06/15/12 - VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Bác sĩ Nguyễn Đức Hinh dùng mọi thủ đoạn để hãm hại tôi

Đăng bởi Biên tập viên vào Thứ sáu, ngày 15 tháng sáu năm 2012

Kính nhờ các cơ quan truyền thông giúp lên tiếng !

Kính thưa các Quý vị đọc giả !
Tôi tên là : Nguyễn Thị Hoài Bắc.
Email : Touyen2929@yahoo.com
Điện thoại : 0975.887.168

Tôi là một bệnh nhân bị bác sỹ Nguyễn Đức Hinh cố ý hãm hại cướp đi thiên chức làm mẹ sinh con. Ông Hinh nguyên là Phó giám đốc Bệnh viện phụ sản Trung ương, hiện nay ông Hinh đang là Trưởng bộ môn y đức, Hiệu trưởng kiêm Bí thư đảng ủy trường Đại học y Hà nội. Tôi đã viết bài : Bác sỹ Nguyễn Đức Hinh vi phạm điều 104 và 109 Bộ luật hình sự; Công lý đang ở đâu; Thư cảm ơn của Touyen Nguyen đăng trên Face book Vietnam và Câu lạc bộ nhà báo tự do. Một số bài viết, bài phỏng vấn khác của tôi đã được đăng trên các Diễn đàn Hải ngoại và Quốc nội. Nếu các Quý vị quan tâm vào Google có thể tìm được các bài sau

- Bác sỹ Nguyễn Đức Hinh vi phạm điều 104 và 109 Bộ luật hình sự.
- Lời kêu cứu – Bác sỹ Nguyễn Đức Hinh cố ý hãm hại bệnh nhân.
- Đơn khiếu nại của cô Nguyễn Thị Hoài Bắc.
- Công lý đang ở đâu ?
- Phỏng vấn nạn nhân y tế Vietnam – chị Nguyễn Thị Hoài Bắc ( Tố Uyên ).

Bác sỹ Nguyễn Đức Hinh
Bài viết : Bác sỹ Nguyễn Đức Hinh vi phạm điều 104 và 109 Bộ luật hình sự của tôi đăng trên Diễn đàn Tin tức hàng ngày và một số bài viết đăng trên các Diễn đàn khác nhận được nhiều ý kiến phản hồi rất công bằng và vô tư của các đọc giả. Tuy nhiên cũng có một số ý kiến phản hồi rất tiêu cực, bênh vực và bao che cho ông Hinh. Nói tóm lại là có một số ý kiến phản hồi cho rằng việc tôi kiện ông Hinh là không đúng. Vì vậy, tôi quyết định công khai toàn bộ hồ sơ y tế của tôi trong trang cá nhân của tôi là : Touyen Nguyen trên Facebook Vietnam. Mời các Quý vị đọc giả xem hồ sơ y tế của tôi để kiểm chứng – Muốn xem hồ sơ nào thì kích chuột vào hồ sơ đó sẽ phóng to được hồ sơ ra.

Thưa các Quý vị đọc giả, tôi đi kiện ông Hinh, ông ta cho nhiều người đến đe dọa tôi. Không chỉ có thế, nhiều lần tôi suýt bị đâm xe. Ngày 09/ 10/ 2008, hôm đó là ngày lãnh đạo công an quận Hai Bà Trưng tiếp dân, tôi mang đơn đến gặp lãnh đạo công an quận nhờ can thiệp, giúp đỡ. Đến lượt tôi vào gặp lãnh đạo công an quận, họ không đưa tôi vào phòng tiếp dân mà họ đưa tôi vào phòng làm việc của ông phó chỉ huy công an quận. Tôi có biết tên ông này nhưng tôi không muốn nêu cụ thể tên. Tôi trình bày toàn bộ sự việc ông Hinh hại tôi và nhờ công an can thiệp, giúp đỡ nhưng chị công an ngồi tiếp tôi cùng với ông Phó chỉ huy công an quận trả lời tôi rằng : “ Khi nào ông Hinh trực tiếp đến đe dọa tính mạng chị thì chúng tôi mới can thiệp “.Tôi cho rằng công an trả lời như vậy là vô trách nhiệm vì không có kẻ giết người nào lại tự đến gặp nạn nhân mà nó định hại để thông báo trước cả. Trong lúc tôi đang trình bày sự việc, tôi thấy có người gọi ông Phó chỉ huy công an quận và ông ấy ra ngoài cửa nói chuyện với người nào đó một lát rồi quay vào phòng làm việc. Ông Phó chỉ huy công an quận hỏi tôi : “ Bây giờ chị muốn gì ? “ Tôi trả lời : “ Tôi muốn ông Hinh phải trả giá cho việc làm mà ông ta gây ra cho tôi “. Ông Phó chỉ huy công an quận gật gù không nói gì.

Sau đó ông ta lấy ấm trà và 3 chiếc chén mang ra phía sau lưng tôi, rồi ông ấy mang ra 3 chén nước đã rót sẵn, 1 chén đưa cho tôi, 1 chén đưa cho chị công an đang ngồi trước mặt tôi và 1 chén cho ông ta. Vì tôi không uống được nước trà pha đậm đặc nên tôi không uống. Khi về đến nhà tôi mới giật mình nghi ngờ trong chén nước có cái gì đó, rất may cho tôi là tôi đã không uống nước. Bộ ấm chén pha trà để trên chiếc bàn rất lớn mà ông ta, chị công an và tôi đang ngồi, tại sao ông ta lại mang ra phía sau lưng tôi để rót nước ? Bình thường nếu ấm pha trà hết nước sôi thì mọi người chỉ mang ấm trà đi lấy nước sôi, sau khi lấy nước sôi xong lúc rót nước trà vào chén thì mọi người thường rót nước trà ngay tại bàn để chén trà đó. Càng suy nghĩ, tôi càng thấy việc làm này của ông Phó chỉ huy công an quận là không bình thường. Rất may cho tôi là tôi đã không uống chén nước đó. Sau đó, Công an quận Hai Bà Trưng gửi công văn thông báo cho tôi biết rằng vụ việc của tôi không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan công an mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Thanh tra Bộ y tế.

Chiều ngày 31/ 3/ 2009 tôi đến nộp đơn cho Công an thành phố Hà nội tại số 7 Thuyền Quang. Tôi cũng chỉ nhận được Giấy báo tin của họ với nội dung giống y như giấy thông báo của Công an quận Hai Bà Trưng. Nếu sự đe dọa tính mạng đối với tôi do Bộ y tế giải quyết thì Bộ y tế họ vừa là bị cáo vừa là quan tòa hay họ vừa là người đá bóng, vừa là người thổi còi ?

Tối ngày 5/ 3/ 2009 tôi đi siêu thị Metro Hoàng mai. Lúc tôi từ siêu thị Metro về khoảng 21 giờ tối. Tôi đi đến trước cửa số nhà 278 Trần Khát Chân thì bị cướp giật túi đeo trên người và bị ngã xe rất mạnh. Hai tên cướp đèo nhau đi sát phía sau xe tôi, chúng đạp vào bánh sau xe máy của tôi rất mạnh làm tôi bị ngã xe. Tôi ngã nằm đè lên chiếc túi. Khi tôi đã ngã xuống đường, một tên cướp ngồi phía sau nhẩy từ xe của bọn chúng sang xe tôi. Tên này ngồi đè lên người tôi rồi sau đó thò tay xuống phía dưới người tôi để lấy chiếc túi – vì khi tôi ngã tôi nằm đè lên trên chiếc túi. Tôi nhận thấy vụ cướp giật này có những điểm không bình thường như sau : Chiếc túi tôi đeo ở bên sườn bên phải, nếu bọn cướp chỉ với mục đích cướp của thì chúng chỉ cần giật túi rồi phóng xe bỏ chạy. Nhưng trường hợp của tôi, bọn cướp đạp rất mạnh vào bánh sau xe của tôi làm cho tôi bị ngã xe, sau đó bọn chúng mới giật túi của tôi. Tôi cho rằng mục đích chính của 2 tên cướp này không phải là cướp giật túi mà chúng muốn gây tai nạn để tôi ngã xe, sau đó làm giả hiện trường là vụ cướp giật. Nếu chỉ với mục đích cướp giật, việc gì bọn chúng phải đẩy tôi ngã xe rồi lại nhẩy sang xe tôi mới cướp giật, như vậy sẽ kéo dài thời gian và nguy hiểm cho bọn chúng ? Tôi nghi ngờ rằng vụ cướp giật này do ông Hinh thuê bọn lưu manh dàn dựng lên.

Sự việc này không chỉ dừng lại ở đây. Tối ngày 6/ 3/ 2009 tôi đến trụ sở công an phường Thanh nhàn là nơi quản lý địa bàn xảy ra vụ cướp giật để trình báo sự việc. Chiều ngày 21/ 4/ 2009 có một người đàn ông gọi điện thoại cho tôi, anh ta nói rằng anh ta ở phòng hình sự công an quận Hai Bà Trưng, anh ta mời tôi ra công an quận để anh ta rà soát lại vụ cướp giật túi của tôi. Tôi nói với anh ta rằng tôi đang bị đe dọa tính mạng nên tôi không ra khỏi nhà được và tôi cũng đã khai báo rất đầy đủ trong đơn trình báo công an phường Thanh nhàn rồi. Tôi thấy hơi ngạc nhiên vì tôi khai báo ở công an phường Thanh nhàn, tại sao công an quận lại mời tôi ra để rà soát ? Theo suy nghĩ của tôi thì người gọi điện thoại cho tôi có khả năng là công an thật, còn nếu là bọn giang hồ bắt có tôi thì bọn chúng không dại gì mà hẹn tôi ra đồn công an cả, làm như thế có khác gì bọn chúng tự mình chui đầu vào bẫy ?

Sau này tôi đọc trên mạng bài : “Uẩn khúc sau cái chết của nghi phạm tại Công an Hà Đông “.
Trong bài này có đoạn viết :” Trong căn nhà tập thể ở tầng 3, ông Bình kể với VnExpress.net, chiều 10/11/2009, có hai người đàn ông tự giới thiệu là Công an quận Hà Đông đến nhà, nói nhờ Hùng chút việc. Họ không xuất trình giấy tờ chứng minh là cán bộ đang làm nhiệm vụ, nhưng con trai ông vẫn tin tưởng đi theo.

Tôi lo lắng nên có chạy theo, họ bảo :” Chúng cháu nhờ Hùng giúp gặp mấy anh bên trường có chút việc. Bác cứ yên tâm ", ông Bình nhớ lại cái ngày "định mệnh" trông thấy con lần cuối ….. Sau 11 ngày bị công an đưa đi con tôi trở thành cái xác khô, 10 đầu ngón tay bị sưng, tím đen; hai chân thâm tím...", người cha đau đớn kể về cái chết của con trai mà ông cho rằng đang bị bưng bít sự thật. “
Trở lại hoàn cảnh Hùng bị bắt, phía Công an Hà Đông phủ nhận thông tin của gia đình ông Bình rằng có hai công an quận đến nhà đưa anh này đi.

Tôi thấy cách làm này của công an Hà đông rất giống cách mà một người ở công an quận Hai Bà Trưng đã làm với tôi : Tôi đang ở nhà thì anh ta gọi điện thoại mời tôi ra công an quận để “ rà soát vụ cướp giật túi “ – mặc dù tôi không khai báo bị cướp giật túi tại công an quận Hai Bà Trưng.

Hơn một năm sau ngày tôi đến công an quận Hai Bà Trưng, tôi đọc trên mạng bài : “ Người đàn ông 33 tuổi chết tại công an quận “ – vụ việc này xảy ra đúng tại công an quận Hai Bà Trưng.

Trong bài này có đoạn viết như sau : “ Một ngày sau khi bị Công an quận Hai Bà Trưng tạm giữ hành chính, con trai của ông Phục đã chết do bị ... vỡ nền sọ, cơ thể có nhiều vết tím bầm. Hiện, 7 công an đã bị đình chỉ công tác để phục vụ điều tra “.

“ Chứng kiến việc khám nghiệm tử thi, ông Phục bàng hoàng khi trông thấy xác con. " Trên người Bảo có nhiều vết tím bầm. Hai cổ chân và cổ tay thâm tím với chiều dài khoảng 8 cm, có những vết xây sát dài. Hai bên khóe miệng Bảo còn có những vết tím song song", người cha trầm giọng kể về giây phút khi nhìn xác con “.
“ Trao đổi với VnExpress.net, trung tá Bùi Quang Minh (Đội trưởng điều tra hình sự, Công an quận Hai Bà Trưng) xác nhận việc anh Bảo được công an mời lên làm việc, và sau đó tử vong là có thật “.

Tiếp đến là vụ việc anh Nguyễn Công Nhựt bị chết tại trụ sở công an huyện Bến cát, tỉnh Bình dương. Trong bài : “ Anh Nhựt tự nguyện ở lại đồn công an và... thắt cổ ? “

Chất vấn cơ quan điều tra

Trả lời gia đình nạn nhân về việc có hay không việc công an huyện Bến Cát bắt giữ Nguyễn Công Nhựt, biên bản làm việc ghi: “ Cơ quan điều tra đã xác định với chị Tuyền rằng Công an huyện Bến Cát không bắt giữ Nguyễn Công Nhựt. Việc Nguyễn Công Nhựt ở tại công an huyện Bến Cát là do Công ty Kumho cử đến để làm việc với cơ quan công an. Anh Nhựt đã làm bản (cam) kết tự nguyện cộng tác và ở tại Công an huyện Bến Cát từ ngày 21-4 đến ngày 30 tháng 4 năm 2011. Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định chữ ký, chữ viết trong bản cam kết là của Nguyễn Công Nhựt. Trong thời gian ở tại Công an huyện Bến Cát, Nguyễn Công Nhựt được bố trí ở tại phòng làm việc của đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, không bị hạn chế hay giam giữ gì”.

Theo suy nghĩ của tôi tại sao anh Nhựt phải tự tử khi công an chưa có kết luận gì về thủ phạm của vụ mất trộm tại công ty Kumho ?

Tiếp theo là bài : “ Vợ anh Nguyễn Công Nhựt : Mong tìm ra sự thật “.

Trong bài có đoạn viết : Nhiều uẩn khúc cần được làm rõ

Đối với gia đình chị Tuyền, cái chết của anh Nhựt có quá nhiều uẩn khúc. Chị cho rằng những dấu hiệu trên thân thể của anh Nhựt cho thấy anh đã bị đánh đập: Tinh hoàn dập một bên và chảy máu; bầm ở bụng dưới, bầm hai bên háng và đùi; hai bàn tay và chân co rút lại; móng tay, bàn tay tím đen; chân có nhiều vết bầm li ti và nhiều chấm đen ở dưới chân; đầu gối sưng như quả chanh…

Dựng hiện trường giả ?

Tại đơn khiếu nại và tố cáo dự định gửi Quốc hội, chị Tuyền đã nêu một số nội dung cần làm sáng tỏ. Chị cho rằng cần làm rõ mối quan hệ giữa Công ty Kumho và Công an huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương đối với cái chết của anh Nhựt. Theo đơn này, cần làm rõ trước các dấu hiệu cơ quan công an ép cung anh Nhựt nhận tội và đã đánh đập dẫn đến cái chết của anh Nhựt rồi dựng hiện trường giả anh Nhựt tự tử.

Qua 3 vụ việc nêu trên, tôi nhận thấy kiểu bắt người của công an Việt nam thật lạ lùng : Khi chưa có chứng cứ gì để bắt người ta thì lừa người ta bằng cách đến nhà người ta nói nhờ người ta chút việc rồi đưa người ta đi ….. sau đó biến người ta thành cái xác khô.

Qua trường hợp của anh Hùng ở Hà đông và trường hợp của anh Nhựt ở Bình dương, tôi liên hệ đến trường hợp của tôi và tôi thấy nghi ngờ : “ Liệu có phải công an quận Hai Bà Trưng muốn bắt tôi nên họ gọi điện thoại lừa tôi đến trụ sở công an để “ rà soát vụ việc tôi bị cướp giật túi “ hay không ? Tôi nghi ngờ như vậy bởi vì tôi khai báo bị cướp giật túi ở công an phường Thanh nhàn, tại sao công an quận Hai Bà Trưng lại gọi tôi ra trụ sở công an quận để rà soát cái gì ?

Công an muốn bắt tôi từ lâu rồi - họ đã cho người thông báo với gia đình tôi là tôi đã bị công an theo dõi, khi nào có đầy đủ chứng cứ thì sẽ bắt giam tôi. Lý do họ muốn bắt tôi chỉ vì tôi đăng các bài viết của tôi tố cáo vụ việc ông Nguyễn Đức Hinh hãm hại tôi lên các trang mạng Hải ngoại. Nhưng họ vẫn không có chứng cứ gì để bắt giam tôi. Vì vậy, họ dùng cách như trên để lừa tôi đến trụ sở của họ. Khi tôi đã ở trong trụ sở công an, liệu có thể xảy ra tình huống tôi đang là người bị hại ( tôi là người bị cướp giật túi ) lại trở thành bị cáo hay không ? Tôi xin đưa ra tình huống như sau : Khi tôi đã ở trong trụ sở công an, họ không đề cập gì đến vụ việc tôi bị cướp giật túi đeo mà họ dùng nhục hình ép cung bắt tôi phải nhận một tội gì đó mà tôi không mắc phải – như vậy là họ đã có chứng cứ để bắt giam tôi. Nếu tôi bị bắt giam thì có nghĩa là tôi đã bị mất quyền công dân – như vậy tôi sẽ không kiện ông Hinh được nữa. Nếu như tôi kiên quyết không chịu nhận tội vì tôi không có tội thì sao tôi phải nhận tội ? Như vậy họ sẽ ra tay mạnh hơn và rất có thể tôi sẽ giống như số phận của 3 người nêu ở trên. Nếu tôi bị rơi vào 1 trong 2 tình huống này thì người được lợi ở đây chính là ông Hinh – ông ta sẽ được thoát tội. Vào thời gian này tôi chưa đăng tin về vụ việc của tôi lên mạng Internet nên rất ít người biết vụ việc này. Vì vậy, ông Hinh và những người bao che cho ông ta đã dùng mọi thủ đoạn để hãm hại, thủ tiêu tôi để bưng bít vụ việc này.

Liệu ông Nguyễn Đức Hinh có “ tài giỏi “ tới mức mượn được cả bàn tay công an để làm những việc như trên hay không ? Những việc làm của công an đối với tôi khiến cho tôi không khỏi có những nghi ngờ như vậy. Tôi bị ông Hinh thuê bọn sát thủ hãm hại, đe dọa tính mạng và thân thể tôi rất nhiều lần, tôi nhờ công an quận Hai Bà Trưng can thiệp nhưng họ đã làm ngơ để cho bọn sát thủ ngang nhiên hoành hành. Còn vụ việc tôi bị cướp giật túi, tôi không khai báo với công an quận Hai Bà Trưng thì họ lại can thiệp vào. Rõ ràng, thân thể và tính mạng tôi còn quý hơn gấp trăm, gấp ngàn lần một chiếc túi đeo. Tục ngữ Việt nam có câu : “ Người làm ra của chứ của không làm ra người “. Nếu mất chiếc túi đeo này thì tôi có thể mua lại vài chục chiếc túi đeo khác được còn nếu mất đi mạng sống thì dù có bao nhiêu tiền của cũng không mua lại được. Tại sao công an quận Hai Bà Trưng chỉ quan tâm đến đồ vật mà không quan tâm đến tính mạng của con người ???

Khoảng 5 giờ chiều ngày 2/ 8/ 2010 có một người xưng tên là Tony Vũ – phóng viên báo Vietnam Exodus thường trú tại Việt nam gọi điện thoại cho tôi, giọng nói của ông ta rất gay gắt và ông ta hù dọa tôi là tôi nói bậy sẽ đi ở tù … Sau này tôi liên lạc được với Ban biên tập Vietnam Exodus tại Mỹ, họ nói với tôi là họ không có phóng viên nào tên là Tony Vũ thường trú tại Vietnam. Tôi nghe giọng của người gọi điện thoại hù dạo tôi giống như là giọng nói của công an vì chỉ có công an và tòa án mới có thẩm quyền bắt giam ai đó vào tù. Còn những người làm việc cho các Diễn đàn hoặc Blog của Hải ngoại họ thường bênh vực cho dân oan chứ họ không nói với dân oan kiểu nói như vậy.

Khoảng 7 giờ tối ngày 17/ 8 / 2010 có một người xưng tên là Hòa ở văn phòng luật sư gọi điện cho tôi bằng số máy 04.39.902829 anh ta nói là muốn gặp tôi để tìm hiểu thêm vụ việc của tôi. Anh ta hỏi tôi có còn giữ hồ sơ y tế không, tôi trả lời anh ta là tôi còn giữ đầy đủ hồ sơ y tế. Tôi xin số điện thoại của anh ta để liên lạc thì anh ta nói rằng số máy mà anh ta đang gọi là máy di động của anh ta. Tôi thấy anh ta nói không đúng vì số máy mà anh ta gọi tôi là máy để bàn, không phải là máy di động. Sau đó tôi gọi điện thoại đến số máy này, bên đầu dây bên kia nói đây là Trung tâm y khoa, không phải là văn phòng luật sư. Tôi cho rằng người gọi điện thoại cho tôi có khả năng là người nhà hoặc người thân quen của ông Hinh mạo danh là luật sư để thăm dò xem tôi có còn giữ hồ sơ y tế không, nếu tôi không còn giữ hồ sơ y tế thì tôi không thể kiện ông Hinh được. Người này hẹn gặp tôi có lẽ là có ý đồ không tốt. Vì vậy, tôi không hẹn gặp anh ta.

Đầu năm 2009, thời gian đó tôi đang gửi đơn kiện ông Hinh tới các cơ quan chức năng, có một cơ quan nhận đơn của tôi, sau đó họ cho tôi số điện thoại của họ và họ nói là tôi gọi điện thoại cho họ để nghe họ trả lời. Tôi chưa muốn nêu cụ thể tên cơ quan này. Tôi làm đúng như lời họ dặn và gọi điện thoại cho họ, họ nói là tôi đến cơ quan của họ để nhận giấy thông báo. Cơ quan này ở cách xa nhà tôi khoảng chừng hơn 10 km, cả đi và về hơn 20 km chỉ để nhận một tờ giấy thông báo. Thời điểm đó rất ít người biết đến vụ việc của tôi nên ông Hinh và những người bao che cho ông ta ráo riết tìm mọi cách thủ tiêu tôi để bịt đầu mối. Vì vậy nếu không có việc gì quan trọng thì tôi không đi ra ngoài phố. Tôi đề nghị cơ quan này gửi giấy thông báo qua bưu điện cho tôi và họ đồng ý với đề nghị của tôi. Các cơ quan khác tôi gửi đơn đến họ đều gửi thông báo trả lời qua bưu điện cho tôi. Tôi chờ mãi không nhận được giấy thông báo nên tôi gọi điện nhắc họ khoảng 2 hoặc 3 lần và lần nào họ cũng hứa là họ sẽ nhắc văn thư gửi cho tôi nhưng cho đến bây giờ đã hơn 3 năm rồi mà tôi vẫn không nhận được thông báo của cơ quan trên và họ cũng không hề giải quyết gì cho tôi cả. Như vậy chứng tỏ rằng cơ quan này không hề có thông báo gì gửi cho tôi và họ đã đánh lừa tôi đến cơ quan họ để làm gì vậy ? Có lẽ là họ có ý đồ gì xấu để làm hại tôi nên họ mới đánh lừa tôi như vậy. Hiện nay tôi vẫn còn giữ Giấy nhận đơn, chính tay họ viết số điện thoại liên lạc của họ trong giấy nhận đơn đó, nhưng tôi không nhận được thông báo trả lời.

Tôi biết có những trường hợp dân oan đi khiếu kiện bị bắt giam, bị ngồi tù vì bị khép vào tội danh : gây rối trật tự nơi công cộng. Tôi không hiểu rõ thế nào là tôi danh gây rối trật tự nơi công cộng ? Tôi nhận thấy ranh giới giữa phạm tội và vô tội của tội danh : gây rối trật tự nơi công cộng quá mơ hồ. Tôi đề nghị các cơ quan chức năng nên nói rõ ràng, cụ thể hơn về hành vi này cho tôi và mọi người dân được hiểu rõ. Tôi đã đi khiếu kiện và đã chứng kiến cảnh tượng một số người dân la hét, phản đối cách đối xử với dân, cách giải quyết vụ việc cho dân của một số người có thẩm quyền – hành vi như vậy có bị coi là hành vi gây rối trật tự nơi công cộng không hay phải là hành vi đập phá trụ sở cơ quan nhà nước mới bị coi là gây rối trật tự nơi công cộng ? Liệu có phải cơ quan mà tôi nêu ở trên họ lừa tôi đến trụ sở của họ để họ dùng kịch bản : gây rối trật tự nơi công cộng để cài bẫy bắt tôi hay không ? Rõ ràng cơ quan trên không hề có giấy thông báo nào gửi cho tôi vậy mà họ lừa tôi đến cơ quan họ để làm gì vậy ? Tôi xin đưa ra tình huống như sau : Khi tôi đến cơ quan đó, mặc dù tôi không làm gì gây rối trật tự nơi công cộng nhưng họ xúm vào bắt tôi và vu cáo cho tôi tội danh này rồi giam tôi lại và dùng cực hình ép cung bắt tôi phải nhận tội hoặc họ cho người của họ ra làm chứng gian là tôi có hành vi gây rối trật tự nơi công cộng, sau đó bắt giam và cầm tù tôi, việc này không có gì là khó đối với họ. Nếu tôi bị vào tù thì tôi bị mất quyền công dân, làm sao tôi đi kiện được ông Hinh – như vậy là ông Hinh thoát tội. Qua sự việc này, tôi đề nghị các cơ quan chức năng cần có thêm băng ghi âm và ghi hình để xem xét lời nói, thái độ và hành động của cả 2 bên : dân oan đi kiện và cán bộ tiếp dân thì việc kết tội cho một người nào đó vi phạm tội danh này mới công bằng và khách quan. Còn chỉ có người làm chứng không thôi thì cũng khó tin đó là sự thật vì quyền hành trong tay họ thì họ muốn làm gì mà chẳng được.

Tôi đọc trên mạng thấy có một vài trường hợp đang khỏe mạnh vào đồn công an tại Việt nam bỗng nhiên nảy ra ý định tự tử hoặc lên cơn suy tim, suy phổi cấp dẫn đến tử vong. Tôi thấy những trường hợp này có gì đó mờ ám.Tôi liên hệ đến trường hợp của tôi, tôi cho rằng cơ quan mà tôi nêu ở trên nếu họ không dùng kịch bản : gây rối trật tự nơi công cộng đối với tôi thì liệu họ có dùng kịch bản này không ? Tôi lại xin đưa ra tình huống như sau : Khi tôi đến cơ quan họ, họ mời tôi vào phòng làm việc. Khi tôi vào phòng họ đóng chặt cửa phòng lại và xúm vào giữ chân, giữ tay, bịt mồm tôi rồi chích thuốc độc dẫn đến tử vong. Sau đó họ dùng kịch bản là tôi đến đó bỗng nhiên tôi lên cơn suy tim, suy phổi cấp dẫn đến tử vong hoặc tôi đến đó bỗng dưng nảy ra ý định tự tử rồi họ dựng lên hiện trường giả giống vụ việc của anh Nguyễn Công Nhựt ở Bình dương thế là họ đã thủ tiêu được tôi để bịt đầu mối. Nếu họ không có ý đồ xấu làm hại tôi thì họ lừa tôi đến trụ sở cơ quan của họ để làm gì ? Phải chăng ông Hinh thuê bọn lưu manh đâm xe, đầu độc, bắt cóc, chích thuốc độc để hãm hại tôi nhiều lần không thành công nên ông ta đã mượn cả bàn tay công an lẫn cơ quan nhà nước giúp ông ta hãm hại, thủ tiêu tôi để bịt đầu mối hoặc cài bẫy để bắt giam, cầm tù tôi để ông ta thoát tội hay không ?

Rất may là tôi đã không đến cơ quan đó. Vì sự việc mà tôi nêu ở trên chưa xảy ra với tôi nên tôi không biết chính xác là cơ quan đó họ định làm gì tôi nhưng tôi nghi ngờ họ có âm mưu gì đó xấu để hãm hại tôi nên họ mới lừa tôi đến cơ quan họ. Cơ quan này không hề gửi cho tôi thong báo trả lời và cũng không giải quyết vụ việc của tôi vậy họ lừa tôi đến cơ quan họ để làm gì ? Thời gian đó cách đây hơn 3 năm và tôi chưa hề đăng bài về vụ việc của tôi lên mạng Internet nên rất ít người biết về vụ việc này.

Nếu lúc đó họ thủ tiêu tôi để bịt đầu mối thành công thì vụ việc của tôi sẽ kín như bưng, không ai biết gì về vụ việc này và ông Nguyễn Đức Hinh sẽ không bị gặp rắc rối như bây giờ. Ông Hinh lại tiếp tục đeo chiếc mặt nạ đẹp đẽ mà ông ta đã tự tô vẽ cho mình : “ Một người thầy thuốc mẫu mực, một bác sỹ đầy nhân văn “ – đây là phản hồi của một số đọc giả về ông Hinh. Ông Hinh đã xây dựng cho mình một hình ảnh rất đẹp đẽ như vậy, nếu tôi không lột mặt nạ ông ta ra thì sẽ không ai biết được việc làm thất đức của ông ta. Ông Hinh sẽ còn tiếp tục việc làm này để hãm hại bao nhiêu người nữa ??? Ông Nguyễn Đức Hinh đúng là một bác sỹ máu lạnh, một con người độc ác, nham hiểm.

Tôi xin nói rõ để các Quý đọc giả biết rằng : Trước khi mổ u buồng trứng, tôi đã làm các xét nghiệm máu, siêu âm, chụp tim phổi. Kết quả chụp tim phổi bình thường, kết quả xét nghiệm máu, siêu âm, ngoài bệnh u buồng trứng lành tính ra thì tôi không có bệnh tật gì khác. Sang Bệnh viện K, trước mỗi đợt truyền hóa chất lại phải xét nghiệm máu và chụp tim phổi lại, nếu tim phổi có vấn đề không ổn thì sẽ không truyền được hóa chất. Tôi đã trải qua được 6 đợt truyền hóa chất chứng tỏ rằng tim phổi của tôi rất tốt, tôi không có bệnh về tim phổi nên tôi không thể bị suy tim phổi cấp được nếu không bị ai đó hãm hại. Mặc dù tôi bị ông Hinh hãm hại, hủy hoại thân thể, làm tôi mất đi khả năng làm mẹ sinh con và mất đi hạnh phúc của người phụ nữ nhưng tôi vẫn sống rất kiên cường, không bao giờ tôi có ý nghĩ ngu ngốc là tự tử cả. Tôi phải sống thật kiên cường để tiếp tục đấu tranh đòi công lý cho tôi và bắt ông Hinh phải trả giá cho những gì mà ông ta đã gây ra cho tôi. Nếu tôi tự tử thì ông Hinh mừng quá vì không có ai kiện ông ta nữa, như vậy ông ta sẽ thoát tội.

Thưa các Quý vị đọc giả, cho tới hiện nay vẫn chưa có một cơ quan thông tấn, báo chí nào của nhà nước Việt nam đưa tin về vụ việc của tôi và cũng chưa có một cơ quan chức năng nào can thiệp giải quyết vụ việc này. Trong thời gian gần đây tôi thường xuyên bị bọn giang hồ đầu độc, đâm xe ….. Điển hình là vụ việc ngày 12 / 3 / 2012 : Chiều hôm đó tôi đi lên chợ Đồng xuân – Hà nội để mua đồ. Tôi đang đi bộ trên đường cạnh bãi gửi xe ngay trước cửa chợ, đối diện phố Hàng Khoai – đường này chủ yếu dành cho những người ra vào gửi xe hoặc những người chở hàng ra vào chợ Đồng xuân nên mọi người thường đi rất chậm. Những người đi ngang qua chợ mà không vào chợ mua bán gì thì họ thường đi ở phố Hàng Khoai. Vì trên vỉa hè để rất nhiều xe máy nên tôi phải đi dưới lòng đường. Tôi đang đi bộ, bất giác tôi quay lại phía sau, tôi nhìn thấy có một chiếc xe máy đang phóng rất nhanh, suýt đâm vào tôi từ phái sau lưng. Tôi vội vàng chạy lên vỉa hè, lúc tôi vừa chạy lên vỉa hè thì chiếc xe máy này cũng lao vọt qua chỗ tôi vừa đứng rồi phi thẳng ra phố Hàng Giấy – tôi chưa kịp nhìn chiếc xe máy đó như thế nào thì nó đã lao đi mất. Chỉ chậm khoảng nửa phút là chiếc xe máy này đâm trúng vào người tôi. Chiếc xe máy này là loại xe to cỡ 150 cc phóng nhanh như vậy nếu đâm trúng thì rất dễ mất mạng, nếu không mất mạng thì cũng bị chấn thương sọ não nặng – vì khi đó tôi đang đi bộ nên không đội mũ bảo hiểm. Chắc chắn là chiếc xe máy này nhằm vào tôi nhưng rất may là tôi đã thoát nạn. Đây không phải là lần duy nhất mà rất nhiều lần khi tôi đang đi bộ qua đường, có những chiếc xe máy suýt đâm vào tôi từ phía sau lưng như vậy.

Khoảng đầu tháng Giêng dương lịch năm 2012, hôm đó trời cũng khá lạnh nên khoảng gần 7 giờ tối, đường Đinh Tiên Hoàng giáp Hồ gươm vắng người qua lại hơn mọi ngày. Hôm đó tôi đi xe máy trên đường Đinh Tiên Hoàng - đây là đường một chiều. Tôi đi sát phần đường bên tay phải, đến đoạn cắt ngang phố Trần Nguyên Hãn, lúc này trời đã tối, tôi quay lại phía sau thì tôi phát hiện ra một chiếc xe Tắc xi không bật đèn pha đang lao nhanh về phía sau xe của tôi. Tôi thấy vậy liền đánh tay lái sang trái và ép xe máy của tôi về phía phần đường bên tay trái sát với Hồ gươm. Tôi cho xe máy của tôi đi chệch hướng mà chiếc xe Tắc xi đang lao đến nên nó không đâm được vào tôi. Chiếc xe Tắc xi này đang lao nhanh bỗng dừng lại, tôi suy đoán là nó định quay sang bên trái để đâm vào xe tôi nhưng nó biết là tôi đã phát hiện ra nó nên sau đó nó rẽ vào phố Trần Nguyên Hãn. Cũng buổi tối hôm đó, khi tôi đi vòng quanh Hồ gươm sang đường Lê Thái Tổ và đi đến đầu phố Bà Triệu đoạn giáp Hồ gươm, có một người phụ nữ cao to như đàn ông đi xe máy phía sau tôi, chị ta ép sát vào xe tôi và móc cái gì đó vào bánh trước xe máy của tôi rồi kéo lê đi một đoạn – rất may là tôi không bị ngã xe. Bọn sát thủ ngang nhiên ra tay ngay giữa trung tâm Thủ đô Hà nội – Thành phố Hòa bình như vậy đấy.

Ông Hinh thuê bọn giang hồ đâm xe vào tôi nhiều lần không thành, tôi nghi ngờ ông ta thuê người bỏ thuốc độc vào đồ ăn, thuốc uống của tôi.

Đầu năm 2011 tôi hay uống thuốc bổ B complex C. Ông Hinh cho người theo dõi tôi và biết tôi hay mua thuốc B complex C ở hiệu thuốc gần nhà. Ngày 1/ 4/ 2011 tôi ra hiệu thuốc gần nhà mua thuốc. Như thường lệ tôi mua 2 vỉ thuốc, mỗi vỉ 10 viên. Người bán thuốc mở hộp đựng thuốc ra, tôi thấy trong hộp có 1 gói khoảng 3 – 4 vỉ thuốc B complex C bọc riêng trong 1 túi ni lông và dán kín lại, còn các vỉ thuốc khác cũng cùng loại này không bọc ni lông. Người bán thuốc lấy kéo cắt bọc ni lông đó ra và đưa cho tôi 2 vỉ thuốc. Những lần trước mua thuốc tôi không thấy họ bọc riêng mấy vỉ thuốc trong túi ni lông như vậy. Tôi nghi ngờ trong 2 vỉ thuốc mà họ đưa cho tôi có cái gì đó không ổn nên tôi đã trả lại thuốc và không mua nữa. Sau sự việc này tôi không dám mua thuốc cố định ở một hiệu thuốc mà phải thường xuyên thay đổi, mua thuốc ở vài hiệu thuốc khác nhau.

Ông Hinh cho người theo dõi tôi và biết là tôi hay mua bánh kẹo ở mấy cửa hàng gần nhà tôi. Tôi thích ăn đồ ngọt còn mẹ tôi kiêng ăn đồ ngọt vì người già sợ bị bệnh tiểu đường. Có 2 lần tôi vào 2 cửa hàng bánh kẹo tư nhân khác nhau ở gần nhà, người bán hàng mời tôi mua 2 loại bánh nhân kem mà tôi chưa nhìn thấy loại này bao giờ nên tôi không mua. Một lần khác, tôi lại vào 1 trong 2 cửa hàng mà tôi vừa nêu ở trên mua bánh Chocopie Kinh đô, người bán hàng nói với tôi là loại bánh mà tôi thường mua hôm nay đã hết hàng. Chị bán hàng đưa cho tôi 1 hộp bánh Chocopie Kinh đô nhưng mẫu mã khác loại mà tôi thường mua, chị ta nói rằng : “ Loại này mới ra ngon lắm, mua về ăn thử “. Tôi nhìn thấy mẫu mã lạ nên tôi hỏi chị bán hàng là chi ta có bao nhiêu hộp, chị ta nói là có mỗi một hộp nên tôi thấy hơi nghi ngờ và tôi không mua hộp bánh đó. Đến tận bây giờ đã hơn 1 năm rồi mà tôi vẫn không nhìn thấy ở cửa hàng nào bán bánh Chocopie Kinh đô mẫu mã giống như hộp bánh mà chị bán hàng này mời tôi mua. Vì vậy tôi nghi ngờ rằng hộp bánh Chocopie Kinh đô mà chị bán hàng mời tôi mua có lẽ bên trong có độc. Họ làm riêng một hộp để bán cho tôi vì họ đề phòng nếu tôi bị đầu độc thì cũng không liên quan đến Công ty Kinh đô mà do tôi mua phải hàng dỏm. Nếu họ dùng mẫu mã bánh của Công ty Kinh đô đầu độc tôi thì sẽ làm mất uy tín của Công ty Kinh đô - như vậy Công ty Kinh đô sẽ phải nhờ công an điều tra làm rõ sự việc thì ông Hinh sẽ dễ bị coi là đối tượng tình nghi.

Chiều ngày 29 / 3 / 2012, tôi lại đến chợ Đồng xuân mua đồ. Tôi có thói quen nếu tôi đến chợ Đồng xuân thì tôi hay vào hàng bún mọc ở gần chợ ăn bún. Mọi lần trước tôi đỗ xe trước cửa hàng thì có người ra dắt xe cho tôi và đem ra nơi có người trông xe. Lần này tôi đỗ xe không có người đến dắt xe cho tôi, người bán hàng bảo tôi là đem xe sang bên kia đường mới có người trông xe. Tôi quay xe để dắt xe sang bên đường thì tôi nhìn thấy một người đàn ông đi từ đâu đến gần người bán hàng và giúi vào tay người bán hàng một gói giấy nhỏ màu trắng rồi đi luôn. Tôi thấy hành động của người này không bình thường nên tôi nghi ngờ người đàn ông này đưa cho người bán hàng gói giấy màu trắng kia để bỏ vào bát bún của tôi vì lúc đó chỉ có một mình tôi vào hàng bún này. Vì sự nghi ngờ như vậy nên tôi không ăn bún ở hàng này nữa. Tôi thường xuyên ăn cơm, mỳ tôm, bánh mỳ ở nhà mãi cũng thấy chán, thỉnh thoảng muốn ra ngoài ăn chút gì đó thay đổi nhưng lại sợ bị bỏ độc vào đồ ăn. Vì vậy, tôi không thường xuyên ra ngoài ăn, chỉ thỉnh thoảng tôi mới đi ăn bên ngoài. Mỗi lần tôi lại ăn 1 món khác nhau để bọn chúng không biết là tôi đi ăn món gì mà chuẩn bị trước. Cuộc sống của tôi hiện nay đang gặp nhiều nguy hiểm nhưng không thấy có cơ quan chức năng nào can thiệp, bảo vệ cho tôi.

Ông Hinh giở mọi thủ đoạn để hãm hại tôi. Có một lần tôi vào siêu thị Midea ở phố Hai Bà Trưng, tôi đi thang máy từ tầng 1 lên tầng 4. Tôi đi đến tầng 3 tự nhiên cửa thang máy mở ra và có một người đàn ông trông mặt rất hung dữ đứng ngay ở cửa thang máy. Lúc đó chỉ có một mình tôi trong thang máy, tôi nhìn mặt người đàn ông này trông hung dữ nên tôi sợ quá, tôi vội vàng lao ra ngoài cửa thang máy. Người đàn ông này thấy tôi lao ra khỏi thang máy thì quay lại nhìn tôi và chần chừ như không muốn đi vào trong thang máy nữa. Nếu người đàn ông này là sát thủ thật, khi chỉ có một mình tôi và ông ta trong thang máy thì ông ta ra tay quá dễ dàng. Sau vụ việc này có vài lần ông Hinh mua chuộc người quen, bạn bè mời tôi đến chơi nhà của họ ở khu chung cư cao tầng - ở đó bắt buộc phải đi bằng thang máy nhưng tôi không đến. Khi đi mua hàng ở siêu thị thì tôi thường xuyên đi cầu thang bộ, tôi không đi cầu thang máy nữa.

Ông Hinh thấy việc đầu độc, đâm xe vào tôi không thành công, ông ta lại thuê bọn lưu manh, giang hồ bắt cóc tôi để hãm hại tôi bằng cách thủ tiêu bí mật. Có một lần, lúc đó trời đã bắt đầu tối, tôi đi mua đồ ăn ở chợ, trên đường đi về nhà tôi gặp một người hàng xóm cũng đi mua đồ ăn về nên đi cùng người này về nhà. Chúng tôi đi đến gần đầu phố Ngô Thì Nhậm vuông góc với đầu phố nhà tôi, chỗ này đèn đường rất tối và phố vắng người qua lại, tôi nhìn thấy 3 người đàn ông trông mặt hung dữ đứng ở đó – những người này không phải xe ôm vì ở gần phố nhà tôi nên tôi quen mặt những người xe ôm. Vì đèn đường tối nên từ xa không nhìn thấy 3 người đàn ông này. Tôi đoán ngay đây là bọn bắt cóc, bọn chúng chờ sẵn ở đó định bắt cóc tôi. Nếu tôi đi một mình thì có lẽ đã bị họ bắt nhưng hôm đó may quá tôi lại đi cùng người hàng xóm nên bọn chúng không làm gì được.

Một lần khác khoảng 7 giờ tối, tôi đi mua đồ ăn và đi trên phố Phùng Khắc Khoan đối diện với phố nhà tôi để về nhà. Lúc đó trời đã tối và các cửa hàng đã đóng cửa, phố vắng người qua lại. Có một người đàn ông đi xe máy tiếp cận sát bên cạnh tôi mà tôi không hề hay biết gì. Đúng lúc đó có một người phụ nữ hỏi ông ta : “ Anh hỏi nhà ai ? “ Tôi giật mình quay ra thì thấy ông ta đã đỗ sát ngay cạnh tôi. Người đàn ông này nói gì đó với người phụ nữ, chị ta chỉ ra phía sau lưng tôi. Người đàn ông dắt xe máy quay ngược trở lại. Tôi nhìn theo ông ta và tôi phát hiện ra ở túi quần phía sau bên trái của ông ta có một chiếc bộ đàm dày cộp, có ăng ten dài chừng gần 10 cm – đây là máy liên lạc nội bộ mà ngành công an hoặc an ninh, bảo vệ hay dùng. Tôi nhìn người này trông rất giống công an chìm – không phải là bọn côn đồ. Lúc đó ngoài phố không có ai cả, chỉ có một mình người phụ nữ đó. Nếu không có người phụ nữ này thì người đàn ông kia đã bắt được tôi và gọi bộ đàm cho đồng bọn của ông ta có lẽ cũng ở gần đó đến hỗ trợ để bắt cóc tôi.

Bọn bắt cóc tôi không chỉ ra tay vào buổi tối mà thậm chí ngay cả giữa ban ngày. Thời gian tôi bắt đầu gửi đơn kiện ông Hinh tới các cơ quan chức năng mà tôi chưa đăng bài lên mạng, khi có việc đi ra đường tôi không dám đi xe máy mà thường xuyên đi bộ, nếu đi xa thì tôi đi xe buýt hoặc có người chở đi. Có vài lần tôi đi bộ giữa ban ngày ở những đoạn phố vắng người qua lại, tôi thường gặp một chiếc xe ô tô đỗ ngay sát vỉa hè, cửa xe ô tô phía sau thường mở sẵn, có một người đàn ông ngồi ngay ở cửa mở đó. Lúc đó, trên vỉa hè có khoảng 3 hoặc 4 người đàn ông đứng gần xe ô tô. Tôi phán đoán là bọn chúng chờ sẵn lúc tôi đi ngang qua đó thì bọn chúng quây vào bắt tôi rồi kéo tôi vào chiếc xe ô tô rồi chở tôi đi nhưng tôi đã cảnh giác đề phòng nên tôi không đi ngang qua chỗ những người đàn ông đó.

Hiện nay, tôi rất ít khi đi ra đường, chỉ thỉnh thoảng tôi đi mua đồ ăn hoặc đi lễ chùa. Khi tôi đang mải mua đồ ăn thường có một người đàn ông một tay đút vào túi quần như đang cầm vật gì trong tay, anh ta tiến sát đến phía sau lưng tôi, hình như người này định đâm một cái gì đó vào sau gáy tôi. Rất may là tôi đã phát hiện ra nên người này không kịp ra tay. Bọn sát thủ không từ một thủ đoạn nào để hại tôi, bọn chúng định ra tay ngay trong chùa. Đầu tháng 2/ 2012, tôi sang chùa Đức viên ở gần nhà dự lễ cầu an đầu năm. Lúc mọi người đang đọc kinh ở ban Tam bảo thì tôi đi ra ban Mẫu thượng thiên ở ngoài sân phía sau chùa để lễ. Lúc đó tất cả mọi người đang ngồi ở ban Tam bảo phía trước của chùa, phía sau chùa chỉ có một mình tôi. Tôi vừa lễ vừa quan sát thì thấy có một người đàn ông đi rất nhẹ - nhón chân nhẹ nhàng, ông ta tiến đến phía sau lưng tôi. Tôi quay ra nhìn ông ta, ông ta biết là tôi đã phát hiện ra ông ta nên ông ta dừng lại và đứng ở đó một lát rồi quay trở ra phía trước chùa. Khi tôi lễ xong ban Mẫu thượng thiên, tôi cũng quay trở ra phía trước chùa chỗ ban Tam bảo. Tôi nhìn thấy người đàn ông này dắt xe máy đi ra khỏi chùa, lúc đó khóa lễ chưa xong, mọi người không kể ông ta thì chưa ai ra về cả. Vì vậy, tôi cho rằng người đàn ông này vào chùa không phải để dự khóa lễ cầu an mà để tìm cơ hội hãm hại tôi – khi bị tôi phát hiện ra thì bỏ về trước, không ở trong chùa nữa.

Ông Hinh thấy việc bắt cóc, đầu độc, đâm xe nhiều lần không thành công, ông ta lại cài bẫy để hại tôi : Ông ta cho nhiều người gọi điện thoại, nhắn tin cho tôi và nói là muốn nhờ tôi tư vấn cho họ về sức khỏe. Tôi trả lời họ rằng họ đã gọi nhầm số điện thoại rồi, tôi không làm công việc tư vấn sức khỏe. Sau đó ông Hinh lại cho nhiều người gọi điện cho tôi và hỏi tôi rằng khối u của tôi to bao nhiêu cm và trước khi mổ tôi uống loại thuốc gì ? ….. Tôi đoán ra ngay vở kịch này của ông Hinh – ông ta đã ghi âm cuộc nói chuyện này của tôi, sau đó ông ta ghép câu này vào câu khác rồi làm bằng chứng giả tố cáo tôi lừa đảo làm dịch vụ tư vấn sức khỏe trái phép. Vì vậy, tôi không trả lời những câu hỏi của những người đó. Nếu ông Hinh và những người bao che cho ông ta cài bẫy tôi cách này thành công thì bằng chứng giả của họ sẽ là chứng cứ để bắt giam, cầm tù tôi – như vậy thì tôi sẽ không kiện được ông ta nữa và ông ta sẽ thoát tội.

Ông Nguyễn Đức Hinh còn gây ra rất nhiều hành vi tội ác khác để hãm hại tôi nhưng tôi không thể kể hết ra được mà tôi chỉ nêu một số vụ việc điển hình như trên.

Khi tôi bắt đầu gửi bài tố cáo việc ông Hinh hãm hại tôi đến rất nhiều báo điện tử và các cơ quan truyền thông trong Quốc nội, có 1 nhà báo và 2 phóng viên đến nhà tôi để gặp tôi. Ngày 6/ 6/ 2010, nhà báo đầu tiên đến gặp tôi. Sau khi tôi trình bày sự việc xong, tôi đưa cho anh ta đơn và hồ sơ y tế photo, anh ta đề nghị tôi đưa cho anh ta hồ sơ y tế bản gốc nhưng tôi không đưa. Sau đó anh ta không hề đăng bài về vụ việc của tôi. Các hồ sơ y tế của tôi chỉ có chữ viết, chữ ký của bác sỹ và con dấu của bệnh viện, không có chữ ký của bệnh nhân. Nếu tôi đưa hồ sơ gốc cho anh ta, anh ta đem hồ sơ của tôi đến trao đổi với ông Hinh – có lẽ ông ta trả giá rất cao. Sau đó anh ta đem trả tôi bộ hồ sơ khác – vẫn là chữ viết, chữ ký của các bác sỹ đó và con dấu của bệnh viện nhưng nội dung hồ sơ y tế khác đi hoặc anh ta không trả lại tôi hồ sơ thì tôi mất hết chứng cứ, tôi không kiện được ông Hinh nữa.

Sáng ngày 24/ 3/ 2011, một nữ phóng viên truyền hình đến nhà tôi. Sau khi tôi trình bày sự việc xong, tôi cũng đưa cho chị ta đơn và hồ sơ y tế photo. Chị này nói với tôi : “ Chị cho em xem qua Thẻ ra viện - Bệnh viện K bản gốc của chị “. Tôi trả lời chị ta : ” Tôi nhờ người khác giữ hộ các hồ sơ y tế bản gốc rồi, tôi không để ở nhà “. Sau đó không thấy chị này làm phóng sự hay đưa tin gì về vụ việc của tôi cả. Tôi cho rằng chị phóng viên này không phải là muốn xem bản gốc Thẻ ra viện của tôi vì bản gốc và bản photo giống hệt như nhau, chỉ khác nhau là bản gốc con dấu màu đỏ còn bản photo con dấu màu đen. Mục đích của chị ta là muốn biết tôi cất giữ Thẻ ra viện của Bệnh viện K bản gốc này ở chỗ nào. Nếu chị ta biết nơi tôi cất giữ Thẻ ra viện bản gốc thì rất có thể chị ta sẽ bán thông tin này cho ông Hinh. Cũng có lúc cả gia đình nhà tôi đều đi vắng, không có ai ở nhà, ông Hinh sẽ thuê bọn lưu manh đột nhập vào nhà tôi để lấy cắp Thẻ ra viện này. Vì Thẻ ra viện của Bệnh viện K là chứng cứ quan trọng nhất chứng minh rằng tôi không bị ung thư để tôi kiện ông Hinh.

Chiều ngày 1/ 4/ 2011, lại có một nam phóng viên truyền hình làm cùng với chị phóng viên mà tôi vừa nêu ở trên đến nhà tôi. Anh phóng viên này nói với tôi rằng việc làm của ông Hinh chỉ là nhầm lẫn thôi nhưng tôi không đồng ý với ý kiến của anh ta. Sau đó tôi cũng không thấy anh ta làm phóng sự hay đưa tin gì về vụ việc của tôi.

Cả 3 người trên khi đến gặp tôi họ không cho tôi xem thẻ nhà báo hoặc thẻ phóng viên của họ. Khi họ nhận hồ sơ y tế và đơn của tôi họ không có giấy nhận hồ sơ hay giấy hẹn làm việc gì cả. Tôi nghi ngờ 3 người này rất có thể là người do ông Hinh cử đến để tìm cách lấy hồ sơ y tế bản gốc của tôi.

Từ trước đến nay gia đình tôi và bản thân tôi là những người lương thiện, làm ăn chân chính và không vi phạm pháp luật. Vậy mà chỉ vì vụ việc tôi bị ông bác sỹ vô đạo đức, vô lương tâm hãm hại, tất cả các cơ quan chức năng đều bao che cho ông ta nên họ không đưa vụ việc này ra pháp luật giải quyết. Tôi rất bức xúc, bất bình trước cách hành xử đối với tôi như vậy của các cơ quan chức năng tại Việt nam. Họ lúc nào cũng tự xưng họ là nhà nước vì dân, vậy họ đã làm được gì cho dân khi người dân cần đến họ ? Họ tự xưng là nhà nước vì dân mà sao họ để cho người dân khổ như thế này mà không có biện pháp gì can thiệp, giúp đỡ, bảo vệ cho dân ? Tôi nghe mãi những lời nói suông như thế này nhàm chán lắm rồi, hãy chứng minh cho tôi thấy bằng hành động thực tế. Tôi vẫn muốn giải quyết vụ việc của tôi theo trình tự tố tụng pháp luật, nhưng kẻ phạm ác vẫn tiếp tục gây thêm tội ác để nhằm mục đích “giết người, diệt khẩu “ mà không thấy có cơ quan chức năng nào can thiệp, bảo vệ tôi và giải quyết vụ việc của tôi. Tôi nói ra hết những thủ đoạn mà ông Hinh đã hãm hại tôi cho mọi người biết để mọi người cảnh giác, đề phòng và để không ai gặp phải bi kịch đáng tiếc như tôi. Tôi xin cảm ơn lời chia sẻ của các đọc giả cho các bài viết về vụ việc này của tôi. Tôi rất là xúc động trước lời chia sẻ của anh ( chị ) h2saigon cho bài viết : “ Lời kêu cứu – Bác sỹ Nguyễn đức Hinh cố ý hãm hại bệnh nhân – Bài viết này đăng trên Diễn đàn Vietnam Exodus : “ Xin được chia sẻ cùng chị về nỗi đau của bịnh tật, chị đã không may gặp nhầm bác sỹ mua cấp bằng học vị ….. tuy chị đã bị thiệt hại về tiền bạc, vật chất lẫn tinh thần, nhưng với việc chị tố cáo bác sỹ dỏm này ra trước công luận báo chí – đây là một việc làm hơn xây 10 cái chùa, chị đã và sẽ giúp hàng trăm hay hàng ngàn người sau tránh được ….. Chúc chị sớm bình phục nỗi đau của tinh thần, tiếp tục vạch mặt bác sỹ dỏm để tránh cái không may sau này cho người khác, đem tinh thần vô uy đến với mọi người, là việc thiện có công đức lớn nhất trong các việc thiện “.

Tôi xin phép anh ( chị ) h2saigon được copy lại nguyên bản lời chia sẻ của anh ( chị ) để gửi tới các đọc giả - Lời sẻ chia này của anh ( chị ) đã nói đúng được ý nguyện của tôi khi tôi bất chấp mọi nguy hiểm đe dọa tính mạng, thân thể để vạch mặt và tố cáo tội ác của ông Hinh cho mọi người biết – tôi muốn mọi người sẽ tránh được điều không may như tôi. Lời chia sẻ của các đọc giả và của anh ( chị ) h2saigon là nguồn động viên, an ủi rất lớn đối với tôi, nó đã cho tôi thêm sức mạnh và niềm tin để tiếp tục đấu tranh cho công lý.

"h2saigon nói:
Tháng Bảy 30, 2010 lúc 4:51 sáng
xin duoc chia se cung chi ve noi dau cua binh tat, chi da khong may gap nham thang bac si mua cap bang hoc vi, ban chat no lai la con do, kien thua chung thi nhu chi da thay tren dat nuoc minh, co nguoi dan be hong nao thua kien duoc lu can bo dang vien dau?, tuy chi da bi thiet hai ve tien bac vat chat lan tinh than, nhung voi viec chi to cao thang bac si dom nay ra truoc cong luan bao chi - day la mot viec lam hon xay 10 cai chua,chi da va se giup duoc hang tram hay hang ngan nguoi sau tranh duoc
dieu khong may ma chi da gap phai, do thang bac si dom
ma chi dang kien no gay ra, chuc chi som binh phuc noi dau cua tinh than, tiep tuc vach mat thang bac si dom de tranh cai khong may sau nay cho nguoi khac,dem tinh than vo uy den voi moi nguoi la viec thien co cong duc lon nhat trong cac viec thien./.
"

Ông Nguyễn Đức Hinh gây ra tội ác nhưng ông ta không muốn chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình nên ông ta giở mọi thủ đoạn để hãm hại tôi và ông ta tiếp tục gây thêm nhiều tội ác khác nhằm mục đích “ giết người, diệt khẩu “. Ông Hinh đã mất hết nhân tính của con người. Hành vi phạm tội của ông Hinh là rất nghiêm trọng và đã có đầy đủ cả nhân chứng lẫn vật chứng. Vụ việc tôi kiện bác sỹ Hinh cố ý hãm hại tôi còn một tháng nữa là tròn 4 năm vậy mà vẫn chưa có một cơ quan chính quyền, pháp luật, thông tấn báo chí nào của nhà nước Việt nam can thiệp, giải quyết cho tôi. Tôi một lần nữa yêu cầu các cơ quan chức năng của Việt nam vào cuộc điều tra, xác minh và khởi tố hình sự đối với hành vi phạm tội của ông Hinh. Tôi vẫn giữ nguyên ý kiến ban đầu của tôi - tôi đề nghị pháp luật xét xử ông Hinh theo khung hình phạt cao nhất của điều 109 Bộ luật hình sự để làm gương và nhắc nhở các thầy thuốc về y đức và để ngăn chặn tội ác dã man này không thể xảy ra với các bệnh nhân khác.

Tôi nhờ các Tổ chức nhân quyền trên thế giới, các cơ quan truyền thông và các Quý vị đọc giả tiếp tục giúp đỡ, bảo vệ tôi để tôi đấu tranh cho công lý.

Xin cảm ơn các Quý vị đã quan tâm.

Hà nội ngày 14 / 6 / 2012
Nguyễn Thị Hoài Bắc.

Ghi chú : Mời các Quý vị vào trang cá nhân của tôi là : Touyen Nguyen trên Facebook Vietnam xem hồ sơ y tế để kiểm chứng. Cần xem hồ sơ nào thì kích chuột vào hồ sơ đó có thể phóng to lên.

Nếu cần cung cấp hồ sơ y tế xin vui lòng liên lạc với tôi theo địa chỉ Email : Touyen2929@yahoo.com hoặc số điện thoại : 0975.887.168
 —————————————–
Bài viết do tác giả gửi. VANGANH.INFO biên tập và minh hoạ.
—————————————–
Bài liên quan:


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Theo Mỹ Cứu Đảng ?

Sau khi Liên Xô và Khối Đông Âu sụp đổ,đảng Cộng sản phải mở cửa giao thương với thế giới tự do. Càng mở cửa đảng Cộng sản càng cần ngọai tệ. Muốn có ngọai tệ thì phải bán đất, bán rừng, bán sông, bán biển, bán tài nguyên thiên nhiên, bán thanh niên, bán thanh nữ, có gì bán được thì bán. Không bán thì đi vay, đi mượn, đi xin để nuôi dưỡng cả guồng máy cai trị: đảng, nhà nước, đòan thể, báo chí và nhất là các Tập Đòan Doanh Nghiệp. Chỉ cần thiếu tiền để gắn bó và nuôi dữơng hệ thống này là dẫn đến bất ổn xã hội rồi bất ổn chính trị và cuối cùng là sự tan rã của chế độ.

Biết thế Thủ tướng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã làm đủ cả, làm đúng bài bản, làm tốt hơn những người khác. Khổ nỗi tài nguyên thì ngày càng cạn kiệt, vay xin thì ngày một khó khăn, trong khi ấy nguồn tài nguyên dồi dào tại biển Đông lại bị đồng chí đàn anh Trung cộng phong tỏa.
Túng thế làm liều ngày 26-5-2011 Nguyễn Tấn Dũng phải đột phá cho loan tin tàu Trung cộng cắt cáp tàu Bình Minh. Đến tháng 11-2011, trước Quốc hội Cộng sản Nguyễn Tấn Dũng ra dấu hiệu muốn thóat khỏi vòng tay ôm ấp của đàn anh Trung cộng, chính thức Tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Quyết định và hành động đã đưa Nguyễn Tấn Dũng gần hơn với cựu thù Hoa Kỳ.

Phóng lao lại phải tiếp tục theo lao, ngày 3-6-2012 vừa qua, Nguyễn Tấn Dũng lại làm một cú ngọan mục khi đón tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Edward Panetta bằng cách quét người Tầu mời người Mỹ vào vịnh Cam Ranh. Việc làm gây không ít dư luận đảng Cộng sản đang tìm chỗ dựa mới ở Hoa Kỳ và họ theo Mỹ chống Tầu. Bài viết này xin trình bày một số điểm nổi bật trong chuyến viếng thăm này nhằm đưa ra một số nhậnđịnh mong đóng góp cho công cuộc đấu tranh chung.

Tổng Cục 2 Báo Cáo Dân Làm Báo

Trong vài tuần qua Diễn Đàn Dân Làm Báo liên tục phổ biến nhiều Báo Cáo được cho rằng phát xuất từ Tổng Cục Tình Báo Cộng Sản Việt Nam - Tổng Cục 2. Nếu đây là sản phẩm của Tổng Cục 2 thì những Báo Cáo này được họ cố tình tung ra vào đúng thời điểm Hoa Kỳ cho công bố Chiến Lược Quân Sự tại Thái Bình Dương. Trong đó có ba Báo Cáo đáng chú ý.

Bản thứ nhứt báo cáo cuộc tiếp xúc với Phó Đại sứ Mỹ bà Claire Pierangelo, Nhân viên Phòng chính trị Bộ Ngoại giao Mỹ ông Gary; Nhân viên Bộ Quốc Phòng Thiếu tá pháo binh Mỹ ông Greg và Đại úy thủy quân lục chiến Mỹ ông Chuck. Theo báo cáo nhận xét của phía Hoa Kỳ thì tình trạng kinh tế - xã hội Việt Nam là rất yếu kém, xuất hiện những tư tưởng thân Mỹ bài xích Trung cộng đang khiến người dân mất niềm tin vào đảng và chế độ cộng sản. Bản báo cáo nêu lên một điểm đáng chú ý là người Mỹ tin rằng chỉ cần một cú hích nhẹ của Mỹ vào các thời điểm, tình huống phù hợp thì chế độ cộng sản sẽ sụp đổ.

Báo Cáo có nhắcđến nhận định của Phó Đại sứ Mỹ bà Claire Pierangelo như sau: “Vấn đề của Chính phủ VN hiện nay không phải do bên ngoài đem tới mà chính là vấn đề tự thân của Chính phủ VN. Nếu không giải quyết được các vấn đề này thì chính VN sẽ gặp rắc rối lớn mà không cần ai/nước nào can thiệp... Trước đây, Chính phủ Mỹ từng nghĩ rằng, Mỹ sẽ phải bằng cách này hay cách khác đổ thật nhiều tiền vào VN mới có thể đạt được các mục đích của mình, nhưng hiện nay việc làm này không còn cần thiết nữa. Chính phủ Mỹ không cần phải can thiệp hoặc đổ quá nhiều tiền vào VN, chỉ cần có những tác động cụ thể trong từng giai đoạn phù hợp, những tình huống nhất định thì Mỹ có thể đạtđược mọi điều mình mong muốn ở VN”.

Bản Báo Cáo thứ hai là tin tức thu nhặt được khi tham dự buổi làm việc nội bộ của Phòng Thương Mãi Hoa Kỳ (Amcham) Hà Nội. Bản Báo Cáo này cho biết từ đầu năm 2012 đến nay và trong những ngày tới, Hoa Kỳ liên tục cử các phái đoàn hoạt động trên nhiều lĩnh vực sang thăm Việt Nam nhằm mục đích thúc đẩy Việt Nam sớm ký kết việc nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược với Hoa Kỳ. Bản Báo Cáo có nhắc đến ý định viếng thăm Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ ông Leon Edward Panetta.

Còn bản thứ ba là báo cáo về tiếp xúc với một nhân viên Ngoại giao Mỹ gốc Việt hiện làm việc tại Cục Đông Á – Thái Bình Dương. Bản này lại cho rằng trong nội bộ Mỹ vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất liên quan đến việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Việt - Mỹ. Mỹ có thể sẽ lợi dụng vấn đề quan hệ đối tác chiến lược để tiếp tục tăng sức ép đối với Việt Nam trong các lĩnh vực nhạy cảm như dân chủ - nhân quyền, quốc phòng và an ninh. Vì hầu hết tin tức của bản Báo cáo này có thể dễ dàng tìm thấy trên các diễn đàn mạng dân chủ, bản này là bản duy nhất được cấp trên chính thức phê chuẩn đồng ý.

Quét Tầu mời Mỹ

Trước chuyến viếng thăm của ông Panetta ít ngày, báo chí trong nước rộ lên tình trạng người Tầu "núp bóng" thương nhân nuôi, mua và bán cá tại vịnh Cam Ranh. Mặc dù họat động của những người tầu rất lộ liễu nhưng nhà cầm quyền địa phương biết lại chẳng làm gì. Từ các bè nuôi cá này, người Tầu có thể quan sát Quân cảng Cam Ranh và tàu bè ra vào Vịnh. Tin mới nhất cho biết những người Tầu trên Vịnh Cam Ranhđều biến mất không để lại dấu vết gì. Phải chăng đây là dấu hiệu quét sạch gián điệp Trung Cộng sân nhà để mời gọi Hoa Kỳ trở lại vịnh Cam Ranh ?

Hoa Kỳ trở lại Vịnh Cam Ranh

Sau khi công bố chiến lựơc quốc phòng tại Hội Nghị đối thoại an ninh khu vực ở Singapore, để mở đầu chuyến công du 3 ngày tại Việt Nam, thay vì đến Hà Nội ông Leon Panetta đến thăm tàu USNS Richard E. Byrd thuộc Hải Quân Mỹ vừa vào Vịnh Cam Ranh. Lá Quốc Kỳ tung bay và bài Quốc Ca Hoa Kỳ đã được xướng lên ngay trên Vịnh Cam Ranh một khu vực đã từng là căn cứ chiến lược của Hoa Kỳ. Việc một bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ viếng thăm một tàu Hải Quân tại thời điểm Hoa Kỳ tuyên bố chiến lược quân sựcủa họ tại Thái Bình Dương đúng là tin sốt dẻo nên được hầu hết các cơ quan truyền thông quốc tế đưa tin và bình luận.
Ngay khi bản tin còn nóng nhà báo Ngô Nhân Dụng đã tự đặt 12 câu hỏi về chuyến viếng thăm Cam Ranh để dẫn đến kết luận con tàu chỉ là một sân khấu nổi trong Vịnh Cam Ranh để ông Leon Panetta đóng tuồng. Theo nhà báo Ngô Nhân Dụng vở tuồng là tín hiệu gởi đến Trung cộng :”Nước Mỹ sẽ bảo vệ quyền tự do hàng hải trong vùng Ðông Nam Á cũng như khắp thế giới. Nước Mỹ sẽtăng cường giúp các nước Châu Á Thái bình Dương tự vệ.”

Vai chính của vở tuồng là Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ ông Leon Edward Panetta lại luôn nở một nụcười đáp trả sự nồng nàn đón tiếp của giới chức quân sự Việt Nam. Điều này cho thấy sự thành công của vở tuồng: Quân Đội Hoa Kỳ trở lại Cam Ranh và được Quân Đội Việt Nam nồng nàn đón tiếp.

Từ phía Trung Cộng Thiếu tướng Doãn Trác nhận xét như sau: “Việt-Mỹchắc chắn không thể trở thành đồng minh trong giai đoạn hiện nay. Mỹ muốn dùng vịnh Cam Ranh, ly gián quan hệ Việt-Trung. Hiện nay, Việt Nam thiếu ngoại hối, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn.... Trong tình hình đó, lợi ích thương mại trong quan hệ với Mỹ thu được từ sửa chữa tàu thuyền, tiếp tế ở vịnh Cam Ranh cũng rất quan trọng. Điều quan trọng hơn là, Mỹhiện diện ở khu vực này để ly gián quan hệ Trung-Việt” Nhận xét của ông Trác khá khách quan và chính xác.

Trước đó ít hôm, ngày 31-5-2012 Thượng tướng Trương Quang Khánh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Chuẩn đô đốc Phạm Ngọc Minh, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Hải quân; Chuẩn đô đốc Nguyễn Văn Ninh, Phó Tư lệnh Hải quân đã đến Căn cứ quân sự Cam Ranh để dự lễ khởi công nhà máy sửa chữa tàu chiến lớn nhất tại Việt Nam. Bản tin nói rõ “Nhà máy X52 Hải quân sẽ làm nhiệm vụ sửa chữa, bảo trì kỹ thuật cho các loại tàu quân sự của quân đội và Hải quân Việt Nam; đồng thời sẽ làm dịch vụ sửa chữa cho các loại tàu trong và ngoài nước.”

Khi Hoa Kỳ chưa xem Cộng sản Việt Nam là đồng minh thì cùng lắm Cam Ranh là một địa điểm tốt đểHoa Kỳ bảo trì và tu sửa tàu bè. Như thế thay vì phải thuê bao và xây dựng một căn cứ tại Vịnh Cam Ranh rất tốn kém, nay tàu bè quân sự Hoa Kỳ được thường xuyên ra vào Vịnh và lãnh hải Việt Nam. Từ Cam Ranh và lãnh hải Việt Nam Hoa Kỳsẽ kiểm sóat được tòan bộ Châu Á Thái Bình Dương. Rõ ràng Hoa Kỳ đã lấy lại Cam Ranh lấy lại Việt Nam mà không cần phải đổ thật nhiều tiền đúng như Báo Cáo của Tổng Cục 2.

Bỏ Cấm Vận Vũ Khí …

Đến ngày 4-6-2012, tại Hà Nội ông Leon Panetta đã được Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng trải thảm đỏ đón rước. Trong cuộc gặp gỡ, Nguyễn Tấn Dũng đã ngỏ ý đề nghị Hoa Kỳ hủy bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương. Đây là lần đầu tiên nhà cầm quyền cộng sản trực tiếp và công khai đề nghị gỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí.

Ngày 4-6-2012,được diễn đàn BBC phỏng vấn Thứ Trưởng Bộ quốc phòng trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cho biết: “Việc bỏ cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam mang ý nghĩa biểu tượng là chủ yếu vì không thể có quan hệ lành mạnh, bình đẳng mà nước này lại cấm vận với nước kia. Bỏ cấm vận sẽ tạo tin tưởng rằng Mỹ tôn trọng Việt Nam. Chừng nào chưa bỏ cấm vận thì Mỹ cũng chưa thể nói rằng hai bên đã có quan hệ lành mạnh và bình đẳng. Tuy nhiên đây là công việc mang tính chính trị là chủ yếu, còn cho tới nay Việt Nam chưa có nhu cầu mua vũ khí, trang bị của Mỹ.”

Trong cùng ngày Bộ trưởng quốc phòng Đại Tướng Phùng Quang Thanh lại tuyên bố như sau: “Nếu được dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương, chúng tôi có nhu cầu mua một số loại trước hết để sửa chữa, bảo quản, nâng cấp các loại vũ khí chúng tôi thu được trong chiến tranh. Sau đó, nếu khảnăng tài chính cho phép, chúng tôi sẽ từng bước hiện đại hóa quân đội, sẽ lựa chọn mua những loại trang bị vũ khí phù hợp yêu cầu hiện đại hóa quân đội của Việt Nam, giá cả cạnh tranh.”

Hai lời tuyên bố trái ngược nhau (1) dùng chính trị để trấn an quân đội và (2) quân đội cần vũ trang và thực lực để bảo vệ tổ quốc. Hai Tuyên bố thể hiện hai quan điểm trái ngược và đựơc hai thành viên Bộ Chính Trị đều thuộc cánh quân đội công khai bộc lộ.

Điều này cho thấy trước sự đe dọa của Trung cộng, bên trong và bên trên Quân Đội càng ngày càng có nhiều đòi hỏi thay vì chỉ bị nhồi nhét những giáo điều chính trị, Quân Đội phải được võ trang và hiện đại hóa để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc. Không đựơc trang bị đầy đủ khi chiến tranh xảy đến quân nhân và gia đình của họ là những người đầu tiên phải gánh chịu hy sinh. Qua các bài như “Quân Đội Nhân Dân SẽLàm Lên Việc Lớn”, “Quân Đội Nhân Dân Trong Cao Trào Dân Chủ Việt Nam” hay “Việt Nam Theo Đường Miến Điện ?” người viết nhiều lần đề cập việc này.

Lời tuyên bố của ông Phùng Quang Thanh còn nói lên sự thực đảng Cộng sản không còn khả năng tài chánh để vũ trang hay tân trang cho Quân Đội. Họ đang cần mua thiết bị để sửa các vũ khí thu được từ chiến tranh 1975. Và vì thế đứng trước sự đe dọa của chiến tranh do Trung cộng gây ra, Quân Đội phải dựa vào Hoa Kỳ.
Trước đây, Quân Đội còn có được một số độc quyền kinh tế. Ngày nay các lợi quyền kinh tế đã bị Nguyễn Tấn Dũng lấy lại và chia cho các Tập Đòan Kinh Tế Quốc Doanh. Trong cuộc tranh giành quyền lực ai nắmđược quân đội là nắm được thực quyền, Nguyễn Tấn Dũng phải tìm những phương cách để chứng tỏ ông là người được Hoa Kỳ hổ trợ.

… Cần Đi Với Nhân Quyền

Để trả lời cho yêu cầu của Nguyễn Tấn Dũng, khi được truyền hình Việt Nam phỏng vấn Bộ trưởng quốc phòng Leon Panetta cho biết việc bán vũ khí chỉ được thực hiện khi nhân quyền đã được cải thiện. Quyền bỏ phiếu chấp thuận bán vũ khí là quyền của Quốc hội Hoa Kỳ.

Quyền gỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí cho cộng sản Việt Nam cũng gián tiếp là quyền của cả triệu cửtri gốc Việt đang sinh sống tại Hoa Kỳ. Tập thể này luôn hướng về Việt Nam với một quyết tâm phải mang lại tự do dân chủ cho bạn bè, gia đình, đồng bào của họcòn trong vòng lao tù cộng sản. Con số 150 ngàn chữ ký Thỉnh Nguyện Thư nhân quyền vừa rồi đã tạo thêm quyết tâm cho các dân biểu nghị sĩ luôn đấu tranh cho nhân quyền tự do dân chủ tại Việt Nam. Đồng thời nó đánh thức những dân biểu nghị sĩ xưa nay có cảm tình với nhà cầm quyền cộng sản. Vì thế việc bán vũ khí cho cộng sản Việt Nam đã xa vời nói chi đến việc được hân hạnh trở thành một đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ.

Không chỉ riêng tại Hoa Kỳ Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc Châu cũng đang tiến hành vận động nhân quyền cho Việt Nam. Hạn chót để ký thỉnh nguyện thư là vào ngày 17-6-2012. Ngày 21-6-2012 Cộng Đồng sẽtrình số chữ ký có được đến Quốc Hội Liên Bang. Hiện tại số người ký đã lên đến gần 50 ngàn người. Mỗi chữ ký của chúng ta là viên gạch lót đường cho tự do dân chủ tại Việt Nam, nếu bạn đọc chưa ký xin vào www.kienghithu.com để góp một bàn tay.

Bài Học Lịch Sử Cho Tình Hình Hiện Nay

Trong những ngày tháng 8 năm 1945, tại Huế, Sài Gòn và Hà Nội lực lượng của những tổ chức chính trị Quốc Gia mạnh gấp trăm lần lực lượng của Việt Minh Cộng Sản. Tiếc thay chỉ vì thiếu sáng suốt tin rằng Việt Minh đã được Đồng Minh Hoa Kỳ ủng hộ họ đã trao quyền lực cho đảng Cộng sản để đưa đất nước đến hiện trạng.

Đảng Cộng sản hiện đang lâm vào bế tắc. Tiền chi tiêu ra quá nhiều còn tiền họ thu vào thì càng ngày càng ít đi. Họ đang thiếu tiền để nuôi dưỡng một guồng máy cai trị khổng lồ. Vừa qua Bộ Tài Chính phải chính thức loan báo không đủ ngọai tệ để cấp học bổng cho sinh viên du học. Gần đây các báo tố nhau là báo lá cải, vì tiền, chỉ loan các tin “ước át và nóng hổi” nhằm thu hút độc giả. Ngày 9-6-2012, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng lại phê bình báo Nhân Dân là “khô khan” và đề nghị báo này tuyên truyền chính trị một cách “có nghệ thuật”. Phải chăng đây là một dấu hiệu hết tiền để chi cho các cơ quan tuyên truyền chính trị ?

Trong khi đó về chính trị một cao trào bên trong đảng Cộng sản đòi hỏi thóat ly khỏi ảnh hưởng của Tầu cộng mỗi ngày một tăng và đòi hỏi thay đổi thể chế ngấm ngầm nhưng càng ngày càng bùng nổ. Đảng Cộng sản thừa biết “theo Tầu mất nước, theo Mỹ mất đảng” nhưng họ không còn con đường nào khác là phải theo Mỹ.
Cuộc diện chính trị thế giới đã xoay chuyển, Hoa Kỳ đã công khai cho biết thay đổi thể chế là con đường duy nhất chế độ cộng sản Việt Nam phải theo. Những thay đổi dồn dập cho thấy Hoa Kỳ chẳng tốn kém bao nhiêu để phân hóa cộng sản Việt và cộng sản Tàu, cũng như phân hóa nội bộ tầng lớp cầm quyền cộng sản Việt Nam.

Hoa Kỳ đã dùng binh pháp công tâm với vũ khí nhân quyền tự do dân chủ, công lương đánh vào khả năng tài chánh cộng sản và công đồnlà lấy lại Cam Ranh không tốn một viên đạn. Hoa Kỳ biết rõ người nắm thực quyền đảng Cộng sản Nguyễn Tấn Dũng đang đánh một thế cờ là theo Mỹ để cứu đảng.

Ông Dũng cũng như giới chức cầm quyền cộng sản đã chứng kiến cảnh dân chúng các quốc gia Bắc Phi và Trung Đông nổi dậy và giới cầm quyền tại đây bị quần chúng trừng phạt những tội ác do chúng gây ra. Theo Mỹ là giới chức cộng sản chọn con đường hạ cánh an tòan được bảo đảm nhân quyền hay ít nhất là mạng sống của họ và gia đình. Theo Mỹ đồng thời cũng chỗ dựa và là chỗ lưu thân nếu thế cờ không như ý họ thu xếp. Vì thế theo Mỹ cứu đảng viên là thế cờ càng ngày càng được giới chức cộng sản nhất là những giới chức quân đội ủng hộ. Kết quả chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta đã chứng minh điều này.

Biết người biết ta trăm trận trăm thắng. Những ngày sắp tới sẽ còn nhiều biến động chính trị,thậm chí có biến động có thể thay đổi thể chế như đã xảy ra tại Miến Điện hoặc hơn thế nữa.

Bất cứ tình huống nào cũng đòi hỏi những người, những tổ chức đang đấu tranh cho tự do dân chủ phải chủ động và sáng suốt, biết người biết ta thì dân tộc Việt Nam mới có cơ may giành lại quyền làm chủ đất nước, quyền tự do dân chủ.

Bằng ngược lại Việt Nam lại rơi vào những vở tuồng dân chủ từ đạo diễn đến diễn viên là những ngọai nhân Hoa Kỳ như vở tuồng trên Vịnh Cam Ranh. Có khi chính người Hoa Kỳ cũng không muốn ôm đồm vừa dựng tuồng còn phải công khai ra mặt đóng phim.

© Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
15-6-2012

—————————————–
Bài viết do tác giả gửi. VANGANH.INFO biên tập và minh hoạ.
—————————————–


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Về Khối 8406

Như sấm dậy mùa xuân, ngày 8 tháng 4 năm 2006 bản “Tuyên Ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006” đã ghi dấu ngày ra đời một tổ chức chính trị mà ngay lúc dựng cờ đã có 118 sứ giả tiên phong xếp thành đội ngũ chỉnh tề để liền sau đó quy tụ được hằng ngàn Phật tử, tín hữu Công Giáo, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, tín đồ Cao Đài, tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm, tín hữu Tin Lành … Tổ chức này mang tên: Khối 8406. Khối cũng đã quy tụ được nhiều thành viên từ các đảng Chính Trị như đảng Thăng Tiến, đảng Vì Dân, đảng Dân Xã, đảng Dân Chủ Phục Họat, đảng Dân Chủ Nhân Dân, v.v… Nhiều thành viên của Khối là cựu chiến binh QĐNDVN, là đảng viên ĐCSVN …

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, chỉ tính đến ngày 22 tháng 8 năm 2006, số thành viên công khai đã lên đến 1951 thành viên là người Việt trong nước. Ngoài ra, Khối 8406 cũng công bố là đã có 3881 thành viên công khai là người Việt đang sinh sống ở nước ngoài, cùng với 139 chính khách quốc tế bao gồm đại diện các tổ chức, 50 nhân sĩ thuộc Hiến chương 77 Tiệp Khắc và 50 dân biểu, nghị sĩ Hoa Kỳ.

Đánh giá “8406” tôi đã từng phát biểu trên BBC nhân kỷ niệm hai năm thành lập Khối này (ngày 8 tháng 4 năm 2008) như sau: “Từ khi xuất hiện khối 8406 thì tinh thần đương đầu, dám dấn thân cho công cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước Việt Nam, đấu tranh cho tự do tôn giáo tại Việt Nam như khởi sắc thêm lên và người ta đã dám vượt qua nỗi sợ hãi để sẵn sàng đứng chân vào tổ chức chính trị mà đấy là điều hết sức cấm kỵ đối với đảng CSVN và đối với nhà nước Việt Nam” (1).

Sở dĩ “8406” được đông đảo hưởng ứng vì bản “Tuyên Ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006” vừa công bố đã được nhiệt liệt hoan nghênh khi chỉ rõ được vấn nạn đảng trị độc quyền ở Việt Nam ngày nay:

Chính hệ thống quyền lực không hề chấp nhận cạnh tranh và không hề chấp nhận bị thay thế này đã thúc đẩy mạnh mẽ đà thoái hoá, biến chất của toàn bộ hệ thống ấy. Vì chẳng có qui luật và nguyên tắc cạnh tranh công bằng nào trên chính trường, nên sau những kỳ bầu cử toàn Dân không thể chọn được những con người và những lực lượng chính trị xứng đáng nhất. Bộ máy lãnh đạo, quản lý và điều hành do vậy ngày càng hư hỏng, rệu rã từ trung ương xuống cơ sở địa phương. Hậu quả là Việt Nam hôm nay trở thành Quốc gia bị tụt hậu quá xa so với các Nước trong khu vực và thế giới. Quốc nhục này và các quốc nạn khác khó bề tẩy xóa.Vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân chính vì đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Đất nước! Thực tiễn đã xác minh rằng bất kỳ Nước nào đã bị rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản thì đều điêu tàn thê thảm cả. Liên Xô, cái nôi cộng sản, cùng với các Nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác, đã dũng cảm vượt qua chính mình để quay lại tìm đường đi đúng cho Dân tộc họ” (2).

Từ sự bức bách của vấn nạn quốc gia đó, Tuyên ngôn nêu lên mục tiêu đấu tranh:

Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu” (2).

Không chấp nhận “đổi mới từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh” mà đòi hỏi chuyển sang “thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh … trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng” quả đúng là yêu cầu bức thiết và cơ bản đòi hỏi để Việt Nam có thể phát triển nhanh và lành mạnh.

Điều rất hay của “Tuyên Ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006” là trong khi nêu mục tiêu cách mạng khá triệt để thì biện pháp đấu tranh lại không quá gay gắt:

Ý nghĩa của cuộc đấu tranh này là làm cho chính nghĩa thắng phi nghĩa, tiến bộ thắng lạc hậu, các lực lượng dân tộc đang vận dụng đúng quy luật của cuộc sống và xu thế của thời đại thắng những tà lực đang tìm cách đi ngược lại những xu thế và quy luật ấy. Đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đồng hành cùng Dân tộc hay không là tùy ở mức độ đảng ấy có khách quan, công bằng, sáng suốt và khiêm tốn chấp nhận các nguyên tắc bình đẳng của cuộc cạnh tranh lành mạnh hay không, chỉ có thể chế chính trị độc đảng ấy là dứt khoát phải bị chôn táng vĩnh viễn vào quá khứ. Từ đó, Dân tộc sẽ tìm được những con người tốt nhất, những lực lượng chính trị giỏi nhất sau mỗi kỳ bầu cử để lãnh đạo Đất nước. Nguyên tắc “lẽ phải toàn thắng” sẽ được thiết lập và cuộc sống cá nhân sẽ trở nên tốt hơn, xã hội sẽ trở nên nhân bản hơn và Đồng bào sẽ sống với nhau thân thiện hơn ” (2).

Thừa nhận “Đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đồng hành cùng Dân tộc” với điều kiện “đảng ấy có khách quan, công bằng, sáng suốt và khiêm tốn chấp nhận các nguyên tắc bình đẳng của cuộc cạnh tranh lành mạnh … chỉ có thể chế chính trị độc đảng là dứt khoát phải bị chôn táng vĩnh viễn vào quá khứ” là chủ trương đúng đắn và khôn ngoan, vừa thể hiện được tính nhân bản, bản chất dân chủ, vừa tỏ ra biết mình biết người.
Đứng ở đâu đó mà hô xông lên đánh đổ ĐCSVN ngay là phi thực tế, và vô nhân đạo. Khẩu lệnh ấy nhiều khi đẩy anh em vào vòng lao lý hoặc hy sinh mà chưa đóng góp được là bao cho sự nghiệp chung. Vả chăng, như vậy cũng không thể hiện được tinh thần dân chủ. Tại sao lại cứ phải “có mày không tao, có tao không mày”. Người dân chủ chủ trương và chấp nhận đa nguyên kia mà.

Điều này thể hiện tư tưởng của linh mục Nguyễn Văn Lý:

Công bằng là không gây ra bất công cho ai. Nhưng như vậy chưa đủ. Sống tốt với người xung quanh còn cần phải từ hoà: nhân từ và khoan hoà. Nếu phê phán cộng sản là gian ác mà chúng ta thiếu nhân từ thì khi đã có quyền lực chúng ta cũng sẽ gian ác không kém. Nếu phê phán cộng sản là độc tài mà chúng ta thiếu khoan hoà thì khi nắm quyền chúng ta cũng sẽ độc tài như thế hoặc tệ hại hơn” (3).

Sẽ có một số người ham mê bạo lực và chạy theo thành công nông cạn, xuyên tạc rằng đây chỉ là con đường và phương pháp đấu tranh cuội, viển vông, do CS mớm cho, cốt để CS tiếp tục cai trị lâu dài. Chúng ta tỉnh táo không nghe theo lập luận thiếu nền tảng đạo đức đó, quyết tâm đấu tranh cho một Việt Nam thật sự đạo đức, thăng tiến và hòa bình vững bền, chứ không chỉ là bạo lực thay cho bạo lực, gian ác thay cho gian ác, hận thù thay cho hận thù, mê lầm thay cho mê lầm, chìm đắm trong lẩn quẩn. Phải thay chế độ CS bằng một chế độ tốt hơn nhiều lần về mọi mặt, vươn lên xây dựng một chế độ tối ưu” (4).

Cũng là tư tưởng của linh mục Phan Văn Lợi:

Nhưng dẫu gánh chịu ngàn muôn khốn đốn
Ta vẫn không nguyền rủa kẻ gia hình,
Không dùng bạo lực đáp trả cường quyền,
Không nắm đấm đưa lên đòi nợ máu!
” (5)

Theo linh mục Phan Văn Lợi:

Trong 6 năm qua, Khối 8406 đã có:

- 32 kháng thư vạch trần sai lầm và tố cáo tội ác của đảng và nhà cầm quyền CSVN.
- 33 lời kêu gọi và tuyên bố (nhận định) về nhiều vấn đề và sự kiện quan trọng trong đất nước – một chương trình phát thanh hàng tuần, kể từ năm 2007.
- một diễn đàn paltalk mà tới nay đã lên tới 204 buổi.
- một trang blog: http://khoi8406vn.blogspot.com/ và một trang web: http://8406vn.com.
- một bán nguyệt san in trên giấy phát hành chui tại quốc nội, nay đã lên tới số 145. – nhiều hoạt động rải truyền đơn, giăng biểu ngữ ở Hà Nội, Thái Bình, Hải Phòng, Sài Gòn…
- một tủ sách đấu tranh với 33 tập và đã in hàng chục ngàn bản lưu hành trong nước.
- 49 thành viên đã và đang ngồi tù CS với tổng mức án là 215 năm, chưa kể 3 thành viên chưa có án.
- 20 thành viên đã được trao các giải nhân quyền của người Việt Nam và 27 thành viên được trao các giải nhân quyền quốc tế.
- các văn phòng đại diện và ban tư vấn tại Hoa Kỳ, Canada, Úc châu.(6)

Tôi đánh giá rất cao Tuyên bố mới nhất -ra ngày 20-04-2012- về quyền tư hữu ruộng đất nhân vụ án Đoàn Văn Vươn với những lý lẽ đanh thép, xác đáng:

Xét rằng: Việc tước đoạt quyền tư hữu ruộng đất (vốn là một quyền tự bản tính con người, được nhân loại văn minh công nhận qua Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền điều 17) đã bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam pháp chế hóa bằng điều 17-18 của Hiến pháp 1992 và điều 1 của Luật đất đai 1993 qua công thức “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý”. Ghê gớm hơn nữa, bằng điều 1 của Luật đất đai 2003 qua công thức “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai”. Hậu quả là người dân chỉ còn quyền sử dụng, riêng nông dân chỉ còn được giao ruộng trồng lúa trong 20 năm hay giao đất trồng cây lưu niên trong 50 năm. Thế nhưng hạn thời này có khi bị nhà cầm quyền địa phương tùy tiện rút ngắn. Đây là phương cách quan trọng nhất để đảng CS duy trì quyền lực thống trị lâu dài và là nguồn gốc chủ yếu nhất của mọi bất công trong xã hội Việt Nam hiện nay….

Chính vì lẽ đó, Khối 8406 chúng tôi

Đòi Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam phải nghe tiếng nói của nhân dân, của các tôn giáo, của giới trí thức mà sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trả lại cho người dân quyền tư hữu ruộng đất vốn có từ xưa; sửa đổi tận gốc Luật đất đai 2003, hủy bỏ nguyên tắc bất công phi lý lừa đảo: “Đất đai thuộc về toàn dân với nhà nước đại diện sở hữu”, để người dân sở hữu thực sự và trọn vẹn mảnh đất của mình, nhất là vì nhiều xáo trộn và xung đột xã hội sẽ diễn ra khi sắp đến hạn thời 20 năm thuê đất mà Luật đất đai 1993 đã tùy tiện áp đặt (7).

Khối 8406 ra đời, vụt lớn và tồn tại đến ngày nay chủ yếu là nhờ công sức đóng góp của ba người: Đỗ Nam Hải, Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi. Theo cách ví von, có thể nói: Đỗ Nam Hải đã tạo hạt giống, Nguyễn Văn Lý đã gieo hạt và Phan Văn Lợi là người chăm bón cây.

LM. Nguyễn Văn Lý:

Lm. Nguyễn Văn Lý
Sinh ngày 15 tháng 5 năm 1946 tại làng Ba Bình, Vĩnh Chấp, Vĩnh Linh, Quảng Trị. Tháng 4 năm 1974, Tađêô (Thadeus) Nguyễn Văn Lý được Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền truyền chức Linh mục tại Nhà thờ Chính tòa Phủ Cam (Huế). Vốn xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, sau khi được thụ phong, linh mục đã xin gia nhập vào Hội Thừa sai do Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền thành lập để đi hoạt động truyền giáo ở những vùng dân cư nghèo khó. Từ Huế, linh mục Nguyễn Văn Lý được điều động vào phụ trách Cộng đoàn Thừa sai xứ Cộng Hòa, Gò Vấp, Gia Định (14.7.1974 – 22.3.1975), sau đó, được chọn làm Thư ký cho Đức cố Giám mục Philippe Nguyễn Kim Điền.

Tháng 9 năm 1977, vì có liên quan đến việc phổ biến hai bài tham luận của Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền với nội dung lên án chính quyền Việt Nam “chủ trương tiêu diệt tôn giáo”, Linh mục Nguyễn Văn Lý bị bắt và kết án 20 năm tù với tội danh “chống phá cách mạng” và bị giam tại Thừa Phủ (Huế).

Tháng 7 năm 1978 Toà Tổng Giám mục Huế can thiệp với chính quyền tỉnh Thừa Thiên và đưa Linh mục Nguyễn Văn Lý về làm linh mục quản xứ Đốc Sơ, thuộc xã Hương Sơ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Tháng 5 năm 1983, Linh mục lại bị bắt và kết án 10 năm tù và 4 năm quản chế, bị đưa về giam tại Thanh Cẩm (Thanh Hóa) và Ba Sao (Nam Hà).

Tháng 7 năm 1992, Linh mục được trả tự do và cho về cư ngụ tại Tòa Giám mục Huế.

Tháng 11 năm 1994, Linh mục đã công bố “Tuyên ngôn 10 điểm về vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam”.
Ngày 4-12-2000, linh mục Nguyễn Văn Lý cắm xuống ruộng lúa Nguyệt Biều (đã bị Nhà nước tịch thu của giáo hội) 2 bảng tôn có kẻ hàng chữ: “Chúng tôi cần tự do tôn giáo” và tự tay gieo những hạt lúa trên đó.
Ngày 19 tháng 10 năm 2001, toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế lại tuyên án Linh mục Nguyễn Văn Lý 15 năm tù giam, 5 năm quản chế.

Hành động đạp đổ vành móng ngựa bị xem là hung hãn, quá khích. Song, bản chất Nguyễn Văn Lý không phải vậy. Hãy nghe ông khuyên nhủ đồng đội:

Người Chiến sỹ Hòa bình không có hận thù với bất cứ ai. Kiên quyết lên án tội ác, độc đoán, nhưng luôn đầy cảm thông và trắc ẩn đối với nhân viên của bạo quyền. Với các anh hùng dân tộc chính danh và các người lành thánh, NCSHB luôn cảm phục. Còn đối với các đối tượng khác, NCSHB nên luôn biết cảm thông. Ngoài ra NCSHB không cần có thái độ thứ ba nào. Chỉ nguy hại. Chính tâm hồn hoà bình làm tăng sức chiến đấu cho chúng ta, khiến chúng ta trở nên vô địch” (3)

Trong khi mục tiêu chính của chúng ta là vạch rõ những đường lối, chủ trương, chính sách sai lầm của ĐCSVN mà đối tượng là những lãnh đạo chóp bu ngoan cố duy trì những sai lầm đó thì một số anh em lại coi công an là đối tượng chính của mình, thậm chí thường xuyên khiêu khích họ để lập chiến tích. Linh mục Nguyễn Văn Lý tỉnh táo xét định và đưa ra sách lược đúng đắn:

Đến cơ quan CA, NCSHB phải coi đây là cơ hội để chinh phục bạo quyền, không nôn nóng được về, không nôn nóng mong xong việc. CB còn nôn nóng hơn chúng ta và không hứng thú gì khi đàn áp chúng ta cả, chẳng qua cũng chỉ hèn hạ làm theo lệnh trên vì miếng cơm manh áo thôi. Hãy cố gắng kiềm chế để chỉ nghe và hầu như không cần trả lời hoặc kẹt lắm thì cũng chỉ rất ít trả lời và trả lời thật vắn tắt” (3).

Ngày 26 tháng 6 năm 2004, Linh mục Lý được trao Giải Shalom khiếm diện tại Đại học Công giáo Eichstätt-Ingolstadt (Đức).

Tờ The Wall Street Journal, trong một bài xã luận, đã nhắc đến Linh mục Nguyễn Văn Lý như một trong những người xứng đáng được trao Giải Nobel Hòa bình năm 2007 hơn Al Gore.

Nhà văn Trần Phong Vũ đã viết về linh mục Nguyễn Văn Lý như sau:

Anh Lý thân kính, Anh đã trải qua những năm tháng đẹp đẽ nhất, trẻ trung nhất, năng động nhất của đời linh mục không phải trong một xứ đạo yên bình, tha hồ tổ chức xây dựng, nhưng là ở trong tù ngục, với thân xác bất động, sức khỏe hao mòn và tài năng bỏ phế. Nhưng đó chẳng phải là thân phận của cây nến tàn lụi, nhúm men trầm lắng, hạt muối tan hòa để tỏa sáng, làm dậy và ướp mặn sao? Đó chẳng phải là thân phận của những chứng nhân anh hùng, tù giam tử đạo, để trở thành hạt giống mọc lên bao kitô hữu sao?”.

KS. Đỗ Nam Hải:

KS. Đỗ Nam Hải
Công lớn khai sinh ra khối 8406 thuộc về linh mục Nguyễn Văn Lý. Không có “bàn tay của chúa” và không gieo đúng vào môi trường mầu mỡ như là nhiệm mầu thì hạt giống không thể trỗi nhanh và thoắt đã lan thành rừng như đã thấy vào những khoảnh khắc tháng tư năm 2006.

Tuy nhiên, hãy hỏi, ai đã tạo nên hạt giống – Mà là hạt giống tốt kia?
Đỗ Nam Hải. Lúc đó tôi biết chính kỹ sư Đỗ Nam Hải là người đã thảo ra Bản Tuyên ngôn cho 8406 mà chất lượng của nó đã được điểm qua trên đây.

Thành tích đó không dễ gì có được. Không phải ai cũng làm được như thế. Nó phải được khởi nguồn, được chuẩn bị từ trước; từ lúc chàng thanh niên này biết xúc động chân thành trước cái cảnh người trên tầu và người dưới chân tầu này:

Tôi đã từng đứng lặng hàng giờ trên bến Cảng Sài Gòn, khi con tầu thủy mang tên Thống Nhất cập bờ. Ðó là những chuyến tầu đầu tiên đưa hành khách từ miền Bắc vào miền Nam sau năm 1975. Có rất nhiều người đi trên tầu là những cán bộ miền Nam tập kết nay được trở về quê hương. Dưới chân tầu, những người thân ruột thịt đang nôn nao đón chờ họ” (9).

Và rồi Đỗ Nam Hải đã từng ngậm ngùi tự kiểm điểm:

Lúc ấy, với tuổi học sinh vô tư, tôi đã không mấy lưu tâm đến việc có biết bao bạn bè cùng trang lứa với mình đang có cha, anh họ phải đi học tập cải tạo. Lại càng không hay biết gì về chuyện có nhiều ngàn thường dân vô tội đã bị chết oan khiên, tức tưởi tại Huế – xuân 68; cùng với biết bao nỗi đau thương khác nữa mà nhân dân miền Nam đã phải gánh chịu…. Sau này vào ký túc xá, chúng tôi cùng ăn, ở, học hành chung, cùng chia xẻ với nhau từng gói mì tôm, từng đồng bạc cuối cùng và những chuyện vui – buồn khác, tôi mới hiểu thêm về những nỗi đau của các bạn mình. Ðúng là sự vô tư nhiều khi lại đồng nghĩa với sự vô tâm đến đáng trách. Những sự khác biệt ban đầu bởi nhiều yếu tố cũng đã từng ngăn cách, nhưng thời gian và nhất là tấm lòng chân thành đã giúp chúng tôi ngày càng xích lại gần nhau hơn. Rất nhiều người đã cảm mến, rồi thương yêu nhau rồi nên vợ nên chồng, đấy là thực tế. Nó đã, đang và sẽ vẫn tiếp tục diễn ra theo đúng quy luật của cuộc sống ” (9).

Nhờ cùng ăn, cùng ở, cùng học hành với con cái “ngụy quân, ngụy quyền” ngay sau ngày “miền Nam hoàn toàn giải phóng” mà chàng trai sinh trưởng trên đất Bắc sớm nhận thức ra cái điều “sâu cay” này:

Theo tôi, xét về cơ bản thì trong nội bộ dân tộc ta đã tự hàn gắn được cho nhau những vết thương của quá khứ. Thời gian như một phép mầu đã giúp cho tình tự dân tộc và tính nhân bản của người Việt Nam ngày càng được phục hồi và chiến thắng tất cả. Nhưng một điều cũng rất hợp với quy luật là: khi những vết thương kia càng được hàn gắn nhanh bao nhiêu thì lại càng bộc lộ sâu sắc hơn mâu thuẫn cơ bản của dân tộc ta hôm nay bấy nhiêu – Ðó là mâu thuẫn giữa đại bộ phận dân tộc, không phân biệt hoàn cảnh xuất thân, tôn giáo, sắc tộc, vùng, miền, quốc gia định cư, v.v… với một thiểu số hiện đang cố duy trì thể chế chính trị độc đảng ở Việt Nam . Và mâu thuẫn này là đối kháng không có cơ sở dung hòa; một khi mà nguyên nhân sinh ra nó vẫn còn nguyên đó” (9).

Đỗ Nam Hải có dịp vào Sài Gòn trước tôi khoảng 2 năm. Mãi đến 1977, được mời tham dự Hội nghị Khoa học Toàn quốc đầu tiên tổ chức tại Sài Gòn tôi mới có dịp được đến đấy.

Điều sau đây thì, cho đến bây giờ đã nhiều người vỡ nhẽ ra:

Về mặt hình thức thì việc nước Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt Nam tham chiến, rồi sau đó mở rộng chiến tranh phá hoại ra Miền Bắc bằng cả không quân và hải quân là một cuộc chiến tranh xâm lược. Nhưng mục đích thực sự của Mỹ là muốn ngăn chặn phong trào cộng sản tràn xuống toàn vùng Ðông Nam Á. Ðấy không phải là một cuộc chiến tranh xâm lược nhằm tranh giành thuộc địa của người Pháp. Vì nếu là như vậy, nước Mỹ đã có những động thái khác rất dễ nhận ra” (9).

Nhưng điều “nhận thức lại” này thì không phải ai cũng sâu sắc được như ĐNH:

Nước Mỹ cùng các đồng minh của Mỹ đã nhảy vào can thiệp ở Việt Nam rồi bị sa lầy ở đây. Cuối cùng đã phải rút quân theo Hiệp Ðịnh Paris – Tháng 1.1973 – Đó là thực tế. Nếu xét trên khía cạnh này thì nước Mỹ đã bị thất bại nặng nề. Nhưng nếu xét ở bình diện lớn hơn, liên quan tới mục tiêu ngăn chặn phong trào cộng sản trên phạm vi toàn cầu thì họ đã đạt được mục tiêu chiến lược của mình. Cụ thể là: ở Ðông Nam Á, phong trào cộng sản chỉ tràn được xuống vùng Ðông Dương rồi bị mất đà không thể đi tiếp. Các vùng khác trên thế giới tình hình cũng là như vậy và cuối cùng, cả thế giới đã chứng kiến sự sụp đổ của toàn hệ thống XHCN ” (9).

Và đây nữa:

Chính sợi dây ràng buộc “cùng ý thức hệ” hiện nay mới là nguy hiểm. Nó làm cho thế giới và các nước trong khu vực nghi ngại chúng ta. Sợi dây ấy có thể đứt bất cứ lúc nào như nó đã từng bị đứt và bên chịu thiệt thòi vẫn là dân tộc Việt Nam. Một khi đã biết được dã tâm muốn “đánh tráo nỏ thần” rồi mà vẫn cho phép họ được “ở rể”, thì những kẻ có tội với dân tộc chính là những “An Dương Vương” thời nay” (10).

Chính tôi, cho đến những năm gần đây, tôi mới chỉ nhận thức được rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ là vô nghĩa; nhưng ĐNH còn thấu đáo hơn khi nhìn nhận cuộc Cách mạng Tháng Tám:

Dù cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945 có diễn ra hay không, thành công hay thất bại thì người Pháp cũng sẽ vẫn quay trở lại Ðông Dương. Nhưng sau đó, như trên đã trình bày họ cũng buộc phải trao trả lại nền độc lập cho các nước này vào khoảng giai đoạn từ 1945 đến những năm 1950. Tình hình chung trên thế giới và hầu hết các nước trong khu vực Ðông Nam Á đều đã chứng minh như vậy. Tôi cũng vẫn muốn một lần nữa nhấn mạnh rằng: đấy là thực tiễn lịch sử mang tính phổ quát, chứ không hề có ý định làm cái anh chàng “Khổng Minh sau trận đánh”, lại càng không có ý phủ nhận ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách Mạng Tháng 8. Bởi vì đây là chiến công chung của dân tộc ta ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam và mọi người Việt Nam đều có quyền tự hào về nó” (11).

Ngoài cái công “tạo nên hạt giống”, xét công tích của ĐNH, trong một cuộc trả lời phỏng vấn của Đài BBC cách đây 4 năm, tôi đã từng nói:

Cha Nguyễn văn Lý cùng với những người sáng lập ra đảng Thăng Tiến bị bắt và kể cả người phát ngôn nhân của đảng Thăng Tiến là nữ luật sư Lê thị Công Nhân mà bây giờ được xem như một anh thư nữ lưu của Việt Nam, sau đó phong trào có lúc tưởng như là lắng xuống nhưng rất ngắn sau đó thì những người chiến sĩ trong ban lãnh đạo vẫn còn ở lại như là kỷ sư Đỗ Nam Hải, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa cho đến giờ họ vẫn hết sức can trường, vượt qua mọi thử thách, mọi vùi giập cũng như mọi sự sách nhiễu và họ tiếp tục công cuộc của họ” (1)

LM. Phan Văn Lợi:

LM. Phan Văn Lợi
Trước ngày thành lập khối 8406 ít lâu tôi đã có dịp hội kiến cùng Cha Lý và cha Lợi tại phòng làm việc của Tađêô Nguyễn Văn Lý. Rồi có một buổi tối, tôi cũng đã cùng Đỗ Nam Hải, Nguyễn Chính Kết chụm đầu bàn thảo cùng hai Cha trong khuôn viên nhà thờ Phủ Cam. Bị xua đuổi nhiều lần, di chuyển hết từ bãi cỏ, đến tường rào, rồi ra đường, nhưng cuối cùng, câu chuyện của chúng tôi cũng đã gần như trọn vẹn. Chia tay, Cha Lợi tặng tôi tấm phù điêu mang hình cầu Tràng Tiền mà tôi vẫn còn lưu niệm đến bây giờ.

Tiếp súc linh mục Phan Văn Lợi tôi cảm nhận phong thái nho nhã nhỏ nhẹ như một sỹ phu Bắc Hà, vậy mà không ngờ đấy lại là tác giả khúc tráng ca này:

Con sẽ làm chứng nhân bằng cái chết,
Nếu đó là ân huệ Chúa thương ban,
Dẫu thân con thật bất xứng vô vàn,
Một cái chết trong cô đơn sầu tủi,
Một cái chết trong âm thầm, tăm tối,
Để vinh quang, quyền lực Chúa bừng lên,
Để người người không thẹn với tổ tiên,
Và bạo lực lui dần vào bóng tối
” (5).

Không ngờ ông đã từng 7 năm sống trong lao lý:

Thánh lễ giờ: chấp nhận kiếp tù nhân.
Lễ phục con: là chiếc áo lam xanh,

Bàn thờ con: là nhà lao mang danh cải tạo!

Bánh con dâng: là đôi thùng trĩu nặng,
Là gánh đất đầy, là lửa nắng chan chan!
Là gió mùa đông xuyên thủng áo ngự hàn,
Là cảnh sống nhiều nhỏ nhen phức tạp.
Rượu con dâng: là mồ hôi nhỏ giọt,
Là sự hao mòn, mệt mỏi xác thân,
Là cùn mằn trí tuệ lẫn tâm can,
Nỗi nhung nhớ, bao tháng ngày no đói!” (5)

Và, cũng như Hòa thượng Thích Quảng Độ, ông đã trở thành thi nhân trong tù:

Cùng ngắm trăng thanh qua cửa cấm, cọc rào!
Đồng dạo bước trên rẫy khoai, đồi sắn.
Dâng lễ với Chúa lúc một hai giờ sáng,
Trên chiếc chiếu tù chỉ rộng bảy mươi phân!
Chia sẻ thân phận của Ngài nơi các tù nhân…
Sao quên được những giây phút hồng ân đầy lưu luyến!
” (5)

Để bảo vệ sự toàn vẹn của đội ngũ, Linh mục còn tỏ ra rất sáng suốt khi khuyến cáo điều này:

Khi mở cuộc thẩm cung một người mà họ muốn kết tội, những cán bộ công an cộng sản thường đưa ra những bằng chứng ngụy tạo gán vào miệng những nhân vật không có thực, nhưng với xảo thuật nửa úp nửa mở họ khiến cho người bị thẩm cung liên tưởng tới người này người nọ trong số những bằng hữu thân nhân của mình.

Làm như vậy, những người cộng sản hy vọng với một mũi tên phóng ra, họ có thể hạ hai con chim cùng một lúc. Nói rõ hơn, nếu nạn nhân thiếu lập trường hoặc yếu bóng vía tin theo lời bịa đặt hù dọa của những công an phụ trách việc thẩm cung, họ sẽ nắm được bằng chứng để một mặt kết tội người bị thẩm cung, mặt khác tạo được sự nghi kỵ dẫn tới bất hòa, chia rẽ giữa những người họ muốn truy diệt” (5).

Tiếc rằng, do không sáng suốt, không cảnh giác, một số anh em chúng ta đã mắc mưu công an và trở nên quá chừng tệ hại. Tôi từng chứng nghiệm điều này:

Một lần, cụ Hoàng Minh Chính đưa tôi xem một bức thư viết tay dài 4 trang của một người xưng là đại tá ở phường Cống Vỵ Hà Nội. Gần hết bức thư hoan hô Phong trào đấu tranh Dân chủ và ca ngợi cụ Hoàng Minh Chính. Chỉ mấy dòng cuối kể rằng ông Nguyễn Thanh Giang thường đến tán phát tài liệu và nói (xấu) cụ điều này, điều này … Tôi bảo tôi chưa hề đến chỗ ấy. Quả nhiên cụ HMC gọi điện thoại đến, đầu dây kia trả lời không biết tên ai như vậy; viết thư cũng không được phúc đáp. Những ngày sau đó tôi đã xả thân tích cực góp phần giải quyết để HMC được đi chữa bệnh tại Hoa Kỳ. Vậy mà, sau đó thế lực chống dân chủ hóa vẫn lợi dụng được một hội viên trong Hội Nhà Văn Việt Nam (từng tham gia trong Phong trào Dân chủ) tiếp tục bịa đặt, xuyên tạc, vu khống để không chỉ tạo cho được mối bất hòa giữa HMC và tôi mà còn tạo được cả một “chiến tuyến các nhà dân chủ” bôi bẩn, hạ nhục, cô lập tôi. Trong số đó, chỉ một trường hợp có thể giải thích do đố kỵ, ganh ghét và do bản chất ác độc của ông này đã từng thể hiện đối với vợ con, bạn bè của ông ta trước đó; hầu hết số còn lại, cho đến bây giờ, tôi vẫn không thể hiểu nào hiểu nổi vì sao, ngoài cái nguyên nhân ngày một lộ rõ: do thủ đoạn của các thế lực chống dân chủ hóa quá giỏi, quá nham hiểm, quá ty tiện, quá đểu giả. Trớ trêu đến mức, nhiều anh em không những từng được tôi yêu quý, hỗ trợ (ngầm và trực tiếp) tận tụy như là ân nhân, bỗng nhiên bị họ xem là kẻ thù!

Gần hai chục năm chịu bao gian lao khổ ải từ khi dấn thân đấu tranh cho công cuộc dân chủ hóa, nay đã tuồng như hơi tàn lực kiệt mà nỗi cay đắng ngậm ngùi lớn hơn mọi nỗi lại là những ngón đòn thù của chính đồng đội “ban” cho mình!

Giá như linh mục Phan Văn Lợi có điều kiện rao giảng được rộng rãi điều trên đây để anh em biết mà cảnh giác.

Trong tác phẩm Hiện Tượng Nguyệt Biều, giáo sư Đỗ Mạnh Tri viết: “Cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ sau Nguyễn Văn Lý không thể như trước Nguyễn Văn Lý nữa”. Và khuôn mặt tiếp nối lý tưởng của linh mục Tađêô không ai xứng đáng hơn linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, người mục tử được tù nhân lương tâm danh tiếng là đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đặt tay truyền chức chui vào một ngày mưa gió tại nhà thờ Giang Xá, giáo phận Sơn Tây cách đây gần ba thập niên.

Phải chăng Phêrô Phan Văn Lợi chính là cháu nhà chí sỹ Phan Bội Châu.

Rút trong cuốn “ĐÊM DÀY LẤP LÁNH”

© Nguyễn Thanh Giang
Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Mobi: 0984 724 165
—————————————–
Bài viết do tác giả gửi. VANGANH.INFO biên tập và minh hoạ.
—————————————–
Ghi chú:
1 – Thư viện www.nguyenthanhgiang.com – Mục “Trả lời phỏng vấn”
2 – Khối 8406 – Tuyên Ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006
3 – Nguyễn Văn Lý – Phác thảo chân dung người chiến sĩ hoà bình Việt Nam
4 – Nguyễn Văn Lý – Di chúc số Một
5 – Trần Phong Vũ – Phan văn Lợi – Người là ai?
6 – Phan Văn Lợi – Thư gửi ông Lê Diễn Đức ngày 22 -4 – 2012
7 – Khối 8406 – Tuyên bố về quyền tư hữu ruộng đất tại Việt Nam nhân vụ án Đoàn Văn Vươn 20-04-2012
8 – Nguyễn Lý Tưởng – Đôi nét về cuộc đời tranh đấu của linh mục Nguyễn Văn Lý
9 – Đỗ Nam Hải – Viết tiếp về nhận thức lại
10 – Đỗ Nam Hải – Việt Nam, đất nước tôi
11 – Đỗ Nam Hải – Suy nghĩ về nhận thức lại


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Bài học Hòa Bình

Cái nghèo kỷ lục, nghèo không ngóc đầu lên nổi và tình trạng thất nghiệp, không có việc làm đang là một trong những vấn đề xã hội bức xúc nhất ở nông thôn Việt Nam.

10 năm trước, ngày 6-12-2002, Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của QH, Đại biểu QH Bùi Thị Bình nói về “bài học Hòa Bình” như là một điển hình cho tình trạng “mang con bỏ chợ”: “Công trình hoàn thành cả (mấy) chục năm nay mà hậu quả xã hội vẫn còn đeo đẳng”. Người phụ nữ dân tộc Mường này hẳn đã rất đau lòng khi nói ra trước Quốc hội câu truyền miệng của người Hòa Bình “Chạy vì nước nhưng không có nước, chạy vì điện mà không có điện”.

10 năm sau, ngày 13-6-2012, “bài học Hòa Bình” một lần nữa lại được nhắc lại khi Đại biểu QH Nguyễn Thái Học (Phú Yên) công bố tỷ lệ hộ nghèo ở khu tái định cư thủy điện Hòa Bình. 40 năm kể từ khi hòn đá đầu tiên được ném xuống Sông Đà, tỷ lệ hộ nghèo không giảm mà đang tăng, từ 34% năm 2007, lên đến 49%, chưa tính đến 30% hộ cận nghèo. Đó là tình trạng mà Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình Bùi Văn Tỉnh năm ngoái từng thừa nhận: 94% hộ khu TĐC làm nông nghiệp nhưng đất sản xuất ít nên hàng năm người dân vẫn phải vay tiền ngân hàng để mua lương thực. Do: “Không có quy hoạch khu tái định cư”, “Di dân theo kiểu chuyển vén” (ở tạm, chạy theo) và “Không ổn định cuộc sống cho bà con”.

Vấn đề không chỉ là Hòa Bình, khi ở Phú Yên nơi có nhiều công trình thủy điện, tỷ lệ hộ nghèo trên 60%, có xã trên 80%. Hay điển hình là khu tái định cư thủy điện Bản Vẽ với tỷ lệ hộ nghèo đạt đỉnh 89,58%.

Vấn đề càng không phải chỉ là tái định cư thủy điện. Trong 5 năm qua, thống kê ở 20 tỉnh, thành phố đã có 298.093 lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, nhưng chỉ có 177.894 lao động có việc làm. Theo Bộ NN&PTNT việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã tác động đến đời sống của trên 627.000 gia đình, 95.000 lao động, 2,5 triệu nhân khẩu nông nghiệp. Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất ở có 1,5 lao động không có việc làm, mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc làm phải chuyển đổi nghề nghiệp.

Cái nghèo kỷ lục, nghèo không ngóc đầu lên nổi và tình trạng thất nghiệp, không có việc làm đang là một trong những vấn đề xã hội bức xúc nhất ở nông thôn Việt Nam.

Đây là hậu quả trực tiếp khi “Chúng ta” đã lấy đi một diện tích đất rất lớn, tước đi cái “cần câu cơm” của nông dân, khiến quy hoạch sử dụng đất tại các địa phương bị phá vỡ, người nông dân phải nhường đất đai, ruộng vườn, nhà cửa, di dời đến nơi tha phương cầu thực, nhưng đời sống ngày một khó khăn do thiếu đất sản xuất và những bất cập trong công tác đền bù, hỗ trợ tái định cư.

Báo cáo giám sát của Ủy ban thường vụ QH đưa ra một thực tế gây bức xúc. Đó là chênh lệch quá lớn giữa giá bồi thường khi thu hồi đất và giá bán nhà đầu tư bán trên thị trường. Một ví dụ là trong khi đền bù cho dân với giá từ 4.000 đến 13.500 đồng/m2, thì nhà đầu tư sau khi chuyển đổi đã bán với giá từ 30 – 50 triệu đồng/m2. “Một ngàn lần chênh lệch” có vẻ là lý do thuyết phục nhất cho tình trạng 70% khiếu tố là về đất đai.

Nhưng sau khi thu hồi của dân, đất đai đã được sử dụng thế nào?

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy cả nước có 267 KCN với tổng diện tích 72.000ha và 650 cụm công nghiệp tốn 28.000ha đất. Tuy nhiên, có tới hơn 50% diện tích đến giờ vẫn bỏ hoang. Thêm vào đó là tình trạng 365.000ha đất bỏ hoang hóa, cấp sai đối tượng, chuyển nhượng trái pháp luật, sử dụng sai mục đích và vô số các dự án bị “treo” xuyên thế kỷ của 10.796 tổ chức, cá nhân trên toàn quốc.

Thưa các vị đại biểu QH, kể từ hôm 6-12-2002 , khi “bài học Hòa Bình” được phát biểu một cách cay đắng, như một tiếng kèn báo động trước QH, các vị đã làm gì thêm để giúp người Hòa Bình giảm nghèo?

Thưa “Chúng ta”, đã gần 40 năm qua, chúng ta đã làm gì? Để giúp những người dân Hòa Bình nói riêng và nông dân mất đất nói riêng không rơi vào đói nghèo.

Tại phiên chất vấn về đất đai, Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (Tiền Giang) đã đặt một câu hỏi “chính xác đến từng centimet”: 70% đơn thư khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai. Tại sao kết quả giải quyết của ta đạt được rất cao, trên 90%, mà người dân vẫn còn khiếu nại nhiều? liệu các giải pháp ta đưa ra như thế có vấn đề không?

Chỉ tiếc là câu hỏi “giải pháp có vấn đề” đã không được trả lời. Vì thế, có thể 10 năm sau, “bài học Hòa Bình” sẽ vẫn còn được nhắc lại, chỉ có điều, sẽ ở trên diện rộng hơn rất nhiều.

© Đào Tuấn
Theo blog Đào Tuấn


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Sứ Mạng Của Hai Người Phụ Nữ - Nạn Buôn Người và Số Phận Người Tị Nạn tại Thái Lan

Hai người có hai số phận, hai tính cách, hai gia thế và hai hoàn cảnh sống khác nhau. Một người là luật sư tốt nghiệp tại Hoa Kỳ thông thạo song ngữ Anh-Việt, một người vừa đang đi học ESL vừa đi làm nhiều công việc khác nhau, để trang trải cuộc sống mới nơi xứ sở tự do mới gần 2 năm.
Luật Sư An Phong
Họ đều là hai người phụ nữ có vóc hình nhỏ bé, mới ngoài ba mươi, khuôn mặt khả ái, trái tim mạnh mẽ và tấm lòng thiết tha với sứ mạng mà họ đang dấn thân. Họ quyết tâm phổ biến đến đồng hương Việt Nam để mọi người biết đến nhiều hơn về nạn buôn người, buôn lao động từ Việt Nam, về số phận của những người Việt tị nạn đang chờ đợi trong vô vọng tại Thái Lan xin quy chế tị nạn để đến được đất nước tự do làm lại cuộc đời.

Luật Sư An Phong (trái) - Cô Vũ Phương-Anh (phải) - ảnh do người được phỏng vấn cung cấp.

Qua câu chuyện với hai người phụ nữ này, người viết càng cảm phục hơn những trọng trách mà cả hai đang gánh vác trên đôi vai bé nhỏ của mình. Tên của cả hai đã trở nên khá nổi tiếng với đồng hương Việt Nam qua nhiều chương trình đã phổ biến trên các cơ quan truyền thông tại hải ngoại.

Người thứ nhất là nữ Luật Sư An Phong, thuộc BPSOS, viết tắt của Boat People SOS, một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận có tên tiếng Việt là Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển của những người Mỹ gốc Việt, trụ sở chính tại Falls Church, Virginia, do Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng làm chủ tịch, kiêm giám đốc điều hành. Tổ chức này là một trong bốn thành viên của Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới ở Châu Á (CAMSA).

Người thứ hai là cô Vũ Phương Anh, vốn có mẹ là người sắc tộc Hmong. Cô là nạn nhân của vụ buôn lao động ở Jordan vào tháng 2 năm 2008, khi cô và 175 nữ công nhân Việt Nam khác đình công sau 10 ngày làm việc trong quy chế lao động khổ sai từ 7 giờ 30 sáng tới 12 giờ đêm và chỉ được lãnh có 10 Mỹ kim.
Cô Vũ Phương-Anh
Tất cả đã đồng lòng phản đối sự bóc lột và ngược đãi của W&D Apparel, một hãng may do người Đài Loan làm chủ. Hãng này chuyên cung cấp đồng phục cho hai đại công ty ở Hoa Kỳ. Tổng giám đốc hãng W&D Apparel đã huy động nhân viên bảo vệ và cảnh sát Jordan đến hành hung các chị em phụ nữ này một cách thô bạo. Năm nữ công nhân bị thương nặng, bị hôn mê và nằm liệt giường sau đó. Cô Tuyết, một cô thợ may trong nhóm đã gọi về cho người chị là một ký giả báo Tuổi Trẻ ở Hà Nội loan tin trên báo. TS. Nguyễn Đình Thắng, đại diện cho BPSOS và là thành viên của CAMSA, đã đọc được tin này và tìm cách liên lạc với những người thợ may ở Jordan, rồi gửi tặng họ 3.000 Mỹ kim, sau đó thực hiện việc giải cứu cho nạn nhân và lên tiếng trước công luận. Cô Phương Anh được xem là người đứng đầu trong số 11 người bị tình nghi là lãnh đạo cuộc đình công khi phái đoàn chính phủ liên ngành ở Việt Nam sang giải quyết vụ này. Trên chuyến bay hồi hương, cô Phương Anh đươc BPSOS sắp xếp để trốn thoát và xin sự bảo vệ của Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc ở Thái Lan, và phối hợp với luật sư tình nguyện để lập hồ sơ xin tị nạn cho cô Phương Anh. Sau gần ba năm lánh nạn và trú ẩn ở Thái Lan, ngày 7 tháng 7 năm 2010 cô đã đến định cư tại Hoa Kỳ sau khi được Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc và chính phủ Hoa Kỳ thừa nhận tư cách ti nạn.

LS. An Phong và cô Vũ Phương Anh cho biết, vào lúc 3 giờ chiều Chủ Nhật, 3-6-2012, tại hội trường Lê Đình Điểu ở cuối đường Moran, sẽ có một buổi gặp gỡ đồng hương. LS. An Phong sẽ trình bày về người Việt tị nạn ở Thái Lan và cô Vũ Phương Anh sẽ nói về nạn buôn người, buôn lao động từ Việt Nam bằng chính kinh nghiệm đau đớn của bản thân cô.

LS. An Phong vừa mới trở về lại Hoa Kỳ được 2 tuần sau thời gian cô ở Thái Lan 9 tháng hỗ trợ người Việt tị nạn về mặt pháp lý, giúp họ có cơ hội đi phỏng vấn với Cao Ủy Tị Nạn và xin quy chế tị nạn để được định cư tại Hoa Kỳ, hoặc giúp những người bị Cao Ủy Tị Nạn từ chối, làm lại hồ sơ để xin phỏng vấn.

Cô chia sẻ niềm vui với phóng viên Viễn Đông về việc BPSOS đã đưa được gia đình của một giáo dân Cồn Dầu thoát khỏi đời sống tị nạn tại Thái Lan đến thành phố Raleigh, North Carolina (Hoa Kỳ), để ổn định cuộc sống tự do. Theo LS. An Phong, hiện nay có khoảng 900 người tị nạn Việt Nam đang trốn tại Bangkok, trong đó có một số người Khmer Krom, 80 người trong nhóm Cồn Dầu, một số người từng sống tại trại tị nạn Sikew ở Thái Lan, vài người từng là nạn nhân buôn người, những người đấu tranh dân chủ, và gần 300 người H'mong, 100 người từ vùng cao nguyên, v.v.. Họ không được bảo vệ, lúc nào cũng có thể bị cảnh sát Thái bắt bỏ tù. Họ không được đi làm, con cái không được đi học.

LS. An Phong cho biết: “Nhiều gia đình gặp gỡ chúng tôi thiết tha mong xin được quy chế tị nạn (hiện nay để xin quy chế tị nạn rất khó khăn) để có cơ hội đi định cư và con cái có cơ hội học hành”. Từng là một thuyền nhân theo gia đình vượt biển đến trại tị nạn ở Malaysia năm 1989, bị kẹt lại lại đây trong 3 năm rưỡi, trước khi định cư Hoa Kỳ, trong ký ức của cô bé 9 tuổi An Phong lúc bấy giờ là nỗi tuyệt vọng trên gương mặt của bố mẹ khi bị Cao Ủy Tị Nạn đánh rớt trong lần phỏng vấn. Giờ đây, bản thân cô nhìn thấy những người Việt tị nạn ở Thái Lan có cảnh ngộ khó khăn hơn gia đình mình trước đây, giúp cô thêm kiên trì đeo đuổi công việc cô đang phụng sự.

Bên cạnh việc giúp đỡ pháp lý cho người Việt tị nạn tại Thái Lan, LS. An Phong còn quan tâm đến công tác phòng và chống nạn buôn người từ Việt Nam. Đây là một vấn nạn lớn mà quốc tế đang gia tăng nỗ lực để bài trừ, và cũng là mối ưu tư lớn nhất của cô vì ngay tại Việt Nam nhiều người vẫn không biết đến. Vấn nạn này đang diễn ra “dưới nhiều hình thức phức tạp, trong đó, hành động đem con bỏ chợ qua chương trình xuất khẩu lao động của nhà nước CSVN, đã tiếp tay với tệ nạn buôn người”.

Cô nói: “Nếu giả sử là mình, mình biết ra nước ngoài làm việc sẽ gặp phải những tệ nạn buôn người, buôn lao động thì mình có đi hay không? Nếu mình trong hoàn cảnh của họ, mình cũng phải đi, vì gánh nặng kinh tế từ gia đình, vì không ai nghĩ bản thân mình sẽ trở thành nạn nhân của nạn buôn người cả. Dẫu thực tế không phải ai đi lao động nước ngoài cũng trở thành nạn nhân buôn người, vẫn có những công ty làm ăn đàng hoàng. Nhưng vẫn có nhiều người bị bóc lột trầm trọng, bị lường gạt hay cưỡng bách vào tình trạng bị bóc lột, họ không thể thoát khỏi cảnh bóc lột vì bị tịch thu giấy tờ, bị đe doạ, bị khống chế, hay bị nợ nần do số tiền cầm cố nhà cửa để vay ngân hàng đóng cho cơ quan môi giới làm thủ tục. Nhiều người phụ nữ còn bị người chủ, quản lý cưỡng hiếp, nhưng khi lên tiếng thì không được giúp đỡ mà còn bị đe dọa, đành phải cắn răng làm việc. Đôi khi chúng tôi cũng giúp họ, nhưng nhiều người không dám lên tiếng tố cáo để chúng tôi lập hồ sơ, vì họ sợ nếu không thành công, thì họ sẽ mất hết tất cả”.

Được biết hiện tại bên Mã Lai có 120 ngàn công nhân lao động Việt Nam, ở Đài Loan có 80 ngàn công nhân. Hai nước này là 2 nước đứng nhất nhì con số người Việt qua lao động, chưa kể những nước như Jordan, Singapore… cũng có người Việt Nam đi bán sức lao động của mình.

LS. An Phong nói thêm: “Điều đau lòng là khi có sự ngược đãi công nhân, đại diện của chính quyền Việt Nam đã không giúp giải cứu người lao động, mà còn đồng tình với cơ quan môi giới lao động, buộc công nhân phải trở lại làm việc, nếu người lao động muốn về lại Việt Nam thì phải nộp phạt…

“Trong thời gian qua, Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới ở Á Châu (CAMSA) đã phổ biến trên trang http://www.camsa-coalition.org/ danh sách các công ty tuyển và xuất khẩu lao động Việt Nam kèm với thông tin về hành vi vi phạm luật pháp, vi phạm hợp đồng, hay toa rập trong vấn đề buôn lao động của từng công ty. Nhưng chính quyền Việt Nam đã không hề điều tra, thì nói gì đến truy tố các công ty này. Các công ty vẫn hoạt động công khai, tiếp tục tuyển lao động mới. Khi họ không bị trừng phạt, thì vẫn còn tiếp tục có nhiều nạn nhân nữa”.

LS. An Phong cho hay: “Chúng tôi đã phổ biến trên mạng lưới toàn cầu những điều cần biết trước khi người lao động quyết định ra nước ngoài làm việc, và những tổ chức có dính đến nạn buôn người để họ tránh, cũng như những thông tin để giúp họ khi trở thành nạn nhân của nạn buôn người… nhưng không biết sự phổ biến tại Việt Nam ra sao. Dù có cơ quan vô vị lợi ở nước ngoài giúp nạn nhân, nhưng khi đã là nạn nhân thì đã quá trễ rồi”.

LS. An Phong nói thêm, theo phúc trình hàng năm của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, thì trong năm 2008 và 2010, Việt Nam bị xếp vào danh sách hạng 2, vì nhà cầm quyền CSVN chưa tuân thủ đầy đủ những tiêu chuẩn tối thiểu, để ngăn chặn việc buôn người ra nước ngoài, làm nô lệ tình dục và cưỡng bức lao động. Nếu họ vẫn tiếp tục không thay đổi, thì họ sẽ bị chế tài. Dù rằng họ đã ra đạo luật chống nạn buôn người, nhưng chưa thấy hoạt động cụ thể gì hết. Cô nói: “Chỉ mong rằng họ thực sự làm việc để chống vấn nạn này, thì mới mong không còn nạn nhân nữa”.

Lòng dũng cảm và niềm tin trong công cuộc đấu tranh chống nạn buôn người của một nạn nhân

Kể về câu chuyện của mình, cô Vũ Phương Anh nói với phóng viên Viễn Đông: “Khi còn sống ở trong nước, Phương Anh cũng như những người dân khác, không biết gì nhiều về những sai trái ở Việt Nam. Lúc đó nhà Phương Anh ở Lào Cai, không có internet để tìm hiểu, khi biết có chuyến đi lao động xuất khẩu với mức lương hứa hẹn, 300 Mỹ kim/tháng. Phương Anh đã được hướng dẫn cầm cố sổ đỏ (bằng khoáng đất) để vay 2.000 Mỹ kim nạp vào làm thủ tục xuất khẩu.

“Khi đến Jordan thì mọi người bị thu giữ tất cả giấy tờ tùy thân, phải làm việc 16 giờ/ngày và lãnh tiền 1 Mỹ kim/ngày. Trước sự lường gạt đó, Phương Anh cùng những công nhân khác cầu cứu với đại diện công ty và Bộ Lao Động-Thương Binh-Xã Hội nhưng vô vọng. Khi phái đoàn đại diện cho chính phủ Việt Nam qua giải quyết sự việc, mới biết họ tàn ác như thế nào. Trong thời gian tị nạn ở Thái Lan, Phương Anh càng biết rõ hơn chính phủ Việt Nam ra sao, khi họ liên tục hăm dọa bản thân Phương Anh và mẹ của Phương Anh ở Việt Nam. Sau khi qua định cư Hoa Kỳ, Phương Anh càng hiểu được nhiều điều về chính phủ cộng sản Việt Nam”.

Cô nghẹn ngào nói: “Hiện nay những người thuộc chính phủ Việt Nam vẫn không buông tha cho gia đình Phương Anh và bản thân Phương Anh. Tại Việt Nam, họ vẫn tiếp tục hành hạ mẹ của Phương Anh, trong khi mẹ của Phương Anh vốn là người rất yếu đuối, bệnh tật. Đỉnh điểm hôm vừa rồi là 23 tháng 3, người ta đã dàn dựng và đâm mẹ của Phương Anh vết thương chí mạng. Mẹ phải nằm bệnh viện tại Hà Nội hơn 2 tháng rồi, vẫn chưa về lại nhà. Ở bên này, Phương Anh nhiều lần bị họ dàn cảnh đụng xe. Nếu đụng xe một cách bình thường thì Phương Anh không nói. Đằng này cứ đụng rồi bỏ chạy, như trước ngày 24-1-2012, khi Phương Anh ra trước Quốc Hội Hoa Kỳ để điều trần về vấn nạn buôn người, Phương Anh đã bị gọi điện khủng bố tinh thần. Bốn ngày sau khi trở về, mẹ Phương Anh bên Việt Nam cũng bị bắt với một lý do vô cớ là nhà mẹ có chứa thuốc phiện. Sau đó, họ cũng thả mẹ Phương Anh ra”.

Cô nói tiếp: “Khó mà kể hết những việc bỉ ổi mà chính quyền trong nước hành xử, họ cho Phương Anh là thành phần theo bọn phản động. Trong thực tế mọi người đều hiểu Phương Anh là một nạn nhân đi xuất khẩu lao động thôi. Chứ không theo thành phần phản động nào cả. Cũng may nhờ có ơn trên và cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, và một điều không thể quên được là công của TS. Nguyễn Đình Thắng cùng với CAMSA và BPSOS và các anh chị làm việc tại đây giúp đỡ Phương Anh. Nếu chỉ có 2 tổ chức này mà không có cộng đồng chung quanh hỗ trợ, thì Phương Anh cũng không thể nào vượt qua được suốt thời gian gần 3 năm tị nạn ở Thái Lan. Phương Anh luôn ghi ơn”.

Cô nói, chính vì vậy khi qua đến Hoa Kỳ, cô không cho phép mình giờ phút nào nghỉ ngơi, vừa đi học, rồi đi làm để có tiền gửi về mỗi tháng giúp mẹ và nuôi 2 con nhỏ của Ngọc (người bạn công nhân đã bị chết tại Jordan) và gia đình của Luyến (người bạn công nhân tại Jordan khi về lại Việt Nam nộp đơn kiện, đã bị tai nạn xe và bị chấn thương sọ não), cô còn là mạnh thường quân đóng góp cho BPSOS có kinh phí giúp đỡ những nạn nhân khác. Không chỉ thế, Phương Anh còn tham gia các diễn đàn, những buổi nói chuyện để lên tiếng về nạn buôn người. Cô nói những lúc đó, cô luôn luôn nghĩ đến mẹ sẽ bị ảnh hưởng. Nhưng nếu sợ mà im lặng, thì sẽ biết bao người mẹ khác có con gặp hoàn cảnh như cô. Cô cũng nói rằng cô thấy mình rất may mắn đã được sang bên này, trong khi đó, có rất nhiều người cần đến tiếng nói của cô. Vì cô nghĩ đến những người bạn đã chết như Ngọc. Nghĩ đến những người phụ nữ đi làm nước ngoài nói chung bất hạnh hơn mình.

Từng là người tị nạn tại Thái Lan, cô cho biết cô lên tiếng về nỗi khổ của người tị nạn bằng kinh nghiệm đã trải qua ước mong được cộng đồng chung tay cứu vớt những người tị nạn này, vì nếu không có sự giúp đỡ của cộng đồng, những người đó chỉ còn con đường chết mà thôi.

Hiện nay ước mơ của Phương Anh là mong Việt Nam thật sự thay đổi, để người dân có cuộc sống tốt hơn và không còn người tị nạn nữa.

Cả hai người phụ nữ trẻ này cũng thiết tha mong có thêm sự yểm trợ của đồng hương về tài chính cho BPSOS và CAMSA có kinh phí giúp đỡ những nạn nhân, truy tố tội phạm.

Cả hai cũng mong sẽ có thêm những luật sư tham gia thiện nguyện tại Thái Lan để trợ giúp pháp lý cho những người Việt tị nạn tại đây.

© Băng Huyền/Viễn Đông

--------------------------------------------

Để biết thêm chi tiết về buổi nói chuyện của LS. An Phong và cô Vũ Phương Anh, quý độc giả có thể liên lạc với cô Holly Ngô (562) 458-2285.

Mọi đóng góp yểm trợ cho Liên Minh CAMSA, xin đề cho và gởi về:

BPSOS/CAMSA, PO Box 8065, Falls Church, VA 22041 – USA

Hoặc quý vị có thể đóng góp trực tuyến tại: http://www.camsa-coalition.org/en/ - (BH)


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều