Ước làm người Tàu trên đất Việt!

23:34 |
Bộ trưởng Bộ 4T Nguyễn Bắc Son vừa khẳng định Việt Nam không cho phép ra báo chí tư nhân. Thấy vậy, cứ tưởng rằng nhà nước ta còn quyết một bề “vô sản chuyên chính”. Nhưng không phải thế, theo một bản tin của báo Người lao động ngày 13/6/2012 thì chỉ sau một vài động tác làm xiếc, cuối cùng một tư nhân Trung Quốc đã “chiếm lĩnh truyền hình cáp Quy Nhơn”, thậm chí có thể “sản xuất chương trình” (!), làm những việc mà chính Trung tâm Truyền hình cáp Quy Nhơn cũng không được phép!

Sự nhạy cảm chính trị bậc thầy của một Đảng Cộng sản biến đâu mất, hay đã dùng để ứng phó với dân chúng hết rồi? “Giặc ngoài” chẳng thấy, chỉ thấy “thù trong” nơi nhân dân ư?

Xâu chuỗi một loạt các sự kiện cùng tính chất như vụ bauxite Tây Nguyên, cho "thuê" đất rừng ở vùng biên giới nhạy cảm, cho "doanh nhân" Trung Quốc "nuôi cá" ở cảng Cam Ranh… vân vân, thì một đầu óc đui mù cũng phải bật lên hai chữ: TRUNG QUỐC! Mà Trung Quốc là ai? Xin thưa chính Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đây là “kẻ thù truyền kiếp” chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thôn tính nước ta! Điều này cả thế giới đều biết, người Việt Nam nào cũng từng biết, chẳng lẽ chỉ những người lãnh đạo Việt Nam hôm nay (từ bộ trưởng trở lên) lại bỗng dưng không biết?

Không thể không biết. Nhưng nếu biết sao không phổ biến tinh thần cảnh giác ấy đến toàn quân, toàn dân, mà lại chủ trương thủ tiêu tinh thần cảnh giác ái quốc bằng 16 chữ “vàng dởm”, sao cứ để những hiện tượng nguy hiểm đến an ninh quốc gia xúc tiến ngày một nhiều thêm, cứ như thể hai anh lái buôn (nội xâm và ngoại xâm) đã thống nhất một phương án “diễn biến hòa bình, gậm nhấm hòa bình, thôn tính hòa bình, tự diễn biến, tự dâng hiến” trên hình hài đau thương của Tổ quốc vậy?

Thương binh nặng đâu, nhân dân tự phát đâu, phải tiến vào những nơi đã để cho người Tàu được trá hình “rải quân” trên những nơi trọng yếu (phát thanh-truyền hình cũng là nơi trọng yếu trao cho Bộ trưởng 4T quản lý), chứ sao lại ngoặt sang tấn công một ông Tiến sĩ Hán nôm biết bênh dân nghèo, tấn công một đảng viên 82 tuổi quyết dành quãng đời còn lại cho sự Minh bạch của đất nước? Đây chính là mối lo “chệch hướng” chứ không gì khác. Chuyện chệch hướng này là vô tình hay chủ tâm?

Trong những trường hợp “thả lỏng” đối với người Tàu, xin đừng quy tội cho người cầm quyền là thiếu sâu sát (do bận nhiều việc dân việc nước) mà oan. Có vô số ví dụ cho thấy người dân Việt được quản lý hộ khẩu rất chặt, xin được minh chứng bằng trường hợp cụ thể có văn bản như sau.

Năm 2004 vợ tôi đưa tôi (HSP) ra Hà Nội chữa bệnh, khi đi đã báo Tổ trưởng dân phố, nhưng khi về bị Công an gọi lên xử phạt hành chính (nộp tiền ở kho bạc) vì khi đi chưa trình Công an. Họ trưng ra một văn bản nói rằng: Mọi công dân Việt Nam trên 15 tuổi, ra khỏi nhà 24 giờ đồng hồ phải có phép của Công an!

Trong khi đó, người Tàu đến Việt Nam lúc nào, trốn biệt tăm lúc nào thì không ai biết, tự do quá, ngang nhiên quá. Vậy rõ ràng người Tàu là công dân loại một, người Việt bản xứ chúng ta chỉ là công dân loại hai. Vậy ai mới là chủ nhân đất nước? Ai “được” nước, ai “mất” nước hả giời? Hoặc giả người Việt muốn được tự do trốn biệt tích như người Tàu thì ít nhất cũng phải cuỗm của nhân dân vài chục tỷ như đồng chí Dương Chí Dũng? Việc ấy dân lành chúng mình chịu thua.

© Hà Sĩ Phu
Đọc tiếp…

Bùi Hằng chuyện ngày 28/11/2011

22:46 |
An ninh vào giở giấy tờ lấy lời khai của Bùi Hằng, chị không trả lời. Việc lấy lời khai không xong, các an ninh thay nhau nói chuyện với chị. Người thì xin địa chỉ Vũng Tàu nói bao giờ có dịp đến nhà chị chơi,người cạnh khóe mỉa mai việc biểu tình. Họ có mua bánh mỳ nhưng chị không ăn.

Đến 12 giờ đêm, 2 thanh niên bị bắt đã được cho về. Họ bị giữ làm việc trên gác, một số thì bị đưa đi đồn nơi khác. Bùi Hằng bị giữ ở dưới, chị không biết ở trên còn bao nhiều người. Trong đồn Bến Nghé hôm nay rất đông đúc, chât chội vì nhiều an ninh ở cấp trên xuống, rồi quân số cảnh sát, dân phòng của đồn cũng ứng trực tại đồn. Đặc biệt có một phụ nữ cao tuổi có mặt trước khi Bùi Hằng vào đồn, bà ta nói rằng lên đồn để có việc xin xác nhận giấy tờ tạm trú, thế nhưng không hiểu sao bà ta cứ ngồi ở đồn từ sáng đến tối mà không thấy làm việc gì. Lúc công an, an ninh đòi làm việc với Bùi Hằng, chị đòi họ làm việc với người phụ nữ già đến trước để bà khỏi đợi. Nhưng không những công an bảo để sau, mà chính bà đó cũng vội vã gạt đi bảo bà đợi cũng được. Bà ta ngồi quan sát Bùi Hằng mười mấy tiếng đồng hồ, thỉnh thoảng an ủi, động viên chị làm việc với an ninh cho xong việc hoặc bảo chị ăn bánh mỳ.

Qua 12 giờ dân phòng, an ninh, cảnh sát đi lại rầm rập trong đồn, họ cứ đi ra đi vào thái độ rất khẩn trương như đang thực hiện chiến dịch lớn nào đó. Người nào trong số họ cũng thể hiện nét mặt khẩn trương quan trọng. Bất ngờ an ninh béo tên Thắng xông vào chị Hằng giật điện thoại, ví. Rồi mười mấy người vây quanh không cho chị la hét, giằng đồ, họ xốc nách đẩy chị ra xe ô tô, tống lên. Chiếc xe hụ còi inh ỏi, náo loạn đường phố, chở một đống chính quyền và một phụ nữ chở sang một đồn công an khác. Xe ô tô lùi đít vào sân đồn công an. Tiếng động làm cảnh sát trong đồn Tân Định còn bất ngờ, nét mặt hai cảnh sát đồn Tân Định còn nguyên vẻ ngái ngủ khi ra sân xem chuyện gì. Nhưng người trên xe ô tô xuống nói gì đó, rồi quay ra áp giải Bùi Hằng theo chỉ dẫn của công an Tân Định vào một buồng giam . Trong buồng còn nguyên cả cùm, khóa chân. Họ đẩy chị vào đó và kê ghế nằm canh gác bên ngoài cả dãy mười mấy người ở hành lang.

Đến sáng sớm, Bùi Hằng định ra ngoài mua chai nước suối, nhưng người an ninh mặt đen có nốt ruồi cản chị lại và lớn tiếng xúc phạm. Chị cũng lớn tiếng đáp lại, đang lúc đó thì Tuấn an ninh phòng PA35 Công an TP can ngăn (Nay chắc đã là phòng bảo vệ an ninh chính trị 6). Tuấn ngoài 40 tuổi, trắng trẻo, mặt mũi khá hiền lành, ăn nói nhỏ nhẹ, là người Bắc. Khi Tuấn kéo chị lại dỗ dành thì một quan chức mặc đồ an ninh quân hàm cấp tá đeo bảng tên Lê Minh Hải oai vệ đi vào. Thấy chuyện om xòm, Lê Minh Hải nói tên mặt đen có nốt ruồi lơ thơ vài cái râu ấy là dân phòng. Bùi Hằng cự dân phòng nào mà từ đồn bên kia sang đến tận đồn bên này từ hôm qua đến nay, mà nhục mạ công dân ngay giữa đồn công an có bao nhiêu cấp úy, tá có cả không hề ngại.

Lê Minh Hải hỏi Bùi Hằng về chuyện gia đình, việc hiện nay. Sau đó Lê Minh Hải nói rằng đêm qua có một cán bộ cao cấp của chính quyền Hà Nội nhờ Hải đưa Bùi Hằng ra ngoài đó để giải quyết một số vấn đề tồn đọng. Bùi Hẳng hỏi việc gì thì Lê Minh Hải không nói rõ, chỉ cầm một tờ giấy bảo đấy là quyết định của chính quyền Hà Nội. Bùi Hằng đòi xem nhưng Lê Minh Hải cứ giả tảng nói chuyện này nọ, tờ giấy cứ dứ dứ lập lờ trước mặt. Ông Hải nói chính ông là người đưa chị ra và còn phải đưa chị về. Bùi Hằng hỏi nhiều chuyện nhưng ông Hải trả lời thiếu nhất quán, như lúc ông nói biết chị từ lâu, lúc lại nói mới biết đêm qua khi có thông báo. Bùi Hằng nói không ra được vì con cái chị ở nhà chưa có tiền ăn nếu chị đi. Ông Hải nhiệt tình sốt sắng bảo chị đưa số điện con chị ông sẽ gửi cho vài triệu. Sự nhiệt thành làm mọi việc để chị đi ra ngoài Bắc của ông Hải, khiến Bùi Hằng cảnh giác đoán trước được đây là âm mưu định hại gì chị thì họ mới hứa hẹn đủ mọi chuyện. Trong khi một tờ giấy mời của chính quyền gọi một công dân ra làm việc vì quyền lợi của công dân đó thì ở đất nước này làm gì có chuyện được đưa đến nhiệt tình đến vậy, mà còn có người áp giải chịu tiền tàu xe đưa đón hàng ngàn cây số.

Bùi Hằng nhất định không đi.

Một chiến xe tải quân đội lùi đít vào sân đồn công an Tân Định, xe đậu choán hết cửa đồn khiến bên ngoài không thấy gì. Trên xe có 6 người nhảy xuống, họ nói kiểm tra điện đóm của đồn, đi lại ngó nghiêng rồi bất chợt họ xốc luôn Bùi Hằng tống lên tải quân sự chở ra sân bay. Đến nơi họ gọi điện cho ai đó, chờ một lát thì cửa hậu sân bay mở cho xe tải đi vào. Bùi Hằng dẫn qua một cửa riêng lên máy bay. Lê Minh Hải và một an ninh nữ ép chị ngồi hàng ghế cuối.

Đến sân bay Nội Bài, vừa xuống khỏi máy bay Bùi Hằng nhìn thấy hàng chục an ninh, công an TP Hà Nội, quận Hoàn Kiếm... đứng dưới chân máy bay. Vài chiếc xe cảnh sát gắn còi hụ, nhìn lại thấy nhiều an ninh quen mặt đã làm việc với chị trong những lần chị bị bắt khi đi biểu tình. Tổng số người công lực của chính quyền Hà Nội đón chị lên đến gần năm chục mống cả nam lẫn nữ. Một xe ô tô con đưa Bùi Hằng chạy từ chân máy bay đến một phòng nhỏ. Tại đó có một người của tổng cục trại giam ngồi sẵn trên bàn. Lê Minh Hải bàn giao điện thoại, giấy tờ của Bùi Hằng cho người tổng cục 8 và công an TPHN. Họ ký giấy với nhau, sau đó một người đứng lên đọc lệnh bắt giữ Bùi Hằng để cưỡng chế cải tạo giáo dục. Mấy người xúm lại giữ để còng số 8 vào tay chị. Họ đưa chị ra xe ô tô, một đoàn 5 chiếc xe ô tô chạy cấp tốc trên đường hướng Vĩnh Phú đưa chị về trại Thanh Hà 1.

© Người Buôn Gió
Theo blog Người Buôn Gió
Đọc tiếp…

Sự khích lệ cho Dân Chủ Việt Nam

22:23 |
Sự thay đổi chính trị theo chiều hướng dân chủ ở Miến Điện trong thời gian qua là tin vui cho cộng đồng quốc tế, và là luồng gió mới thổi vào công cuộc đấu tranh Dân Chủ tại các quốc gia Độc Tài Á Châu. Sự thay đổi đó đánh dấu thắng lợi của phong trào Dân Chủ Miến Điện, do lãnh tụ nổi tiếng A ung San Suu Kyi lãnh đạo. Lực lượng Dân Chủ trên thế giới đều mong muốn noi gương Miến Điện để đấu tranh cho công cuộc Dân Chủ.

Đối với Việt Nam chúng ta, sự nghiệp Dân chủ hóa nước nhà còn mang nặng nhiều ưu tư. Mặc dù các tổ chức chính trị trong nước đang nỗ lực hết mình đấu tranh chống chế độ Độc Tài Cộng sản, nhưng đã bị nhà cầm quyền đàn áp thô bạo, nhiều chiến sĩ dân chủ bị giam cầm trong tù ngục. Người dân vẫn còn bị chế độ kìm kẹp và cảm thấy bế tắc cho con đường giải phóng chính mình khỏi ách độc tài. Mọi thành phần Dân Chủ đều nhận thấy cần có một sự liên kết giữa các tổ chức chính trị Việt Nam, cũng như với phong trào Dân Chủ quốc tế để tạo nên sức mạnh tổng hợp.

Sự kiện một Chính Đảng Dân Chủ của Việt Nam tiếp xúc và hợp tác với Đảng Liên Minh Quốc Gia vì Dân Chủ (National League for Democracy) của Bà A ung San Suu Kyi là một niềm khích lệ to lớn cho công cuộc đấu tranh Dân Chủ tại Việt Nam.

Đó là việc sáng ngày 8/6/2012, ông Nguyễn Công Bằng (Tổng Thư Ký Đảng Vì Dân Việt Nam) và ông Nguyễn Quang Trung (Ủy viên Trung ương Đảng Vì Dân) đã đến thăm trụ sở Liên minh Nhân Dân vì Dân Chủ (NLD) tại Miến Điện. Tại cuộc gặp gỡ này, hai Đảng đã có một số cam kết chung cơ bản về tiến trình hợp tác đấu tranh trong thời gian tới. Nhằm tiến tới một mục tiêu chung là: Vì sự nghiệp Dân Chủ và chống Độc Tài ở mỗi quốc gia.

Cuộc viếng thăm này của ông Tổng Thư Ký Đảng Vì Dân đã đặt nền móng cho mối quan hệ tốt đẹp giữa hai Đảng và hai Dân Tộc, vì một đất nước Việt Nam Dân Chủ và tiến bộ trong tương lai. Và đây cũng là niềm khích lệ cho phong trào Dân Chủ tại Việt Nam. Sự hợp tác tốt đẹp này củng cố thêm niềm tin vào sự lớn mạnh và thắng lợi tất yếu của cách mạng Dân Chủ thế giới và Việt Nam nói riêng.

Sau Tunisia, Egypt rồi đến Libya và Miến Điện, sau Miến Điện là đến Việt Nam. Chúng ta có quyền hy vọng như vậy, vì rằng sự nghiệp cách mạng Dân Chủ là chính nghĩa và tất yếu sẽ thắng lợi. Điều đó đến sớm hay muộn là do sự nỗ lực đấu tranh của mọi thành phần Dân Chủ và tầng lớp nhân dân. Hãy nhìn về Miến Điện và xây dựng cho một Việt Nam tương lai, một Việt Nam tự do – Dân chủ và không còn bóng dáng của chế độ Độc Tài.

14.6.2012

Minh Văn
--------------------------
Tin liên quan: 
Đọc tiếp…

Clip sex nữ sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội mediafire

12:34 |
Sau vụ clip sex học sinh lớp 10 chưa kịp lắng xuống thì chiều qua 13/06/2012 trên diễn đàn của sinh viên trường đại học bách khoa lại tiếp tục xuất hiện một clip được cho là của nữ sinh trường bách khoa.

Ảnh được chụp từ clip
Clip dài 7 phút quay lại cảnh quan hệ giữa cặp đôi 9x tại phòng riêng hoặc nhà nghỉ. Sau khi clip được post lên diễn đàn thì đã bị xoá ngay, nhưng ngay sau đó clip này lại xuất hiện tại 1 website khác và được lan truyền nhanh chóng trên mạng.

Trong clip quay rõ cảnh vợ chồng của cặp đôi này, và trong lúc quan hệ nữ sinh còn gọi điện nói chuyện với người khác một cách vô tư, thoải mái.

Có vẻ clip này được quay vì sự đồng ý của “2 diễn viên” nên clip rất rõ.

Chủ nhân của Clip đã Upload trực tiếp lên Youtube và sau đó post lên diễn đàn của trường đhbk nên mọi người cho là clip của sinh viên đại học bk. Hiện tại clip đã bị xóa trên diễn đàn và cũng như trên youtube. Thông tin về clip sẽ được chúng tôi tìm hiểu thêm.

Theo VTC


--------------------------

Tin liên quan:

“clip sex” nữ sinh tại Vĩnh Phúc : Cô bé 16 tuổi vướng “lưới tình" Một “clip sex” có độ dài khoảng 30 phút, nhân vật chính được xác định là nữ sinh trường THPT Ngô Gia Tự (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) bị tung lên mạng đang xôn xao dư luận.

Tuổi/Age 18+: Bọn lạ mặt dùng tà áo dài làm nhục hình ảnh người phụ nữ Việt Nam Bọn lạ mặt dùng tà áo dài Duyên dáng làm nhục hình ảnh người phụ nữ Việt Nam....Sưu Tầm.....

Sốc với video gái 9X Việt Nam thủ dâm khoe hàng tự sướng trên giường Video sốc gái 9X Việt Nam tự thủ dâm khoe hàng trên giường, video sex gái đẹp thủ dâm tự sướng khoe hàng.


Hot: Clip sex nữ sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội mediafire Sau vụ clip sex học sinh lớp 10 chưa kịp lắng xuống thì chiều qua 13/06/2012 trên diễn đàn của sinh viên trường đại học bách khoa lại tiếp tục xuất hiện một clip được cho là của nữ sinh trường bách khoa.
Đọc tiếp…

TS Nguyễn Xuân Diện bị "chiếu tướng"

12:25 |
TS Nguyễn Xuân Diện thuộc Viện Hán Nôm VN tiếp tục gặp khó khăn sau khi ông vừa bị chuyển công tác, trong bối cảnh nhà cầm quyền VN xúc tiến kiểm soát chặt chẽ Internet, nhất là giới bloggers.



Triệu tập, điều tra

TS Nguyễn Xuân Diện thuộc Viện Hán Nôm VN
Sau khi Viện Hán Nôm bị 6 phần tử bất hảo mệnh danh là “thương binh nặng” tới “đại náo”, quậy phá, văn tục, tô hô, uy hiếp TS Nguyễn Xuân Diện, hành hung nhân viên của Viện hôm 18 tháng 5, tiếp theo những bài báo trên các tờ Quân đội Nhân dân, Cựu Chiến binh “đồng loạt ra quân” – nhưng với nội dung bất nhất - đề cao hành động của những kẻ có tác phong côn đồ ấy; sau khi Sở Thông tin và Truyền thông cùng công an gọi TS Nguyễn Xuân Diện tới để tra hỏi, qua đó, cụ Lê Hiền Đức lâm nạn, thì TS Nguyễn Xuân Diện hiện bị chuyển công tác từ Phó Giám đốc Thư viện Hán Nôm thành Phó Trưởng phòng Nghiên cứu Văn bản Văn học thuộc Viện Hán Nôm.

Và chưa rõ tình cảnh của TS Nguyễn Xuân Diện trong những ngày sắp tới sẽ ra sao, khi được biết ông tiếp tục bị thanh tra về nội dung Nguyễn Xuân Diện blog vốn phản ánh thực trạng xã hội VN cùng hành động yêu nước cụ thể của mình. TS Nguyễn Xuân Diện lên tiếng:

"Nói chung hiện nay tôi vẫn khoẻ, bình thường, đang làm việc, công tác ở cơ quan và đang chờ phản hồi tiếp theo của Thanh tra Sở Thông tin & Truyền thông. Tôi chuyển công tác như vậy, về mặt chức vụ thì có người bảo là như vậy tôi bị giáng chức. Nhưng thực ra không phải. Chức vụ cũ Phó Giám đốc Thư viện cũng ngang với chức vụ của tôi hiện nay, tức đều là Phó Phòng cả."

Trong khi chưa biết trước mắt phải chấp hành lệnh điều động của thủ trưởng cơ quan Trịnh Khắc Mạnh, TS Nguyễn Xuân Diện đã tiến hành khiếu nại về hành động mà ông cho là không đúng quy định pháp luật của Thanh tra Sở Thông tin & Truyền thông Hà Nội, khi qua 2 lần triệu tập ông, các thành viên đoàn thanh tra “không đi vào trọng tâm” của cuộc thanh tra, không thông báo trước nội dung làm việc, không rõ thanh tra với mục đích gì, “làm lãng phí thời gian…, o ép tinh thần và sức khoẻ” của ông, “coi ông như một bị can trong một vụ án hình sự”; đặc biệt có 2 cán bộ công an “không thuộc biên chế” của Sở Thông tin & Truyền thông lại tham dự cuộc “o ép tinh thần và sức khoẻ” ấy.

Tình cảnh TS Nguyễn Xuân Diện đã khiến công luận có phản ứng mạnh mẽ. Chẳng hạn như blogger Nhật Lệ lưu ý rằng đã có nhiều dấu hiệu chứng tỏ TS Nguyễn Xuân Diện đã ở trong tầm “bị chiếu tướng” từ lâu của giới cầm quyền, nên những việc làm ích quốc lợi dân của ông đã thôi thúc “bọn xấu ra tay thực hiện kịch bản trù dập”.

Theo blogger mệnh danh “Rất Văn Xấu”, thì đảng bây giờ chỉ mới tạm thời “ra roi” đối với TS Nguyễn Xuân Diện. Và nếu TS Diện vẫn cứ “hư” thì sẽ bị “xử lý cách khác”, như đưa vào trại giáo dục, hay cho án tù nhiều năm cộng với biện pháp quản chế, sau khi cho giới truyền thông nhà nước tuyên truyền, kích động, bôi bác ông…

Nhà nước “của dân, do dân, vì dân” này, theo blogger mang tên duy nhất là “Khách”, có thể phù phép mọi thứ, từ “bao cao su đã qua sử dụng”, ném đồ bẩn vào nhà dân, chỉ đạo côn đồ xã hội đen đánh dân, bắt dân giam vào trại cải tạo chung với người nghiện, bị nhiễm HIV, biến người sống mang ra khỏi đồn công an thành người chết, cho tới hành động cướp nhà, cướp đất, ruộng vườn của dân…

Do đó, theo tác giả, những chịu đựng và uất ức của TS Nguyễn Xuân Diện cũng chỉ là “một mảnh nhỏ” so với những nỗi đau thương mà nhiều nạn nhân khác như TS Cù Huy Hà Vũ, Bùi Thị Minh Hằng…, của đồng bào Thái Hà, Tiên Lãng, Đồng Chiêm, Văn Giang, của các em SV công giáo Vinh, của các Ni cô, Tăng lữ tại Tu viện Bát Nhã, của đồng bào Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài tại miền Tây v.v… đã cam chịu, để rồi - vẫn theo blogger này – “chúng ta càng đau và phẫn nộ hơn cho tình trạng người dân Việt trên toàn đất nước…”.

Đóng cửa trang blog

Như quý vị đã rõ, trang blog của Nguyễn Xuân Diện bị đóng cửa đột ngột hồi đầu tháng 6 vừa rồi giữa lúc giới cầm quyền trong nước ngăn chận “một loạt blog lề trái”. Lên tiếng mới đây với Đài ACTD, blogger Người Buôn Gió nhận xét:

TS Nguyễn Xuân Diện trong một cuộc biểu tình yêu nước chống Trung Quốc xâm lược.
"Tôi thấy nguồn thông tin từ blog Nguyễn Xuân Diện rất chính xác, phong phú và kịp thời. Độ chính xác luôn tuyệt đối từ những tin như vụ cưỡng chế đất ở Văn giang, gần như đó là một trang thể hiện tâm tư nguyện vọng, thông tin của một phần Việt Nam. Bây giờ mà bị cấm đi hoặc không được hoạt động nữa thì đó là một điều rất đáng tiếc."

Blogger Nguyễn Xuân Diện lâm nạn giữa lúc nhà cầm quyền VN, vốn bị Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới cáo giác là “kẻ thù Internet”, đã soạn thảo một nghị định nhằm kiểm soát nhất là các trang blog, qua đó, các bloggers phải đăng ký tên thật, địa chỉ thật, các website phải khai báo hoạt động, các tập đoàn Internet nước ngoài đòi hỏi phải hợp tác với VN…

Thế là hôm thứ Hai ngày 11 tháng 6 vừa rồi, trang mạng của Bộ Thông tin và Truyền thông VN đã công bố toàn văn bản Dự thảo Nghị định quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet cùng nội dung thông tin trên mạng – nghĩa là vấn đề sẽ ảnh hưởng tới hàng chục triệu người thuộc cộng đồng mạng trong nước, nhất là giới blogger “lề trái”, khi trọng tâm của Nghị định chiếu cố tới vấn đề an ninh mạng.

Tôi thấy nguồn thông tin từ blog Nguyễn Xuân Diện rất chính xác, phong phú và kịp thời. Bây giờ mà bị cấm đi hoặc không được hoạt động nữa thì đó là một điều rất đáng tiếc.
Blogger Người Buôn Gió
Qua bài “Nghị định này làm thoả lòng ai vậy?”, TS Hà Sĩ Phu nhận xét rằng “Nghị định cứ như là sự khai triển điều 88 luật hình sự vào phạm trù Internet”, khi mục tiêu của nghị định là nhằm “đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và phòng chống tội phạm trên mạng, phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống các hành vi sử dụng, lợi dụng Internet và cung cấp thông tin trên mạng để xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội và lợi ích của công dân; phòng, chống lộ, mất bí mật nhà nước qua mạng; điều tra và truy tố tội phạm mạng…”

TS Hà Sĩ Phu báo động rằng nếu bản dự thảo Nghị định này được thông qua và áp dụng thành công thì toàn bộ hệ thống thông tin thường được gọi là “lề trái” , với những blog được nhân dân yêu mến qua số người đọc vượt xa các tờ báo chính thống, đều bị quy kết vi phạm luật, có thể sẽ bị kiểm duyệt cùng số phận chung với hơn 700 tờ báo “lề phải” dưới “cái gậy chỉ huy của cùng một Tổng biên tập”.

© Thanh Quang, phóng viên RFA
Đọc tiếp…

Tín dụng của doanh nghiệp nhà nước đe doạ nợ công như thế nào?

09:04 |
Khủng hoảng nợ công ở Châu Âu trong hai năm vừa qua khiến cho giới chuyên gia và giới làm chính sách trong nước quan tâm đến sự bền vững của nợ công của Việt Nam. Những số liệu gần đây do Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) công bố cho thấy, tính đến cuối năm 2011, nợ công của Việt Nam đã lên tới 58,7% GDP, so với mức 43,9% của năm 2008. Trong đó, tổng nợ nước ngoài và nợ công nước ngoài lần lượt là 42,2% và 31,1% GDP. Liệu Việt Nam có thể khống chế được mức nợ công dưới 60% GDP, một mức tạm được coi là an toàn như khuyến cáo của các chuyên gia trong bối cảnh tăng trưởng GDP thấp và ngân sách nhà nước sẽ phải chi khá nhiều tiền để giải quyết nợ xấu hệ thống ngân hàng cũng như hỗ trợ tăng trưởng?

Rủi ro tiềm tàng lớn nhất đối với nợ công của Việt Nam có lẽ không phải ở những khoản nợ được ghi nhận một cách minh bạch là “nợ công” trên sổ sách. Những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) mà rất có thể sẽ phải dùng ngân sách nhà nước để trả mới là mầm mống đe doạ tính bền vững của nợ công Việt Nam.

Trên danh nghĩa, khu vực DNNN chưa thực sự đe doạ nợ công của Việt Nam vì chỉ có phần nợ nước ngoài của các DNNN được chính phủ bảo lãnh mới được tính vào nợ công, còn toàn bộ các khoản tín dụng trong nước hoặc tự đi vay của nước ngoài thì DNNN phải tự trả và không tính vào nợ công. Theo Bộ tài chính, nợ nước ngoài chính phủ bảo lãnh cho khu vực DNNN vào năm 2010 là 4.642,74 triệu USD (tương đương 87,9 nghìn tỷ đồng qui đổi theo tỷ giá chính thức). Phần nợ được bảo lãnh này tương đương với 14,3% tổng nợ nước ngoài của Việt Nam.

Theo “Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước” mới được bộ Tài chính đệ trình lên chính phủ thì dư nợ tín dụng trong nước của khu vực DNNN ước khoảng 415,35 nghìn tỷ đồng tính đến tháng 9.2011. Không tính đến phần DNNN tự vay của nước ngoài và phần dư nợ nước ngoài được bảo lãnh phát sinh trong thời gian từ cuối 2010 đến 9.2011 thì phần dư nợ tín dụng của khu vực DNNN được chính phủ bảo lãnh trên danh nghĩa chiếm khoảng 17,5% tổng dư nợ của khu vực này. Đây là mức mà khu vực này hoàn toàn có thể hoàn trả được ngay cả khi nợ xấu của khu vực này ở mức rất cao đi chăng nữa.

Tuy nhiên, khả năng đe dọa nợ công của khu vực DNNN lại nằm ở chỗ khu vực này luôn nhận được ngân sách “mềm” từ chính phủ. Khi các DNNN lâm vào khó khăn, các khoản nợ trong nước của các doanh nghiệp này thường được chính phủ hỗ trợ dưới các hình thức bổ sung vốn, khoanh nợ, giãn nợ, chuyển nợ, xóa nợ. Tất cả các hình hình thức ngân sách mềm này cuối cùng đều khiến chi tiêu ngân sách tăng. Và với việc ngân sách nhà nước liên tục bội chi thì để bù đắp phần chi tiêu ngân sách cho khu vực DNNN, nhà nước sẽ buộc phải phát hành trái phiếu, dẫn đến nợ công của quốc gia sẽ gia tăng.

Mối quan hệ gián tiếp gần nhất là các khoản vay ưu đãi của các DNNN từ Ngân hàng phát triển (VDB). Nguồn vốn của Ngân hàng phát triển đến từ phát hành giấy tờ có giá và nhận vốn ODA cho vay lại chiếm 72,4% trong năm 2009. Đây là các khoản tín dụng mà chính phủ đảm bảo sẽ phải hoàn trả cho các chủ nợ, hay nói cách khác đó chính là các khoản nợ công.

Một phần lớn nguồn vốn này sau đó được VDB cho các DNNN vay ưu đãi để đầu tư. Theo ông Nguyễn Quang Dũng Tổng giám đốc Ngân hàng Phát triển (VDB) thì “Nợ của các tập đoàn, tổng công ty … chiếm độ khoảng 75-80% tổng dư nợ của Ngân hàng Phát triển… Tình hình như hiện nay, có rất nhiều đồng chí lãnh đạo tập đoàn, tổng công ty có văn bản gửi cho tôi đề nghị lùi nợ, giãn nợ” (Vneconomy, 13.9.2011). Nếu đúng như vậy thì lượng tín dụng mà khu vực DNNN được chính phủ bảo lãnh gián tiếp thông qua VDB sẽ vào khoảng 130-150 nghìn tỷ đồng vào năm 2009. Và nếu giả sử con số này không thay đổi cho đến tháng 9.2011 thì phần dư nợ của khu vực DNNN được chính phủ bảo lãnh trực tiếp và gián tiếp lên tới 43-47% tổng dư nợ của khu vực này. Còn trong trường hợp dư nợ của các DNNN từ VDB cao hơn thì tỷ lệ tín dụng của khu vực DNNN được chính phủ bảo lãnh trực tiếp và gián tiếp rất có thể sẽ dao động trong khoảng 45%-50%.

Bảng 1: Phát hành giấy tờ có giá và uỷ thác đầu tư từ vốn ODA của Ngân hàng phát triển (VDB), 2006-2009
Đơn vị: tỷ đồng



images01.png
Với các khoản vay nợ của khu vực DNNN tại các ngân hàng thương mại trong nước, như chúng ta thường thấy thì trong trường hợp khó khăn nhà nước vẫn phải đứng ra thu xếp hoàn trả. Chẳng hạn, hình thức khoanh nợ (như nợ của Vinashin tại các NHTM) thì cuối cùng chính phủ vẫn phải bỏ một phần tiền ra để bù đắp; hình thức chuyển nợ (như của Vinashin cho Vinalines và PVN) có thể khiến các DNNN khác lâm vào khó khăn và cuối cùng gánh nặng lại đè lên vai nhà nước; hình thức bổ sung vốn (như tăng vốn điều lệ cho Vinashin từ 9.000 tỷ lên 14.655 tỷ đồng) thì đó vẫn là tiền từ ngân sách nhà nước. Khoản vay 45 triệu USD từ ngân hàng ANZ cho dự án Xi măng Đồng Bành do Tổng công ty Cơ khí xây dựng (COMA) hay Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp (MIE) đầu tư cũng được Bộ tài chính đứng ra bảo lãnh khi dự án này rơi vào tình trạng thua lỗ không trả được nợ.

Từ kinh nghiệm của vụ Vinashin, nếu chúng ta giả sử nhà nước không muốn cho phá sản các DNNN thua lỗ, không trả được nợ và sẵn sàng bỏ ngân sách ra mua lại nợ xấu của khu vực này với mức giá từ 20% - 30% giá trị khoản nợ trên sổ sách thì phần tín dụng của khu vực DNNN tại các ngân hàng thương mại được chính phủ bảo lãnh gián tiếp sẽ vào khoảng 50 – 75 nghìn tỷ đồng nữa.

Bảng 2: Tính toán tỷ lệ tín dụng của khối DNNN được chính phủ bảo lãnh trực tiếp và gián tiếp



images02.png
Ghi chú: Các tính toán trên chỉ có tính tham khảo vì thời gian ghi nhận các số liệu không đồng nhất. Ngoài ra, các khoản nợ nước ngoài mà các DNNN tự đi vay cũng bị bỏ qua trong các tính toán này.
Nguồn: GSO, Bộ tài chính, và tính toán của tác giả.

Như vậy, mặc dù trên danh nghĩa hầu hết các hoạt động tín dụng của các DNNN hoàn toàn dựa trên cơ chế tự vay tự trả, nhưng với cơ chế ngân sách mềm như hiện nay thì trên thực tế đa phần tín dụng của khu vực này được nhà nước bảo lãnh, có thể lên tới 53%-61%. Tuy tỷ lệ nợ công của Việt Nam có thể không tăng nhiều sau khi điều chỉnh, chỉ ở mức 60,7%-61,4% GDP nhưng chất lượng nợ công đã bị ảnh hưởng đáng kể khi mà tỷ lệ tín dụng của khối DNNN được bảo lãnh trực tiếp và gián tiếp trên tổng nợ công chiếm tới 17,4%-19,7%, tăng mạnh từ mức 5,9% nếu chỉ tính phần chính thức được bảo lãnh.

Lo lắng trên là có cơ sở khi mà các khoản đầu tư của khu vực DNNN khá dàn trải, thiếu hiệu quả. Nhiều tập đoàn như Vinashin, EVN, Vinalines, Tập đoàn Sông Đà v.v. đã rơi vào tình trạng thua lỗ lớn như trong thời gian vừa qua. Do đa phần các khoản tín dụng của khu vực này được bảo lãnh trực tiếp hoặc gián tiếp nên chất lượng tín dụng của khu vực này đang nổi lên như là một mối đe doạ đối với nợ công của Việt Nam.

(Một version bài này được đăng trên TBKTSG, Số 24-2012 ngày 7.6.2012)

© Đinh Tuấn Minh
Theo blog Thị Trường và Tự Do
Đọc tiếp…

Cha chung, mọi người khóc: Elinor Ostrom và bài toán lạm dụng tài nguyên

08:50 |
Tiến sĩ Elinor Ostrom, người phụ nữ đầu tiên và duy nhất đoạt giải Nobel Kinh tế, qua đời hôm qua, thọ 78 tuổi.

Bà được giải Nobel Kinh tế năm 2009, sau cả một đời nghiên cứu cách bảo vệ tài nguyên của chung sao cho không bị lạm dụng, không bị dùng quá trớn, bào mòn tới nỗi bị mất luôn.
Giáo sư chính trị học Elinor Ostrom (1933-2012), Nobel Kinh tế 2009. (Hình: Indiana University)
Tuy chiếm giải Nobel kinh tế, nhưng bà Ostrom không phải là một nhà kinh tế học. Bà đậu cử nhân, cao học, và tiến sĩ đại học UCLA không phải trong ngành kinh tế, mà trong ngành chính trị học.

Hầu hết công trình nghiên cứu của bà đều được thực hiện trong thời gian bà dạy tại đại học Indiana University, cũng không phải trong khoa kinh tế, mà trong khoa chính trị.

Điều này thật ra không có gì lạ. Không lạ, vì ngành kinh tế không còn là một ngành riêng lẻ dành riêng cho những người muốn làm kinh tế hay thương mại nữa, mà ngành kinh tế đã lấn vào hầu hết các ngành khoa học xã hội. Phương pháp luận của kinh tế là một phương pháp luận căn bản hầu như bất kỳ một nhà khoa học xã hội nào cũng phải biết. Và khi một nhà chính trị học, như Tiến sĩ Ostrom, dùng phương pháp của kinh tế để giải quyết vấn đề tài nguyên dùng chung, thì công trình đó trở thành một công trình kinh tế.

Bài toán quen thuộc

Vấn đề Tiến sĩ Ostrom nghiên cứu là một vấn đề khá quen thuộc với người Việt Nam. Tại sao phòng vệ sinh ký túc xá lại rất dơ? Tại sao đường xá Việt Nam xả đầy rác?

Tại sao di tích lịch sử cứ bị phá hỏng không ai chăm sóc? Tại sao ngành du lịch làm ăn chụp giựt không màng tới tiếng xấu cho đất nước? V.v. và v.v.

Người Việt Nam mình gọi những vụ này bằng thành ngữ “cha chung không ai khóc.” Hoặc là “nhiều sãi không ai đóng cửa chùa.” Đó là những câu miêu tả tình trạng này, nhưng chưa phải là giải pháp.

Trong kinh tế, tình trạng này mang tên gọi “tragedy of the commons,” tạm dịch là “thảm kịch của tài nguyên dùng chung,” theo tựa của bài nghiên cứu của nhà môi trường học Garrett Hardin, in trong tạp chí Science năm 1968. (Hiện tượng một bài nghiên cứu môi trường, do một tiến sĩ vi sinh học viết ra, lại trở thành một bài kinh điển cho giới kinh tế, một lần nữa cho thấy môn kinh tế không phải là một ốc đảo.)

Thế thì “tragedy of the commons” là gì? Tôi có lần nghe phỏng vấn Tiến sĩ Ostrom trên radio, thì bà tóm tắt công trình nghiên cứu cả đời của bà, là biến “tragedy of the commons”-thảm kịch của tài nguyên dùng chung, thành “problem of the commons” – một bài toán, một vấn đề, có giải pháp, chứ không phải là thảm kịch để ngồi khóc lóc than thở với nhau.

Thí dụ tiêu biểu của “tragedy of the commons” (mỗi vấn đề trong kinh tế thường có một thí dụ tiêu biểu) là một đồng cỏ chăn bò.

Thảm kịch đồng cỏ tàn phế

Hardin miêu tả một cánh đồng cỏ không thuộc chủ nào hết, bên ngoài một ngôi làng. Một nhà nông đem 2-3 con bò ra ăn cỏ, thì không sao, vì cỏ sẽ mọc lại. Cả làng mỗi nhà mang 2-3 con, cũng chưa sao. Trong đó có một nhà mang 10 con, cũng vẫn chưa sao, cỏ vẫn còn mọc lại được.
Bò thả trong đồng cỏ chung, ở Anh. (Hình: Sharon Loxton/Wikipedia/Creative Commons)
Nhưng nếu ai ai cũng mang 10, 20, 30 con thả ra đồng cho nó tự ăn tự lớn rồi mình bán lấy tiền làm giàu, nếu ai ai cũng lùa thật nhiều bò vào ăn trong cánh đồng đấy, rồi ra cỏ sẽ chết hết, chết cả gốc rễ luôn.

Và thế là hết cỏ. Mà hết cỏ thì cũng hết cả chăn bò.

Cái tối ưu của mỗi người, khi cộng lại, sẽ không còn là mức tối ưu của chung. (Người quen thuộc với toán sẽ nhận ra là điểm cân bằng Nash của trò chơi này là điểm không tối ưu.)

Đó là thảm kịch.

Thảm kịch này đã xảy ra thật trong đời sống. Cụ thể nhất là trong ngành đánh cá. Có những nguồn cá bị đánh cạn kiệt, chỉ vì mỗi người đều cố gắng đánh cho được càng nhiều cá càng tốt, không cần biết có quá mức sinh đẻ của cá hay không. Nếu lỡ vùng biển nào bị cạn nguồn cá thì, không sao, ta đi qua vùng biển khác, tiếp tục vắt cho hết!
Vậy phải làm sao? Các nhà kinh tế đưa ra hai giải pháp.

Một giải pháp, có thể xem như là giải pháp của “cánh tả,” là một chính quyền nào đó đứng ra đánh thuế, hoặc quản lý đồng cỏ này, định giới hạn số bò được vào. Có giới hạn, đồng cỏ sẽ không bị gặm tới chết.

Giải pháp thứ nhì, có thể xem như giải pháp “cánh hữu,” là đem chia lô bán đấu giá đồng cỏ đó. Tư nhân mỗi người được một miếng, rồi tự lo mà giới hạn để năm sau mình còn cỏ mà cho bò ăn. (Ron Coase, Nobel Kinh tế 1991, là người cổ động giải pháp này.)

Cả hai giải pháp đều có vấn đề. Giải pháp “tả khuynh” kiểu Pigou có vấn đề là tin tưởng vào một nhà nước anh minh sẽ đưa ra đáp số tối ưu – trong khi nhà nước tự nó cũng có sự ích kỷ của nó. Có cả một ngành kinh tế, gọi là public choice theory, để phân tích sự ích kỷ của nhà nước dẫn đến những giải pháp dưới tối ưu như thế nào. (Tiến sĩ Ostrom cũng đóng góp đáng kể trong public choice theory.)

(Tôi cũng nhận xét thêm là ở mặt này người Việt Nam mình rất tả khuynh. Mỗi khi có vấn đề gì, là báo lề phải sẽ có những bài viết hay thư độc giả “mong sao nhà nước sẽ có giải pháp X, Y, Z,” và các blog lề trái thế nào cũng có người chỉ trích nhà nước là không chịu áp đặt giải pháp X, Y, Z.)

Giải pháp hữu khuynh cũng yếu. Chính Coase cũng nhận ra rằng chia một mảng tài nguyên lớn thành nhiều mảng nhỏ tăng chi phí giao dịch giữa những lô đất đó với nhau hoặc giữa người có đất và người ngoài. Ngoài ra, có khi mảng tài nguyên đó không phân lô được, hoặc phân lô không được công bằng.

Giải pháp thứ ba

Tiến sĩ Ostrom đưa ra thí dụ một đồng cỏ không phân chia được. Có cái làng kia ở miền núi châu Âu, người ta canh tác ở chân núi còn phần đồng cỏ trên cao, không phải của riêng ai, thì người ta thả bò ở đó.
Cỏ ở đó, mọc không đều. Cỏ mọc nhiều ít trong mùa xuân, là tùy tuyết mùa đông thế nào. Trên núi đó, tuyết rơi không đều, nên vào mùa xuân cỏ mọc cũng không đều. Có năm thì phía bên này cỏ xanh rậm rạp phía bên kia thưa thớt. Có năm thì ngược lại.

Vì vậy giải pháp của cánh hữu chia lô mỏm núi không thực hiện được. Chia lô ra sẽ dẫn đến tình trạng có bên bò no và dư cỏ, có bên bò thiếu cỏ bị đói.

Cái làng đó chính là nguồn cho giải pháp của Tiến sĩ Ostrom. Cái làng đó có thật, có tên: Làng Törbel, ở Thụy Sĩ.
Làng Törbel, nhìn từ mỏm núi đối diện. (Hình: Wandervogel/Wikipedia/Creative Common)
Ở đây, họ có luật của làng, là không cho phép thả bỏ ăn cỏ nhiều hơn số bò có thể nuôi được (trong chuồng) vào mua đông. Bỏ qua lý do tại sao luật này tối ưu (và nó đã tối ưu từ năm 1517 tới nay!) sáng kiến của bà Ostrom là nhận ra chân lý này:

Vấn đề của tài nguyên dùng chung có thể giải quyết được qua sự thỏa thuận giữa những người dùng tài nguyên đó với nhau!

Ngoài ngôi làng Törbel ở Thụy Sĩ ra, bà Ostrom còn tìm ra hàng trăm thí dụ khác khắp thế giới, khi người sử dụng tài nguyên, tại địa phương, tự tìm ra giải pháp.

Tức là, trong khi giới kinh tế từng tưởng rằng chỉ có hai giải pháp ở hai cực tả và hữu – hoặc là nhà nước phải nhúng tay vào điều khiển từ xa, hoặc là tài nguyên đó phải xé ra cho tư nhân – thì có một giải pháp thứ ba: Giải quyết tại địa phương. Cái làng Törbel ấy, họ tự giải quyết với nhau, không cần chi tới nhà nước ở Zurich xía vào.

Tự xài tự xử

Tự giải quyết với nhau à? Dễ nhỉ. Dễ thế mà cũng Nobel sao?

À. Nếu nghĩ thêm một bước nữa, mới thấy phát hiện này không phải là tầm thường đâu. Vì bình thường, nếu bảo, ai xài người đó tự giải quyết với nhau, thì rất nhiều người trong chúng ta sẽ giẫy nảy lên vì cho đó là vô lý, là vừa đá bóng vừa thổi còi.

Chính điều đó là phát hiện của Ostrom: Những kẻ đá bóng này không thể thổi còi bậy được, vì họ còn phải tiếp tục đá với nhau nữa, hết trận này qua trận khác. Khác với hai đội chuyên nghiệp cần có trọng tài, trẻ em trong xóm khi đá với nhau toàn tự thổi còi đấy thôi!

Phát hiện của Ostrom cũng chứng minh thành ngữ của Việt Nam là sai. “Cha chung không ai khóc” ư? Có ai đã từng đi đám ma của ông nào đông con mà không con nào khóc đâu? Thực tế là càng đông con càng nhiều đứa khóc và càng dễ làm đám ma to. “Nhiều sãi không ai đóng cửa chùa”? Cũng sai nốt. Nhiều sãi thì cứ phân công đóng cửa chùa thôi!

Trong công trình “Governing the Commons” in năm 1990, Tiến sĩ Ostrom trình bày kết quả khảo sát thực địa ở khắp năm châu, và rút ra danh sách 8 điểm cần có để giải pháp địa phương thực hiện được. (Xem thêm tóm tắt ở đây, ở đây, và ở đây.) Nhìn vào danh sách này, người quen thuộc với phương pháp kinh tế sẽ nhận ra nhiều khó khăn được giải quyết, như property rights, externalities, free-rider, one-shot game, transaction cost, …

1. Tài nguyên dùng chung phải được phân vùng rõ rệt, để loại bỏ người ngoài nhào vô mà không tuân thủ luật của nhóm.

2. Luật của nhóm phải cân bằng giữa tài nguyên rút ra và cống hiến bỏ vào, như bỏ tiền, bỏ công…

3. Người bị ép tuân thủ luật của nhóm, phải có tiếng nói trong việc lập ra và thay đổi luật này.

4. Phải có người theo dõi sự tuân thủ để tránh gian lận.

5. Phải có luật phạt vi phạm, và mức phạt phải tăng dần. Và ở đây, Tiến sĩ Ostrom chỉ ra điều cơ bản của vấn đề, là không cần một nhà nước ở xa mà chính những người sử dụng tài nguyên tự bảo đảm sự tuân thủ bằng những mức phạt này.

6. Tranh chấp phải giải quyết được ở mức địa phương, với phí tổn thấp về tiền bạc, nhân sự, thời gian. Điều này giảm thiểu transaction cost.

7. Chính quyền bên ngoài phải tôn trọng quyền tự quyết của địa phương. Cái này tiếng Việt gọi là phép vua thua lệ làng. Không chỉ để tránh những giải pháp dưới tối ưu do “xuân từ trong Huế đưa ra,” mà điều này còn tránh cho những kẻ muốn lách luật của nhóm không thể chạy ra trung ương kiếm ông nào ô kê cho mình làm bậy.

8. “Nested enterprises” – phải có nhiều tầng quy tắc cho từng tầng tài nguyên. Ostrom lấy thí dụ ở Philippines: Kênh đào có nhiều cấp, có kênh chính, kênh nhỏ tách ra từ kênh chính, và trên đó thì có hệ thống chung của tất cả các công trình thủy lợi. Thì luật ở kênh nhỏ, là kênh cuối cùng đổ vào ruộng, phải khác luật ỏ kênh chính – đổ vào các kênh nhỏ. Và cả hai cùng phải khác luật của cả hệ thống dẫn thủy nhập điền.

Và nhìn vào danh sách này, một người không cần quen thuộc với phương pháp kinh tế cũng nhận ra là nó có dáng dấp của cái gì đó rất là thượng tôn pháp luật, rất là bảo vệ quyền tư hữu, rất là tư pháp độc lập, rất là địa phương tự trị, rất là tôn trọng cử tri.

Nói chung là rất là dân chủ.

© Vũ Quý Hạo Nhiên
Theo blog Nhảm
Đọc tiếp…

Đảng Vì Dân thăm Liên Minh Quốc Gia Vì Dân Chủ ở Miến Điện

04:13 |
VPLL/ĐVDVN -- Vào sáng ngày 8/6/2012, các ông Nguyễn Công Bằng (TTK/ĐVDVN) và Nguyễn Quang Trung (UVTƯ/ĐVDVN) đã đến thăm trụ sở Liên Minh Quốc Gia vì Dân Chủ (National League for Democracy -- NLD) do bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo. Tiếp phái đoàn ĐVDVN có ông Tin Oo (Phó Chủ tịch đảng NLD), và ông Nyan Win (Trưởng Ban Vận Động đảng NLD).

Chuyến viếng thăm là kết quả của những sự liên lạc từ năm 2011, và với sự giới thiệu của một số tổ chức quốc tế yểm trợ dân chủ cho Miến Điện.

Sau những trao đổi về hiện tình Việt Nam, Miến Điện cũng như quá trình và đường lối đấu tranh vận động dân chủ ở mỗi nước, đại diện ĐVD và NLD đã có một số cam kết chung cơ bản về tiến trình hợp tác đấu tranh trong thời gian tới.

Trong dịp này, phái đoàn ĐVDVN đã đóng góp sơ khởi một khoản hiện kim cho Quỹ Xã Hội của đảng NLD, để yểm trợ cho gia đình gần 300 đảng viên NLD hiện vẫn còn bị giam tù.

Trước khi tạm chia tay, đại diện hai đảng đã trao đổi và gắn PIN huy hiệu tổ chức cho nhau với lời khẳng định về tinh thần hỗ tương trong tiến trình đấu tranh vì dân chủ, tự do.

Được biết vào tuần lễ trước đó, bà Aung San Suu Kyi (Chủ tịch đảng NLD) đã rời Miến Điện sau 24 năm bị quản chế tại gia (ở cựu thủ đô Yangon) để tham dự "World Economic Forum on East Asia" và thăm cộng đồng người Miến ở Thái Lan. Chuyến công du của bà được thế giới hậu thuẫn nhiệt liệt. Vào ngày 13/6/2012, bà xuất ngoại lần thứ hai để công du năm nước Âu Châu./.
Đại diện Đảng Vì Dân trao quà hiện kim tặng các gia đình đảng viên NLD hiện vẫn còn bị giam cầm.
Ông Nguyễn Công Bằng gắn huy hiệu Đảng Vì Dân cho ông Tin Oo (Phó Chủ tịch đảng NLD)
Trước trụ sở đảng NLD ở thành phố Yangon
Trước cổng tư gia bà Aung San Suu Kyi ở cựu thủ đô Rangoon (Miến Điện)

—————————————–
Bài viết do tác giả gửi. VANGANH.INFO biên tập và minh hoạ.
(Bài vở gửi đăng là chủ kiến riêng của tác giả, không hẳn là chủ kiến của VANGANH.INFO)

—————————————–

THAM KHẢO:
Đọc tiếp…

Câu chuyện một người Việt Nam Trần Quang Thành

00:17 |
Người Việt Nam chúng ta cũng thật là lạ: từ hơn một tháng nay, dư luận và thông tin của cộng đồng chúng ta bỗng nóng hẳn lên, sôi nổi theo dõi tên tuổi của một người mang tên Trần Quang Thành, tuy rằng Trần Quang Thành là người Trung quốc, chỉ vì Trần Quang Thành dám chống lại nhà cầm quyền mình. Người Việt mình sôi nổi theo dõi, vui vẻ khi hay tin Trần Quang Thành được Mỹ cho qua Mỹ tỵ nạn, sôi nổi theo dõi, vui buồn theo dõi, phẫn nộ mừng vui như Trần Quang Thành là người Việt ta vậy! Chỉ vì Trần Quang Thành dám chống lại quan chức Tàu bề trên thôi! Đúng là phe ta ghét Tàu Cộng!
Trần Quang Thành, nhà báo Việt Nam trước và sau khi bị tai nạn nghề nghiệp
Người Việt Nam chúng ta cũng thật là lạ: từ hơn một tháng nay, dư luận và thông tin của cộng đồng chúng ta bỗng nóng hẳn lên, sôi nổi theo dõi tên tuổi của một người mang tên Trần Quang Thành, tuy rằng Trần Quang Thành là người Trung quốc, chỉ vì Trần Quang Thành dám chống lại nhà cầm quyền mình. Người Việt mình sôi nổi theo dõi, vui vẻ khi hay tin Trần Quang Thành được Mỹ cho qua Mỹ tỵ nạn, sôi nổi theo dõi, vui buồn theo dõi, phẫn nộ mừng vui như Trần Quang Thành là người Việt ta vậy! Chỉ vì Trần Quang Thành dám chống lại quan chức Tàu bề trên thôi! Đúng là phe ta ghét Tàu Cộng!

1 / Chen Quangcheng

Mà cũng đáng theo dõi thật, Trần Quang Thành hay đúng hơn Chen Quangcheng, là một nhà đối kháng chống nhà cầm quyền Trung Quốc. Sanh quán ở tỉnh Sơn đông, Trần Quang Thành hay Chen Quangcheng bị mù từ thuở nhỏ. Vì mù nên ông học nghề đấm bóp, nay hành nghề, dạy và sống bằng nghề đấm bóp. Ông có dịp khi sanh hoạt, quen biết, tiếp xúc đông đảo các giới và giai cấp xã hội khác nhau và làm quen được với những nạn nhơn phụ nữ bị nhà nước Trung cộng với chánh sách chống nạn nhơn mãn, buộc hoặc phá thai vì đã có một con rồi với người phối ngẫu của mình, hay bị hoạn để mất tánh sanh sản (lấy buồng trứng)…

Chen Quangcheng - Trần Quang Thành
Bất mãn với chánh sách vô nhơn đạo ấy, ông Chen dấn thân vào cuộc đấu tranh của những phụ nữ nạn nhơn của chánh sách. Ông nhập cuộc, cùng họ đấu tranh, và thay mặt họ, nói lên tiếng nói của nạn nhơn, đòi quyền phụ nữ, đòi quyền con người, đòi công lý,... chẳng mấy chốc ông biến thành người luật sư biện hộ cho các nạn nhơn của bất công ấy. Vì mù, ông nhờ gia đình, bạn bè, cùng với ông tham khảo những tài liệu sách vở luật khoa, luật lệ để có một cuộc đấu tranh khoa học, có luật lệ, có lý lẽ, nghiêm chỉnh đàng hoàng. Và cũng vì thế ông bị bắt, ông bị đi tù, ra tòa, và cuối cùng ông bị cấm cung, quản chế tại gia, nhốt tại nhà, ngay tại làng Dongshigu, tỉnh Shantung -- Sơn đông là nơi sanh quán, cùng với gia đình người anh là Chen Quangfu và bà vợ. Sau bốn năm quản chế, ông vượt ngục được và chạy vào Tòa Đại sứ Huê kỳ tại Beijing để xin tỵ nạn. Vì những lý do đó, nên dư luận thế giới tưởng rằng ông Chen là một Luật sư. Nay ông được cả thế giới biết đến ông, và cả thế giới ủng hộ ông, và người Việt tỵ nạn hải ngoại ta ủng hộ ông.

Ngày nay, hai vợ chồng Chen Quangcheng đã được tỵ nạn ở Mỹ, đã được Mỹ cho học bổng đi học ngành Luật (ở Đại học Luật khoa ở New York ), thỏa mãn giấc mơ của Chen, vì ở Trung quốc người mù (khiếm thị) không được phép học gì cả ngoài nghề đấm bóp. Để khỏi mất mặt, nhà cầm quyền Trung quốc bèn cấp chiếu khán cho vợ chồng Chen đi du học Mỹ (sau khi Chen và vợ đã được vào đất Mỹ).

(Chả bù thời Việt Nam Cộng hòa mình, một em mù học trò Trường Nam sinh Mù ở đường Trần Hoàng Quân quận 10 đã đậu Tú tài và đang học năm thứ hai Luật khoa khi Sài Gòn thất thủ. Em Thành là một hãnh diện của ông cụ thân sanh của người viết, cố Trung tá Phan Văn Sương, hiệu trưởng Trường Nam sinh mù từ năm 1961 đến ngày mất nước).

2 /Trần Quang Thành:

Trần Quang Thành, nhân vật chính trong bài viết này, là một nhà báo Việt Nam, dân Hà Nội thứ thiệt, câu chuyện ông có thật (và câu chuyện của ông cũng đau thương, cũng hào hùng không kém chuyện ông Trần Quang Thành-Chen Quangcheng bên Tàu)

Ông là một người Việt, quê miền Bắc Việt Nam, dân Hà Nội, sanh sống, làm việc và phục vụ chế độ Cộng sản miền Bắc. Chúng ta có thể gọi ông ấy là Việt Cộng.

Ông trở thành nổi tiếng trong cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại, trước với các anh chị em người Việt ở Đông Âu, và gần đây với toàn thể các anh chị em tỵ nạn Công sản thế giới, do cách đối xử cạn tàu ráo máng của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đối với những người đã từng phục vụ mình.

(*1- Ông Trần Quang Thành sanh năm 1941, sau khi tốt nghiệp bậc trung học tại Hà Nội - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 18 tuổi ông Trần Quang Thành gia nhập ngành truyền thông của chế độ Cộng sản Việt Nam. Từ 1959 đến năm 1973, ông là phóng viên Đài Tiếng Nói Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ở Hà Nội. Từ 1974 ông chuyển sang làm phóng viên đặc trách các đề tài thời sự, chánh trị, ngoại giao, quân sự cho đài phát thanh và sau đó cho đài truyền hình, khi chế độ Cọng sản Việt Nam có truyền hình, và như vậy tất cả là 22 năm. Trở về từ chiến trường Miên với một chân bị thương tật năm 1982, ông được “Đảng và Nhà nước cùng cơ quan bố trí” cho ông lãnh công tác mới là “xây dựng cơ sở hạ tầng và đào tạo phóng viên cho các đài truyền hình địa phương, và chuyên về thủ tục nhập cảng máy móc cho ngành truyền thanh truyền hình trực thuộc Viện Nghiên cứu Kỹ thuật Phát thanh Truyền hình Sài Gòn.*)

Chúng tôi gặp anh Trần Quang Thành ở Hannover vào đầu tháng Sáu năm 2010, qua lời giới thiệu của một anh bạn quen. Cùng nhau tham dự buổi họp mặt và hội thảo, bọn chúng tôi thường tìm những cơ hội như những lúc giải lao, sau giờ ăn uống, để tìm hiểu nhau và làm quen với nhau. Sau khi đã thật sự quen nhau rồi, và đã trao đổi với anh Trần Quang Thành một số nhận định về tình hình trong nước và thế giới, dĩ nhiên dưới góc độ nhãn quan của những người Việt Nam có những ưu tư đối với đất nước Việt Nam, cá nhơn chúng tôi muốn tò mò hiểu thêm những động lực nào đã tạo ra con người Trần Quang Thành ngày nay, từ ngoại hình (gương mặt bị tàn phá, thân thể đầy sẹo, chân đi khập khễnh) đến tinh thần đấu tranh rất vững vàng và rất mạnh chống chế độ và nhà cầm quyền mà anh đã từng trung thành phục vụ.

Hỏi: Tôi xin phép, sau hai ngày chúng ta quen biết và tìm hiểu nhau, được hỏi anh về trường hợp và nguyên do của cái “tật nguyền của anh”, và sự có mặt cùng những suy nghĩ và tiếng nói đóng góp tích cực của anh đầy những ưu tư với đất nước vào cuộc đấu tranh cho nền dân chủ và tự do cho Việt Nam?

TQT: Như vừa qua tôi đã tự giới thiệu với anh, là sau khi tôi bị thương ở chiến trường Miên khi đang thi hành nghiệp vụ phóng viên chiến trường, tôi được cơ quan cho về phục vụ ở Sài Gòn, tôi có nhiệm vụ lo đào tạo các em mới vào nghề, lo tổ chức mua máy móc, vật dụng để trang bị cho các đài ở các địa phưong, tôi phục vụ cho cơ quan chánh là đài phát thanh và đài truyền hình Sài Gòn. Tôi và nhơn viên thuộc cấp lo tìm mua, lựa máy móc, trang dụng, và làm những thủ tục để nhập cảng. Nhưng thật sự những thủ tục nầy chỉ để bọn ăn trên, ngồi tróc, tức là các quan sếp lớn chúng tôi dùng ngân khoản do chúng tôi đề nghị để buôn lậu, bán lậu, và sử dụng ngân khoản (vì do bọn họ quản trị) để ăn cắp và làm giàu cá nhơn.

Bọn tham nhũng, dùng những tài liệu và ngân khoản chúng tôi xin được để mua nhập cảng những hàng hóa, và dụng cụ khác có giá trị của thị trường về và làm ăn với thị trường, và dùng tiền ấy, mượn đầu heo nấu cháo làm ăn.

(*2-Dưới danh xưng “nhà nước và nhân dân cùng làm, địa phương và trung ương cùng làm”, cơ quan của ông Thành cố vấn cho các địa phương tiến hành xây dựng đài, lên danh sách nhập cảng máy móc và phương tiện kỹ thuật để trang bị, nhưng việc xoay xở để có ngoại tệ là việc của địa phương. Trong thực tế, sau khi cơ quan của ông Thành xin được giấy phép rồi, tập đoàn tham nhũng ở “Viện Nghiên cứu” dùng tiền vốn của các đài địa phương để nhập cảng những thiết bị theo nhu cầu tiêu thụ ngoài thị trường. Sau khi máy móc về nước, họ mang ra chợ trời Huỳnh Thúc Kháng bán lại, lấy tiền lời đút túi, còn tiền vốn tiếp tục mua sắm thiết bị nữa, cuộc kinh doanh bằng vốn kẻ khác quay vòng trên tờ giấy phép xây dựng đài truyền hình địa phương*)

Hỏi: Và vì chắc anh không nhắm mắt để họ làm nên họ mới “cho anh gặp tai nạn” phải không?

TQT: Chưa anh à, đấy là lần đầu, nhưng tôi vốn nhà báo, thấy sao nói vậy, nên tôi làm một bản phúc trình rõ ràng, giúp công an chống tham nhũng phá tan ổ tham nhũng, và thu hồi lại tất cả những hàng hóa nhập cảng lậu. Nhưng công trạng nầy chỉ đưa họa đến với gia đình tôi và cả bản thân tôi. Tôi bị cho về vườn, trả về trung ương là Hà Nội, ngồi nhà chờ nhiệm vụ mới và được lãnh lương... thất nghiệp.
Phan Văn Song, Trần Quang Thành, tháng 6/2010 Hannover (CHLB Đức)
(*3 - Khi ông Thành đặt vấn đề, lãnh đạo cơ quan thách thức ông cứ việc phúc trình. Bản báo cáo chi tiết của Trần Quang Thành dẫn đường cho công an mở cuộc điều tra, thu hồi số hàng hóa trị giá gần 30 ngàn đô của thời giá năm 1987, và dẫn đến chỗ cả bản thân ông Thành lẫn người con gái mất việc. Để hợp pháp hóa việc trói tay ông Thành, năm 1988, lãnh đạo cơ quan đẩy ông trở về Hà Nội, vẫn trong sổ lương của đài truyền hình Việt Nam nhưng ông bị vô hiệu hóa, ngồi chơi xơi nước, và lãnh trợ cấp thất nghiệp để sống qua ngày*.)

Hỏi: Lúc nào anh gặp tai nạn, và lý do?

TQT: Tôi là một nhà báo, nhận thấy có nhu cầu, tôi bèn theo dõi, điều tra và viết một phóng sự về “buôn bán phụ nữ Việt Nam ra nước ngoài cho thị trường tình dục”. Công an nhờ tôi cung cấp tài liệu để mở một cuộc tảo thanh thanh trừ bọn gian manh. Thoạt đầu tôi không cho, vì tôi đã rút kinh nghiệm vụ trước ở Sài Gòn rồi. Phải do ông Đỗ Mười ra lệnh tôi mới tuân lệnh. Công an điều tra thành công phá vỡ đường dây buôn phụ nữ. Nhưng tôi bị bọn lưu manh hăm dọa. Đúng là công an đã tiết lộ bí mật ra ngoài.

Hỏi: Và anh bị tai nạn?

TQT: Chưa anh à, tôi bị lần sau, sau khi tôi viết phóng sự về “Buôn lậu thuốc lá”. Lần nầy tôi đụng to. Chẳng những không có kết quả gì cả, mà tôi bị lãnh một lon a xít vào mặt, mới ra thân thể nầy anh ạ! Tôi tự cho tôi là bị tai nạn nghề nghiệp! Sau 15 cuộc giải phẫu, sau khi nằm điều trị tại bệnh viện trên một năm. Ngày nay, hai cánh tay tôi vẫn còn đầy những vết sẹo cháy dính da, mắt trái mù, mất cả miệng lẫn mũi, thương tật tới 81%, riêng khuôn mặt bị tàn phá và biến dạng mặc dù đã được tái tạo phần nào những chỗ trên khuôn mặt đã bị chất cường toan ăn mất đi! Nhưng tôi vẫn sống và vẫn phải sống với khuôn mặt nầy để thiên hạ thấy và quý vị thấy thế nào là chế độ! Tôi là một nhà báo, tôi điều tra viết phóng sự, công an buộc tôi giao những tài liệu nhưng công an không gìn giữ bảo vệ nhà báo, bảo vệ người lương thiện. Như một ông công an cấp cao nói với tôi: “... nói thật với bác, đó là cả một bộ máy có bánh xe nhỏ bánh xe to. Bác mà đi ngược bánh xe bác sẽ gãy. Kinh nghiệm của bác đấy!”.

Hỏi: Kinh nghiệm hay bài học?

TQT: Cả hai, tôi nghĩ rằng tôi phục vụ Đảng, tôi phục vụ Nhà nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa tận tâm, lương thiện, tôi là một nhà báo, tôi cố gắng làm một người công dân lương thiện. Thấy tham nhũng, thấy bất lương, tôi có bổn phận báo cáo như người ta đã dạy tôi. Tư cách đạo đức một đảng viên, tư cách đạo đức người cộng sản buộc tôi phải lương thiện phải báo cáo những sai trái để sửa sai. Cải tạo, cải huấn hằng ngày để tiến. Nhưng tôi đã lầm và lầm to: đó là bài học và kinh nghiệm đau thương của tôi.

Và ngày nay Việt Nam bị một bộ máy tham nhũng cầm quyền. Tham nhũng, buôn lậu, ăn cắp của công. Tôi rút kinh nghiệm, tôi rút bài học. Tôi xin được tỵ nạn với con trai tôi ở Bratislavia thủ đô Slovéquia.

Tôi không nói chánh trị, tôi không cần nói chánh trị. Tôi chỉ mong mọi người nhìn thấy tôi, thân thể tôi, nhìn ngoại hình tôi, biết câu chuyện của tôi thì hiểu được tình hình, hiểu được chế độ nào đang cầm quyền tại Việt Nam, và biết phải làm cái gì để chấm dứt cái chế độ tham nhũng kia ở Việt Nam. Câu nầy cũng là câu kết luận của câu chuyện tôi kể cùng quý độc giả.

Câu chuyện giữa hai chúng tôi chấm dứt hôm ấy, vì có những bạn bè khác đến nói chuyện với anh Trần Quang Thành. Hôm nay nhơn đọc bài viết của NgyThanh trên Thông tin Hải ngoại viết theo bài báo của Thờibáo online dưới tựa dề là “Xấp bạc ngoài cánh đồng”. Tôi vội viết bài nầy chia sẻ với quý độc giả, để hiểu rõ thế nào là một chế độ “không còn tình người” (hay không còn tánh người!).

Một bài học cho những ai còn tin Cộng sản.

4 tháng 6 2012-06-05

© Phan Văn Song

*…* những đoạn giữa hai sao nầy do trích từ bài viết của NgyThanh. Hôm nói chuyện với anh Trần Quang Thành ở Hannover tôi không nắm rõ những chi tiết. Nay xin được trích những chi tiết ấy của bài viết của NgyThanh. Đa tạ tác giả.

Quý độc giả muốn hiểu rõ Trần Quang Thành vào xem you tube báo Người Việt phỏng vấn vào tháng 11/2011.
Đọc tiếp…