06/18/12 - VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Vượt lên nỗi sợ

Đăng bởi Biên tập viên vào Thứ hai, ngày 18 tháng sáu năm 2012

(Viết theo những tài liệu và thông tin sưu tầm được)

Chú giải:

“Hòa bình trên thế giới không thể chia cắt được. Bất kỳ ở đâu nếu các thế lực tiêu cực mạnh hơn lực lượng tích cực, tất cả chúng ta đều bị đe dọa. Sẽ có câu hỏi: Liệu có thể loại bỏ hết các thế lực tiêu cực được không? Câu trả lời đơn giản là “Không!” Vì bản chất con người bao hàm cả 2 thành tố tiêu cực và tích cực. Tuy nhiên con người hoàn toàn có khả năng phấn đấu để tăng cường cái tích cực và giảm thiểu hay vô hiệu hóa cái tiêu cực…. Cho dù chúng ta không thể giành được hòa bình hoàn hảo trên trái đất này, nhưng đấy là mục tiêu chúng ta phải luôn luôn hướng tới… Những nỗ lực của chúng ta cùng nhau giành lấy hòa bình sẽ đoàn kết từng con người chúng ta và tất cả các quốc gia trong sự tin cậy lẫn nhau và trong tình hữu nghị, và điều này sẽ làm cho cộng đồng nhân loại của chúng ta an toàn hơn tốt đẹp hơn…”

Trong diễn văn đọc ngày 16-06-2012 tại Hội đồng giải thưởng Nobel, Oslo, Na-uy, Bà Aung San Suu Kyi đã phát biểu như vậy. Đấy cũng là bài diễn văn đầu tiên của Bà với tính cách là người tự do và là lãnh tụ của Liên đoàn quốc gia vì Dân chủ ở Myanmar trước cộng đồng thế giới sau hơn 20 năm bị giam tại nhà riêng. Ý chí đấu tranh bất khuất của Bà cho hòa bình, tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân Myanmar cũng như cho hòa giải dân tộc vì sự phát triển phồn vinh của quốc gia này, là một cống hiến quan trọng đã góp phần vào việc tạo ra bước ngoặt phát triển được cộng đồng thế giới nhiệt liệt hoan nghênh của Myanmar ngày nay.

Để chia sẻ với bạn đọc đôi điều về nhân vật trọng yếu này của Myanmar, nhân dịp này xin đăng lại bài “Vượt lên nỗi sợ” được viết tháng 1-2012 và đã được đăng trong Văn hóa Phật giáo số mùa hạ 2012, TPHCM.

Xin trân trọng giới thiệu.

Nguyễn Trung



1
“Vượt lên nỗi sợ” (Freedom from Fear), đấy là tựa đề diễn văn nổi tiếng của bà Aung San Suu Kyi viết năm 1990, nhân dịp bà được trao giải thưởng Rafto và giải thưởng Sakharov về “tự do tư duy”.

Bà Suu Kyi viết diễn văn này trong hoàn cảnh bị tước hết mọi quyền tự do: Bà bị chính quyền quân phiệt giam tại nhà rất hà khắc từ 20-07-1989, trừ một vài năm được nới lỏng, mãi đến ngày 13-10-2010 mới được trả lại tự do. Trong khoảng thời gian này, đã có lúc bà Aung San Suu Kyi bị giam tại nhà tù chính khét tiếng ở Rangoon dành cho các tù nhân chính trị.

Với tính cách là lãnh tụ tinh thần của Liên đoàn quốc gia vì dân chủ (National League for Democracy - NLD), đấu tranh kiên cường cho các quyền tự do dân chủ của nhân dân Myanmar, bà Suu Kyi ngày nay được coi như là biểu tượng tinh thần bất khuất và niềm hy vọng của nhân dân nước này.

Mở đầu diễn văn nổi tiếng năm 1990 này, bà Suu Kyi cho rằng …Không phải quyền lực, mà là nỗi sợ làm tha hóa con người. Người sử dụng quyền lực thì sợ mất quyền lực, người chịu khuất phục thì sợ sự hành hạ của quyền lực. Theo truyền thống đạo lý của Phật giáo Theravada (Tiểu thừa)[1], hầu hết mọi người dân Myanmar đều biết 4 con đường (gati) làm hư hỏng con người (4 “A-gati”)[2]. Chanda-gati, làm hư hỏng con người do những dục vọng, vì lẽ này từ bỏ con đường đúng đắn, cốt nhằm theo đuổi tham nhũng hoặc những ham muốn khác. Dosa-gati – đó là cách hành sử sai đạo đối với những kẻ không có thiện ý; và Moga-gati – đó là sự lầm lạc do thái độ nhắm mắt làm ngơ. Nhưng điều nguy hiểm nhất có thể là Bhaya-gati – đó là nỗi sợ, nó không chỉ tạo ra sự hèn nhát, mà con bóp nghẹt và huỷ hoại dần dần khả năng nhận thức đúng/sai; chính điều này thường là cỗi rễ của 3 gati (3 con đường) làm tha hóa con người như đã nêu ra trước đó…

Bà Aung San Suu Kyi trước sau tìm cách giữ cho mình và cho tất cả tăng ni phật tử, cho mọi người dân đang đấu tranh cho tự do và nhân phẩm ở Myanmar lòng tin vững chắc vào chính nghĩa (citta), ý chí bất khuất (the right chanda – the firm intension of good will to do something right), sự kiên tâm (viriya), sự minh mẫn (panna). Bà cho rằng 4 Phật pháp này của đạo Phật Theravada (Tiểu Thừa), cùng với ý thức vượt lên nỗi sợ, có khả năng làm nên sức mạnh nội tâm không một bạo lực nào có thể khuất phục, kể cả cái chết. Chính sức mạnh nội tâm này cắt nghĩa vì sao gần 20 năm bị giam cầm hà khắc và hầu như bị cách ly hoàn toàn khỏi nhân dân của mình và thế giới bên ngoài, vẫn tồn tại và rực sáng ngọn đuốc Aung San Suu Kyi trong tinh thần người dân Myanmar.

Biết bao nhiêu tội ác đẫm máu đã xảy ra. Giết chóc, hãm hiếp, đàn áp, tù đầy… là chuyện hàng ngày. Có người đã phải đặt câu hỏi phải chăng Myanmar đang trở thành “cánh đồng chết” tiếp theo (sau Campuchia)[3]. Gần 50 năm qua, Myanma quằn quại trong máu, chìm đắm trong tàn phá và tha hóa của bạo lực. Song hiển nhiên vẫn tồn tại trên đất nước này một sức mạnh nội tâm bất khuất chống lại bạo quyền, đi đầu là phong trào đấu tranh kiên cường, không một lúc nào ngừng nghỉ của các nhà sư và sinh viên Myanmar… Một trong những tấm gương tiêu biểu của tinh thần đấu tranh này là cách đây vài năm nhà sư U Wisara đã chết trong tù sau 143 ngày tuyệt thực, biểu thị sự phản đổi kiên quyết chống lại ách thống trị của chính quyền quân phiệt.

Chính nhờ có sức mạnh nội tâm như vậy của một đất nước có tới gần 90% nhân dân theo đạo Phật, Myanmar vẫn gìn giữ được cho mình những giá trị tinh thần cao quý, bảo vệ được bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Khách nước ngoài đến thăm Myanmar không khỏi ngạc nhiên và cảm thấy bất chấp mọi hủy hoại của bạo quyền, vẫn có một sức mạnh vô hình nào đó đang gìn giữ bất khả xâm phạm những phẩm chất tốt đẹp và các chuẩn mực đạo đức xã hội của người dân Myanma: hiền hòa, bao dung, gắn bó với nhau, chăm lo giáo dục thế hệ trẻ, gìn giữ môi trường… Đặc biệt ấn tượng là những phong tục Lễ nhập tu (được gọi là shinbyu) dành cho con trai khi đến tuổi trưởng thành thì vào chùa tu một thời gian ngắn, và lễ xuyên lỗ khuyên tai dành cho con gái – đấy là những cột mốc quan trọng trong hình thành nhân cách một con người… (Nói một cách khác, nếu thiếu vắng những giá trị và đạo đức xã hội như vậy, thật khó hình dung đất nước Myanmar sẽ ra sao sau gần 50 năm dưới sự cai trị tàn bạo của cường quyền quân phiệt).

Có thể nói, những nhân nhượng của chính quyền Thein Sein sau cuộc bầu cử tháng 2-2010 trước hết là thành quả của cuộc đấu tranh kiên cường này của nhân dân Myanma, trong đó tinh thần Suu Kyi là ngọn đuốc không bao giờ tắt.



2
Sẽ có câu hỏi: Điều gì đã làm nên một Aung San Suu Kyi như vậy?

Sinh ngày 19-6-1945 trong một gia đình, cha là Aung San - Tổng chỉ huy Quân đội Độc lập là và người giữ vai trò quyết định trong sự nghiệp giải phóng Myanmar khỏi ách thực dân Anh, mẹ là Ma Khin Kyi – bác sỹ tại bệnh viện chính của Rangoon, Suu Kyi được thừa hưởng tinh thần yêu nước bất khuất của cha và lòng nhân ái xả thân vì việc nghĩa của mẹ.

Ngày 19-06-1947, đúng lúc Suu Kyi hai tuổi, tướng Aung San bị lực lượng trong quân đội của mình muốn tiếm quyền ám sát; vợ ông – bà Ma Khin Kyi dấn thân vào mọi công việc chính trị - xã hội, quyết tâm tiếp tục thực hiện những lý tưởng của chồng. Sau này bà Ma Khin Kyi trở thành một nhân vật nổi tiếng trên chính trường Myanmar, được chính phủ cử làm đại sứ của Myanmar tại Ấn Độ (1960-1964). Suu Kyi theo mẹ, lớn lên và học tập ở Ấn Độ, rồi sau đó học tiếp ở Anh, ở Mỹ. Trong khi làm luận án tiến sỹ, Suu Kyi gặp Michael Aris (Anh), chuyên viên nghiên cứu văn hóa Đông phương, Tây Tạng và Bhutan, hai người cưới nhau năm 1972. Suu Kyi bắt đầu dành nhiều thời giờ nghiên cứu và viết về các vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa của Myanmar, một thời gian Suu Kyi từng làm thư ký cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc U Thant, tại New York…

Năm 1988 mẹ Suu Kyi ốm nặng, Suu Kyi trở về Rangoon để chăm sóc mẹ. Đúng lúc này, Hội đồng Nhà nước Phục hồi Luật pháp và Trật tự (SLORC) – một tổ chức chính trị đầu não của quân đội – xóa bỏ chính quyền dân sự, thiết lập nên chế độc tài quân phiệt. Ngay lập tức Suu Kyi vận động nhân dân Myanmar đứng lên đấu tranh chính trị chống lại.

Ngày 27-09-1988 Liên đoàn quốc gia vì dân chủ (NLD) được thành lập, Suu Kyi được bầu làm tổng thư ký, chủ trương đấu tranh không bạo lực. Nhanh chóng NLD phát triển rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân khắp cả nước và trở thành lực lượng chính trị đối lập mạnh nhất. Có lúc Suu Kyi đã dẫn đầu hàng nghìn người tham gia biểu tình đi giữa các họng súng của quân đội nhằm thẳng vào mình…

Chính quyền quân phiệt dùng mọi bạo lực và các thủ đoạn nham hiểm để giập tắt, nhưng phong trào đấu tranh do NLD lãnh đạo vẫn tiếp tục phát triển, bất chấp mọi giết tróc, tù đầy.

Sau khi ban hành thiết quân luật, ngày 20-07-1989 SLORC ra lệnh giam bà Suu Kyi tại nhà, nội bất xuất – ngoại bất nhập, cắt đứt hẳn mọi liên hệ của bà Suu Kyi với bên ngoài… Mặc dù vậy, trong cuộc bầu cử do SLORC tổ chức đầu năm 1990, NDL vẫn đại thắng, chiếm 82% số ghế của quốc hội. Kết quả cuộc bầu cử này bị SLORC xóa bỏ. Suu Kyi tiếp tục bị giam tại nhà. Đến năm 1995 việc giam giữ tại nhà được nới lỏng chút ít; nhưng chỉ vài năm sau Suu Kyi lại phải chịu đựng tiếp chế độ bị giam tại nhà ngày một hà khắc hơn. Mãi đến ngày 13-11-2010 Suu Kyi mới được trả lại tự do.

Thật khó hình dung Suu Kyi lấy ở đâu ra ý chí và nghị lực, và cả sức lực của thể chất con người nữa, để có thể chịu đựng được gần 20 năm biệt giam rất hà khắc như vậy ngay tại trong nhà mình hoặc trong tù, để vẫn tiếp tục là nguồn động viên, là niềm tin, là thủ lĩnh tinh thần của nhân dân Myanmar trong đêm trường tăm tối nửa thế kỷ dưới chế độ quân phiệt.

Trong suốt thời kỳ bị biệt giam tại nhà, Suu Kyi chỉ được gặp chồng và hai con của mình một vài lần trong mấy năm việc giam giữ được nới lỏng. SLORC (sau này đổi thành Hội đồng Nhà nước vì Hòa bình và phát triển – SPDC) đã nhiều lần đưa ra đề nghị bà Suu Kyi được phép ra nước ngoài để đoàn tụ gia đình, với điều kiện không được trở lại Myanmar. Suu Kyi đã từ chối. Bà nói rõ lý do: “Rất đơn giản, tôi không thể bỏ lại nhân dân Myanmar phía sau mình...”

Từ cuối những năm 1990, Michael Aris, chồng bà Suu Kyi, bị ung thư; nhưng Aris và hai con không được phép vào Myanmar để thăm bà. Năm 1999, Aris từ giã cõi đời, bà Suu Kyi không dám rời Myanmar để dự tang lễ chồng, vì biết ra đi có nghĩa là bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Myanmar…

Được hỏi về nguồn gốc của ý chí sắt thép như vậy, Suu Ky cho biết: Bà chỉ có metta (lòng nhân ái vô bờ bến trong triết lý đạo Phật Theravada) do mẹ bà truyền thụ cho. Bà nói, nhờ có metta, bà luôn luôn giữ được cho mình sự minh mẫn, không bao giờ ngã lòng. Metta đã giúp bà vượt qua được mọi thử thách và nỗi sợ. Metta là tình yêu ruột thịt gắn bó không thể tách rời bà với nhân dân Myanmar, khiến bà sẵn sàng hy sinh tất cả vì nhân dân Myanmar… Bà Suu Kyi giãi bày: Tôi sống bằng tình yêu và sự thật, metta là chỗ dựa bất khả xâm phạm của tâm hồn tôi…

Hỏi vì sao bà chủ trương đấu tranh không bạo lực đối với chính quyền quân phiệt vô cùng tàn ác, bà Suu Kyi cho biết, nhờ metta, bà đã tìm thấy ở nhân dân Myanmar và ở chính bản thân mình sức mạnh nội tâm (inner strength) không một bạo lực hay ý đồ nham hiểm nào có thể hủy hoại. Chỉ có metta mới dẫn tới hòa giải, và nhờ đó mới có thể triệt để và vĩnh viễn xóa bỏ bạo lực, gìn giữ và phát huy những giá trị cao quý của Theravada… Nếu dùng bạo lực, lấy oán báo oán sẽ không bao giờ chặt đứt được cái vòng luẩn quẩn, sẽ chỉ đẻ ra bạo lực mới… Đấu tranh không dùng bạo lực để giành các quyền tự do dân chủ của nhân dân xuất phát từ giáo lý metta như vậy – bà Suu Kyi giải thích – đấy chính là đạo Phật Theravada dấn thân. Bà Suu Kyi cũng tự coi mình là môn đệ của MOHANDAS KARAMCHAND GANDHI.

Alan Clements, nhà báo đồng thời cũng là nhà sư Mỹ đã từng thụ đạo ở Myanmar, đặt ra câu hỏi gai góc: Trước mắt bà, đã bao nhiêu nhà sư và sinh viên Myanmar bị giết và bị nhục hình tàn bạo trong các nhà tù, sao NLD vẫn chủ trương đấu tranh không dùng bạo lực?

Trả lời, chủ trương đấu tranh không dùng bạo lực là niềm tin, là phương thức đấu tranh của NLD, là sự lựa chọn riêng của NLD, thích hợp với niềm tin của NLD. Chủ trương như vậy, NLD tôn trọng những hình thức đấu tranh khác của mọi lực lượng nhân dân Myanmar nhằm xóa bỏ chính quyền quân phiệt, kể cả hình thức đấu tranh vũ trang. Bà Suu Kyi nói rõ thêm, cha bà, tướng Aung San, đã tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang oanh liệt vì sự nghiệp giải phóng Myanmar, và bà rất ngưỡng mộ cha mình về lòng yêu nước quả cảm như vậy. Cũng với cách nghĩ như vậy, bà Suu Kyi nhìn nhận mọi tôn giáo khác nhau trên trái đất này. Bà cho rằng dù có khác biệt văn hóa hay lịch sử sâu sắc như thế nào, mọi tôn giáo đều bắt đầu từ yêu thương và gìn giữ nhân phẩm.

Như vậy, nhân cách Suu Kyi đã làm nên con người Suu Kyi, không chỉ là tiêu biểu cho khát vọng về tự do, dân chủ và nhân phẩm của nhân dân Myanmar, mà là của cả nhân loại yêu chuộng hòa bình, công lý và quyền con người. Trên thế giới nhiều nơi coi Aung San Suu Kyi là tấm gương về làm người, đưa tinh thần Aung San Suu Kyi vào nội dung giáo dục trong trường học… Đã có lần một tạp chí nổi tiếng, sau khi thăm dò dư luận bạn đọc, đã bình chọn bà Suu Kyi là một trong số 50 người hàng đầu trên thế giới có ảnh hưởng đến sự tiến bộ của thế giới ngày nay. Vì những cống hiến và ảnh hưởng như vậy, năm 1991, giữa lúc đang phải ngồi tù, bà Suu Kyi được tặng giải thưởng Nobel vì đấu tranh cho dân chủ và quyền con người; hai con trai bà – Alex và Kim – đã từ London đến Oslo thay mặt mẹ đón nhận giải thưởng, với bài phát biểu xúc động lòng người.

Bà Suu Kyi còn được tặng nhiều giải thưởng cao quý khác trên thế giới. Nhưng phần thưởng lớn nhất bà Suu Kyi nhận được là niềm thương yêu và lòng tin của nhân dân Myanmar, dành cho bà tên gọi kính trọng là Daw Aung San Suu Kyi (Madame Aung San Suu Kyi).



3
Cuộc tổng tuyển cử ở Myanmar tháng 11-2010 thực chất là do SPDC – cơ quan đầu não của lực lượng quân phiệt tổ chức. Kết quả đã đưa tướng Thein Sein lên làm tổng thống, người đứng đầu nhà nước dân sự đầu tiên kể từ khi SLORC xóa bỏ kết quả cuộc tổng tuyển cứ năm 1990 mà NLD của bà Suu Kyi đã thắng lớn.

Tuy nhiên, đáng chú ý là ngay sau khi nhậm chức, tổng thống Thein Sein đã làm nhiều việc gây nên sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng.

Nổi bật nhất là những quyết định của tổng thống đưa các tướng lĩnh cứng rắn của phái quân phiệt – đứng đầu là tướng Than Swe – về nghỉ hưu. Tiếp đó, ngày 30-03-2011, tổng thống giải thể “Hội đồng Nhà nước vì Hòa bình và Phát triển” – SPDC (tiền thân của nó là Hội đồng phục hồi luật pháp nhà nước và trật tự SLORC) - cơ quan đầu não của lực lượng quân phiệt; ra quyết định thành lập Ủy ban nhân quyền với trách nhiệm thực sự; ban hành Luật biểu tình… Đến nay chính quyền Myanmar đã thả gần 2000 tù chính trị, trong đó có hầu hết những nhân vật thủ lĩnh các phong trào chống đối của giới tăng ni và sinh viên, một số chính khách…

Chính quyền của tổng thống Thein Sein nới lỏng kiểm duyệt báo chí; để cho Liên đoàn dân tộc vì dân chủ (NDL) và bà Aung San Suu Kyi tham gia tranh cử trong cuộc bầu cử bổ sung đột xuất cho 48 ghế còn để khuyết trong Quốc hội sẽ tổ chức vào đầu tháng 4-2012; hủy bỏ hợp đồng đã ký với Trung Quốc xây đập thủy điện Myitsone trị giá 3,6 tỷ USD vì lý do công trình này sẽ gây những hậu quả tàn phá môi trường không thể khắc phục được; thực hiện nhiều hoạt động ngoại giao quan trọng khác chưa từng có, nổi bật là phuc hồi quan hệ ngoại giao với Mỹ, Anh, Pháp… Myanmar đang cố gắng làm tốt vai trò và nghĩa vụ của mình trong ASEAN.

Những nguyên nhân nào dẫn đến những quyết định như vậy?

Chắc chắn cần có thời gian để tìm ra những câu trả lời chuẩn xác và thuyết phục.

Song có thể sơ bộ kết luận những thay đổi nêu trên trước hết là hệ quả trực tiếp của nhiều vấn đề nóng bỏng: (a) sự thâm nhập và can thiệp rất sâu về mọi mặt từ phía Trung Quốc vào công việc nội bộ Myanmar đã gây ra mất ổn định nghiêm trọng trong lòng quốc gia này, đồng thời có nguy cơ biến Myanmar thành một quốc gia phụ thuộc; (b) gần 50 năm ách thống trị của chính quyền quân phiệt gây ra nhiều hệ quả khôn lường cho quốc gia này, (c) ý chí không thể khuất phục của nhân dân Myanmar về tự do dân chủ, nhất là của các lực lượng yêu nước mà tiêu biểu là Liên đoàn quốc gia vì dân chủ (NLD) và vai trò của bà Aung San Suu Kyi, (d) chế độ quân phiệt Myanmar bị tảy chay và cô lập nghiêm trọng trên trường quốc tế.

Nếu phải nói thật ngắn, nguyên nhân sâu xa của những thay đổi nói trên là ý chí tự do dân chủ không thể khuất phục của nhân dân Myanmar.

Cho dù với những động cơ gì đi nữa, những quyết định vừa qua của tổng thống Thein Sein có lợi cho tự do dân chủ và phục vụ lợi ích quốc gia của Myanmar, vị thế quốc tế của Myanmar trong cộng đồng các nước ASEAN nói riêng và trên trường quốc tế nói chung được cải thiện rõ rệt…

Những thay đổi mới này của Myanmar còn là những đóng góp quan trọng cho việc tăng cường sức sống của cộng đồng ASEAN nói riêng và cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong toàn khu vực Đông Nam Á nói chung.

Tuy nhiên, trong hàng ngũ các tù chính trị thuộc giới tăng ni, sinh viên hay chính khách, và từ giới nghiên cứu trên thế giới, đang dấy lên không ít những nghi ngờ. Điểm chung nhất của những nghi ngờ này là: Chế độ của nhóm quân phiệt có thâm niên gần một nửa thế kỷ, có rất nhiều hành động đàn áp đẫm máu, đày rãy tham nhũng và lừa dối. Một chế độ như thế rất khó có khả năng tự sám hối và phục thiện. Các bước đi vừa qua của tổng thống Thein Sein có thể chỉ là những tính toán cao thủ trong bước đường cùng, cốt nhằm cứu vãn tình thế nguy ngập của chế độ hơn là thiện chí dành cho tự do dân chủ của nhân dân… Những nhân nhượng dành cho Liên đoàn dân tộc vì dân chủ và bà Aung San Suu Kyi có lẽ chỉ nhằm mục đích trang trí cho bộ mặt của chế độ, làm giảm áp lực phản đối của nhân dân Myanma và gỡ thế bị bao vây cô lập trên trường quốc tế…

Hiển nhiên, toàn bộ con đường đi tới một quốc gia dân chủ và phát triển của Myanmar còn ở phía trước với tất cả những gian nan, thách thức ắt phải có.

Song nếu động lực của những bước đi có bài bản vừa qua của tổng thống Thein Sein là sự giác ngộ lợi ích quốc gia, cùng với ý chí bất khuất về tự do dân chủ của nhân dân Myanmar, có thể tại đất nước này đang hình thành những yếu tố hứa hẹn tạo ra sự chuyển biến hòa bình, từng bước đưa quốc gia này chuyển sang chế độ dân chủ.

Đã có không ít ý kiến bình luận, đại ý: Với những quyết định của mình vừa qua, có thể tổng thống Thein Sein muốn bẻ gãy cái vòng luẩn quẩn. Có thể ông đã nhận ra: Càng thẳng tay bạo lực, cả chế độ và đất nước cùng lâm nguy… Một khi nhân dân Myanmar – tiêu biểu là Liên đoàn dân tộc vì dân chủ (NLD) và bà Aung San Suu Kyi – giành được tiếng nói của mình trên chính trường, đất nước Myanmar sẽ chuyển động… Trong xu thế dân chủ trên thế giới ngày nay, con đường Myanmar hứa hẹn thành công, thậm chí có thể thành công sớm hơn và tiết kiệm xương máu hơn so với các cuộc cách mạng mang tên các mùa hoa diễn ra tại các nước Bắc Phi vừa qua…

Thế sự xoay vần còn hé lộ ra khả năng, từ một tướng lĩnh chủ chốt trong SLORC - SPDC khét tiếng, biết đâu sau này có thể tổng thống Thein Sein sẽ được nhân dân Myanmar ghi nhận như một anh hùng dân tộc.., nếu như tiếp theo những quyết định quả cảm vừa qua, ông kiên trì theo đuổi con đường trung thành với lợi ích của quốc gia và các quyền tự do dân chủ của nhân dân Myanmar. Cái gì có thể ngăn cản ông Thein Sein trên con đường này?

Thế mới biết, trên đời này có thể có nhiều con đường khác nhau dẫn tới tự do dân chủ của một quốc gia, một dân tộc, song tất cả những con đường này đều phải bắt đầu từ sự thay đổi.

Giác ngộ lợi ích quốc gia chân chính và các quyền tự do dân chủ của nhân dân, cùng với metta dẫn đến hòa giải dân tộc, đấy là những yếu tố quyết định, có thể sẽ mở ra cho Myanmar một lối đi riêng của mình trong quá trình trở thành một quốc gia của hòa bình, tự do, dân chủ và phát triển.

Có thể đặt tên cho quá trình này là con đường Myanmar rất đáng mơ ước?

Võng Thị, Tây Hồ - tháng 1 -2012

© Nguyễn Trung
Theo Viet-studies
______________________

[1] Theravada (Thượng-tọa-bộ) là một trong 18 trường phái tiểu thừa (còn được gọi là Nam tông Phật pháp) được biết đến và còn tồn tại đến ngày nay, thịnh hành ở các nước Nam Á.

[2] Gần 90% nhân dân Myanmar theo Đạo Phật, thuôc phái Tiểu thừa; 4 “gati” phần nào giống dạng thức trong đạo Phật (Đại thừa) giảng về tham – sân – si, song nhấn mạnh “gati” thứ tư: nỗi sợ, coi đấy là gốc rễ gây ra 3 con đường (gati) hủy hoại con người đã nêu ra trước đó.
[3] Tìm xem Alan Clements, “Burma: The Next Killing Fields?”, 2002.


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Vài nhận định sơ khởi về "Lời phát động Phong Trào Con Đường Việt Nam"

Tôi đọc "lời phát động" của Phong Trào Con Đường Việt Nam như hầu hết những công dân Việt Nam khác: trên mặt báo chí. Sau đây là các ý kiến của cá nhân tôi về nội dung của bản kêu gọi này.
1/

Trích:

Thưa quốc dân đồng bào,Cách đây hơn 100 năm phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân đã ra đời và được nhân dân ta hưởng ứng nhiệt thành. Nếu như chính quyền cai trị của Pháp lúc đó không đàn áp thành công các phong trào yêu nước này thì giờ đây tinh thần “Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh” đã đưa nước ta trở thành một quốc gia phát triển không thua kém gì Nhật Bản và các nước thuộc thế giới thứ nhất khác.

(Hết trích).

Ý của Phong trào (PT), nguyên nhân làm cho Việt Nam không phát triển như Nhật (và các nước thuộc thế giới thứ nhứt) là do thực dân Pháp đã đàn áp thành công các phong trào Đông Du, Duy Tân.

Lý luận như thế không thuyết phục. Không ai đặt lại chữ "nếu" trong lịch sử.

Nhưng cũng thử đặt lại chữ "nếu": nếu Pháp không đàn áp các phong trào này, liệu Việt Nam có phát triển như Nhật hay không?

Không có câu trả lời nào chắc chắn.

Cũng thử đặt lại: Nếu Việt Nam không có ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN thì Việt Nam hôm nay ra sao?

Câu này thì có câu trả lời: Chưa biết Việt Nam có bằng Nhật hay không nhưng dĩ nhiên là khá hơn ngày hôm nay.

Đơn giản vì những gì mà đảng CSVN làm hôm nay là cố gắng gầy dựng lại những gì họ đã đập phá trong quá khứ. Con đường của đảng CSVN đi hôm nay là đi lại con đường mà dân tộc Việt Nam đã đi từ hơn ½ thế kỷ trước, mà họ đã từng cưỡng bức dân tộc Việt Nam chối bỏ trong máu xương và nước mắt. Người trong nước từng nói việc "đổi mới" của đảng CSVN thực ra là việc "đổi cũ". Có câu thơ rằng: bao giờ cho đến ngày xưa. Tức việc quay lại 180° hiện nay vẫn chưa trở lại ở điểm "ngày xưa".

Như vậy, nếu không có ông Hồ và đảng CSVN, Việt Nam đã không mất một thời gian, ít nhứt là 50 năm, để phát triển đất nước. Nên biết, Nhật chỉ cần 25 năm để từ đống tro tàn sau năm 1945 để trở thành cường quốc (kinh tế) trên thế giới.

2/

Trích:

TIẾP CON ĐƯỜNG DUY TÂN

Tinh thần đó, nói một cách hiện đại chính là “Hiểu biết để Tự tin để Làm giàu cuộc sống” cho mình và mọi người. Phong trào Con đường Việt Nam xin được tiếp nối tinh thần này, tiếp quản sự nghiệp của tiền nhân, tiếp nhận hồn thiêng sông núi để tiếp tục một con đường đúng đắn mà dân tộc ta đã chưa đi đến đích. Chặng đường dở dang còn nhiều khó khăn nhưng chắc chắn chúng ta sẽ vượt qua nó chỉ cần một hành trang: tự tin sử dụng quyền con người của mình.

Dưới chính quyền thực dân phong kiến, quyền con người của nhân dân ta bị tước đoạt trầm trọng. Nhưng từ khi thoát khỏi đô hộ của ngoại bang đến giờ các quyền mặc nhiên này của chúng ta chưa bao giờ được thực sự tôn trọng và bảo vệ. Đây chính là căn nguyên cốt lõi khiến nước ta đến giờ vẫn còn chậm tiến cho dù nhân dân ta đã rất vất vả, luôn cần cù chịu thương chịu khó và luôn khát vọng vươn lên đến cháy bỏng. Căn nguyên này được rút ra từ một quy luật mà chỉ khi tuân thủ nó – tức tôn trọng và bảo vệ đầy đủ quyền con người – thì xã hội loài người mới có thể phát triển công bằng, thịnh vượng và văn minh được.

Hết trích.

"Tiếp nối tinh thần này" là tiếp nối "con đường Duy Tân", với ý nghĩa "hiện đại": “Hiểu biết để Tự tin để Làm giàu cuộc sống”. Tức phù hợp với chủ trương của cụ Phan Châu Trinh "khai dân trí (hiểu biết), chấn dân khí (tự tin), hậu dân sinh (làm giàu cuộc sống)".

Phải nhìn nhận rằng tại Việt Nam vào thời điểm đó, cụ Phan Châu Trinh là người đi trước thời cuộc. Trong tư tưởng "khai dân trí", cụ Phan chú trọng ở việc « giáo dục », qua các việc vận động mở trường (dạy học thuật Tây phương) và cổ võ phong trào xuất dương du học, do ảnh hưởng cuộc cách mạng Minh Trị ở Nhật. Trên bình diện quốc tế, Âu hay Á, vấn đề giáo dục từ xưa đến nay luôn được coi trọng. Trong bất kỳ một quốc gia văn minh nào hiện nay, ngân sách dành cho giáo dục luôn lớn gấp nhiều lần hơn ngân sách dành cho quốc phòng. Tuy vậy, cũng có quốc gia thành công, có quốc gia thất bại. (Quốc gia điển hình thành công là Đại Hàn. Quốc gia điển hình thất bại là Việt Nam). Vì vậy nội dung (chính sách) của giáo dục mới là điều quan trọng.

"Khai dân trí""giáo dục" gắn liền với nhau, nếu không nói là một.

Phong trào (PT) "xin được tiếp quản sự nghiệp của tiền nhân", ở đây là sự nghiệp "Duy Tân" của cụ Phan Châu Trinh. Việc dùng chữ "tiếp quản" (tiếp nhận và quản lý) ở đây e rằng không phù hợp. Di sản của tiền nhân (lịch sử) là gia tài chung của toàn dân tộc. Một cá nhân, một nhóm nhỏ khó có thể nhân danh cả dân tộc để "tiếp quản" một "di sản của lịch sử". Cũng vậy, Phong Trào không thể "tiếp nhận hồn thiêng sông núi". "Hồn thiêng sông núi" là của sông núi, của tất cả những người Việt Nam đã từng chết và sống cho đất nước này, tư cách nào mà Phong Trào "tiếp nhận" hồn thiêng này?

Tạm chấp nhận Phong Trào có tư cách "tiếp quản" tinh thần Phan Châu Trinh cũng như có tư cách để "tiếp nhận hồn thiêng sông núi". Đã viết ở trên, vấn đề giáo dục thuộc phạm vi quốc gia, tư cách "phong trào" hiện nay, không phải là tổ chức chính trị như Phong Trào đã khẳng định, cũng chưa nắm được quyền hành. Vậy với phương tiện nào Phong Trào thực hiện việc "khai dân trí" (tức việc tổ chức giáo dục)? Và nội dung việc "khai dân trí" (chính sách giáo dục) này ra sao?

Phong Trào có trả lời trong “lời phát động”, là "đi đến đích" bằng sự "tự tin sử dụng quyền con người của mình."

Như vậy "cái đích" của Phong Trào và cái đích của "tiền nhân" (mà Phong Trào tự tiện "tiếp quản") đã không giống nhau. Phong Trào sẽ đi đến "đích" bằng "nhân quyền", cụ Phan thì đi bằng con đường "Duy Tân".

Phong Trào nhận định "Dưới chính quyền thực dân phong kiến, quyền con người của nhân dân ta bị tước đoạt trầm trọng. Nhưng từ khi thoát khỏi đô hộ của ngoại bang đến giờ các quyền mặc nhiên này của chúng ta chưa bao giờ được thực sự tôn trọng và bảo vệ."

Điều này chỉ đúng tương đối: Dưới chính quyền thực dân, quyền con người (nhân quyền) của người Việt Nam không được tôn trọng hoàn toàn, nhưng dầu sao một số quyền con người căn bản khác, như quyền tự do ngôn luận, báo chí, quyền tư hữu, quyền tự do mưu cầu hạnh phúc cho cá nhân và gia đình… thì được tôn trọng. Chỉ có quyền chính trị (đương nhiên) bị cấm.

Cũng không phải "từ khi thoát khỏi đô hộ của ngoại bang" thì quyền này (nhân quyền) chưa bao giờ được tôn trọng. Chính quyền miền Nam là một thí dụ đúng đắn về một thể chế dân chủ trên nền tảng nhân quyền sau khi "thoát khỏi đô hộ của ngoại bang". Dĩ nhiên, chế độ này non trẻ, có những thiếu sót hiển nhiên của một chế độ dân chủ chưa trưởng thành. Nhưng nếu so sánh với các nền dân chủ của các nước chung quanh cùng thời kỳ: Đại Hàn, Thái Lan, Miến Điện, Đài Loan, Indonésie, Mã Lai… VNCH là một chế độ dân chủ vượt trội. Trong Quốc hội VNCH, phần khá lớn dân biểu là đối lập, chống chính quyền. Có người còn theo CS. Trong khi đó quốc hội của các nước khác dẫn trên đều là quốc hội bù nhìn. Trong cùng thời kỳ, xã hội miền Nam là một xã hội mở. Người dân hoàn toàn hưởng được mọi quyền tự do cơ bản. Mặc dầu bị hạn chế một phần do chiến tranh, nhưng các sản phẩm văn hóa miền Nam đều có đủ mọi trào lưu nhân văn và khuynh hướng chính trị.

Nhưng từ khi đất nước hoàn toàn bị nhuộm đỏ thì từ đó các quyền làm người cơ bản của người dân bị xúc phạm trầm trọng. Người dân không có quyền ngôn luận, hội họp, chính trị… đã đành, quyền tư hữu đất đai, là quyền thiêng liêng nhất để người dân mưu cầu hạnh phúc cho cá nhân và gia đình (tức quyền được sống), cũng bị truất bỏ. So với thời thực dân Pháp, nếu thực dân Pháp man rợ thì nhà nước CSVN là hiện thân của ác quĩ. Các vụ đánh dân, cướp đất của dân hiện nay là các bằng chứng hùng hồn.

Phong Trào nhận định: "Đây chính là căn nguyên cốt lõi khiến nước ta đến giờ vẫn còn chậm tiến…" . "Đây" có nghĩa là việc mất nhân quyền. Nhận định này khá đúng trong nhận xét về "quả" nhưng rất sai trong nhận xét về "nhân"! Phong Trào hình như quên rằng thực dân Pháp đã không còn ảnh hưởng nào ở Việt Nam từ thập niên 50 của thế kỷ trước. Tình trạng "nhân quyền" ở Việt Nam bị chà đạp hiện nay không hề do hệ quả của thực dân mà do đảng CSVN đang cầm quyền tại Việt Nam.

"Việt Nam chậm tiến" là do nhiều nguyên nhân, mà nguyên nhân của mọi nguyên nhân là do đảng CSVN với các chính sách không phù hợp với tình trạng chính trị thế giới cũng như tập quán, đạo lý của dân tộc Việt Nam. Nhân quyền bị chà đạp như thế chỉ mới là một nguyên nhân. Dầu vậy, ta thấy nhiều nước, như Tân Gia Ba, "nhân quyền" trên nhiều phương diện bị hạn chế (tự do chính trị, tự do ngôn luận…) nhưng họ vẫn tiến triển vượt mức. Như thế, ngoài giáo dục (khai dân trí), thì phát triển kinh tế là động lực khác để phát triển xã hội (chứ không phải là nhân quyền).

3/

Trích:

BẰNG CON ĐƯỜNG VIỆT NAM

Do vậy phong trào Con đường Việt Nam xác định mục tiêu tối thượng phải hoàn thành là quyền con người phải được bảo vệ trên hết và bình đẳng ở đất nước chúng ta.

Hết trích.

Theo mạch văn của "lời phát động", Phong Trào xác định việc thể hiện "con đường Duy Tân", bằng "con đường Việt Nam".

Ở đây chữ nghĩa không rõ ràng. "Con đường Việt Nam" ở đây chính là con đường của Phong Trào. Sao lại gọi “chung chung” là con đường Việt Nam? Việc sử dụng chữ ở đây khá giống với chữ nghĩa của CSVN, cái gì cũng của “nhân dân”, nhưng thực tế của cải, tài nguyên quốc gia đều nằm trong túi các đảng viên.

Mục tiêu Phong Trào được khẳng định: "phong trào Con đường Việt Nam xác định mục tiêu tối thượng phải hoàn thành là quyền con người phải được bảo vệ trên hết và bình đẳng ở đất nước chúng ta".

Mệnh đề "Hiểu biết để Tự tin để Làm giàu cuộc sống” ở phần 1/ cho thấy có lủng củng về câu cú (hai chữ "để"). Câu này cũng lủng củng câu cú và trùng lặp ý nghĩa.

Nếu ai có đọc bản "Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền" hẵn đều biết hai yếu tố cơ bản của các quyền con người là nhân phẩm và sự bình đẳng về các quyền tự do cá nhân.

"Bảo vệ trên hết và bình đẳng" là bảo vệ ra sao? Nhân quyền, tức các quyền tự do cơ bản của con người, là các giá trị nền tảng của một xã hội. Khi đã là "cơ bản", là "nền tảng", dĩ nhiên nó có giá trị "trên hết". Mặt khác, "nhân quyền" tự nó mang tính "bình đẳng". Điều đầu tiên của Hiến chương LHQ về "Nhân quyền" là khẳng định về "nhân phẩm" và sự "bình đẳng" về quyền của con người. Viết "Bảo vệ trên hết và bình đẳng" là vừa lủng củng, vừa thừa.

Thực ra, vấn đề tập trung ở việc có công nhận và tôn trọng "nhân quyền", tức tôn trọng "nhân phẩm" và các quyền tự do cơ bản của con người, như là các giá trị nền tảng của xã hội, hay không?

Về mục tiêu: "mục tiêu tối thuợng" ("quyền con người phải được bảo vệ trên hết và bình đẳng ở đất nước chúng ta") của Phong Trào ở phần 3 và việc thực hiện "con đường Duy Tân", tức tiếp nối con đường "mà dân tộc ta đã chưa đi đến đích."phần 2. Cả hai đều là mục tiêu.

Phần 2 có ghi: "Chặng đường dở dang còn nhiều khó khăn nhưng chắc chắn chúng ta sẽ vượt qua nó chỉ cần một hành trang: tự tin sử dụng quyền con người của mình.". "Nhân quyền" vừa là "hành trang", vừa là "mục tiêu tối thượng phải hoàn thành".

Mâu thuẫn ở đây, khi nói nhân quyền là mục tiêu "tối thuợng" phải hoàn thành, tức là vẫn chưa hoàn thành. Tức ở Việt Nam hôm nay nhân quyền vẫn còn bị chà đạp thê thảm. Điều này đúng. Vậy lấy đâu ra "Quyền con người" để làm "hành trang" cho Phong Trào?

Cũng nên biết ở thời kỳ cụ Phan Châu Trinh, vấn đề "nhân quyền" chưa đặt ra một cách phổ quát. Tư tưởng cụ Phan do đó không đề cập trực tiếp đến "nhân quyền". Ở trên tôi có viết: Như vậy "cái đích" của Phong Trào và cái đích của "tiền nhân" (mà Phong Trào tự tiện "tiếp quản") đã không giống nhau. Phong Trào sẽ đi đến "đích" bằng "nhân quyền", cụ Phan thì đi bằng con đường "Duy Tân".

“Mục đích” là điểm đến của mọi vận động. Người đọc phân vân không biết “mục đích” của Phong Trào là gì?

4/

Trích:

NỀN TẢNG DÂN LÀM GỐC

Chỉ có như thế thì đất nước ta mới có được một nền tảng chính trị vững chắc, thực sự lấy dân làm gốc để phát triển kinh tế – xã hội nhanh chóng và bền vững mang đến giàu sang và văn minh cho mọi người chứ không phải liên tục bất ổn như lâu nay.

Chỉ có như thế thì chúng ta mới vượt thoát được cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội trầm trọng hiện nay và tránh lặp lại trong tương lai để lại gây tai họa tiếp tục về sau.

Hết trích.

“Chỉ có thế” tức là chỉ khi nhân quyền được tôn trọng. Nhưng thế nào là "một nền tảng chính trị vững chắc, thực sự lấy dân làm gốc"? Nội dung toàn bản kêu gọi (hay phát động Phong Trào) không hề nói đến "chính trị", tức nói về một tư tưởng chính trị, một khuynh hướng chính trị hay một chế độ chính trị cụ thể. Bây giờ Phong Trào nói về một một nền tảng chính trị vững chắc, thực sự lấy dân làm gốc đương nhiên sẽ làm nhiều người nghi ngại.

Bởi vì nhà nước độc tài nào lại không nói lấy "dân làm gốc"? Nhà nước CHXHCNVN cũng là nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, cũng “lấy dân làm gốc”. Chỉ có những nhà nước dân chủ tự do thì ít khi nói về một nền tảng chính trị lấy dân làm gốc. Vì những người cầm quyền biết rằng, nhiều lắm thì họ cũng chỉ đại diện cho một tầng lớp, một khuynh hướng chính trị trong dân chúng, chứ không hề cho toàn dân được. Ý kiến của đa số áp đảo không hề là ý kiến của toàn dân.

Giả sử một nền tảng chính trị vững chắc, thực sự lấy dân làm gốc này hiện hữu. Lấy gì bảo đảm chế độ này sẽ đem lại "giàu sang và văn minh" cho mọi người? Lấy gì bảo đảm nó sẽ đem lại ổn định cho đất nước? Nhất là sẽ thoát được cuộc "khủng hoảng kinh tế" ngày hôm nay?

Nước Mỹ, EU, Nhật… là các nước phát triển, văn minh… không nước nào dám rêu rao đã "đem lại giàu sang cho mọi người".

Ý nghĩa của "ổn định" (thực ra là ổn định chính trị) cũng rất tương đối. Việt Nam không hề "bất ổn" như nhận định của Phong Trào. Hầu như tất cả các nhà đầu tư trên thế giới đều đồng ý ở điểm Việt Nam là một nước "ổn định". Nhưng ổn định này không hề đem lại sự phồn thịnh về kinh tế cho Việt Nam. Trong khi các nước tự do dân chủ, nhà nước thay đổi liên miên, hết hữu sang tả, rồi từ tả sang hữu, như con thuyền lao chao trên sóng, rõ ràng là "bất ổn định chính trị", vậy sao họ vẫn phát triển đều đặn?

Và để thoát được "cuộc khủng hoảng kinh tế" hiện nay, thực tế hầu như mọi nền kinh tế đều bị khủng hoảng. Đây là một cuộc khủng hoảng toàn cầu về "nợ", từ nợ của các tập đoàn tài chính các năm trước đến nay là nợ của các quốc gia phát triển (ngoại trừ Trung Quốc). Việt Nam dĩ nhiên nợ nần lút đầu lút cổ, do tình trạng lỗ lã, hay phá sản của các tập đoàn quốc doanh. Việt Nam không dễ thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - tài chính, đơn giản như nhận định của Phong Trào bằng một nền tảng chính trị vững chắc, thực sự lấy dân làm gốc.

5/

Trích:

VẬN HỘI CỦA NGHÌN NĂM

Hỡi nhân dân yêu mến,

Hơn lúc nào hết, bây giờ là thời cơ tốt nhất để chúng ta thay đổi tận gốc rễ vấn đề thâm căn có nguồn gốc phong kiến kéo dài hàng ngàn năm làm nước ta lạc hậu đến tận ngày nay; là thiên thời để dân tộc ta đảo chiều sự gia tăng khoảng cách tụt hậu đang ngày càng lớn rồi nhanh chóng vượt lên khẳng định vị thế của chính mình trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay.

Hết trích.

Tôi không bàn về việc thời cơ tốt hay không tốt. Tôi muốn nói rằng Phong Trào có ý đánh tráo vấn đề. Bởi vì, Việt Nam lạc hậu từ hơn ½ thế kỷ nay không hề do hệ quả của "phong kiến kéo dài hàng ngàn năm" như Phong Trào đã nhận định.

Có nước nào trên thế giới này không trải qua giai đoạn phong kiến hàng ngàn năm như Việt Nam? Nước nào cũng có cả (ngoại trừ các nước mới lập như Hoa Kỳ). Nhưng tại sao hôm nay có nước tiên tiến, có nước lạc hậu? Nguyên nhân chính, theo tôi, là vấn đề tổ chức quốc gia và việc phân phối lợi tức quốc gia vào các mục tiêu công ích có hợp lý hay không.

Tôi cho rằng nguyên nhân "lạc hậu" của Việt Nam hôm nay, ban đầu là do ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN, cũng như sự bất tài, thiếu khả năng tổ chức, không có tư cách lãnh đạo quốc gia, của cán bộ đảng CSVN ngày hôm nay.

6/

Trích:

“Làm sao để người dân tự tin sử dụng tất cả quyền con người của mình mà không phải đợi ai cho phép trong hoàn cảnh của đất nước hiện nay?”

Hết trích.

Cuối cùng Phong Trào đặt một câu hỏi. Ta thấy Phong Trào đặt lại vấn đề về sự tự tin (Hiểu biết để Tự tin để Làm giàu cuộc sống) của người dân và quyền con người. Tức đặt vấn đề ở chính "mục tiêu" của Phong Trào.

Ra câu hỏi như thế là Phong Trào thú nhận mình vẫn chưa biết làm thế nào để thực hiện mục tiêu của mình. Trong khi một phong trào chỉ thành hình khi mà con đường hoạch định đi đến mục tiêu đã được phác họa rõ rệt.

7/ Kết luận:

Tôi chưa từng gặp quí vị Lê Thăng Long, Lê Công Định và Trần Huỳnh Duy Thức bao giờ ở ngoài đời. Tôi quí trọng LS Định, cũng như Nguyễn Tiến Trung, những trí thức trẻ yêu nước dấn thân. Tôi luôn tôn trọng hành động của quí anh, cho dầu có một số nhận thức chính trị tôi không chia sẻ. Sự hy sinh của quí anh cho lý tưởng và đất nước, không có gì để đo lường, tính toán, mà chỉ phải khâm phục và ủng hộ.

Riêng về Trần Huỳnh Duy Thức, trong qua khứ tôi có đọc một số bài viết của anh lúc trước khi bị bắt. Từ đó trong tôi nảy sinh một tình cảm sâu sắc dành cho anh Thức. Trong một lần trao đổi điện thư với anh, sau khi biết anh có liên hệ với những người ở nước ngoài, tôi có cảnh báo rằng (nguyên văn): anh phải hết sức thận trọng. Anh trả lời với tôi rằng anh thừa mưu trí để vượt thoát các cạm bẫy giăng ra. Rốt cục anh bị bắt. Anh bị nhà nước CSVN xử với tội nặng nhất, 17 năm, so với những người bị bắt chung. Nhưng giữa tôi và anh Thức vẫn chỉ là sơ giao, cho dầu anh cũng tỏ ý mến mộ tôi về các công trình mà tôi đã thực hiện trong quá khứ.

Vì vậy, với tình cảm sâu sắc mà tôi vẫn còn dành cho anh Thức, tôi cho rằng bản kêu gọi của Phong Trào vừa công bố đã thực hiện hết sức vội vã, lời văn lủng củng, thiếu ý tưởng sâu sắc, mục tiêu không rõ rệt (theo con đường Duy Tân hay tranh đấu cho Nhân quyền? đấu tranh thế nào?), nhận định sai lầm về nguyên nhân tình trạng lạc hậu của Việt Nam… khác hẳn giọng văn thường thấy của Trần Huỳnh Duy Thức mà tôi đã từng đọc. Phải chăng đây là một bản văn ngoài ý muốn của anh Thức?

Dĩ nhiên, chỉ có anh Thức mới có thể trả lời được việc này.

© Trương Nhân Tuấn
Theo Trương Nhân Tuấn blog


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Bài Viết cho Ngày QLVNCH 19-6: “Anh Vẫn Sống …”

Nhật Trường Trần Thiện Thanh: Anh Vẫn Sống …

Lên năm tuổi tôi được thấy những cánh dù thả sát cạnh nhà, được nghe những tiếng súng tấn công vào mật khu cộng sản và được gia đình thu xếp để về Sài Gòn sinh sống.

Dân chúng là nạn nhân của bọn vc tàn ác
Chiến tranh lại đến với Sài Gòn, những cộng quân chỉ hơn tôi ít tuổi lạc lõng trong cuộc tháo chạy hay nằm phơi xác trên đường phố trong trận Mậu Thân.

Rồi hình ảnh chiến tranh trên truyền hình trên báo chí, những cuộc pháo kích vào Sài Gòn, những vụ đặt bom khủng bố và những binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa tử trận mỗi ngày một nhiều hơn. Không chọn lựa chiến tranh nhưng chiến tranh đã đến và mỗi ngày một trở nên khốc liệt hơn.

Sống trong khu lao động chúng tôi thường gắn bó với nhau, khi người lính trận trở vềdù sống hay chết cũng là cơ hội để thế hệ chúng tôi gắn bó với nhau hơn. Vềthăm nhà các anh kể cho chúng tôi nghe chuyện chiến trường rồi hát cho chúng tôi nghe những bài ca yêu thích. Nếu các anh về trong hòm gỗ trong chiếc poncho chúng tôi lại có những đêm không ngủ quay quần bên các anh ca hát như sửa sọan cho chính mình sẵn sàng dấn thân vào cuộc chiến.

Những đứa bạn tôi Mai, rồi Quân lấy khai sinh của người khác để đầu quân gia nhập quân đội. Sau 1975 tôi chưa thấy ai nhắc đến những thanh niên miền Nam như Mai như Quân đã tình nguyện gia nhập quân đội mặc dầu chưa đến tuổi thi hành quân dịch.

Vẫn biết đi vào cuộc chiến là đi vào cõi chết chúng tôi vẫn nóng lòng sửa sọan. Tại sao lại ước mơ và sửa sọan bước vào chiến tranh thay vì nghe lời người lớn du học: Tôi yêu được làm người lính. Khi còn nhỏ mỗi lần nghêu ngao hát bài: “Từ khi anh thôi học, và từ khi anh khoác áo treillis …” là mỗi lần được gia đình khuyên nhủ ráng học để giúp nước giúp nhà.

Tôi yêu đời lính nên cũng yêu nhạc lính và tôi yêu nhạc Nhật Trường Trần Thiện Thanh. Rừng lá thấp là bài tôi yêu thích nhất. Bài được viết tặng cho Đại Úy Vũ Mạnh Hùng tử trận trên cầu ThịNghè trong trận chiến Mậu thân. Lạ một điều bản nhạc về một người thật đã hy sinh nhưng vẫn đi vào lòng người và vẫn lôi cuốn nhiều người “lên đường vui chinh chiến dài lâu.”


Trong CD Anh Không Chết Đâu Anh Nam Lộc và Việt Dzũng nêu lên một đặc thù của nhạc Trần Thiện Thanh là thường nhắc đến màu xanh. Trong bài Rừng Lá Thấp chưa đến 200 chữ đã có đến 5 chữ để diễn tả màu xanh: “Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi … Khi bùn lầy còn pha sắc áo xanh …Rừng lá xanh xanh lối mòn chẩy quanh…” Màu xanh chính là mầu hy vọng, màu của sự sống, màu của tương lai, chính những dòng nhạc xanh xanh của Trần Thiện Thanh đã giúp hàng hàng lớp lớp lên đường “đánh giặc lâu bền cho non nước bình yên …”.


Rừng Lá Thấp không phải là bài duy nhất Vinh Danh Người Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trần Thiện Thanh còn viết bài Người ở lại Charlie để tạ từ Đại tá Nguyễn Ðình Bảo tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 Dù đã anh dũng hy sinh trên đồi Charlie Tân Cảnh Komtum. “Anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie. Anh! Anh! Hỡi anh giã từ vũ khí… Anh! Anh! Nhớ anh trời làm cơn bão. Anh! Anh! Tiếc anh chiều rừng thay áo…”

Trần Thiện Thanh, cùng người em trai Trần Thiện Thanh tòan sáng tác ca khúc Bắc Đẩuđể vinh danh một bạn thân vừa nằm xuống “Người bỗng trở thành vì sao Bắc Đẩu, …” Thần chết không phải chỉ đến với người sống, thân xác anh vì Sao Bắc Đẩu ba lần bị đạn thù bắn nát. “Người tên Bắc Đẩu chết trận La Vang, liệm xác ba lần Ngọc Bích cũng tan…” Bắc Đẩu Đại Úy Thiết Giáp Nguyễn ngọc Bích là một bằng chứng tàn khốc của Chiến tranh.

Vở nhạc kịch Trên Đỉnh Mùa Đông và bản nhạc Anh không chết đâu Anh được sáng tácđể ca ngợi tinh thần bất khuất của chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa Đại úy Pháo Binh Nhảy Dù Nguyễn Văn Đương. “Anh không chết đâu anh, người anh hùng mủ đỏ tên Đương”đã tự kết liễu đời mình khi tiền đồn bị cộng quân chiếm đóng. Từ Hạ Lào Anh trở về quê nhà và “Anh vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người biết thương đời lính…”

"Vị Quốc Vong Thân"
Khi cuộc chiến kết thúc, 30-4-1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Chuẩn tướng Lê văn Hưng, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn tướng Trần Văn Hai,Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và hằng ngàn chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã tuẩn tiết để “vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người biết thương đời lính…”Họ đã trở thành những anh hùng vị quốc vong thân và sống mãi trong lòng dân tộc. Nếu bạn từ phương xa ghé thăm Melbourne, Victoria, xin ghé Đền Thờ Quốc Tổ thắp một nén nhang cầu nguyện cho vong linh của những người đã hy sinh để chúng tađược sống.

Tháng 9-2012 tới đây tại Úc Châu sẽ có một Lễ Hội Âm Nhạc: Nhật Trường Trần Thiện Thanh – Anh Không Chết Đâu Anh, với sự góp mặt của hầu hết Ca Nhạc Sĩ và MCs hàng đầu Trung Tâm Asia Entertainment do VietStars Entertainment đứng ra tổchức. Riêng tại Melbourne, Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Victoria đã đồng thuận phối hợp với VietStars Entertainment để tổ chức Lễ Hội Âm Nhạc này.

Tất cả tiền lời của hai ngày Lễ Hội Âm Nhạc ở Melbourne, Thứ Bảy, ngày 8 và ChủNhật, ngày 9 Tháng 9, 2012, sau khi trừ các chi phí tổ chức, sẽ được Ban TổChức xung vào quỹ để trùng tu và bảo trì Đền Thờ Quốc Tổ để hậu sinh luôn có cơhội phụng thờ Quốc Tổ, anh hùng liệt nữ dân tộc, và những người chiến sĩ đã bảo vệ miền Nam tự do.

Trần Thiện Thanh viết bài Biển mặn nói lên tâm sự chính mình và tâm sự của những người con yêu của đất nước một đất nước luôn bị đe dọa của Bắc Phương:

“Cao ngất Trường Sơn, Ôm ấp tình thương nước ra sông nguồn, Tìm về biển Đông, Tình yêu thành sóng Thái Bình Dương, Rồi từng đêm sương, Sóng vỗ về ru giấc quê hương, Nhưng quê hương chưa ngủ, Khi bom đạn tơi bời, Còn nhục nhằn dưới ruộng trên nương.

Tôi thức từng đêm thơ ấu, Mà nghe muối pha trong lòng Mẹ là mẹ Trùng Dương, Gào than từ bãi trước ghềnh sau, Tuổi trời qua mau,

Gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi, Nên năm hăm mốt tuổi, Tôi đi vào quân đội mà lòng thì chưa hề yêu ai.
Tôi đến lại đi, Xa vắng đời tôi chiến chinh lâu dài, Miệt mài đời trai, Vượt truông dài che khuất biển xanh, Đẹp tựa trong tranh, Gót bùn lầy cho lúa thêm xanh, Trong bao lần quân hành, Tôi qua vùng khô cặn, Mồ hôi thành biển mặn trên môi.”

Lời nhạc Trần Thiện Thanh luôn tràn đầy tính nhân bản kiên cường chiến đấu nhưng tuyệt đối không reo rắc hận thù. Vì thế nhạc của anh sống mãi trong lòng những người Việt thương yêu đất nước và luôn sẵn sàng “đánh giặc lâu bền cho non nước bình yên …”.

Tôi viết bài này nhân sinh nhật lần thứ 70 của Nhật Trường Trần Thiện Thanh, 12-6-2012, để nhớ mãi Trần Thiện Thanh “…Anh vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người biết thương đời lính …”

Tôi viết bài này nhân Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19-6 để nói lên lời tri ân các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa những người “… vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người biết thương đời lính …”

Nguyễn Quang Duy
17-6-2012

—————————————–
Bài viết do tác giả gửi. VANGANH.INFO biên tập và minh hoạ.
—————————————–


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Video và hình ảnh 500 dân áo đỏ tại Tràng Thi và Mai Xuân Thưởng khiếu kiện

NÓNG ! TƯỜNG THUẬT TRỰC TIẾP 500 DÂN ÁO ĐỎ TẠI TRÀNG THI VÀ MAI XUÂN THƯỞNG KHIẾU KIỆN.

TƯỜNG THUẬT TRỰC TIẾP TỪ HIỆN TRƯỜNG :

8 giờ sáng tại 46 Tràng Thi : hơn hai trăm dân La Dương, Dương nội đã trực tại đây :

Sáng nay từ 9 giờ, gần 300 bà con La Dương, Dương nội đã tập trung tại 46 Tràng thi để khiếu nại quyết định của Thanh tra Chính phủ trả lời họ hôm rồi tại UBND quận Hà đông.
 Sáng nay từ 9 giờ, gần 300 bà con La Dương, Dương nội đã tập trung tại 46 Tràng thi để khiếu nại quyết định của Thanh tra Chính phủ trả lời họ hôm rồi tại UBND quận Hà đông.


Một hình ảnh chứng minh cho kỷ lục về Quốc gia hạnh phúc nhất nhì thế giới.
 Một hình ảnh chứng minh cho kỷ lục về Quốc gia hạnh phúc nhất nhì thế giới.
Phóng viên nước ngoài có mặt tại hiện trường, xe cảnh sát cũng ngay lập tức có mặt.
 Phóng viên nước ngoài có mặt tại hiện trường, xe cảnh sát cũng ngay lập tức có mặt.

Một đoàn bà con khác gồm dân oan La cả và tiểu thương chợ Nghĩa Tân đã tập trung tại cổng văn phòng chính phủ gần vườn hoa Mai Xuân Thưởng :
Tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng
Tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng


Đất nước hạnh phúc thứ nhì Thế giới theo báo Vnexspress.net đăng tải.
 Đất nước hạnh phúc thứ nhì Thế giới theo báo Vnexspress.net đăng tải.
Tiểu thương chợ Nghĩa tân có mặt tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng.

Mời xem video tại Tràng Thi

© Nguyễn Xuân Diện Blog


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Đểu có hệ thống

Không phải đợi tới bấy giờ người VN mới biết những trò đểu của những anh con buôn láng giềng Trung Quốc (TQ). Những chuyện như mua móng bò với giá tưởng như không bao giờ có khiến người nông dân vùng biên giới điêu đứng vì làm thịt hết bò, không còn phương tiện để cày cấy sinh nhai. Chuyện lấy cớ này cớ kia để làm hàng đoàn xe vận tải chở dưa hấu, rau quả sang TQ bán, nằm la liệt ở cửa khẩu làm mọi thứ thối rữa chỉ còn nước đổ đi. Và đầy rẫy những chuyện như thế đã từng xảy ra. Ở đây, tôi tạm thời tổng kết lại những trò lừa đảo trên toàn lãnh thổ VN, mỗi nơi một khác.

Không phải là đểu vặt mà là đểu có chính sách, có đường lối rõ ràng

Lồng bè nuôi cá của người Trung Quốc tại Phú Yên
Buồn một nỗi là người nông dân của VN vẫn chưa nhìn nhận ra trò đểu ấy không phải là đểu vặt mà là đểu có hệ thống. Bởi những trò đểu vặt dàn trải khắp nơi, bất cứ thứ gì dù là củ khoai, bụi khóm (dứa), nải chuối, trái dừa cho đến con cua cùng các loại hải sản, hạt gạo cũng bị bọn thương lái TQ dùng những thủ đoạn tinh quái lừa dân, không thể dùng chữ gì đúng hơn là “cực đểu”.

Chính sách “đểu có hệ thống” này song song với những thủ đoạn gây hấn trên biển, thuê rừng trồng trọt để “ăn sâu ở lâu”, đồng thời quấy rối trên khắp các vùng thôn quê, TQ đã chứng tỏ dã tâm của mình đối với người bạn láng giềng VN.

Điều đáng nói hơn nữa là các cấp chính quyền ở tất cả các địa phương cũng quá thờ ơ với những hành động xảo trá này! Nói đến tất cả các địa phương là nói đến cả nước tức là có trách nhiệm của các bộ, các ngành có trách nhiệm ở cơ quan trung ương. Không thể xem như đó chỉ là những vấn đề riêng của từng địa phương mà không chịu nhìn ra đó là cả một chủ trương lớn, phá hoại ngấm ngầm nền kinh tế quốc gia, đẩy nông dân vào con đường đói rách lâu dài. Bọn thương lái Trung Quốc (TQ) cứ việc âm thầm tung hoành, trong đó phải kể đến có sự tiếp tay đồng lõa của một số người Việt cũng tinh quái không kém. Tìm mọi kẽ hở của pháp luật chạy chọt cho bọn thương lái, lợi dụng đúng tâm lý, tình cảm, hoàn cảnh của người dân trong từng vùng nông thôn VN. Mỗi huyện, mỗi xã có nguồn sản xuất khác nhau, có hoàn cảnh khác nhau, chỉ người VN mới biết rõ tình hình vùng đó như thế nào. Những người VN hợp tác với bọn thương lái TQ hầu hết chỉ vì hám lợi, bị chúng lừa gạt, nhưng cũng không thể không kể đến những kẻ “nằm vùng”, đi theo quan thầy TQ, biết rõ đó là cái bẫy song vẫn quay lưng lại phản bội đồng bào mình.

Hãy thử nhìn qua vài thủ đọan của bọn thương lái TQ trong một số “thương vụ đểu” tại khắp Trung – Nam - Bắc VN.

Đặt mua thật nhiều rồi biến

Một tàu đang bốc dừa trên sông
Hàm Luông xuất sang Trung Quốc
 
Thoạt tiên, các thương lái Trung Quốc thu mua khóm với giá cao, họ “dỗ ngon dỗ ngọt” rằng khóm ở nước họ không ngọt bằng khóm ở những vùng nhiễm phèn nặng như khu vực Đồng Tháp Mười cho nên đắt họ cũng mua. Ông Nguyễn Tấn Hoàng (ở thị trấn Mỹ Phước) cho biết thương lái Trung Quốc không cần đợi khóm chín mà còn xanh cũng mua, miễn to là được.

Nhiều thương lái Trung Quốc xuất hiện mua khóm loại 1 (từ 1 kg/trái trở lên) với giá 4.000 đồng/kg. Thấy dễ kiếm lời, một chủ vựa khóm ở thị trấn Mỹ Phước, huyện Tân Phước đã thu gom được 2 container (hơn 42 tấn) để bán lại cho thương lái Trung Quốc. Tuy nhiên sau đó, thương lái Trung Quốc không mua nữa với lý do có tình trạng khóm nhỏ dưới 1 kg/trái trộn vào khóm loại 1.

Ông Thuận, một người thu gom khóm, than thở: “Các thương lái Trung Quốc chỉ đặt cọc 10 triệu đồng mà yêu cầu chúng tôi thu gom cả container khóm, giờ họ đi rồi thì biết bán cho ai?”. Rất nhiều người chạy đôn đáo khắp vùng Tân Phước hỏi mua khóm loại 1 để xuất khẩu sang Trung Quốc và cũng bị các thương lái Trung Quốc “chơi khăm” khi biến mất mà không có lý do.

Hơn thế, trong những ngày thương lái Trung Quốc thu mua khóm, số khóm nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến như Công ty Rau quả Tiền Giang giảm tới 50%, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sản xuất. Khi bị thương lái TQ lật lọng thì những người thu gom khóm lâm vào cảnh dở khóc dở cười, còn nông dân cũng méo mặt vì trước đó đã thu hoạch khóm xanh (chưa chín) để bán. Có khi nhà máy đành ngồi chơi đợi nguyên liệu. Ác ý của bọn thương lái này thật rõ ràng. Lừa cả nông dân, làm hại cả nhà máy, sao không cơ quan nào biết nhỉ?

Thu mua cua, hải sản và khoai lang, chuối già cũng với chiêu độc đó

Tại Đà Nẵng xuất hiện các thương lái người Trung Quốc trực tiếp đi thu mua hải sản của ngư dân địa phương với giá cao, sau đó thuê nhân công sơ chế rồi vận chuyển sang Trung Quốc tiêu thụ. Họ mua cả tôm bơm tạp chất. Tuy nhiên, được một thời gian ngắn, hầu hết các thương lái Trung Quốc “một đi không trở lại” khiến cho giá các mặt hàng hải sản bị rớt thê thảm. Ngồi chờ “các ông chủ TQ” đến mua, mỏi mòn như hòn vọng phu, đành bán tống bán tháo vậy, không bán được, khóm hư thối thì thả trôi sông.

Hàng chục thương lái Trung Quốc đang núp bóng khách du lịch thu mua cua ở Cà Mau và có người đã bỏ trốn, mang theo số nợ tiền tỉ của nông dân địa phương.

Ngày 6.5, công an thị trấn Năm Căn, (Cà Mau) cho biết: “Hiện đã có nhiều đơn tố cáo đối với Wang Juanmei, tự A Kiều (SN 1974), một thương lái quốc tịch Trung Quốc đến địa phương thu mua cua và biến mất cùng món nợ hơn 10 tỉ đồng”.

Thu mua lúa xuất khẩu tại đồng bằng sông Cửu Long 
Riêng ở địa bàn Huyện Năm Căn hiện có 20 thương lái Trung Quốc (chưa tính những thương lái đến, đi không trình báo), có lúc lên đến 60 -70 người và họ đều sử dụng hộ chiếu du lịch, tạm trú rồi đi thu mua cua.

Ở huyện Cái Bè - Tiền Giang, nhiều người đã vào tận nhà vườn thu mua chuối già với giá cao để xuất khẩu qua Trung Quốc. Tuy nhiên, họ cũng chỉ thu mua được một thời gian rất ngắn rồi bỏ, gây tổn thất lớn cho nhà vườn vì đã đốn bỏ các cây ăn trái để trồng chuối. Vườn đã mất hoa màu, phải làm lại từ đầu! Vốn liếng ít, lại đi vay nợ, đói rách trong một thời gian lâu dài vì trồng cây ăn trái vài năm mới mong có lời. Thâm độc đến thế là cùng.

Cách thống trị thị trường ngay tại quê hương dừa Bến Tre

Ban đầu các thương lái Trung Quốc đến từng gia đình sản xuất mua thạch dừa thô với giá cao. Họ mở đại lý thu mua ồ ạt, dẫn đến cơn sốt thạch dừa tại địa phương. Thấy có lời, nhiều người dân bắt đầu học hỏi quy trình để làm thạch dừa xuất khẩu khiến nhiều cơ sở sản xuất thạch dừa thành phẩm ở Bến Tre phải điêu đứng vì không có thạch thô để chế biến. Chỉ trong một thời gian ngắn, thương lái Trung Quốc đã thống lĩnh thị trường thạch dừa ở Bến Tre.

Ngay sau khi chi phối thị trường, thương lái Trung Quốc hạ giá thạch dừa xuống tận đáy. Từ chỗ mua thạch thô giá 3.950 đồng/kg, đến nay họ đã hạ giá chỉ còn 1.300 đồng/kg. Đến lúc này, người sản xuất thạch dừa ở Bến Tre rơi vào thế “sống dở chết dở” vì lỡ đầu tư sản xuất rồi, làm ra hàng hóa không biết bán cho ai, vậy sản xuất làm gì đây?

Trong một ngày, chủ tịch xã Mỹ Thạnh An (TP.Bến Tre) phải ký trên 30 đơn xin tạm nghỉ kinh doanh của các nhà sản xuất thạch dừa trong xã, với lý do không tiêu thụ được sản phẩm. Trước đó, xã này có 17 cơ sở khác xin nghỉ. Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, địa phương nổi tiếng với mặt hàng thạch dừa chỉ còn 20/67 hoạt động, tức là có đến 70% cơ sở “chết đứng”. Không chỉ Mỹ Thạnh An, người sản xuất thạch dừa tại nhiều địa phương ở Bến Tre cũng lao đao bởi giá thạch dừa xuống thấp, rơi vào cảnh lỗ lã do bị ép giá.

Làm mất uy tín thương hiệu quốc gia.

Một bè cá lớn của người Trung Quốc
tại vịnh Cam Ranh - Khánh Hòa.
 
Sau một loạt các hành vi cạnh tranh thương mại xảo quyệt trong nông, lâm và thuỷ hải sản và gần đây nhất các thương nhân Trung Quốc lại đang tiếp tục làm ảnh hưởng đến mặt hàng gạo – mặt hàng sản xuất chủ lực của Việt Nam.

Thương lái TQ “xúi” doanh nghiệp (DN) trong nước làm ăn gian lận, trộn gạo thường với gạo thơm rồi bán với giá gạo thơm... Họ mang ra bán ở các nước khác với tên Gạo Việt Nam. Ngay cả mặt hàng rất mạnh của VN là cà phê, hạt điều cũng bị con buôn TQ lũng đoạn. Đến mức này thì câu chuyện không còn dừng lại ở việc “buôn gian, bán lận” mà là vấn đề uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp, của gạo VN trên thế giới. Bởi VN là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Làm mất uy tín thương hiệu của VN là đánh một đòn rất nặng vào nền kinh tế của VN.

Đến trò “cắm chốt” còn ngoạn mục hơn

Ngoài nững trò mua bán “đểu”, dư luận hiện nay cũng đã và đang còn ầm ỹ về vụ người TQ “cắm chốt” ở VN mà các cơ quan đều không biết. Hẳn chúng ta chưa quên vụ hàng ngàn lao động Trung Quốc làm việc “chui” tại công trình Nhà máy Đạm Cà Mau và hơn 200 lao động TQ có mặt tại Khu công nghiệp Long Giang thuộc huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, làm hư con gái mới lớn và quyến rũ cả một số cô đã có chồng làm tan nát nhiều gia đình đang êm ấm khiến quê nghèo trở nên xáo trộn. Nay lại đến chuyện người TQ nuôi cá bè ở Phú Yên và Cam Ranh. Xin nói đến chuyện ở Phú Yên trước.

Ông Trần Xuân Ngãi, Chủ tịch UBND xã Hòa Xuân Nam thuộc huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, cho biết vì Vũng Rô là vùng được quy hoạch mở rộng cảng và phát triển công nghiệp hóa dầu nên không có tổ chức, cá nhân nào được cấp phép nuôi trồng thủy sản. Còn ông Ông Phạm Minh Chu, Chủ tịch UBND huyện Đông Hòa, khẳng định. “ UBND huyện Đông Hòa cũng không cấp phép nuôi trồng thủy sản và cho thuê mặt nước ở Vũng Rô đối với bất cứ tổ chức, cá nhân nào”

Vậy tại sao lại có những người TQ ung dung làm bè nuôi cá tại “vùng cấm địa” này? Họ từ trên trời rơi xuống à? .

Dùng người Việt làm lá chắn

Việc xuất hiện những bè nuôi cá của người Trung Quốc ở Vũng Rô từ gần 10 năm nay đã gây nhiều bất bình đối với người dân địa phương. Khi tàu thuyền của ngư dân chạy gần bè cá của người Trung Quốc thì lập tức bị nhân công dọa đánh.

Thật ra từ năm 2005 đến nay, UBND tỉnh Phú Yên đã cấp phép hoạt động cho 10 người Trung Quốc với vai trò chuyên gia hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá mú và cá bóp ở Vũng Rô. Tuy nhiên, ông Đào Thái Cường, trưởng thôn Vũng Rô, cho biết những chuyên gia này chính là chủ của các cơ sở nuôi cá mú và cá bóp với quy mô lớn tại đây. Ông Cường tiết lộ: “Họ đã thuê người Việt Nam đứng tên lập doanh nghiệp để nuôi cá”. Theo ông Cường, có tất cả 5 bè cá tại bãi Chùa, bãi Hương và bãi Lau (thôn Vũng Rô) do người Trung Quốc làm chủ với quy mô mỗi bè từ 100 đến 200 lồng.

Người Trung Quốc sống ung dung trên vịnh Cam Ranh. 
Theo UBND xã Hòa Xuân Nam, ngoài một số cơ sở tư nhân có chuyên gia Trung Quốc đứng đằng sau, còn 3 doanh nghiệp VN nuôi thủy sản tại Vũng Rô do người Trung Quốc trông coi là Công ty Thuận Thành, Doanh nghiệp tư nhân Mỹ Ngọc và Doanh nghiệp tư nhân Vĩnh Tín. Các doanh nghiệp và cá nhân này nuôi thủy sản trái phép ở Vũng Rô 7 năm nay nhưng chính quyền địa phương lại làm ngơ. Ông chủ tịch UBND xã Hòa Xuận Nam giải thích vì không được cấp phép nên UBND xã Hòa Xuân Nam không thể quản lý, thu thuế đối với các doanh nghiệp và cá nhân này.

Như vậy là tỉnh Phú Yên cấp giấy phép tràn lan, còn cái mác “chuyên gia” chỉ là vỏ bọc cho những ông chủ TQ ung dung nuôi cá. Địa phương không quản lý được (?!).

Người Việt “giúp” người TQ như thế nào?

Công ty Thuận Hoàng do bà Bùi Thị Bích Ly làm giám đốc đã đầu tư bè nuôi hơn 100 lồng cá ở vùng biển Vũng Rô, xã Hòa Xuân Nam, H.Đông Hòa (Phú Yên). Theo bà Ly, trước đây bà chỉ xin UBND tỉnh Phú Yên cấp phép cho em rể là người Đài Loan làm hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá mú, cá bóp trên bè của bà tại Vũng Rô.

Nhưng khi phóng viên đưa ra thông báo của UBND tỉnh Phú Yên cấp phép cho 2 người Trung Quốc là ông Cheng Po-Jui (26 tuổi) và Liu Cheng-Han (29 tuổi) vào năm 2010, thì bà Ly thừa nhận là đã xin giúp cho 2 người này để được vào khu vực Vũng Rô, chứ không phải là công ty của bà thuê. Bà Ly nói: “Công ty của tui chỉ xin UBND tỉnh Phú Yên cấp phép giúp cho họ làm việc tại vùng biển Vũng Rô nên không có trả lương hay tiền công gì cả. Tui chỉ giúp họ mà thôi”.

Những thương lái Trung Quốc đến mua cua
 ở huyện Năm Căn - Cà Mau.
Ngoài ra, bà Ly còn thừa nhận cũng trong năm 2010 đã làm thủ tục xin UBND tỉnh Phú Yên cấp phép cho ông Sun Kun Tien (37 tuổi, quốc tịch Trung Quốc) làm hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá mú cho công ty, nhưng thực chất nhằm giúp ông này có giấy phép hoạt động nuôi thủy sản tại Vũng Rô. Rõ ràng, 3 người Trung Quốc này không phải là chuyên gia kỹ thuật mà chỉ là những người được Công ty Thuận Hoàng xin cấp phép hộ để vào Vũng Rô nuôi cá.

Khi hỏi: “Họ không phải là người do công ty của bà thuê nhưng tại sao lại làm thủ tục xin UBND tỉnh cấp phép?”. Bà Ly huơ tay: “Đây là chuyện tế nhị, tui không nói được”.

Chuyện “tế nhị” là chuyện gì, chắc bạn đọc thừa biết rồi. Đó là con đường vòng vèo giữa sự móc nối, có đi có lại của kẻ xin và người có quyền cho, xảy ra hà rầm tại VN.

Tại vịnh Cam Ranh, người TQ cũng đóng bè nuôi cá

Việc xảy ra từ nhiều năm rồi, đến nay UBND tỉnh Khánh Hòa mới có văn bản yêu cầu UBND TP Cam Ranh kiểm tra và báo cáo về nội dung liên quan đến công tác quản lý người nước ngoài trên địa bàn. Trước đó, tại địa phương này đã xuất hiện tình trạng một số người Trung Quốc làm lồng bè nuôi cá gần cảng Cam Ranh của Vùng 4 Hải quân từ nhiều năm nay.

Theo người dân ở đây, bè cá của người Trung Quốc cách cảng Cam Ranh vài trăm mét về phía Đông Bắc với gần 100 lồng nuôi.

Ông Lê Văn Dũng, Phó chánh Thanh tra Sở Nông Nghiệp Phát Triển Nông Thôn (NN-PTNN) tỉnh Khánh Hòa, khi đi thanh tra môi trường trên các lồng bè ở TP Cam Ranh, cơ quan này đã phát hiện nhiều sai phạm tại một lồng bè của người Trung Quốc. Ông Dũng cho phóng viên báo chí biết: “Chủ bè đã không trả lời được câu hỏi cá giống lấy từ đâu? Hàm lượng thức ăn ra sao? Có được phép lưu hành tại Việt Nam không?”.

Quan chức đầu tỉnh đọc báo mới giật mình

Cho đến nay những người có trách nhiệm tại Phú Yên và Cam Ranh còn loanh quanh đổ lỗi cho nhau. UBND tỉnh nói là “theo đề nghị của các cơ sở nuôi trồng thủy sản”. Còn việc để xảy ra tình trạng người Trung Quốc nuôi cá trái phép, có thể có sự tham mưu của Sở NN-PTNT tỉnh Phú Yên. Thế nhưng, ông Nguyễn Tri Phương, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Phú Yên, phủ nhận: Chưa từng thấy giấy tờ nào gửi đến Sở NN-PTNT đề nghị cấp phép hoạt động cho các chuyên gia Trung Quốc nuôi trồng thủy sản ở Vũng Rô… Cứ đổ lỗi loanh quanh như thế nên chẳng anh nào có lỗi cả. Và đến nay các tỉnh và TP này lại đang ca bài “sẽ kiểm tra và xử lý”’!

Xin hãy đọc câu trả lời của ông Huỳnh Tấn Việt, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phú Yên, với phóng viên báo chí vào chiều ngày 6-6 vừa qua. Ông Việt nói: “…Làm không đúng thì phải xử lý. Nói thật, tôi cũng giật mình khi đọc báo thấy có chuyện này”.

Những bè cá của người TQ to tướng sờ sờ trước mặt hàng chục năm mà quan chức tỉnh đọc báo mới “giật mình” thì lạ thật!

Đến đây tôi xin nhường cho ý kiến bày tỏ nỗi bất bình của người dân:

Bạn Bình Bể viết trên báo Người Lao Động:

“Một căn nhà nhỏ trong hẻm sâu, gia chủ chỉ cần thuê công nhân sửa chữa nhỏ, lập tức có nhân viên của phường, thành phố đến làm việc ngay. Một căn nhà bề thế trên một con đường lớn công nhân đang xây dựng tấp nập, ấy vậy mà khi báo chí lên tiếng có vấn đề thì từ trên xuống dưới, từ nhỏ đến lớn đều ú a, ú ớ như người còn đang mê ngủ chẳng biết gì.- Chuyện này cũng vậy, mấy cái bè nuôi cá to đùng (to hơn cả mấy cái bè của chủ nhà) của ông bạn hàng xóm ngang nhiên đem vào đất nhà mình để khai thác, rồi tự tiện đem tàu đến thu hoạch trước mũi chủ nhà vậy mà vẫn im lặng như tờ. Đến khi báo chí phát hiện, phanh phui thì lại lúng ta lúng túng như gà mắc tóc, rồi thì ông đổ cho bà, bà bảo tại ông...”

Bạn Nguyễn Văn Vũ viết trên báo Thanh Niên:

“Lại 1 quả bom nữa được gài. Chỉ thấy tội cho các cấp quản lý của mình là rất ngây thơ”.

Chuyện Euro

Khi tôi viết bài này Euro 2012 mới được một tuần. Bạn đọc yêu bóng đá ở nước ngoài chắc chắn cũng đã và đang theo dõi những trận đấu đó. 16 đội tuyển quốc gia đều đã trình diện. Đội nào mạnh, đội nào yếu, phong cách chơi dần ló dạng, người hâm mộ đã có thể dự đoán được đôi nét về những đội bóng ấy. Tuy nhiên, đó chưa phải là tất cả thực lực của từng đôi bóng. Bạn có thể rất thú vị vì lối chơi tấn công, đậm tính kỹ thuật của trận Ý - Tây Ban Nha. Ngược lại bạn chờ đợi cuộc so tài giữa Anh và Pháp, nhưng bạn thất vọng vì nó quá tẻ nhạt. Rồi những Hy Lạp - CH Séc, Ukraina - Thụy Điển, Ba Lan - Nga, Hà Lan - Đức… có trận thắng trận thua, trận hay trận dở, nhưng vẫn chưa phải là toàn thể sức mạnh thật sự của các đội ở vòng bảng. Đến nay có đội thắng cả hai trận, đã nắm chắc chiếc vé vào vòng trong. Đã đủ điểm nên trận thứ ba họ sẽ “đá như không đá”. Đấy là chưa nói đến họ tính toán nếu vòng sau họ cần phải thua để gặp đội yếu hơn, họ sẵn sàng đá để thua hoặc 2 đội nháy nhau đá hòa để đưa một đội khác về nước. Một kiểu đá kỳ lạ chỉ tìm thấy ở những vòng đấu bảng tính điểm. Vòng này là lối đá của những tính toán. Rồi còn chuyện bạo lực của khán giả, nạn phân biệt chủng tộc đã bắt đầu ló dạng, nhà chức trách địa phương và UEFA sẽ làm thế nào để dẹp tệ nạn cho Euro 2012 yên bình?

Cho nên kỳ này tôi chưa bàn đến chuyện Euro. Khi bước vào vòng đấu loại trực tiếp sẽ có nhiều chuyện để bàn và để dự đoán cùng bạn đọc hơn. Bạn cứ việc dự đoán theo ý riêng của mình, không cần quan tâm tới những ý kiến khác, dù là đoán … một mình, thế mới thú. Hơn nữa, bạn đoán sai càng nhiều thì bạn cũng như… vua bóng đá Pelé thôi! Đoán đâu trật đấy, vậy mà kỳ nào vua Pelé cũng đoán cho chính mình vui và cho cả người đọc cùng vui.

Vậy xin hẹn các bạn yêu bóng đá trong những kỳ sau.

Viết từ Sài Gòn
15-6-2012
© Văn Quang


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Thêm một giáo dân Cồn Dầu tị nạn chính trị đến Mỹ

Gần 4 giờ chiều ngày thứ Năm, 14 tháng 6, cô Nguyễn Thị Như Huỳnh, 21 tuổi, một giáo dân thuộc giáo xứ Cồn Dầu đã đặt chân đến Hoa Kỳ theo qui chế tị nạn chính trị qua sự vận động của tổ chức BPSOS, sau hơn hai năm lánh nạn tại Thái Lan.
Cô Nguyễn Thị Như Huỳnh (giữa).
Photo by Ngọc Lan/RFA
Cô Nguyễn Thị Như Huỳnh là giáo dân tị nạn Cồn Dầu thứ năm đến Mỹ, sau gia đình ông Nguyễn Hữu Hải gồm 4 người đến Hoa Kỳ hồi tháng Năm và hiện định cư tại North Carolina.

Thông tín viên Ngọc Lan của đài Á Châu Tự Do đã có cuộc chuyện trò cùng cô Nguyễn Thị Như Huỳnh ngay khi cô vừa đặt chân xuống phi trường LAX thuộc thành phố Los Angeles, thuộc miền Nam California.

Sau khi cùng ca đoàn thuộc giáo xứ Cồn Dầu tham gia đưa đám tang cụ bà Maria Ðặng Thị Tân vào tháng Năm, năm 2010, cô Nguyễn Thị Như Huỳnh đã “bị hai cảnh sát cơ động dùng ba-ton đánh vào vai, đá vào hông và tiếp tục xách nách quăng xuống đường”. Sau khi vùng chạy thoát, cô Như Huỳnh đã bắt đầu hành trình chạy trốn từ Đà Nẵng sang Lào, đến Thái Lan, và cuối cùng đã đặt chân đến Hoa Kỳ theo qui chế tị nạn chính trị với sự vận động giúp đỡ của tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và tổ chức BPSOS.

Rất vui mừng

Công an, cảnh sát cơ động được huy
động đến ngăn cản tang lễ cụ bà Hồ
Nhu ở Cồn Dầu, Đà Nẵng hôm 4-5-2010.
Hình do thính giả gửi RFA
Cô Như Huỳnh chia sẻ sự xúc động trong những giờ phút đầu tiên khi vừa đặt chân đến mảnh đất tự do:

“Con không thể nói được cảm giác của con lúc này. Con mừng lắm. Khi mà rời Việt Nam và đặt chân đến một đất nước xa lạ thì một kẻ tù tội giống như con đây trốn chui trốn nhũi ở một đất nước thì con nghĩ cuộc sống dường như đã mất tất cả rồi và không dám mơ gì hết, mà hiện tại thì con đã được đứng ở đây, đứng ở nơi tìm lại được tự do cho chính bản thân mình và con rất là mừng. Mặc dù điều đó buộc con phải xa gia đình và một số người thân.


Khi lên máy bay thì cũng có vài người thân đưa ra máy bay ở Bangkok. Đi qua đây thì ngồi máy bay buồn lắm, không có một người Việt nào hết, mình rất muốn nói một vài chữ mà cũng không có nữa. Em nhớ má, nhớ ba mẹ lắm. Tại vì mình nghĩ là dễ gì có được ngày như thế này. Không bao giờ mơ được nhưng hôm nay lại có được như vầy thì rất là hạnh phúc và điều này thì ba mẹ con rất là trông chờ để có được ngày như vậy. Con biết là con may mắn hơn mọi người và con cũng tin chắc rằng mọi người phía sau con, những người còn ở Bangkok thì họ cũng sẽ đến được đây tốt như con.”

Ngọc Lan: Em có dự tính là em sẽ đi như vậy hay không, hay là trong đầu em chưa bao giờ có ý định sẽ rời khỏi quê hương của em như vậy?

Như Huỳnh: Dạ không bao giờ mình nghĩ là đi hết, tại vì là hồi nhỏ giờ cũng chưa bao giờ bước ra khỏi đất Cồn Dầu, chỉ là đi học qua bên phố, chiều về nhà thôi. cũng chưa bao giờ nghĩ là mình sẽ đi xa như thế này và cũng chưa bao giờ có một ý định là mình trở thành một người tị nạn.

Ngọc Lan: Khi từ Việt Nam trốn sang Lào rồi sang Thái Lan, thì trong thời gian ở Thái Lan hai năm mấy, nỗi sợ có là một ám ảnh đối với em thường xuyên không?

Con không thể nói được cảm giác của con lúc này. Con mừng lắm.
Cô Như Huỳnh
Như Huỳnh: Dạ có. Khi ngày đầu bước chân qua Lào, lúc nào mình cũng sợ hoảng cái lúc mà mình bị đánh, bị công an bếu áo làm nó ghim trong đầu mình. Có lúc ngủ mà mình cứ nghe bên tai mình tiếng súng nổ, tiếng đánh tiếng ré của trẻ con và của những người lớn, rất là hoảng sợ. Ở Lào được một ngày thì bắt đầu sang Thái. Sang Thái thì cuộc sống rất là khó khăn mà nhờ sự giúp đỡ, chúng con được sự giúp đỡ của tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và nhà thờ gần đó là nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, và chúng con đã bắt đầu từng bước từng bước đi đến việc tị nạn.

Ngọc Lan: Khi lên máy bay và khi đặt chân xuống phi trường Los Angeles này thì hiện tại em còn nỗi sợ nào nữa không?

Như Huỳnh: Đối với em giờ này hạnh phúc quá to lớn, không thể diễn tả được mà con chỉ lo cho những anh em còn lại đang ở Bangkok có một số gia đình mới qua chưa được tị nạn và cuộc sống của họ lúc nào cũng là sự lo lắng và hoảng sợ. Con cũng lo cho tương lai con không biết sao này con sống như thế nào và nó có dễ dàng như trước đây mình đã từng trải qua hay không hay là mình phải bắt đầu lại một điều gì đó mới lạ mà mình chưa bao giờ mình từng biết.

Ngọc Lan: Em có suy nghĩ những ngày tới của em sẽ là gì và em muốn làm gì cái gì không?

Như Huỳnh: Trước hết ước mơ của em là muốn được đi học muốn được tiếp tục việc học nhưng mà trái lại tiếng Anh của em lại không tốt thì nó sẽ không hiệu quả khi mình đến trường thì năm đầu em sẽ làm một việc gì đó để kiếm tiền chi phí cho việc học, sau đó thì muốn làm một việc thật có ý nghĩa để giúp đồng bào mình đang còn tị nạn tại Bangkok cũng như nhiều đồng bào Việt Nam tị nạn.

Biết ơn

TS Nguyễn Đình Thắng trong buổi điều trần
tại Hạ viện Mỹ về nhân quyền Việt Nam
ngày 24/01/2012. RFA photo.
Cô Nguyễn Thị Như Huỳnh cũng cho biết thêm về tình hình của người dân Cồn Dầu hiện đang còn kẹt tại Thái Lan:

“Tình hình hiện giờ là tất cả mọi người nói chung là mỗi ngày đi qua là một sự lo lắng vì lo việc an nguy có được hay không, lo ngày mai mình sống như thế nào, mình ăn uống như thế nào và cuộc sống có rất là nhiều nguy hiểm rình rập.


Chúng em ở chung với nhau thì khi nỗi sợ ùa tới thì cùng chia sẻ với nhau để sống qua những ngày đó, và rất là cám ơn tất cả mọi người. Con xin chân thành cám ơn tất cả mọi người đầu tiên là tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và hội Cứu Người Vượt Biển của chú đã đồng hành cùng chúng con từng miếng ăn đến giấc ngủ và đặc biệt là việc can thiệp về mặt pháp lý để cho chúng con có được ngày hôm nay được tự do và được hạnh phúc.


Sau đó, con xin cám ơn một người nữa, là một người mẹ đã cùng làm việc với chú Thắng nhưng mà chúng con không thể nhắc tên được, người này đã chật vật cùng chúng con trong cuộc sống khi những ngày đầu bước chân sang Thái


Con cũng xin cám ơn cha Hùng, cha Cường, cha Tâm và một số các linh mục khác đã giúp chúng con cùng Thầy Thích Thiền Việt Nữ. Các Ngài đã luôn an ủi chúng con, lo chúng con cuộc sống, sợ chúng con buồn rồi sợ chúng con bị đau bị ốm.

Một lần nữa con xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người, các vị dân biểu Mỹ, cũng như đất nước Mỹ đã chấp nhận con đến đây tìm được tự do. Đối với con, tất cả mọi người là một sự khắc sâu trong trái tim con.
Cô Như Huỳnh
Con xin cám ơn các đồng bào hải ngoại đã đấu tranh cùng chúng con, đấu tranh cho chính quê hương mình. Xin cảm ơn các giới truyền thông chính là tiếng nói lớn đã góp phần thúc đẩy và đấu tranh cùng đoàn Cồn Dầu.


Một lần nữa con xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người, các vị dân biểu Mỹ, cũng như đất nước Mỹ đã chấp nhận con đến đây tìm được tự do. Đối với con, tất cả mọi người là một sự khắc sâu trong trái tim con.

Sau khi dừng chân tại Los Angeles một đêm, cô Nguyễn Thị Như Huỳnh sẽ tiếp tục lên đường bay sang tiểu bang Tennessee sống cùng với gia đình người dì ruột.
Theo lời Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng thì qua sự vận động của BPSOS, trong số hơn 80 người còn kẹt ở Thái Lan, 54 người đã có quy chế tị nạn, còn hơn 30 người chưa có. Tuy nhiên, trong số này, có 5 người bị Cao Ủy Liên Hiệp Quốc khước từ quy chế tị nạn. Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng cho biết ông cùng tổ chức BPSOS “đang trong tiến trình xem xét để kêu gọi Cao Ủy tái cứu xét những trường hợp này.”

“Mục tiêu cuối cùng của BPSOS là giúp tất cả những người này được định cư” , tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng kết luận.

© Ngọc Lan, thông tín viên RFA


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Đấu Tranh Công Khai & Bán Công Khai

Tám mươi năm trước, tháng 7/1936, ủy viên BCH Quốc Tế Cộng Sản Lê Hồng Phong triệu tập một buổi họp tại HongKong, triển khai Nghị quyết của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản để thành lập Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế Đông Dương, khởi động một phong trào quần chúng công khai đấu tranh với thực dân Pháp, yêu sách đòi tự do dân chủ và đời sống áo cơm, lấy tên là Phong Trào Đại Hội Đông Dương.

Ảnh minh họa
Đến tháng 9/1936, riêng Nam Kỳ thiết kế 600 ủy ban hành động của nhiều thành phần quần chúng. Kết quả vào cuối năm 1936 là 361 cuộc bãi công, quy mô nhất là cuộc đình công của ba vạn công nhân mỏ than Hồng Gai-Cảm Phả. Pháp phải trả tự do cho 1532 tù chính trị.

Đầu năm 1937, hai vạn công nhân Sài Gòn-Chợ Lớn biểu tình đón phái viên của Pháp sang thẩm định tình hình Đông Dương, với những khẩu hiệu: Hoan nghênh Mặt trận nhân dân Pháp; đòi tự do dân chủ, tự do lập hội, thi hành luật lao động, bỏ thuế thân, toàn xá chính trị phạm… Mặt khác, bên trong, là việc thành lập những Công hội, Nông hội, Đoàn thanh niên phản đế, Hội cứu tế bình dân… thậm chí, các Hội cấy lúa, Hội lợp nhà… để đoàn ngũ hóa hàng triệu người vào những mục tiêu phúc lợi cụ thể.

Tháng 3 năm 1938, Mặt Trận Phản Đế Đông Dương đổi tên thành Mặt Trận Dân Chủ Đông Dương, đẩy người ứng cử vào các Hội đồng thành phố, các Viện dân biểu Trung kỳ, Bắc kỳ. Cuộc biểu dương lực lượng quy mô đỉnh điểm là dịp kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 01-05-1938, công khai quy tụ hai vạn rưỡi người. Song song là sự xuất hiện của các tờ báo Notre voix, Le Travail, Le Peuple, Tin tức, Nhành lúa, Dân chúng, Lao động, Mới… cùng các tác phẩm phản ảnh xã hội lầm than của Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Lan Khai v.v…

Tất nhiên, súng dài/súng ngắn/mã tấu/lưỡi lê có đầy, và cũng đã có một số cán bộ bị bắt tù, nhưng không phải là những cán bộ trụ từng được giữ kín. Dù vậy, tiến trình tập họp quần chúng trong những năm này được đảng CSVN trang trọng đánh giá là cuộc Tổng diễn tập thứ hai (sau cuộc tổng diễn tập Xô Viết-Nghệ Tĩnh 1930-1931), với đặc điểm phối hợp đấu tranh công khai và không công khai để đạt thắng lợi.


*

Cách nay 6 năm, 2006, một làn sóng đấu tranh trực diện và có tính xuyên phá đã hình thành ở Việt Nam một số tổ chức công khai hoạt động: Khối 8406, Đảng Thăng Tiến, Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam, Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam, Liên đảng Lạc Hồng, Công Đoàn Độc Lập Việt Nam, Hiệp Hội Đoàn Kết Công-Nông Việt Nam…

Bối cảnh lúc đó là một Hà Nội đang đứng trước những thách đố của các quy chế CPC, cùng những điều kiện tổ chức APEC, hay điều kiện gia nhập BTA, WTO… nghĩa là không thể mạnh tay trước ống kính truyền hình quốc tế, và chấp nhận một bước lùi vào thế thủ trước áp lực thế giới. Ngược lại, đối với những nhân vật chủ trương dân chủ hóa Việt Nam bấy giờ thì đấu tranh công khai là một loại vỏ bọc/áo giáp cần thiết một khi có được sự quan tâm/biết đến/hỗ trợ từ phía dư luận quốc tế.

Thế nhưng thời khoảng thuận lợi đó không kéo dài. Sau đó là một chiến dịch đàn áp kinh hoàng từ phía đảng cầm quyền. Nghị định 31/CP ngưng hiệu lực, nhưng thay vào đó là những điều luật hình sự 79, 84 và 88 coi nhân dân như những tù nhân có thể bắt giam bất cứ lúc nào. Không một ai có thể liệt kê đầy đủ danh tính những người bị bắt, bị giam, ra tòa nhận án, hay giản đơn là bị hại trong thời gian này, kể cả những quan chức của bộ công an.

Chiến dịch đàn áp kinh hoàng đó kéo dài suốt nhiều năm liền, có thể nói là đến tận hôm nay, và những nạn nhân kế tiếp của nó tăng cao, rất đông, với những người thường được dư luận nhắc đến nhiều là các ông/bà Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long, Phạm Minh Hoàng, Cù Huy Hà Vũ, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần, Bùi Minh Hằng, Việt Khang, Nguyễn Quốc Quân… cùng những thanh niên nam nữ và trí thức xuống đường phản đối hành động xâm lấn của TQ (2007-2011), và khá đông những bloggers (dù trong hay ngoài Câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do) vẫn hằng đau đáu với vận mệnh dân tộc.

Người ta chưa nhất thiết đặt tiêu chuẩn anh hùng để đánh giá những nhà đấu tranh vừa nêu, nhưng hầu như mọi người đều nhận rõ ở những người dũng cảm đó một mẫu số chung là chấp nhận tù tội để nêu bật từng trọng điểm trong hàng loạt bài viết của họ cho cả nước cùng thấy ra như nhau:

Nguyên nhân tình trạng khủng hoảng toàn diện của VN là do đảng CSVN:

1. Lấy chủ thuyết hoang đường và phá sản làm giải pháp;
2. Đặt quyền lợi đảng lên trên quyền lợi đất nước và tương lai dân tộc;
3. Đường lối ngoại giao hèn nhát là hệ quả tinh thần nô lệ các quan thầy;
4. Chính sách nội trị có nền móng là hận thù và bạo lực;
5. Kinh tế hoang dã, trục lợi, đục khoét tài nguyên và phá hủy môi trường;
6. Giáo dục đào tạo một tầng lớp cán bộ dốt, gian, tham và vô trách nhiệm;
7. Guồng máy cai trị cửa quyền, hành dân và khủng bố nhân dân;
8. Đảng viên dùng đảng làm phương tiện tiến thân và thi đua làm giàu bằng tham nhũng;
9. Gia tăng bất công và tê liệt hóa khả năng đóng góp của người dân.Và, vận động áp lực nhiều phía để đòi hỏi đảng CSVN, từ thấp tới cao, buộc phải chấp nhận:

1. Quyền tự do ngôn luận & ra báo tư nhân;
2. Quyền tự do lập hội & hoạt động đảng phái;
3. Quyền hành đạo & hoạt động giáo hội;
4. Công đoàn độc lập & quyền đình công;
5. Thả tù chính trị & quyền biểu tình;
6. Kinh tế thị trường & quyền tư hữu đất đai, phương tiện sản xuất;
7. Hủy bỏ điều 2 hiến pháp & giáo dục Mác-Lê;
8. Hủy bỏ điều 4 hiến pháp & cơ chế đảng trong QH, tòa án, quân đội, công an;
9. Tổ chức trưng cầu dân ý & tổng tuyển cử tự do.Đó là những người tiên phuông trong giới quan tâm đã biến ý thức thành hành động và giúp cho quảng đại quần chúng cùng hành động.

Những sự kiện Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm, Bắc Giang, Cồn Dầu, Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản…, và ngay cả tuyển tập “Thế Hệ F”, hay một hệ thống truyền thông vượt mặt chính quy mà nhà nước phải toàn tâm toàn lực be bờ, há chẳng phải là những kết quả đấu tranh bền bỉ suốt sáu năm qua đó sao?

Nhìn chung thì phía đối kháng đã đạt một số điều cần đạt trên tiến trình nới xiềng/nong xích.

Song, dường như vẫn còn thấp thoáng đâu đó một chút giằng vật giữa nỗi do dự của từng người và sự nung nấu kết hợp của số đông quan tâm từng tự chọn cho mình chỗ đứng đầu sóng ngọn gió.

Những ưu tư đó hoàn toàn là có cơ sở. Ngay cả khi mọi người đều thấy bảo toàn lực lượng không phải là mục tiêu đấu tranh. Quả thật, mục tiêu là đấu tranh hiệu quả để đạt những yêu sách từ lòng yêu nước, và điều kiện thiết yếu là đấu tranh công khai. Nhưng ngược lại, yếu tố bảo toàn lực lượng cũng không kém quan trọng, vì nó chính là điều kiện không thể thiếu để đấu tranh đường dài.

Vậy thì bài toán của chúng ta, phải chăng là liều lượng và phương cách đấu tranh công khai?


*

Đọc lại một đoạn có liên quan trong tập Từ Độc Tài đến Dân Chủ, người ta có thể phần nào ngạc nhiên khi thấy tác giả viết từ lâu, và không từng đến Việt Nam, nhưng có một số nhận định khá gần gũi với chúng ta:

"Bí mật, ngụy trang, và lập mưu trong bóng tối tạo thêm vấn đề rất khó khăn cho những phong trào đấu tranh bất bạo động. Thường thì phía dân chủ khó giữ nổi các ý định hay kế hoạch khỏi những cặp mắt tình báo hay công an chính trị của chế độ.Nhìn từ góc cạnh của phong trào thì bí mật không chỉ bắt nguồn từ sự sợ hãi mà còn làm góp phần gia tăng sự sợ hãi. Và chính sợ hãi sẽ làm suy giảm tinh thần kháng cự và làm giảm số người có thể tham gia vào hành động.

Bí mật, một khi bị lộ, sẽ góp phần tạo nên những ngờ vực và cáo buộc trong nội bộ phong trào (mà thường là oan uổng) về việc ai là nội gián cho đối phương. Bí mật cũng có thể ảnh hưởng trên khả năng duy trì chủ trương bất bạo động của phong trào. Ngược lại, sự công khai về chủ trương và đường lối không những tạo được ảnh hưởng ngược với các hậu quả nêu trên, mà còn góp phần tạo hình ảnh là phong trào đối kháng thực sự rất mạnh.

Vấn đề dĩ nhiên phức tạp hơn nhiều so với vài giòng vắn tắt này, và có những lãnh vực hệ trọng trong hoạt động đối kháng cần phải giữ bí mật. Quyết định có nên giữ mật một việc nào đó hay không cần phải được lượng giá với đầy đủ dữ kiện bởi những người hiểu rõ cả về sự vận hành của đấu tranh bất bạo động và những phương tiện dọ thám của bạo quyền trong từng trường hợp cá biệt.

Những việc như soạn thảo, in ấn và phổ biến các tài liệu chui, sử dụng đài phát thanh bất hợp pháp trong nội địa quốc gia, cũng như việc thu thập dữ kiện tình báo về các hoạt động của bạo quyền là loại việc đòi hỏi độ bảo mật cao.

Trong suốt tiến trình đấu tranh bất bạo động, việc duy trì tiêu chuẩn gắt gao trong hành động ở mọi giai đoạn là điều cần thiết. Trong số những tiêu chuẩn này, yếu tố không sợ hãi và duy trì kỷ luật bất bạo động là những điều kiện luôn luôn phải có. Ðiều quan trọng cần nhớ là phải có số đông dân chúng thì mới đủ áp lực để tạo thay đổi, nhưng số đông đó chỉ trở thành những người tham gia đáng trông cậy khi những tiêu chuẩn gắt gao được duy trì trong phong trào…”.

- Gene Sharp


*

Từ ba kinh nghiệm trên, chúng ta có thể rút tỉa được gì?
  • Thứ nhất, Ý niệm đấu tranh công khai cần được khai triển, bởi người Việt Nam khắp nơi đã ra mặt tranh đấu với nhà cầm quyền cho từng thước đất, từng gánh rau, từng rá gạo… và nỗ lực đấu tranh công khai đó cần được nhân rộng/phối hợp/tung hứng/nhồi sóng/liên hoàn/đẩy mạnh/nâng tầm… bằng một Phong Trào (viết hoa) có danh xưng, có chủ trương, có kế hoạch phối hợp, có nhân sự thực hiện kế hoạch và có một hệ cán bộ tham mưu/chỉ huy liên tục trong mọi tình huống. Có thủ lĩnh lại càng là một điểm son nhưng không nhất thiết bắt buộc (ví dụ Otpor của Serbia hay các cuộc cách mạng hoa/màu gần đây).
  • Thứ hai, Ý niệm đấu tranh công khai đó nên được công khai. Chủ trương trong sáng đó, công khai. Đường lối khả thi đó, công khai. Những lời kêu gọi chân tình đó, công khai. Nỗ lực kết hợp tạo số đông từ nhiều thành phần quần chúng đó, công khai. Nhưng, kế hoạch chiến lược và chiến thuật của phong trào cần được suy xét kỹ từng trường hợp trước khi công khai. Nhân sự lõi của phong trào cũng sẽ được giữ kín. Ngay cả dàn nhân sự trung tầng, được coi như bộ phận (hộp số) chuyển lực, cũng không công khai, ít ra là trong giai đoạn tranh tối tranh sáng của tiến trình xây lực quần chúng đang có nhiều thuận lợi này. Cho tới khi Ban Lãnh Đạo của Phong Trào đồng thuận về một thời điểm thích hợp nhất và có lợi nhất để tự công khai hóa, từng người hay toàn bộ, trung tầng hay cốt lõi, và thường là chỉ cận kề hoặc ngay trước thời thời điểm phối hợp toàn quốc, hoặc ít là phối hợp nhiều tỉnh thành lớn với nhau.
Liệu rằng những điều rút tỉa sơ khởi và cô đọng đó có giúp gì cho chúng ta chọn lựa phương cách xây lực phong trào và xây lực quần chúng, sao cho quân bình được cái thế khá lớn với cái lực chưa đủ rộng hiện giờ, đồng thời, cân bằng cái nhu cầu đấu tranh hiệu quả với nhu cầu bảo toàn lực lượng đang có được chút nào chăng?

17-06-2012 - nhân dịp kỷ niệm 93 năm bản Yêu Sách 8 Điều được gửi đến Hội Nghị Versailles.

© Đinh Tấn Lực
Theo Blogger Đinh Tấn Lực


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều