một bộ luật còn có giá trị thực thi nếu như chỉ vài trăm vị, dù là đại biểu dân cử được bàn, được biết?

© Đào Tuấn
Theo blog Đào Tuấn


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Bức thư dang dở gửi Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết

Kính gửi: Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết

Thưa Chủ tịch nước,

Có thể lúc ông đọc được bức thư này thì tôi đã không còn là người tự do nữa mặc dù tôi ý thức rất rõ tôi hoàn toàn không vi phạm luật pháp. Nhưng tôi cũng rất hiểu rằng thực tế thực thi pháp luật lâu nay ở đất nước ta sẽ đặt tôi vào một rủi ro rất lớn khiến tôi có thể bị tước đi quyền công dân thiêng liêng của mình.
Ảnh minh họa, nguồn: Internet
Tôi viết bức thư này vào lúc Công ty cổ phần Internet Một Kết Nối (OCI) mà tôi điều hành đang bị Sở Thông tin & Truyền thông Tp.HCM chèn ép, xử phạt hành chính bằng những quyết định vô lý, không đúng pháp luật với một thái độ có tính cường quyền đối với một công việc kinh doanh hoàn toàn hợp pháp của OCI mà đúng ra phải được khuyến khích. Tôi cũng mới vừa gửi đơn kêu cứu đến Chủ tịch nước về vấn đề này.

Đây là thời gian tôi và những người bạn đang tập trung hoàn tất quyển sách Con đường Việt Nam trong vòng 5 tháng tới để có thể gửi đến Chủ tịch nước – người đứng đầu Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đồng thời là một lãnh đạo hàng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quyền sách này là một kế hoạch kiến nghị các giải pháp giúp đất nước vượt qua được một cuộc khủng hoảng trầm trọng, chắc chắn không thể tránh khỏi từ năm 2010 đến 2011, để sau đó đất nước ta sẽ phát triển bền vững nhanh chóng đạt đến Dân chủ - Thịnh vượng.

Cuộc khủng hoảng nói trên là giai đoạn cuối trầm trọng nhất của một thời kỳ khủng hoảng bắt đầu từ sự khủng hoảng kinh tế đã diễn ra từ đầu năm 2008 – Cuộc khủng hoảng mà tôi đã dự báo trước từ đầu năm 2006 trong bài phân tích “Khủng hoảng kinh tế - Nguy cơ và cơ hội”. Bài viết này được kèm theo bức thư tôi gửi cho Chủ tịch nước vào đầu tháng 3/2006 trước thềm Đại hội X. Trong bài phân tích này tôi đã nói rằng nếu không thay đổi ngay quan điểm phát triển kinh tế hiện nay (tức thời điểm tháng 1/2006 lúc tôi phân tích) thì không quá 2 năm nữa sự khủng hoảng kinh tế sẽ nổ ra và bắt đầu một cuộc khủng hoảng trầm trọng cả về xã hội lẫn chính trị, đặt đất nước trước nguy cơ trở thành nô lệ kiểu mới trong thời đại toàn cầu hóa. Và trên thực tế khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam đã xảy ra đúng vào tháng 1/2008 và vẫn đang tiếp tục diễn ra một cách trầm trọng hơn, gia tăng sự nghiêm trọng của những nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng cho dù bề mặt của nó có vẻ như “đã bị kiềm chế”. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2009 theo nghị quyết của Quốc hội đã đánh mất 1 cơ hội quý giá để chúng ta có thể tránh được 1 giai đoạn khủng hoảng toàn diện và trầm trọng nói trên – Một cơ hội để nhìn nhận khủng hoảng kinh tế theo đúng bản chất, nguyên nhân và qui luật của nó, để đối diện với những sự thật rất phủ phàng nhưng lại giúp chúng ta nhìn thấy được những cơ hội tuyệt vời từ nó để giải quyết căn cơ những nguyên nhân thâm căn của những yếu kém của đất nước. Và nhờ vậy chúng ta mới có được sự phát triển bền vững, tốt đẹp.

Đó chính là tinh thần của cách thức giải quyết khủng hoảng tôi đã kiến nghị lên Chủ tịch nước trong bức thư đầu tháng 3/2006. Và đó cũng là tinh thần của những gì sẽ được viết trong Con đường Việt Nam nhằm đưa ra các giải pháp cho đất nước bị sụp đổ do tác hại của sự khủng hoảng trầm trọng sắp tới, nhờ vậy sẽ vượt qua được nguy cơ bị biến thành nô lệ kiểu mới. Từ đó Việt Nam sẽ phát triển một cách hợp qui luật khách quan và do vậy sẽ nhanh chóng trở thành một nước dân chủ và thịnh vượng.

Việt Nam sẽ là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trở thành nước dân chủ và thịnh vượng trên thế giới chính là mục đích mà Con đường Việt Nam hướng đến, cũng là khát khao của tôi và của những người tham gia viết quyền sách này. Và tôi tin rằng đó cũng là khát vọng của đa số người dân Việt Nam.

Tôi không phải là người theo chủ nghĩa Mác và cũng không có ý định trở thành người cộng sản dù tôi thấy lý tưởng “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” là cao đẹp. Nhưng tôi muốn đóng góp một góc nhìn mới trong việc vận dụng các học thuyết của Mác song song với những học thuyết không phải của Mác, trên nguyên tắc phải tuân thủ các qui luật khách quan nhằm đề ra một cách thức để nhanh chóng tiến gần đến lý tưởng trên một cách thực tế.

Tôi nhìn thấy cơ hội để đất nước thực hiện cách thức này từ chính trong những khó khăn thách thức nghiêm trọng mà cuộc khủng hoảng trần trọng sẽ tạo ra. Điều này sẽ đòi hỏi một sự nhìn nhận vấn đề theo hướng tích cực trên cơ sở thừa nhận những sự thật khách quan một cách dũng cảm. Thường điều này không được thực hiện vì cho rằng sự công nhận sẽ làm ảnh hưởng đến lòng tin của người dân. Nhưng chính việc không thừa nhận sự thật khách quan sẽ dẫn tới những ý chí chủ quan kéo theo những giải pháp mang tính hành chính, mà hậu quả của chúng sẽ dẫn tới một sự mất mát, có thể là sụp đổ niềm tin nặng nề nhất mà Con đường Việt Nam muốn cảnh báo.

Thưa Chủ tịch nước, trong bức thư tôi gửi đến Ông vào tháng 3/2006 trước thềm Đại hội X, ngoài việc cảnh báo những nguy cơ về khủng hoảng kinh tế và những kẻ cơ hội tôi còn đề cập đến một ý niệm về một cách thức của Việt Nam để xây dựng được một nền dân chủ thực sự. Đã 3 năm, tôi đã dành rất nhiều sức lực trong thời gian qua để nghiên cứu ý niệm này một cách khoa học và trách nhiệm. Tôi đã quan sát và phân tích về bản chất của dân chủ, và sự hình thành và phát triển của rất nhiều nền dân chủ từ thời cổ đại đến nay trên thế giới để rút ra được những qui luật tất yếu tác động đến dân chủ. Kết quả này sẽ được trình bày trong Con đường Việt Nam nhằm đưa ra một con đường để đất nước nhanh chóng đạt được một nền dân chủ thực sự trên thực tế. Một thiết chế đa đảng không tất yếu đảm bảo cho điều này. Nó chỉ có được khi nào người dân ý thức được quyền làm chủ của mình và tự tin sử dụng tối đa các quyền đó một cách có ý thức.

Do vậy tôi luôn sống và làm việc bằng ý thức đó, tinh thần đó – tinh thần được hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam bảo vệ. Nhưng thật đáng tiếc là tôi luôn gặp trở ngại và rủi ro lớn vì niềm tin đó của mình. Sự kiện Sở Thông tin & Truyền thông Tp.HCM xử phạt công ty OCI hiện nay, hay trước đây Bộ Bưu chính Viễn thông và Bộ Thương mại buộc OCI phải dừng một chương trình khuyến mại hợp pháp cuối năm 2003 (mà tôi đã có dịp trình bày với Ông trong bức thư ngày 7/1/2004) là những minh chứng cho điều này. Và có lẽ vấn đề sẽ càng tồi tệ hơn khi sắp tới tôi sẽ lên tiếng mạnh mẽ phê phán các chính sách vĩ mô về kinh tế, xã hội lẫn chính trị nhằm cảnh báo các nguy cơ trầm trọng của đất nước và đề nghị những thay đổi mà tôi thấy rõ sẽ tốt hơn và tránh được những sự sụp đổ biến đất nước thành nô lệ kiểu mới.

Sự khủng hoảng trầm trọng và toàn diện được khơi mào từ vấn đề kinh tế sẽ nổ ra từ 2010 đến 2011 là tất yếu đối với nước ta theo qui luật khách quan, hoàn toàn độc lập với ý muốn chủ quan của chúng ta. Tôi sẽ chứng minh những dự báo này bằng những qui luật và số liệu một cách khoa học trong Con đường Việt Nam. Nhưng cũng không cần quá phức tạp và hàn lâm mới nhìn thấy được vấn đề này. Chỉ cần nhìn vào những số liệu tăng trưởng GDP nhanh chóng và liên tục trong nhiều năm qua nhưng lại đi kèm với sự sụt giảm năng suất lao động cũng dễ dàng thấy trước một sự khủng hoảng. Tăng trưởng chỉ thực và bền vững khi có được sự gia tăng năng suất. Mọi sự tăng trưởng mà không phải do tăng năng suất đều chỉ là sự vay mượn của quá khứ (như khai thác tài nguyên) hoặc tương lai (như vay vốn đầu tư hay phá hủy môi trường). Nhưng tất cả sự vay mượn như vậy đều có giới hạn, và khi đã đên tới hạn của chúng thì sự khủng hoảng là đương nhiên. Cũng không quá khó để tính toán các điểm tới hạn đó của Việt Nam sẽ rơi vào 2010 - 2011.

Tôi đã nhiều lần lên tiếng cảnh báo về nguy cơ này từ năm 2004 đến nay, thông qua Internet lẫn gửi thư trực tiếp đến các vị lãnh đạo đất nước. Nhưng tôi thực sự không thấy sự quan tâm của công tác quản lý nhà nước đối với nguy cơ này. Trong khi đó nó lại càng biểu hiện rõ hơn bao giờ hết. Mà nó là nguy cơ của đất nước chứ không chỉ là vấn đề của nhà nước, nên người dân cần được nhà nước chuẩn bị để hiểu rõ vấn đề và cùng nhau, cùng với nhà nước giải quyết vấn đề - tương tự như Nhà Trần đã tổ chức hội nghị Diên Hồng để chuẩn bị cho toàn dân đối phó với nguy cơ xâm lược của Nguyên Môn cuối thế kỷ 13. Tuy nhiên, tôi lại thấy quan điểm của sự quản lý nhà nước hiện nay dường như lo ngại người dân lo lắng trước những nguy cơ như vậy nên cố gắng để mọi người thấy sự bình ổn và những viễn cảnh tốt đẹp. Điều này cũng giống như Nhà Hồ đã làm vào đầu thế kỷ 15, dù có rất nhiều cải cách sâu rộng nhưng Hồ Quý Ly vẫn không tập hợp được sức mạnh của toàn dân để chiến thắng cuộc xâm lược của Minh Ngô dẫn đến sự nô lệ của dân tộc sau đó.

Theo tôi nguy cơ trên là đáng lo ngại nhất trong tất cả những nguy cơ đang rình rập đất nước. Nguy cơ từ bên trong bao giờ cũng hiểm họa hơn từ bên ngoài. Sự thiếu hiểu biết của người dân, thậm chí là biết mà vẫn bàng quan, thờ ơ trước những vấn đề và nguy cơ của đất nước đã là rất nguy hại, nhưng tôi lại còn thấy sự tai hại hơn thế nữa. Tham nhũng không chỉ là vấn nạn xã hội làm mất niềm tin của dân chúng mà giờ đây nó trở thành niềm tin của rất rất nhiều, nếu không muốn nói là đa số, người dân. Còn hơn thế nữa, rất nhiều doanh nghiệp và cá nhân bây giờ dựa vào tham nhũng, tin tưởng tham nhũng, mang ơn tham nhũng nên phải bao che cho tham nhũng, nuôi dưỡng tham nhũng. Xã hội hiện nay hoàn toàn thiếu vắng, gần như không có hoặc không thể tồn tại những động lực lành mạnh của người dân tin tưởng vào công lý và những quyền mà Hiến pháp của nhà nước CHXHCN Việt Nam bảo vệ, để sử dụng các quyền đó một cách chủ động và tự tin nhằm mưu cầu các lợi ích chính đáng của mình một cách hợp pháp. Tôi đã nghiên cứu nhiều năm và rút ra kết luận rằng thiếu loại động lực này thì không có đất nước nào xây dựng một xã hội dân chủ và thịnh vượng được.

Những vấn đề và nguy cơ trên bị tạo ra bởi sự cách biệt lớn giữa thực tế trong việc thực thi pháp luật với những giá trị danh nghĩa tốt đẹp dành cho người dân mà hệ thống pháp chế xã hội chủ nghĩa nước ta hướng đến bảo vệ. Danh nghĩa và Thực tế sẽ là một đề tài được đề cập rất nhiều trong Con đường Việt Nam để phân tích và đưa ra các giải pháp cho những vấn đề của đất nước. Trong quá trình quan sát và phân tích hiện tượng để rút ra bản chất của rất nhiều sự kiện và quá trình trong nhiều lĩnh vực khác nhau trên thế giới, tôi đã phát hiện được một qui luật thực chứng (được chứng minh bằng những số liệu trong thế giới thực). Từ đó tôi phát triển tiếp trên những nguyên lý của qui luật này thành một lý thuyết khoa học mà tôi đặt tên là Qui luật Danh nghĩa và Thực tế. Nó sẽ được áp dụng trong con đường Việt Nam để phân tích lý giải nhiều vấn đề, hiện tượng về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước nhằm đưa ra được những giải pháp thuận với qui luật khách quan. Nguyên lý căn bản của qui luật Danh nghĩa và Thực tế là: “Sự cách biệt giữa thực tế và danh nghĩa trong các mặt về kinh tế, chính trị, xã hội càng lớn sẽ càng tạo ra bất ổn và dẫn tới khủng hoảng, càng nhỏ sẽ càng tạo ra sự ổn định và dẫn đến phát triển bền vững”. Khi tôi dùng qui luật này để phân tích các vấn đề của đất nước tôi đã thấy rất nhiều nguy cơ và kết cục xấu, trong đó có dự báo về sự khủng hoảng kinh tế dẫn tới một cuộc khủng hoảng trầm trọng và toàn diện mà tôi đã đề cập đầu thư. Tới hôm nay, sau một thời gian dài nghiên cứu nghiêm túc, tôi đã chuyển dự báo này thành một sự khẳng định có cơ sở khoa học.

Tôi cũng đã nghiên cứu sâu các qui luật khách quan khác chi phối sự vận hành trong một thế giới toàn cầu hóa. Nước ta đã đặt chân vào thế giới này nhưng lại chưa có sự hiểu biết về những qui luật này, nhất là trên phương diện quản lý vĩ mô. Qui luật khách quan là sản phẩm của vũ trụ (còn gọi là vũ trụ quan) nên hoàn toàn độc lập và vuợt trên mọi nhân sinh quan. Con người không thể thay đổi hay thoát khỏi sự chi phối của vũ trụ quan. Thời gian qua tôi thấy có một vấn đề cần chú ý: Có nhiều ý muốn chủ quan áp đặt quan điểm của học thuyết Mác để giải thích thành những nguyên lý vận hành của toàn cầu hóa. Đây là những nguyên nhân dẫn đến sự thiếu thuyết phục nên làm mất đi tính hấp dẫn của học thuyết Mác đối với nhiều người. Theo tôi nên nhìn vấn đề một cách khách quan, tránh giáo điều thì sẽ có được lời giải tối ưu. Mác là người đầu tiên từ giữa thế kỷ 19 đã dự báo đúng khá chính xác hình thái và bản chất của thế giới toàn cầu hóa như ngày nay. Do đó tôi nhìn thấy rất nhiều các giá trị nhân sinh quan to lớn của Mác tạo ra được lợi ích to lớn cho nhân loại nếu được vận dụng đúng theo sự vận hành của các qui luật khách quan trong thế giới toàn cầu hóa. Và đây là đề tài mà tôi sẽ đề cập nhiều trong Con đường Việt Nam để áp dụng học thuyết của Mác nhằm đưa ra các giải pháp hữu hiệu cho đất nước trong bối cảnh của thế giới ngày nay (chứ không phải thế giới vào sinh thời của Mác).

Tinh thần cốt lõi của Con đường Việt Nam là nhìn nhận một cách khách quan và khoa học những yếu kém cốt tử cũng như những thế mạnh tiềm năng của đất nước để phân tích và đưa ra những giải pháp dựa trên những qui luật khách quan nhằm đạt được những mục tiêu theo nhân sinh quan xã hội chủ nghĩa. Các giải pháp này sẽ đưa ra những chiến lược cho đất nước nhằm không những để tránh đượ sự sụp đổ nặng nề do cuộc khủng hoảng trầm trọng mà còn nhanh chóng vượt lên thành một nước XHCN dân chủ, thịnh vượng. Đồng thời nó cũng sẽ kiến nghị những thay đổi trong phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và mô hình quản lý của nhà nước CHXHCN Việt Nam về kinh tế, chính trị, xã hội để hỗ trợ cho việc thực hiện các chiến lược trên. Những thay đổi này hoàn toàn trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật hiện hành, theo tinh thần pháp chế xã hội chủ nghĩa, và thuận theo qui luật khách quan nên sẽ hợp lòng dân.

Có một số ý kiến về thay đổi điều 4 Hiến pháp. Chủ tịch nước thì nói rằng thay đổi nó là tự sát. Còn tôi thì không hề thấy được những giải pháp từ việc thay đổi này có thể giải quyết được các vấn đề của đất nước để phát triển thành dân chủ, thịnh vượng. Nhưng nếu giữ nguyên hiện trạng, cách nhìn và cách thực thi điều 4 Hiến pháp như thực tế hiện nay thì không những không thể đưa đất nước phát triển tốt đẹp như lý tưởng mà Đảng Cộng sản Việt Nam hướng tới mà còn chắc chắn sẽ mau chóng đưa đến sụp đổ không thể tránh khỏi. Liên xô đã bị sụp đổ vì đã chủ quan, không tuân theo qui luật khách quan của kinh tế thị trường. Việt Nam đã tránh được sự sụp đổ tương tự vì đã thuận theo qui luật này. Nhưng giờ chúng ta đã bước vào sân chơi toàn cầu hóa vốn có những qui luật riêng của nó. Tương tự như nếu người ta chỉ ở mặt đất thì thôi, nhưng đã muốn bay lên thì phải tuân thủ các qui luật sức hút vạn vật hấp dẫn, định luật Bernuli, các định luật về khí động học khác,… không ai thay đổi hay tránh được các qui luật này khi muốn bay. Nhưng người ta hoàn toàn có thể sản xuất những chiếc máy bay theo quan điểm riêng của mình: phải là phương tiện bay thật rẻ, thật tốt để hầu hết mọi người đều được bay (được hưởng thành quả) hay chỉ là phương tiện để phục vụ cho một ít người giàu, thượng lưu.

Các mục tiêu nhân sinh quan chỉ có thể đạt được, và hoàn toàn có thể đạt được khi hiểu và vận dụng các qui luật khách quan để xây dựng được những chiến lược thuận qui luật. Các mục tiêu này sẽ không bao giờ trở thành hiệu lực chỉ vì chúng chúng được cho là chân lý, tất yếu sẽ đến. Việc chủ quan duy ý chí áp đặt nhân sinh quan thành qui luật khách quan thì chắc chắn sẽ dẫn đến thất bại và sụp đổ. Đây chính là “cái bẫy” của “diễn biến hòa bình” mà tôi cũng sẽ dành một phần đáng kể trình bày trong Con đường Việt Nam với hy vọng cung cấp một góc nhìn khác khách quan hơn về khái niệm rất mới này.

Thưa Chủ tịch nước, không biết Ông có biết rằng đa số người dân Việt Nam hiện nay rất sợ nói đến chính trị mà chỉ bảo ban nhau lo làm ăn kiến tiền, đừng quan tâm đến chính trị làm gì để rước phiền phức vào thân. Tuy nhiên, tôi dám khẳng định rằng đa số đều rất bức xúc trước những vấn đề không chỉ xã hội, kinh tế mà cả chính trị nhưng lại không dám nói ra vì sợ bị quy chụp. Đây là một thực tế. Nó ngày càng phổ biến và cần được nhìn nhận thẳng thắn như một hiểm họa tiềm tàng, không chỉ vì người dân thờ ơ trước những nguy cơ của đất nước như tôi nói ở trên, mà còn vì nó là ấu hiệu của một môi trường xã hội thuận tiện cho cường quyền phát triển. Một xã hội dân chủ sẽ tạo ra động lực lành mạnh để phát triển, còn một xã hội cường quyền sẽ tạo ra sự sợ hãi để kiểm soát.

Tôi luôn tin vào lý tưởng tốt đẹp của xã hội xã hội chủ nghĩa nước ta đang hướng đến chống lại sự cường quyền. Nhưng cường quyền sẽ hình thành bất chấp lý tưởng tại bất kỳ nơi nào có môi trường thuận lợi cho nó, bất chấp không gian, thời gian. Nó như những loại vi trùng lúc nào cũng tồn tại trong không khí (dù sạch đến đâu), chực chờ để tấn công bất kỳ cơ thể nào mất khả năng đề kháng đối với chúng. Điều nguy hiểm là chúng ngày càng tinh vi, biến thể của chúng tự thay đổi nhanh chóng để có thể đánh bại được các thuốc đề kháng chữa trị ngày càng một mạnh hơn. Một xã hội không bao giờ mất đi các mầm mống của cường quyền cho dù xã hội đó phát triển tốt đến đâu đi nữa. Các mầm mống này lại càng không thể mất đi ở nơi nào chỉ vì sự tốt đẹp được khẳng định trong tuyên ngôn của xã hội ở nơi đó. Do vậy cần luôn duy trì một cơ thể hữu hiệu để ngăn ngừa, không cho các mầm mống cường quyền có cơ hội, môi trường để phát triển. Và đây chính là một đề tài quan trọng của Con đường Việt Nam: nghiên cứu bản chất để rút ra qui luật của các loại bản chất chi phối xã hội, cả tốt lẫn xấu, để xây dựng những cơ chế đơn giản nhưng hiệu quả (nhờ thuận qui luật) để ngăn ngừa cái xấu, thúc đẩy cái tốt trong quá trình phát triển của xã hội. Có một thực tế là những cơ chế càng phức tạp thì càng cồng kềnh, càng đòi hỏi sự can thiệp của con người thì chúng càng kém hiệu quả, càng là môi trường tốt cho cái xấu phát triển.

Tóm tắt, Con đường Việt Nam là: kiến nghị một cách thức quản trị đất nước (bao gồm phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và mô hình quản lý nhà nước của nhà nước CHXHCN Việt Nam) để xây dựng một nền tảng chính trị cho đất nước trên những nguyên lý vận hành thuận theo các qui luật khách quan. Do đó nền tảng chính trị này sẽ hỗ trợ hiệu quả cho việc thực hiện các chiến lược được khuyến nghị nhằm đạt được các mục tiêu về kinh tế, xã hội mà Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hướng tới một cách nhanh chóng và ít tốn kém nguồn lực. Những sự thay đổi như vậy là rất lớn nhưng hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp.

Tôi thấy rằng chỉ cần làm đúng những gì Hiến pháp quy định và tránh những áp đặt chủ quan trong việc giải thích Hiến pháp thì đã có thể tạo ra những lợi ích to lớn cho toàn dân so với hiện nay rồi. Một khi thực tế cuộc sống phát triển tốt đẹp và tiệm cận đến những giá trị danh nghĩa của Hiến pháp, pháp luật thì sẽ tạo ra nhu cầu và động lực mạnh mẽ để thay đổi các giá trị danh nghĩa này tốt hơn nữa, rồi kéo thực tế cuộc sống tiếp tục đi lên. Cứ như vậy đất nước sẽ phát triển bền vững, tốt đẹp. Nếu chỉ chú trọng thay đổi các giá trị danh nghĩa cho tốt hơn nhưng không có giải pháp hiệu quả để thay đổi thực tế cuộc sống đi lên thì sẽ càng tạo ra cách biệt càng lớn giữa danh nghĩa và thực tế. Và do vậy, theo qui luật Danh nghĩa và Thực tế mà tôi đề cập ở trên, sẽ càng tạp ra sự bất ổn. Có thể dễ dàng thấy tình trạng này ở nhiều nước lâu nay.

Tuân theo những nguyên lý và nguyên tắc như trên, Con đường Việt Nam cũng sẽ đưa ra khuyến nghị về sách lược cho 5 lĩnh vực cụ thể: kinh tế, giáo dục, cải cách hành chính và tư pháp (gọi tắt là pháp luật), biển Đông, Tây Nguyên. Đây cũng là 5 vấn đề lớn mà Việt Nam chắc chắn sẽ phải đối mặt căng thẳng một khi khủng hoảng nổ ra trầm trọng trong 2010 – 2011. Chúng vừa mang tính cấp bách vừa manh tính lâu dài nên được lựa chọn tập trung. Giải quyết tốt các vấn đề này sẽ không những giúp đất nước tránh được sụp đổ mà còn tạo lợi thế để phát triển bền vững nhanh chóng sau đó. Ngoài kinh tế do tôi viết, 4 lĩnh vực/vấn đề còn lại sẽ do 4 người khác phụ trách. Năm người chúng tôi dự định sẽ cùng ký vào một bức thư giới thiệu và trình lên Chủ tịch nước quyển sách Con đường Việt Nam này. Chúng tôi đang cố gắng để hoàn thành nó đầu quý 4 năm nay để kiến nghị đến Chủ tịch nước càng sớm càng tốt, trước khi Quốc hội xem xét kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2010 và sự khủng hoảng sẽ nổ ra trầm trọng.

Tuy nhiên, tôi đang có những linh cảm không lành, không chỉ vì những lời đe dọa sẽ hình sự hóa sự việc mà Sở Thông tin & Truyền thông Tp.HCM đã vô lý xử phạt hành chính công ty OCI, mà còn vì những sự phê phán, chỉ trích gần đây của tôi trên Internet đối với các chính sách vĩ mô trong công tác quản lý nhà nước hiện nay mà tôi thấy là không chú trọng giải quyết tận gốc các nguyên nhân gốc rễ của khủng hoảng, mà chỉ “di dời” chúng đến tương lai nên sẽ làm chúng càng trầm trọng hơn nữa. Do linh cảm như vậy, nên tôi quyết định viết bức thư này cho Chủ tịch nước và gửi kèm phần giới thiệu của Con đường Việt Nam đến Ông trước. Tôi luôn có niềm tin rằng với tư cách là người đứng đầu Nhà nước và là một lãnh đạo cấp cao hàng đầu của Đảng, và với tư cách của một vị lãnh đạo đất nước luôn luôn biết lắng nghe quần chúng để ra những quyết định hợp lòng dân, Chủ tịch nước sẽ thấu hiểu được những nguyện vọng, khát khao chính đáng của chúng tôi – những người cùng viết Con đường Việt Nam – vì sự phát triển của đất nước.

Quyển sách này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và cả những chỉ trích, phản đối (vốn là những điều rất bình thường trong một môi trường dân chủ). Nhưng tôi khẳng định rằng nó được viết ra bằng những nhiệt huyết hết sức có trách nhiệm; với tinh thần khoa học nghiêm túc, xem xét vấn đề một cách khách quan đối với những thành tựu lẫn yếu kém của đất nước kể từ lúc ra đời nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, và với những mong muốn cháy bỏng vì sự phát triển tốt đẹp của đất nước.

Dù tình hình hiện nay đang rất khó khăn và sắp tới sẽ còn khó nhiều hơn nữa, nhưng tôi vẫn có niềm tin rằng...

Hình minh họa trong phần I - Phần giới thiệu của cuốn Con Đường Việt Nam (Xem tập tin đính kèm).

Tập tin đính kèm Kích thước
con_duong_viet_nam 189.69 KB

© Trần Huỳnh Duy Thức
Theo Dân Luận


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Nổ mìn cướp tiệm vàng làm rung chuyển phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội 21/6/2012

Tại trụ sở công an Hà Nội chiều 21/6, nghi phạm Tạ Văn Thanh (25 tuổi, Yên Dũng, Bắc Giang) cười nói: "Chắc em bây giờ thành người nổi tiếng rồi".
Hiện trường vụ nổ
Thanh niên có nước da ngăm đen khai, năm 2000 bỏ nhà lang thang làm thuê các tỉnh Lạng Sơn, Hà Nội, Vũng Tàu. Gần đây, do cần tiền nên anh ta nảy sinh ý định cướp tiệm vàng. Để thực hiện âm mưu, Thanh đã tìm mua 5kg thuốc nổ, kíp nổ, dao nhọn, dùi cui điện ở khu vực cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn). Anh ta mày mò chế thành quả mìn.

Sau đó, Thanh đi xe máy lang thang khắp các quận, huyện tại Hà Nội để tìm địa điểm gây án. Cho rằng tiệm vàng Hoàng Tín tọa lạc ở tuyến đường rộng, một chiều "dễ tẩu thoát" hắn đã quyết định ra tay.

Gần 11h sáng 21/6, Thanh đi xe máy đến tiệm vàng Hoàng Tín. Mặc dù trong tiệm đang có 4-5 người, Thanh vẫn bước vào để túi nhựa trên bàn và tờ giấy ghi: "Tôi cần tiền, nếu không đưa, tôi sẽ cho nổ".


Anh Đường, chủ hiệu vàng hỏi Thanh vờ hỏi tên cướp cần bao nhiêu tiền rồi bất ngờ đá vào chiếc túi nhựa. Thanh hốt hoảng hô: "Cẩn thận mìn nổ đấy". Lúc đó, bảo vệ tiệm vàng vội ném hộp ra ngoài và hô hoán. Một tiếng nổ lớn vang lên, nhiều người ôm mặt, biển hiệu đổ rào rào.

Chiếc xe máy trước cửa hàng bên cạnh bị cháy rụi
Thanh vội lao ra ngoài tiệm vàng và bị truy đuổi từ phố Nguyễn Thái Học đến ngõ Vĩnh Phúc. Lúc đó, lực lượng cảnh sát 113, công an quận Ba Đình và công an các phường gần đó cũng tham gia truy bắt. Bị bao vây, Thanh định nhảy lên xe máy của một người đi đường nhưng không được và bị áp giải về trụ sở công an.
Phòng cảnh sát hình sự thành phố xác định quả mìn do Thanh chế tạo là thuốc AL -- PHO, loại thuốc nổ công nghiệp dùng để phá đá.

Tại Bệnh viện Xanh Pôn chiều 21/6, sau khi được sơ cứu, nạn nhân được làm các xét nghiệm, những tiếng khóc vì đau đớn. Đỗ Thị Linh (21 tuổi) được đưa vào cấp cứu trong tình trạng hôn mê. Linh bị các mảnh kính bắn vào vùng chân và không thở được do sức ép của tiếng nổ.

Mặt tiền cửa hàng vàng Hoàng Tín tan hoang
Chị Nguyễn Thị Ngọc Ánh (21 tuổi), nhân viên cửa hàng mỹ phẩm Xuân Thủy cho biết, sáng nay cô đang đứng trên tầng 2 của cửa hàng. Nghe thấy tiếng hô hoán "có mìn", Ngọc Ánh cùng nhiều nhân viên khác hoảng sợ lao xuống tầng 1. "Sau tiếng nổ lớn, em thấy lửa bốc lên, nhiều mảnh kính vụn bắn vào người", Ngọc Ánh kể. Cùng với cô, một số nhân viên khác cũng bị thương.

Cùng được đưa vào cấp cứu, bà Thảo (50 tuổi, huyện Thanh Trì) bị bỏng nặng ở hai chân. Bà Thảo bán hàng tại một chợ cóc gần khu vực xảy ra vụ nổ. Lúc đó, một người dân ở gần tiệm vàng gọi bà vào mua hàng. Bà vừa đạp xe vào thì một tiếng nổ lớn phát ra. "Xe đạp và hàng của tôi bị hất tung. Tôi bị lửa bắn vào hai chân, bỏng rát", bà Thảo kể và cho biết, lúc đó nhiều người bị thương trên đường.

Theo công an Hà Nội, ít nhất 11 người đã bị thương trong vụ nổ mìn tại tiệm vàng Hoàng Tín.
————


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Trung Quốc phản đối Việt Nam kịch liệt

Tin China Daily

Trung Quốc phản đối Việt Nam kịch liệt

Bắc Kinh - Một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm thứ Ba ngày 20 tháng Sáu đã bày tỏ sự bất mãn mạnh mẽ về chuyện máy bay Việt Nam bay tuần thám trong thời gian gần đây ở quần đảo Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nansha) ở vùng biển Nam Hải.
Nguồn: ChinaNews
Nói ở cuộc họp báo thường kỳ khi trả lời câu hỏi của một nhà báo về vấn đề này, ông Hong Lei nói, “Trung Quốc có chủ quyền lên quần đảo Trường Sa và vùng biển quanh đó không thể tranh cãi được. Hành động gần đây của Việt Nam là một sự vi phạm chủ quyền của Trung Quốc một cách trầm trọng.”

Ông Lei nói Trung Quốc khẩn thiết kêu gọi Việt Nam hãy tôn trọng một cách nghiêm chỉnh Nguyên tắc Ứng xử ở Biển Nam Hải, tránh những hành động làm gia tăng hay phức tạp tình huống thêm, và có những nỗ lực bảo vệ sự ổn định và hoà bình cho vùng.

--------------------

Nguồn:

(1) China slams Vietnam's island patrols. The China Daily, 20 June 2012


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều