06/04/12 - VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

"Tây Hóa" hay là "Hán Hóa" đây?

Đăng bởi Biên tập viên vào Thứ hai, ngày 04 tháng sáu năm 2012


…Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không,
dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai
với các cường quốc năm châu được hay không, chính là
nhờ một phần lớn ở công học tập của các em…”
Hồ Chí Minh

“TÂY HOÁ” HAY LÀ “HÁN HOÁ” ĐÂY?

Nhờ thấm nhuần tinh thần nhân văn cao cả “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” và quán triệt tầm nhìn xa trông rộng “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” nên hiếm có nơi nào trên thế giới mà ở đó trẻ em được chăm sóc tận tình, chu đáo như ở Việt Nam dưới thời đại Hồ Chí Minh.
Này nhé, Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990. Ngay ở lứa tuổi mầm non, các cháu đã được chăm lo cho đến từng giấc ngủ, nhờ đó mà hình ảnh của người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, “đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam”#, đã sớm đi vào giấc mơ của các cháu:

Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ
Râu Bác dài tóc Bác bạc phơ…


Mới 9 tuổi, các cháu đã trở thành những đội viên “Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh”, tổ chức của thiếu nhi Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng CSVN sáng lập, đã biết hô vang những câu khẩu hiệu sặc mùi chính trị như “Vì Tổ quốc XHCN, vì lý tưởng của Bác Hồ vĩ đại: Sẵn sàng!” Những cháu nào đạt một số tiêu chí nhất định thì được tặng danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”, một danh hiệu mà các nhà lãnh đạo Đảng rất quan tâm hầu qua đó giáo dục ý thức chính trị và lòng trung thành với lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, thiên đường trên mặt đất của nhân loại.

Đặc biệt, chương trình phổ thông của các cháu lại còn được chính trị hoá một cách triệt để, nhất là là môn văn và môn lịch sử. Chẳng hạn, gần như tất cả các đề thi tốt nghiệp và đề thi vào đại học của môn sử gần 40 năm nay đều chỉ hỏi về lịch sử Việt Nam từ sau năm 1930, năm ra đời của Đảng CSVN. Chưa hết, lên đến bậc đại học, một trong những môn chủ yếu mà sinh viên được học là Lịch sử Đảng CSVN (bên cạnh những môn bắt buộc mang tính siêu tưởng như Chủ nghĩa Xã hội Khoa học). Điều này thì khỏi cần phải thắc mắc, vì “Đảng CSVN là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”; nhờ có Đảng mà các cháu mới có được ngày hôm nay, chứ nếu không thì chắc chắn Việt Nam còn thua cả Lào và Campuchia nữa kia. Thế nên, chỉ những ai thiếu hiểu biết mới dám phát biểu hàm hồ như thế này: “Cứ như chỉ từ năm 1930 nước ta mới có cái gọi là lịch sử, còn trước đó... chỉ là tiền sử, là thời man dã, con người còn là khỉ vượn gì đó thôi chứ chưa thành người!”

Nhờ nền giáo dục tiên tiến và đậm đà bản sắc nô dịch như thế mà ở tuổi còn đái dầm, các cháu đã nắm được những kiến thức vô cùng sâu sắc và thiết thực như ai là “lãnh tụ của giai cấp công nhân thế giới”, còn ai là “lãnh tụ của giai cấp vô sản”, điều mà chắc chắn là chẳng có học sinh nào trên thế giới có thể biết được.

Hàng năm, cứ đến mùa khai trường, lãnh đạo các cấp lại thường dành thời gian vàng ngọc của mình để tham dự lễ khai giảng với các cháu và, tất nhiên, không quên để lại những lời huấn thị cho lớp lớp mầm non của đất nước, trong đó phần lớn là những “danh ngôn” để đời như câu hỏi mà nguyên TBT Nông Đức Mạnh đặt ra cho các học sinh trường PTTH Chu Văn An tại lễ khai giảng năm học 2010-2011 ngày 4/9/2010 trước sự ngẩn ngơ của các cháu: “Làm người có khó không các cháu? Có khó không? Thế tóm lại là có làm được không?”

Với một nền giáo dục ưu việt như thế, với sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng như thế, rõ ràng là chỉ những kẻ thiển cận mới một hai kêu gào đòi “cải cách giáo dục”; họ không chịu hiểu rằng một khi Đảng ta vẫn nhất quyết đội hai ông tổ sư kia trên đầu thì quyết tâm cải cách giáo dục cũng giống như quyết tâm “thay đổi 360 độ” vậy thôi; họ không chịu hiểu rằng hơn 60 năm qua, Việt Nam đã trải qua những 3 lần “cải cách giáo dục” lớn (1950, 1956, 1979), chưa kể vô số “cải cách” lẻ tẻ khác, mà nhờ đó nền giáo dục Việt Nam mới đạt được thành quả như ngày hôm nay. Trong khi đó, nền giáo dục Việt Nam lại còn thể hiện tính “nhân dân” và bản chất “tiến bộ” ở chỗ nó được dành cho mọi “chủ nhân” tương lai của đất nước, còn đám con cháu của những kẻ “đầy tớ” vốn thấp kém đến mức phải luôn “tự phê bình và phê bình” kia thì phần lớn phải chịu “thiệt thòi” là chỉ được học tập tại các trường quốc tế trong nước hay tại các nước thuộc xứ tư bản “đang giẫy chết” để rồi một ngày nào đó chúng lại tiếp tục thân phận “đầy tớ” của bố mẹ chúng thôi.

Mới đây, quán triệt phương châm không để bị “Tây hoá” như “bạn” thường nhấn mạnh, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ban hành dự thảo thông tư về chương trình tiếng Hoa cấp tiểu học và trung học cơ sở để “lấy ý kiến nhân dân”. Mặc dù, trước phản ứng sôi sục của dư luận, Bộ GD-ĐT buộc phải lên tiếng “cải chính” rằng “đây chỉ là chương trình tự chọn dành cho các khu vực có đông người Hoa sinh sống”, song trước một vấn đề hệ trọng như thế thì đây chắc chắn phải là “chủ trương lớn” của lãnh đạo Đảng, bất chấp thực tế là trên toàn cõi Việt Nam, người Hoa chỉ là dân tộc thiểu số đông hàng thứ 5 (sau Tày-Thái-Mường-Khmer) và địa bàn mà ở đó người Hoa chiếm tỷ lệ đông nhất cũng chỉ là hai quận ở Tp HCM (Q5 và Q11) với 45% dân số mỗi quận, mà với dân số suy giảm trong giai đoạn 1999-2009 thì số học sinh người Hoa chắc chắn còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn hơn.

Những kẻ giàu sức tưởng tượng vẫn đang gào lên trước cái gọi là nguy cơ “Hán hoá” hay “Bắc thuộc” kia chả nhẽ lại không chịu hiểu rằng “dù bành trướng thế nào thì Trung Quốc cũng vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”# hay sao? Chả nhẽ họ lại không chịu hiểu là Đảng ta trước sau như một vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội hay sao? Vậy thì cho dù Việt Nam có ngày càng lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc đi chăng nữa; cho dù các “doanh nghiệp” Trung Quốc có âm thầm thuê dài hạn hàng trăm ha đất rừng biên giới đi chăng nữa; cho dù các “thương nhân” Trung Quốc có thường ráo riết săn lùng những “đặc sản” của Việt Nam như móng trâu, móng bò, ốc bươu vàng, râu bắp non, khoai lang, đĩa đi chăng nữa; cho dù Trung Quốc có thường xuyên cướp bóc, bắn giết ngư dân Việt Nam trên Biển Đông đi chăng nữa; cho dù Trung Quốc có ngày đêm lăm le nuốt chửng Trường Sa của chúng ta đi chăng nữa, lớp lớp học sinh Việt Nam vẫn cần phải hiểu rằng bổn phận của mình là phải “bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Hoa, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người Hoa ở Việt Nam” như tinh thần chỉ đạo của Bộ GD-ĐT.

Không còn nghi ngờ gì nữa, “đoàn kết với Trung Quốc để xây dựng CNXH” là con đường “duy nhất đúng” hầu đưa nước nhà sớm “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ kính yêu của các cháu hằng mong mỏi, cho dù chúng ta có ngày càng bị “bạn” bỏ xa trên con đường phát triển đi chăng nữa, cho dù ngân sách quốc phòng của “bạn” có nhờ đó mà ngày càng “khủng” hơn đi chăng nữa. Bạn nói là bạn chỉ “trỗi dậy hoà bình” thôi, súng ống của bạn chủ yếu là để doạ lũ chim hay ỉa bậy ngoài mấy cái bãi hoang ở Biển Đông kia thôi, các cháu cứ yên chí mà học tập “pú tung hủa” cho thật tốt nhé!./.

©Lê Anh Hùng
lehunglpa@yahoo.com
Quảng Trị, 19/03/2012
-----------------------
Bài viết do tác giả gửi - BBT.VANGANH biên tập và minh họa...
----------------------- 
Ghi chú:
1- Điều 4, Hiến pháp 1980.
2- Lời TBT Nguyễn Văn Linh trong Hồi ký Trần Quang Cơ.


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Đâu cũng có thù, ai cũng là kẻ thù, hoảng loạn quá!

Không chỉ dẹp tan các tổ chức được gọi là phản động âm mưu lật đổ chính quyền, các đảng Dân chủ XXI, đảng Thăng Tiến …, các tổ chức xã hội kiểu như Viện IDS …, cách đây mấy tháng người ta đã mở chiến dịch trấn áp tiêu diệt ngay cả “Câu lạc bộ Học và Làm theo Tư tưởng và Đạo đức Hồ Chí Minh”. Xin nhắc lại: “Câu lạc bộ Học và Làm theo Tư tưởng và Đạo đức Hồ Chí Minh”. Cuộc trấn áp tàn bạo này đã được lão thành cách mạng Lê Hữu Hà mô tả trong bài “Một vụ trấn áp không cách mạng trái đạo đức Hồ Chí Minh”.

Nói chiến dịch vì ở đây có vận dụng cả ba mũi giáp công hẳn hoi: thủ đoạn chính trị, biện pháp kinh tế, (chuẩn bị) vũ lực. Cụ Lê Hữu Hà đã mô tả rõ chiến dịch này qua các tiểu mục trong bài viết: Trấn áp gì, Trấn áp thế nào: Tung tiếng xì xào kín hở, Dọa dẫm, tạo áp lực vào kinh tế con cái, Áp lực vào hệ thống Đảng, Áp lực từ tổ chức cựu chiến binh, Dương oai thanh thế.
Thủ đoạn chính trị

Vì chủ nhiệm Câu lạc bộ này là một vị trung tướng nguyên Viện trưởng Viện Kiểm sát Bộ Quốc Phòng với “Thành phần thường đến họp mặt là những người đã có quá trình hoạt động trong Đảng, Nhà nước, Quân đội, các Đoàn thể cách mạng. Một số người gần như suốt cuộc đời hoạt động, cả lúc đã nghỉ hưu. Ba bốn người đã có những lúc gặp hoặc đã trực tiếp làm việc với Bác Hồ. Có người đã tham gia những khóa của ban chấp hành Trung ương Đảng (Trung ương Ủy viên) hay Quốc hội. Có người đã từng có mặt trong Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ở Việt Bắc …. Đến nhà tôi tiện lợi giao thông, lại ở sát tường một Ủy viên Bộ Chính trị (Tô Huy Rứa) …” (Trích bài viết trên của cụ Lê Hữu Hà).

Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cũng thường đến sinh hoạt với CLB này.

Với cơ cấu nhân sự ấy, người ta khó bề quy kết chống Đảng, phản động …. Để lý giải cho hành động đàn áp vô lối, người ta đành sáng kiến vu cáo rằng đấy là sân sau của Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Thanh Giang cài người và chỉ huy dấu mặt CLB này!
Biện pháp kinh tế

Câu lạc bộ thường họp ở tầng 2 nhà cụ Lê Hữu Hà. Ở tầng 1, con trai cụ mở cửa hàng tạp hóa. Họ quấy đảo người đến mua hàng làm cho con trai cụ phải đền bù mất 10 triệu đồng. Họ còn dọa sẽ bỏ ma túy vào cửa hàng. Và, 12 giờ đêm ngày 14 tháng 3 năm 2012 họ gọi con trai cụ lên công quyền ra lệnh ngày mai phải đóng cửa hàng.
Chuẩn bị vũ lực

Cụ Lê Hữu Hà kể: “Kể ra thì chuẩn bị trấn áp cũng đầy đủ. Mươi công an, bộ đội đi đi lại lại trước ngõ 178 Tây Sơn. Nhiều chục người đi xe đạp đến, dựng xe đầy ngõ gần nhà tôi. Những người ngụy trang đó đi lại trên đường phố, trong ngõ lẫn lộn trong đông đúc người …”.

Chỉ vài chục ông già ngồi xuống đứng lên còn khó khăn, vung mạnh tay không nổi mà họ làm như chuẩn bị giáp lá cà với những binh sỹ cao lớn đến từ trời tây trước đây!

Đến lượt tôi:

Suốt hai chục năm qua, tôi chỉ làm chính trị sa lông. Không những chưa đứng ra thành lập mà cũng chưa hề tham gia bất cứ Đảng hay hội đoàn nào.

Tôi vốn là người ưa hoạt động trong nhiều lĩnh vực (Khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao …) và thích giao du nên không sống khép kín được. Tôi không hề nghiện bất cứ thứ gì và có thể không cần ăn ngon nhưng không thể không giao du. Tôi rất cần được tiếp bạn mọi lứa tuổi, đa lĩnh vực. Tuy nhiên, những năm gần đây, thấy quỹ thời gian của mình không còn được là bao nên tôi đành phải hạn chế số giờ tiếp khách để tập trung đọc, học và viết. Tôi tiết kiệm thời giờ gần như tối đa. Ngày hai buổi thể dục, mối buổi 45 phút cũng được bố trí đế có thể vừa tập vừa nghe chương trình Thời sự của Đài Tiếng nói Việt Nam thông qua chiếc đài chạy bằng pin đặt nơi góc sân tập. Vợ con rất thông cảm nên cũng không bắt tham gia bất cứ việc nhà nào nữa.

Đế hạn chế giờ tiếp khách, tôi quy ước bạn bè chỉ đến nhà tôi tháng một lần vào sáng thứ sáu đầu tháng để thăm hỏi nhau, biết nhau còn sống và nghe nhau nói chuyện thế thái nhân tình. Không phải là hội là câu lạc bộ gì cả, chỉ có một số như: đại tá Phạm Hiện – lão thành CM, nguyên Chánh Văn phòng Mặt trận Việt Nam tại Campuchia; đại tá Trần Liên – lão thành CM, nguyên Phó Tư lệnh Binh chủng Rada; đại tá Thế Kỷ - nguyên trưởng ban Lịch sử Quân chủng Phòng không Không quân; tiến sỹ Trần Nhơn, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy Lợi; tiến sỹ Bùi Đức Nùng, nguyên Phó Tổng Giám đốc VOSCO; công trình sư Lê Mai Đậu; luật sư Trần Lâm (gần đây ít ở Hà Nội nên vắng); cựu phó hiệu trưởng Trường Đảng Hữu Lũng Vi Đức Hồi đến dự được mấy buổi thì bị bắt …

Những buổi họp mặt tâm tình diễn ra đều đặn suốt gần hai năm qua. Không hề có biểu hiện hoạt động chính trị gì.

Thế mà:

7 giờ sáng 1 tháng 6 vừa qua (thứ sáu đầu tháng sáu) một thượng tá và một đại úy công an ốp vào nhà tôi “ra lệnh một cách lịch sự”: “Sáng nay bác không nên cho tụ họp ở đây nữa!”. Tôi nằn nèo: “Thôi các cụ đã chuẩn bị đến rồi. Các anh cứ ngồi cùng dự, rồi cùng ăn trưa một thể cho vui”. Họ bảo dứt khoát hôm nay không được họp vì ai đến đều sẽ bị giữ lại ngoài kia. Chúng tôi phải ngồi đây để nếu ai lọt vào thì sẽ mời về. Tôi thương các cụ quá, không muốn đế các cụ bị làm phiền nên đành gọi điện thoại đi khắp nơi báo tin.

Buổi chiều, hàng xóm cho biết sáng nay rất nhiều xe, nhiều công an và người thường vây quanh nhà tôi, tập trung ở đầu ngõ và ở sân UBND xã bên kia đường.

Thế là chiến dịch trấn áp cái không phải là bất cứ hình thức tổ chức nào của tôi cũng quy mô như đối với “Câu lạc bộ Học và Làm theo Tư tưởng và Đạo đức Hồ Chí Minh” đã kể trên đây. Chỉ khác là thủ đoạn chính trị của họ đối với tôi nó đê tiện quá, trâng tráo quá. Họ tung tin đây đó rằng mỗi năm tôi nhận được từ Nguyễn Gia Kiểng hàng chục nghìn đôla để làm những việc này. Họ khôn nhưng không ngoan, muốn bịa đặt, vu khống thì phải dựng những chuyện không kiểm chứng được. Đằng này tôi còn đây, Nguyễn Gia Kiểng còn kia, thực tế còn đó. Họ không sợ bị khinh bỉ, bị phỉ nhổ hay sao.

Họ còn bắn tin đe dọa sẽ có biện pháp mạnh đối với tôi. Ai biết trong cơn hoảng loạn mất hết tự tin, danh dự này họ có thể làm những điều xấu xa tệ hại đến mức nào. Trời Phật đã cho tôi sống đến tuổi 76. Tôi đã sống rất tử tế và đã đóng góp cho gia đình, cho nhân quần xã hội không đến nỗi quá kém cỏi nên chẳng có gì phải ân hận nữa. Tôi cũng sẽ không cầu xin bất cứ điều gì ngoài điều này: nếu họ lại làm điều gì bậy bạ quá tệ nữa thì hãy nhân đó kích động lòng trắc ẩn để thật nhiều người tìm đọc những gì tôi đã viết, đã nói, không chỉ đế xác định được giữa tôi và họ, ai là người có tội đối với nhân dân, với đất nước. Hơn một nghìn trang viết suốt gần hai chục năm qua chắc cũng bộc lộ khá rõ tư tưởng của tôi, nhân cách của tôi, từ đấy minh giải đúng đắn những gì người ta đã bịa đặt, vu khống, xuyên tạc rất đau lòng. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Hà Nội 2 tháng 6 năm 2012

© Nguyễn Thanh Giang

Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Điện thoại: (04) 35 534 370

—————————————–
Bài viết do tác giả gửi. VANGANH.INFO biên tập và minh hoạ.
—————————————–


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Bức ảnh “Napalm Girl” tròn 40 tuổi

Ngũ Phương – tổng hợp

Cuối tháng Năm/2012, nhiều Web site lớn trên thế giới đã đưa tin: “Tấm ảnh chụp “napalm girl” đã được 40 năm”.

Chỉ trong một giây, nhiếp ảnh gia của hãng tin AP (Associated Press) lúc đó là ông Huỳnh Công Út, tức “Nick Ut” – một thanh niên 21 tuổi – quyết định bấm máy, ghi lại hình ảnh những đứa bé kêu khóc bị bom napalm trên một quốc lộ ở miền Nam Việt Nam trước đây. Đó là thị trấn Trảng Bàng, cách Sài Gòn 30 phút lái xe về hướng bắc.

Đó là ngày 8 tháng 6 năm 1972, cô bé tên Phan Thị Kim Phúc nghe các binh sĩ VNCH hét lên: “chạy nhanh đi ra khỏi nơi đây, họ sắp dội bom, chết hết bây giờ!” Chỉ vài giây sau, cô bé thấy “vầng sáng màu vàng và cam” tỏa lên xung quanh một Thánh Thất Cao Đài nơi gia đình cô bé trú ẩn từ 3 ngày qua. Phúc chạy nhào ra Quốc Lộ 1 cùng với các trẻ em khác. Quần áo Phúc bị cháy tan, còn lưng và cánh tay Phúc bị cháy nám đen. Phúc la lên “nóng quá, nóng quá”.
Kim Phúc và phóng viên Nick Út (Trảng Bàng, Việt Nam, 1973) Nguồn ảnh:  AP
Nick Út đã lấy nước cho Phúc uống rồi vội vã đưa Phúc lên xe chạy đến bệnh viện Củ Chi. Tại đó Út nói “Tôi là một phóng viên, xin làm ơn cứu đứa bé này, tôi không muốn nó chết”. Và mọi người đã giúp đỡ Phúc ngay. Bên cạnh Út lúc đó còn có ký giả Christopher Wain của ITN (Independent Television Network), ông này đã rưới nước trong căng-tin lên người Phúc (không biết việc làm ấy chỉ làm vết bỏng thêm trầm trọng). Về sau, Wain đã giúp Út đưa Phúc từ bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn đến bệnh viện Barsky, nơi duy nhất có đủ phương tiện để điều trị những vết bỏng nặng. Qua 17 lần giải phẫu, Phúc được một nhóm các bác sĩ gồm nhiều quốc tịch khác nhau đã tận lực cứu chứa. Sau 2 năm ròng rã, cô bé Phúc 9 tuổi đã thoát khỏi lưỡi hái tử thần.

Thoạt đầu tấm ảnh trứ danh không được đăng vì AP có đường lối không đăng ảnh lỏa thể, nhưng Horst Faas, Giám Đốc phân bộ ảnh, khi liếc qua, đã thay đổi ý kiến. Ông nói: “tấm ảnh này có giá trị lớn lắm đó”. Faas đã đúng, “napalm girl” trở thành một trong những tấm hình chụp ấn tượng nhất về chiến tranh Việt Nam. Riêng Nick Út được trao giải Pulitzer 1972.

Napalm Girl Phan Thị Kim Phúc

Thế còn Kim Phúc thì sao?

Sau khi được cứu sống, Phúc trở về lại Trảng Bàng. Khi quân cộng sản Bắc Việt chiếm được miền Nam tháng Tư, 1975 thì cái-gọi-là “giải phóng miền Nam” chỉ làm cho cuộc sống của Phúc thêm khốn khổ vì gia đình của Phúc bị liệt vào thành phần tư bản và bị mất tất cả tài sản. Nhưng cha mẹ Phúc vẫn cố gắng nuôi dưỡng đứa con bị thương tật, thường xuyên phải chịu những cơn đau xé người vì các vết bỏng cũ.

Năm 1982 – 10 năm sau tấm ảnh của Nick Út – một nhiếp ảnh gia người Đức đến Việt Nam và muốn tìm “cô bé trong hình”. Thế là cộng sản Việt Nam thấy ra Phúc là một công cụ quý giá. Chúng tìm ra được Kim Phúc đã trở thành một cô sinh viên năm thứ nhất Đại học Y Khoa (TPHCM). Kể từ lúc đó Phúc không còn được yên ổn nữa . Cô bị buộc phải đóng các bộ phim tuyên truyền. Khi trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, cô bị kiểm soát hết sức gắt gao. Nhiều lần, Phúc tìm cách trốn chạy nhưng vẫn bị truy lùng và bắt lại. Cuối cùng, cô bị buộc thôi học và bắt phải trở lại Trảng Bàng. Tại đây Phúc bị quản thúc nghiêm ngặt vì là một “biểu tượng quốc gia về chiến tranh” (national symbol of war).

Kim Phúc nói: “Tôi muốn chạy trốn khỏi tấm hình đó. Tôi bị phỏng vì bom napalm, và tôi trở thành một nạn nhân của chiến tranh. Nhưng khi tôi lớn lên, tôi lại trở thành nạn nhân của một thứ khác”. Thế nhưng dù luôn luôn trong tình trạng bị o ép, rình rập trong gọng kềm của nhà cầm quyền cộng sản, Kim Phúc may mắn tìm được một nơi trú ẩn yên ổn cho tâm hồn, đó là lúc cô tình cờ đọc được một cuốn Kinh Thánh. Và rồi từ một tín đồ Cao Đài, Kim Phúc đã trở thành một giáo hữu Tin Lành.

Năm 1986, Kim Phúc tìm được cơ hội đi học tại Cuba. Tại Cuba, Phúc gặp một du học sinh là Bùi Huy Toàn. Năm 1992, hai người kết hôn và đến Moscow để hưởng tuần trăng mật. Trong khi bay từ Moscow trở lại Cuba, Toàn và Phúc quyết định đào tẩu khi máy bay ghé lấy nhiên liệu tại Gander, Newfoundland (Canada). Sau đó, hai người đã được hội đoàn Tin Lành bảo trợ để được tị nạn tại Canada.

Năm 1996, với sự giúp đỡ của Ron Gibbs, một cựu chiến binh Hoa Kỳ và một thành viên Ban Giám đốc Quỹ Đài Tưởng niệm (The Memorial Fund), Kim Phúc thành lập “The Kim International Foundation” với mục đích cứu giúp các trẻ em chiến tranh trên khắp thế giới. Năm 1997, Kim Phúc được UNESCO tặng danh hiệu “Đại sứ Thiện nguyện cho một Văn hóa vì Hòa bình” (Goodwill Ambassador for a Culture of Peace).

Cô bé Kim Phúc trong hình và người phóng viên Nick Út ngày nào đã gặp lại nhau khi Phúc ra được tới Cuba. Út khuyến khích Phúc kể lại câu chuyện cuộc đời mình cho thế giới biết. Ban đầu Phúc từ chối vì đã quá chán ghét những cuộc tra hỏi và quay phim của nhà nước cộng sản Việt Nam, cô chỉ muốn sống một cuộc đời bình thường như bao người khác. Nhưng cuối cùng, Kim Phúc quyết định dành lại quyền thuật lại câu chuyện đời mình. Cuối năm 2000, cuộc đời của Phan Thị Kim Phúc đã được tác giả Denise Chong kể lại trong cuốn sách mang tựa đề “The Girl in the Picture”.
Kim Phúc và "The Girl in The Picture" Nguồn ảnh:  http://henrygarman.com
Giờ đây 49 tuổi, Kim Phúc sống hạnh phúc ở Toronto với chồng và 2 con. Cô có thể bình tĩnh nhìn vào bức ảnh và nói: “Rất nhiều người chỉ biết hình tôi nhưng rất ít người biết về cuộc đời tôi. Tôi thật biết ơn vì giờ đây tôi có thể chấp nhận tấm hình ấy như một tặng phẩm đầy sức mạnh. Và rồi chính tôi phải chọn lựa. Và rồi tôi có thể dùng tấm hình ấy để làm việc cho hòa bình.”


© Ngũ Phương
Theo DCVOnline
-------------------------
Nguồn:
- Audio “Lời Chứng Của Bà Phan Thị Kim Phúc” , Phan Thị Kim Phúc, tinlanhhyvong.com
- ”Iconic 'napalm girl' photo from the Vietnam War turns 40”, Margie Mason, USA Today,
- ”Vietnam Napalm Girl” famouspictures.org




* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Họ là ai giữa Tháng 6 Ngày 5

Nhân dip kỉ niệm một năm Ngày 5 Tháng 6, ngày sinh viên, trí thức và những người yêu nước Việt Nam xuống đường biểu tình chống nhà cầm quyền Trung Quốc xâm phạm trắng trợn chủ quyền Biển Đông của Việt Nam, tôi xin trân trọng gửi đến quí vị độc giả một bài viết mới.

Tôi mong Quốc Hội VN sớm thông qua Luật Biểu Tình theo đề nghị của thủ tướng chính phủ hôm 25 tháng 11 năm 2011 để mọi người dân được tự do bày tỏ lòng yêu nước của mình mà không bị đàn áp và bắt bớ như ngày 5 tháng 6 năm 2011 vừa qua. Vì theo tôi, bọn bành trướng bá quyền Trung Quốc sẽ còn tiếp tục lăm le xâm lấn Biển Đông và biên giới đất liền của ta. Chỉ có quyết tâm của toàn dân tộc thì mới có thể đẩy lùi được ý đồ bành trướng bá quyền xâm lược của chúng.


Họ là ai giữa Tháng 6 Ngày 5

(Kính tặng các biểu tình viên)

Họ không phải là sinh viên
Cũng không là thầy giáo
Không phải nhà văn
Cũng không là nhà báo…
Họ là những Thiên Thần
Từ xứ sở Thần Tiên
Ghé qua Việt Nam
Vào Tháng 6 Ngày 5
Để thức tỉnh
Các con dân Nước Việt
Một thảm hoạ đang cận kề
Mà nhiều người chưa được biết
“Thảm hoạ biển người “
Đang chầu chực tràn sang!
Thảm hoạ gây nên bởi
Bè lũ bá quyền nuôi mộng xâm lăng
Mồm rao giảng học thuyết Đại Đồng
Mà chân lại xéo dày lên chủ quyền nước khác
Trong quá khứ đã chồng chất tội ác
Và ngày nay đồ tể hiện nguyên hình!

Ai đã đón chúng vào nước ta ư?
Rồi lịch sử sẽ công minh phán xét!
Ai đã bắt các Thiên Thần hôm đó ư?
Rồi lịch sử sẽ ghi danh khắc biết!

Các Thiên Thần hôm nay đã trở lại đời thường
Người vào tạm trong tù ngồi sáng tác văn chương
Người trở lại cơ quan, về giảng đường đại học
Những thông điệp do các Thiên Thần
Năm ngoái mang đến cho chúng ta
Lịch sử đã từng ghi từ hàng ngàn năm trước
Nhưng không hiểu vì sao mà có kẻ cố tình quên?

Tổ Quốc mình đã bao giờ có được phút bình yên
Kể từ sau cả ngàn năm Bắc Thuộc?
Có lẽ vì đất nước chúng ta tuy có thừa anh hùng
Nhưng cũng không thiếu bọn buôn dân bán nước
Vì lợi quyền riêng mà rước giặc vào nhà!

Đau đớn thay những người lính đảo xa
Ba má không ai chăm nom, con không người nuôi dưỡng
Kể từ tháng 1 năm 74, khi các anh ngã xuống
Trước họng súng bá quyền sang cưỡng chiếm Hoàng Sa!

Ôi thật thương tâm người Liệt Sĩ đảo Gạc Ma!
Khi mộ anh được chuyển về quê Quảng Phúc(*)
Thì danh hiệu Anh Hùng không biết có kẻ nào đã cướp?
Để lại người vợ trẻ chân quê bao tủi nhục xót xa!

Ôi Việt Nam! Việt Nam! Tổ Quốc hay là chết!
Cờ đỏ rợp trời giữa Tháng 6 Ngày 5
Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam sẽ đời đời bất diệt!
Tiếng các chị, các anh hô bao chất chứa hờn căm!

Rồi sẽ tới buổi bình minh trở về trên đất nước
Xin mời những Thiên Thần ra biển đảo tham quan
Rồi sẽ tới ngày Biển Đông dìm xác giặc
Xin hẹn cùng nhau ca khúc hát khải hoàn!

Hà Nội, 4/6/2012

© TS Đặng Huy Văn
-----------------------
Bài viết do tác giả gửi - BBT.VANGANH biên tập và minh họa...
-----------------------

(*) Bia Mộ của Liệt Sĩ Trần Văn Phương (hy sinh ở đảo Gạc Ma thuộc QĐ
Trường Sa ngày 14/3/1988) tại nghĩa trang Liệt Sĩ xã Quảng Phúc, huyện
Quảng Trạch, Quảng Bình cho đến ngày 15/4/2012 vẫn không được khắc vào
bia mộ danh hiệu Anh Hùng mà nhà nước đã truy tặng anh năm 1989. Do áp
lực đấu tranh từ nhiều phía, họ mới hứa sẽ làm lại bia mộ cho anh Trần
Văn Phương, nay không biết đã làm chưa? Vợ của anh Phương do chuyện
riêng tư nên nay đã phải vào Sài Gòn mưu sinh.



* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lê Hiền Đức - Ảnh do bác sỹ chụp và gửi đến.

Một số ảnh do bác sỹ chụp và gửi đến trang tin :

Theo các công an và thanh tra của 4 T nói với báo chí thì như thế này được gọi là xây xước nhẹ. Họ còn nói với báo chí rằng : cứ để sau khi bà Lê Hiền Đức ra viện sẽ điều tra, xử lý !

Việc sở 4 T giam giữ một bà già 82 tuổi trong phòng kín từ sau 2 giờ chiều đến 3 giờ sáng hôm sau liệu có đúng luật pháp ? Không cho người nhà, con cháu tiếp cận, đưa về, công an phường Cát Linh, cảnh sát 113 được gọi nhiều lần từ 4 giờ chiều đến lập biên bản sự việc nhưng đã không đến, 12 giờ đêm một nhóm 4 người gồm 2 cảnh sát giao thông, hai cảnh sát 113 đến nhưng lại về luôn sau khi " hội ý" với mấy người mặc đồng phục dưới cổng sau - vậy họ sẽ phải trả lời công luận ra sao ?

Những chứng cứ về việc vi phạm pháp luật của lãnh đạo và nhân viên sở 4 T, sự vô trách nhiệm của công an phường Cát Linh, cảnh sát 113 đã được các nhân chứng tập hợp để sắp tới sẽ đưa lên công luận, giúp độc giả nắm được chi tiết về vụ việc xảy ra tại sở 4 T vừa rồi.





© Lê Hiền Đức


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Cháu ngoan bác Hồ đã 82 tuổi còn gây rối?

(Ghi chép dư luận hè đường)

Tin từ các báo Hà Nội đưa


Bà Lê Hiền Đức tự đến trụ sở của sở 4T gây rối.

Bài báo đã dấy lên nhiều nghi hoặc trong dư luận những câu hỏi rất khó trả lời.

Sáng nay tại quán cà fe ở trung tâm Hà Nội, nhiều người đọc báo đã buộc phải giật mình hỏi nhau.
Nghe Phỏng vấn Cụ Lê Hiền Đức
- Thiên hạ loạn rồi, ở đâu cũng thấy gây rối, bà già 82 tuổi rồi mà còn đi gây rối đến 3 giờ đêm công an phải đưa đi viện.?

- Gây rối thế nào mà lại bị đi viện, mà lại có công an đưa đi nhỉ?

- Hỏi chán, đọc báo mãi mà không biết, giờ được mời đến cơ quan công quyền tự nhiên đột tử, va đầu vào dùi cui, dây điện thoại, bàn ghế chết là chuyện thường. Không được mời tự nhiên đến đi viện là phải.?

- Ơ thế cơ quan công quyền phải được mời mới đến được à.? Tưởng cơ quan công quyền là phục vụ dân, ai có nhu cầu gì cứ đến chứ. Cơ quan công quyền phải có trách nhiệm tiếp dân và trả lời những vấn đề mà công dân đó muốn hỏi chứ.?

- Ờ đến mà hỏi, người ta đã không thích thì nhẹ thành gây rối, nặng thì đi viện do tự chấn thương.

- Bà già này mà tụt quần thì không bị tội gây rối đâu, như mấy ông thương binh xông vào viện Hán Nôm ấy, các ông ý có cần ai mời đâu, cứ xông vào ép lãnh đạo viện phải tiếp, xong cởi quần tô hô nằm giãy đành đạch thì được báo chí Hà Nội gọi là đến đóng góp ý kiến.

- Ôi tôi biết bà này, bà này là trước là cán bộ an ninh, thời bác Hồ còn sống, bà này từng làm liên lạc cho bác Hồ, bác quý lắm, đặt tên cho đấy.

- Thế à, chết dở, bây giờ chỉ tưởng bọn dân oan, biểu tình bờ hồ, đua xe…gây rối, đến bà già 82 tuổi cháu ngoan của bác Hồ cũng đi gây rối thì loạn mẹ nó thật rồi.

- Chắc gì bà ý đã đi gây rối, cả cái cơ quan to thế, mấy tầng, đọc báo thấy bảo bà ý không được cho vào. Mà tôi xem clip trên mạng thấy 3 giờ đêm bà Đức lại ở tầng 4 đập cửa kêu cứu. Thế bà ý có phép thần thông mà mò được lên tận tầng 4 khi không được bảo vệ cho vào. Báo ANTĐ nói là ngồi ở hành lang cơ mà. Thế ai cho bà ấy lên tầng 4, hay là bị bắt lên.

- Bọn nó lừa bà ý đấy mà, làm đéo gì cả cái cơ quan to thế để bà ý đi lại lung tung. Xem clip trên truyền hình Hà Nội đưa. Thấy bà đi lại, gõ cửa như chỗ không người. Chúng nó lại còn điềm nhiên quay phim. Chứng tỏ nó mưu sẵn, cho bà tự nhiên đi lại để rồi nó quay phim vu vạ. Có thấy thằng nào ra ngăn chặn, thuyết phục đâu. Xem mãi chả thấy, chỉ đúng bà Đức đi lại như chỗ không người.

- Này, thấy còn nói bên ngoài có 30-40 kéo đến gây rối với bà ý nữa này.

- Ông thắc mắc dở, một bà già 82 tuổi, đêm hôm mưa gió bị nhốt hay bà cố ở lại đó đi. Thì con cháu, người quen phải đến đòi gặp hay đòi cho bà ấy về chứ. Giờ nhà ông có người nào cao tuổi như vậy mà đến 3 giờ đêm vẫn ở trên cơ quan công quyền chưa về. Liệu ông có ngồi yên ở nhà đợi không.?

- Thôi tốt nhất đừng tin cái đéo gì, đm nghe đài báo đợt nọ, nó xui mua chứng khoán, mua xong giờ vỡ mặt đây này. Nó bảo không tăng giá xăng, giá điện thì đùng cái mấy hôm sau nó tăng, làm gì được nó, đi hỏi thì nó bảo thương trường như chiến trường, mà đã ra chiến trường thì binh pháp dạy phải biết dối trá, đấy làm gì được nó. Thích thì nó bổ nhiệm nhau lên, khi có vấn đề nó bảo đó là nghiệp vụ để cách ly tiện điều tra.

- Các ông lắm chuyện, người ta mua báo bây giờ để đọc cái điêu chác tiêu sầu, các ông đọc cứ lại tin là thật, bảo sao cãi nhau. Thôi quay về bàn Euro sắp tới thằng nào ẵm cúp nào.

© Người Buôn Gió Blog


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Từ giải tỏa, cưỡng chế đến ăn cướp đất

Sáng ngày 30.5.2012 tôi có việc đi từ đường Thanh niên sang phía Cửa Nam, khi tới chỗ quán bánh tôm Hồ Tây đã thấy tắc đường. Xe nhích mãi, nhích mãii… gần nửa tiếng mới đến gần đền Quán Thánh, thì thấy dân chúng biểu tình đông nghịt trước cửa Văn phòng Chính phủ ở đầu đường Hoàng Hoa Thám. Qua cửa xe nhìn thấy một nhóm đông tới cả trăm người mặc áo đỏ in chữ “Tiểu thương chợ Nghĩa tân Quận Cầu giấy kêu cứu!”. Đi tiếp một đoạn đến sát vườn hoa mới thấy, hóa ra có cả khẩu hiệu của bà con Bình dương, Đăk lăk v.v… ra “ăn vạ”. Các loại cảnh sát đông nghịt, có cả một cái xe tải của Cảnh sát cơ động chở toàn thanh niên mặc thường phục(!?), đang định hỏi có chuyện gì, thì lập tức một chú cảnh sát ra thổi còi ầm ĩ ra hiệu đuổi xe mình đi, không cho dừng.

Cảnh sát đuổi thì đi, vừa lái xe vừa nghĩ kiểu này không khéo nguy to, thượng tầng hết Vinashin đến Vinalines, hạ tầng thì Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ bản… Lại thêm hôm trước biết tin hai mẹ con bà Phạm Thị Lài và cô con gái là Hồ Nguyên Thủy khỏa thân để giữ phần đất đã bị chiếm đoạt một cách thiếu minh bạch mà nghẹn lòng. Tuy bà Lài và cô con gái chỉ là người dưng chứ chả phải họ hàng ruột thịt gì với cá nhân tôi, nhưng chợt nghĩ rồi một ngày nào đó người than của tôi hay của bạn bị rơi vào hoàn cảnh tương tự như vậy thì bạn sẽ nghĩ ra sao?

Vụ việc trên cụ bà Lê Hiền Đức một cán bộ lão thành cách mạng đã phải thốt lên “Cưỡng chế hay cưỡng hiếp?”. Mà theo bà Phạm Thị Lài – nạn nhân cho biết “Đất này gia đình tôi bỏ tiền mua để cất nhà sinh sống mấy chục năm. CIC 8 tự đưa giá rồi ép chúng tôi nhận tiền mà không cho chúng tôi quyền được thỏa thuận mua bán. UBND Q. Cái Răng dùng lực lượng CA cưỡng chế đất giao cho CIC 8. Chồng tôi sức yếu thế cô, uất ức quá nên đã một lần uống thuốc sâu tự tử để phản đối. Giờ mẹ con tôi biết làm gì ngoài việc lột đồ, chịu nhục để phản đối?!“. Ngoài ra còn được biết hiện giá đất mà CIC 8 đang chào bán ngay tại vị trí đất của hộ bà Lài là hơn 5 triệu đồng/m2. Trong khi theo bà Lài, Công ty này chỉ bồi thường cho gia đình bà chỉ 500.000 đồng/m2 và gia đình bà cũng không được bố trí tái định cư.

Vấn nạn thu hồi đất của người dân với giá đền bù rẻ mạt khoảng 100 – 500 ngàn đồng/m2 cho các nhà đầu tư dưới danh nghĩa của các Dự án phát triển. Để rồi các nhà đầu tư trong chớp mắt bán lại với giá gấp vài chục đến hàng trăm lần so với giá đền bù, mang lại các khoản lợi nhuận khổng lồ như ở Việt nam hiện nay quả là có một không hai kể cả việc so sánh với hai quốc gia Syria và Campuchia, là hai trong những quốc gia mà ở đó đặc trưng bởi sự thiếu cam kết với những giá trị tự do, từ đó dẫn đến tình trạng cướp đất cũng khá phổ biến. Chứ ngay cả Trung quốc, một quốc gia cộng sản có đường lối và chính sách tương tự như Việt nam, nhưng việc làm chuyện giải phóng, quy hoạch xây dựng phải nói là rất tốt. Cách đây gần chục năm khi qua Trung quốc, sau khi tìm hiểu thì được biết họ làm công tác giải phóng, quy hoạch xây dựng rất khoa học và bài bản. Cụ thể bằng cách Nhà nước giải phóng mặt bằng toàn bộ trên một diện rộng, tạo quỹ đất sạch, đồng thời tiến hành quy hoạch chi tiết 1:2000. Sau đó đem đấu giá quỹ đất sạch đó cho các chủ đầu tư. Tiền thu được một phần trả cho dân theo danh nghĩa đền bù, một phần tiền được dùng gửi Ngân hàng để nuôi người già, trẻ, tàn tật… Số đất còn lại được chuyển thành cổ phần hoặc đất dịch vụ. Mà mức đền bù cho dân của nhà nước không thỏa đáng thì cũng khó mà thu hồi được đất của họ, như hình ảnh dưới đây là một ví dụ, chứ làm sao có chuyện dùng lực lượng vũ trang hay bán vũ trang, sử dụng bạo lực để tùy tiện cướp đất của người dân như ở xứ ta hiện nay.
Một ngôi nhà cương quyết không chịu nhận đền bù trong việc giải phóng mặt bằng ở Bắc kinh
Nhìn lại lịch sử loài người trong vài trăm năm gần đây nó tương tự với việc người da trắng cướp đất của người da đỏ ở châu Mỹ, với bằng chứng là những cuộc chiến nổ ra từ thế kỷ 17 khi Bắc Mỹ còn là thuộc địa của Đế quốc Anh dưới triều vua William III, cho đến các trận đánh sau cùng với quân đội Hoa Kỳ năm 1890 (cuộc tàn sát tại Wounded Knee). Hay sau đó là cuộc Cách mạng công nghiệp diễn ra ở cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20 ở châu Âu, do nhu cầu về nông sản tăng cao, hay việc bùng nổ hệ thống đường sắt ở châu Âu và châu Mĩ đã dẫn tới phong trào đuổi những người nông dân ra khỏi ruộng đất để biến đất đai đó thành đồng cỏ nuôi cừu và xây dựng các tuyến đường sắt… Đó là chuyện cũ trong lịch sử các đây nhiều trăm năm, tưởng sẽ mất đi vĩnh viễn, không ngờ bây giờ ở Việt nam, việc cướp đất của người dân bằng bạo lực đã và đang tái hiện một cách có hệ thống và lan rộng như một đại dịch, từ Bắc chí Nam. Đâu đâu cũng thấy cảnh người dân bị cướp đất một cách oan uổng, trắng trợn để làm giàu cho một số nhóm người rất nhỏ – tầng lớp Tư bản đỏ.

Đã thành quy luật mà người ta đã tổng kết là “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh!”. Bằng chứng gần đây nhất là Vụ anh em gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở Tiên lãng – Hải phòng dung vũ khí thô sơ tự chế để chống trả việc cưỡng chế bất công vô pháp luật của chính quyền Huyện Tiên Lãng. Hay vụ nông dân ba xã ở huyện Văn Giang – Hưng yên dung bom xăng, cuốc thuổng gậy gộc để chống trả lực lượng cưỡng chế đất cho dự án EcoPark với cả nghìn cảnh sát, dân phòng… trang bị súng ống đến tận răng. Và kết cục thì tất cả các hành động chống trả của nhân dân mang tính chất trứng chọi đá, những người nông dân chủ đất cũng đều là thất bại. Không thất bại sao được khi một bên là những người nông dân hiền lành, suốt đời chỉ biết một nắng hai sương bán măt cho đất, bán lưng cho giời để kiếm sống. Và một bên là một đội quân hùng hậu vốn là con em củanhững người nông dân, nhưng bị một nhóm lợi ích nhân danh đảng và chính quyền buộc quay súng hay dùng dùi cui để bắn hay đánh đập những người vốn từng là đồng chí hay cha mẹ các đồng chí của họ. Mặc dù họ, những người lính biết đó là chuyện không đúng nhưng không thể trách họ được, vì đó là trách nhiệm và nghĩa vụ của quân nhân mà buộc họ phải thi hành.

Đó chính là lý do vì sao mà hai mẹ con bà Phạm Thị Lài và con gái là Hồ Nguyên Thủy khỏa thân để giữ phần đất đã bị cướp đoạt, bởi họ đã bị dồn tới bước đường cùng. Cho dù họ biết rằng khỏa thân để giữ đất, vẫn bị vệ sĩ lôi kéo trước mặt hàng xóm là rất nhục, nhưng mẹ con bà Lài vẫn phải cắn răn chịu đựng. Chuyện này ngày xưa, những người bần cố nông như anh Pha, chị Dậu cũng không thể hình dung được trên đất nước Việt nam ngày nay lại có thể xảy ra điều này, điều mà trong lịch sử 4.000 năm của dân tộc Việt nam không thấy sử sách nào ghi lại. Kể cả dưới chế độ thực dân phong kiến cách đây gần một thế kỷ chuyện hai người phụ nữ phải miễn cưỡng khỏa thân để giữ đất đai, tài sản của họ cũng không bao giờ có thể xảy ra. Cũng có lẽ bởi thời đó, xã hội họ sống là chế độ có luật pháp?
Khỏa thân để giữ đất, lịch sử Việt nam sẽ mãi lưu giữ những hình ảnh bi hài này của Dân tộc
Nói cho công bằng, cách đây không lâu, chỉ khoảng 5 – 6 năm, chuyện thực hiện bồi thường đền bù trong việc giải phóng mặt bằng ở Việt nam cũng có bài bản, quy trình cụ thể và được thi hành khá nghiêm túc, có tình có lý. Cho dù ngày ấy còn có nhiều chuyện bất cập hoặc oan sai, nhưng nó chỉ là cá biệt, không là vấn đề phổ biến và mang tính chất ăn cướp có sự tiếp tay của chính quyền như bây giờ. Một phần vì bản chất của các bác nông dân là rất tham, nên gặp mấy thằng làm công tác đền bù, bồi thường ở địa phương nó bày cách, cũng là để chúng nó có cơ hội xà xẻo nhưng bà con mình không biết, thế nên cứ xông pha. Thêm nữa mấy hộ nông dân mấy khi có đến tiền tỷ, giờ được đền bù một cục tiền to tướng thì hoa mắt, như ở Văn Giang 95% số hộ đã đồng ý nhận tiền đền bù và đã tiêu hết. Đến giờ giá đất chênh lệch nhiều so với cách đây gần chục năm, lại nghe chúng nó xui đòi giá chênh lệch, để rồi cuối cùng trăm sự trút lên đầu mấy ông nông dân ít chữ, thấp cổ bé họng. Chưa kể đến trong khi tiền thì mất giá, trong khoảng 10 năm giá cả đất đai tăng lên vùn vụt, giờ cứ mang giá đã nhận đền bù cách đây 10 năm để so bì thì nghe cũng khó. Nghe nói, cách đây 8-9 năm giá đất ở Văn Giang 36 triệu/sào bán là khó, không tin thử hỏi mấy ông buôn đất cách đây khoảng chục năm năm họ có mua với giá ấy không, chưa nói đến khoản vàng hồi ấy chỉ khoảng 7-8 triệu đồng/lượng. Cần phải hiểu, gía đất giờ tăng một phần cũng bởi cái Nghị định số 69/2009/NĐ-CP đã nâng mức đền bù hoa màu tự 1,5-5 lần so với mức cũ năm 2003. Đó cũng là lý do vì sao những người nông dân ở nhiều địa phương không đoàn kết được thành một khối.

Một anh bạn tôi từng là cán bộ từng là cán bộ giải tỏa đền bù kể lại cho biết, trước đây lúc hòa giải thương lựơng với dân bất thành, mặc dù đã hội đủ mọi điều kiện, nhưng khi đó phía chủ đầu tư mới làm văn bản kiến nghị lên UBND TP. Thành phố. Ở đó họ cân đi, đo lại qua các cấp tham mưu mới ban hành quyết định thành lập Hội đồng cưỡng chế, phải đủ thành phần từ cấp ủy đảng, các cấp chính quyền ban nganh…, Mặt trận Tổ quốc, các hội, đoàn thể như CCB, Phụ nữ v.v… và nghiên cứu kỹ càng các quy định chi tiết khi tiến hành cưỡng chế v.v…Vậy mà rượt đi rượt lại vẫn không tổ chức được, vì chỉ cần bên công an e ngại về chuyện bạo động sẽ phức tạp là coi như xong. Cuối cùng lại phải xuống van lạy mấy hộ ngoan cố để cho họ đồng ý mức đền bù. Theo quy định là nếu quá hạn thì tiền đền bù theo giá cuối thì nộp vào kho bạc theo luật định và có tính lãi cho dân rồi. Nhưng rồi khi chính quyền bí thì phải gặp gỡ, động viên… và thêm cho ít bonus vài % nữa cho nó xong nên họ cũng vui vẻ chấp nhận thì mới xong. Anh còn cho biết cũng mệt mỏi lắm, có đợt đoàn của các anh cùng các ban xuống gặp gỡ gia đình nọ để bàn bạc thỏa thuận việc đền bù trong việc giải tỏa. Hôm đó có gặp một em gái dạy tiểu học, đã bị chị chàng mắng xối xả đoàn là bịp bợm, là lũ cướp ngày này nọ…, và đến lúc cao trào chị ta còn dọa tụt quần áo để đuổi cả bọn về. Cả bọn xanh mắt liền vội rút ngay vì sợ.

Anh còn cho biết những trường hợp cá biệt, đó là chuyện giải tỏa cưỡng chế đất cho Khu Du lịch Tràng An – Bái Đính cách đây hơn mười năm ở huyện Xuân Trường – Ninh Bình. Do làm đường mà phải giải toả nguyên một làng, cũng có đền bù , tuy nhiên do mức đền bù chưa thoả đáng dân không chiu. Về phía huyện Xuân trường cũng cậy tay to, ép chính quyền tỉnh Ninh Bình điều toàn bộ lực lượng CA Ninh Bình, CSCD, kinh tế, bảo vệ, giao thông …hơn 1.000 cán bộ chiến sỹ, đúng giờ G (tức là 12 h đêm) bao vây cả làng, toàn bộ lối ra vào được đều dựng rào dây thép gai, lưới B40. Nhưng không may là làng này không những có nhiều cụ là thành phần trung kiên thời chống Pháp, mà còn có vô số các con cháu là các cựu sỹ quan, chiến sỹ thời chống Mỹ, Tàu. Không hiểu lý do gì kế hoạch giải toả, cưỡng chế đã bị lộ ngay sau lúc được ký.

Khi lực lượng giải toả vừa bắt đầu triển khai, theo sự chỉ đạo chiến thuật, chiến lược thì lập tức tiếng kẻng vang lên và hàng trăm, ngàn củ đậu bay từ bụi tre, bụi duối, sau hàng rào … được bà con nông dân tặng cho lực lượng cưỡng chế, kèm theo tiếng kẻng, tiếng người hô. Khi mà dân ở trong tối, mà công an thì ở ngoài sáng, do bị tấn công bất ngờ nên các chiến sỹ , người thì núp sau khiên, người thì vội tìm gốc cây để núp, thương vong đã có. Sau giây phút bối rối, chỉ huy lực lượng công an gọi điện về cấp trên xin ý kiến và quyết định đưa ra rất nhanh…rút khẩn trương vì chẳng có “màu mè gì”. Kết quả là một số ít chiến sỹ bị thương, toàn bộ giây thép gai, lưới B40 bị dân tịch thu. Nghe nói, sau sự việc này, ở Ninh bình đã không triển khai cưỡng chế nữa, mà chuyển sang kế hoạch rình bắt một số thành phần cực đoan, manh động nhất để dẹp loạn, đồng thời yêu cầu bên Xuân Trường phải đàm phán lại với bà con cho thoả đáng.

Ngày xưa là thế đấy, còn bây giờ thì khác, tình trạng chính quyền địa phương ngang nhiên tự cho mình cái quyền cướp đất của dân, dưới danh nghĩa dự án này cũng trở nên phổ biến cũng chỉ 4-5 năm gần đây. Nhất là từ khi ông Ba D. làm Thủ tướng, là khi mà việc kiếm tiền từ đất, từ các dự án liên quan đến việc thu hồi và chuyển quyền sử dụng đất có ma lực ghê gớm bởi lợi nhuận. Cũng từ đó mà sinh ra hàng loạt đại gia, thiếu gia giàu lên một cách nhanh chóng bởi những đồng tiền có được từ các thương vụ kinh doanh đất đai hay tài nguyên quốc gia vốn thuộc sở hữu của toàn dân. Lợi nhuận càng kiếm dễ bao nhiêu, thì bọn cường hào mới kết hợp với tầng lớp tư bản đỏ có sự chống lưng của anh Ba, anh Tư, anh Sáu… từ trong hậu trường càng tàn bạo bấy nhiêu và ngày càng mất đi nhân tính. Chúng sẵn sàng làm tất cả vì tiền.

Ví dụ ngày 13 tháng 8 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Tại nghị định này Điều 28 – Khoản 2 ghi rõ “2. Đối với dự án đầu tư sử dụng đất không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì không phải làm thủ tục thu hồi đất; sau khi được giới thiệu địa điểm, chủ đầu tư và người sử dụng đất thỏa thuận theo hình thức chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp thay đổi mục đích sử dụng đất”. Nhưng trên thực tế thì khác, bất kể mục đích của Dự án nếu chủ đầu tư chi tiền là chính quyền sẵn sàng cưỡng chế. Bây giờ chủ đầu tư rất quái, họ dùng chiêu bài khoán gọn cho chính quyền trong việc cưỡng chế một sào giá cả là bao nhiêu, chủ đầu tư ứng trước cho 50%, xong thanh toán toàn bộ. Có tiền nên nên công việc chạy vèo vèo, chính quyền lập tức huy động tổng lực cần bao nhiêu lính, bao nhiêu lựu đạn cay… đều được đáp ứng nhanh chóng và hành động kể cả tàn bạo, đánh dân miễn là giải quyết triệt để và giành được thắng lợi. Nghe nói trong vụ cưỡng chế 5,8 ha đất ở xã Xuân Quan, huyện Văn Giang Hưng yên ngày 24.4.2012 phía chủ đầu tư giao khoán cho chính quyền với giá cưỡng chế 100.000 đông/m2 với điều kiện hoàn thành trước ngày 30.4.2012. Chính vì thế nông dân bây giờ là kẻ thù cản trở việc kiếm tiền làm giàu của các quan, cần phải tiêu diệt. Đó chính là lý do vì sao ông Ông Bùi Huy Thanh, Chánh VP UBND Hưng Yên nói rất thật thà rằng “Phải xem lúc bị đánh họ có xưng là nhà báo không?”, có nghĩa là nếu là dân thì cứ đánh vô tư vì đây là chủ trương của chính quyền tỉnh Hưng yên.

Câu hỏi đặt ra là những vụ việc ấy phía chính quyền các cấp có hay biết không? Câu trả lời cũng rất đơn giản, sao lại không biết. Bới chính chúng nó (cấp tỉnh, cấp huyện) là đầu têu và là bọn hưởng lợi nhiều nhất, có thế nó mới có quyết tâm chính trị cao đến mức đánh cả dân để cướp đất dâng cho chủ đầu tư như thế chứ. Sẽ có người hỏi ở tầm cao hơn cấp tỉnh họ có biết hay không? Xin hỏi lại tầm cao ở đây là tập thể Bộ Chính trị và cá nhân ông Ba D – TTg phải không? Biết chứ, không biết thì có họa họ điên. Họ biết nhưng không xử lý vì sợ động chạm đến lợi ích của các đồng chí khác, vì nếu chơi họ thì sợ họ phản pháo cháy thành vạ lây. Cứ để yên một hồi cho êm êm, rồi khi ấy ra chỉ thị yêu cầu (điệp khúc) làm rõ để Thủ tướng kết luận. Nhưng cái đích chính là để bọn bậu sậu của TTg lấy cớ thay (bán) mấy cái ghế chủ chốt cũng ăn bẫm tiền rồi. Nghe phong phanh ở Hưng yên, mấy đồng chí lãnh đạo sẽ bị trảm trong vòng một vài tháng nữa, chuyện trảm đôi ba vị và bán những cái ghế mới cũng là một cơ hội cho một số cá nhân cấp cao, vẹn cả đôi đường : được lòng dân, có thu nhập từ bán ghế. Ai dám chê họ ngu?

Đúng như ông Đặng Ngọc Dinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Cộng đồng (CECODES), cơ quan phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã từng kết luận về vấn nạn này rằng “Chính quyền trải thảm đỏ cho nhà đầu tư thì cũng phải có thảm đỏ cho người dân, chứ không thể là thảm có gai”. Và trong thực tế thời nay, giai đoạn nào thì người nông dân cũng là những người thiệt thòi nhất. Trong chiến tranh trong số hàng triệu người ngã xuống thì có bao nhiêu phần trăm (%) là nông dân? Để rồi đến thời bình, chính quyền tiếp tục yêu cầu họ hy sinh đất đai của họ để xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị và rồi biến họ thành những người thất nghiệp sau khi đền bù đất đai canh tác của họ đã qua nhiều thế hệ, với mức giá đền bù tương đương vài bát phở một mét vuông. Không những thế bây giờ còn coi họ là kẻ thù. Sao lại bạc bẽo với những người nông dân như vậy?

Trở lại câu chuyện hai mẹ con bà Phạm Thị Lài và cô con gái là Hồ Nguyên Thủy khỏa thân để giữ phần đất đã bị ăn cướp, khi mà trước đó không lâu người chồng của bà cũng vì quá phẫn uất mà đã uống thuốc sâu để tự tử. Chuyện này cũng để thấy người phụ nữ miền Nam thật không hổ danh với câu “Kiên cường, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong thời đánh Mỹ. Thời đó cũng có những người như bà Út Tịch, một nữ anh hùng, mà cuộc đời bà đã được nhà văn Nguyễn Thi xây dựng thành nhân vật chính trong tác phẩm Người mẹ cầm súng, với câu nói nổi tiếng “Còn cái lai quần cũng đánh”, để thể hiện quyết tâm đấu tranh của mình. Lai quần nghĩa là cái gấu quần, khi cái quần còn cái gấu thì nghĩa là bà Út Tịch vẫn còn được mặc quần để đấu tranh và bà đã chiến thắng. Ngày nay hai mẹ con bà Lài vì bảo vệ đất của gia đình mà buộc phải dùng đến cơ thể khỏa thân của mình giữa thanh thiên bạch nhật làm vũ khí cuối cùng, chống lại cái được gọi là bất công, thì thử hỏi liệu có gì để nói nữa không? Nhưng lạ kỳ là họ vẫn thua thì thấy được sự bất nhân của thời đại Xã hội Chủ nghĩa, khi mà nhân phẩm của con người bị sức mạnh của đồng tiền chà đạp.

Còn nhớ hơn hai mươi năm trước, khi Hà nội mở rộng đường Chùa Bộc và đường xuyên sang Thái Hà, cũng từng có một bà mẹ liệt sĩ khỏa thân và tẩm xăng quyết trụ trong túp lều của cụ, chỗ mà cụ dùng làm nơi bán nước chè để kiếm sống. Khi ấy, lực lưỡng chức năng đã phải điều cả xe cứu hỏa đến để dự phòng, nhưng rồi cũng đã phải tiến hành thỏa thuận để giải quyết được vụ này một cách êm đẹp. Những điều đó đã gióng lên tiếng chuông cảnh báo từ rất lâu rồi, bây giờ khi người dân đã bị buộc phải cởi đồ để giữ đất, vì khi họ đã bị đẩy vào đường cùng… vậy mà phía chính quyền cũng bỏ mặc họ. Không biết có phải vì há miệng thì mắc quai hay không? Đã là nhà nước của dân, do dân, vì dân thì thử hỏi lợi ích nào cần phải bảo vệ nếu trước hết? Chủ đầu tư hay là người dân?

Các ông lãnh đạo ạ, các ông đã để lòng tham nó làm đui mù và đánh mất hết nhân tính hết rồi, xin các ông nên nhớ tiền bạc có bao nhiêu cũng không thỏa mãn được cơn khát tiền của những kẻ tham lam. Chỉ có sự biết thế nào là đủ, biết giới hạn của ước muốn của mỗi cá nhân thì lúc đó chúng ta mới trở thành con người nhân ái và có hạnh phúc. Hạnh phúc thực sự của con người là sự chia sẻ, san sẻ cho đồng loại, chứ nó không phải là sự đấu tranh hay giành giật như lý thuyết của Chủ nghĩa Cộng sản họ dạy cho các ông. Dẫu các ông đã và sẽ có hàng trăm, hàng nghìn tỷ đi chăng nữa thì các ông cũng có sống lâu hơn người khác nhiều hơn đâu và khi chết đi thì thử hỏi các ông mang theo được những cái gì? Hay chỉ để lại cho đời sự ô nhục khi họ nhắc đến một thời đểu cáng lên ngôi của các ông? Đã có biết bao nhiêu người như các ông khi hết chức, hết quyền phải “bán xới” dọn đi nơi khác để ở một phần vì nhục với bàc con xóm giềng, một phần cũng vì dân vùng đó họ tuyên bố đố thằng nào trong “chúng nó” có gan đi bộ khoảng hai trăm mét trên con đường này. Bài học còn sờ sờ ra đấy, đó là “quan nhất thời, dân vạn đại”. Bây giờ có lẽ con đường duy nhất là “Hồi đầu thị ngạn (quay đầu là bờ) thôi các ông ạ !

Thật là đau đớn quá, khi nhớ lời Cụ Hồ viết trong Di chúc rằng đến ngày thống nhất nhất định nhân dân ta sẽ xây dựng một nước Việt nam đàng hoàng hơn to đẹp hơn, vậy mà đã 37 năm, nghĩa là hơn 1/3 thế kỷ đã qua mà bây giờ chúng nó đã làm ra những cái gì thế này với nhân dân hở trời!

Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2012

© Kami - RFA Blog


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lì lợm trong sai trái !!!

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 148 (01-06-2012)

Hội nghị Trung ương lần thứ 5 của đảng Cộng sản Việt Nam đã bế mạc vào hôm thứ Ba 15-5-2012 tại Hà Nội sau 9 ngày họp kín mà giới truyền thông không được phép tiếp cận. Đài truyền hình nhà nước chỉ cho dân biết: Hội nghị với 200 thành viên, sau gần chục ngày làm việc “khẩn trương, nghiêm túc, trong không khí dân chủ, đổi mới -với 750 lượt ý kiến phát biểu tâm huyết, sâu sắc- đã thành công rực rỡ”!?!

Tổ quốc của bọn 4 tên. Nguồn ảnh DCVOnline
Phát biểu bế mạc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (với những nội dung, câu chữ quen thuộc đến sáo mòn) cùng Thông báo của Ban chấp hành Trung ương về Hội nghị đã hoàn toàn thống nhất với phát biểu khai mạc của kẻ đầu đảng vốn đã định hướng cho chương trình nghị sự: thận trọng trong việc sửa đổi Hiến pháp vì đây là chuyện “nhạy cảm”; không bỏ Điều 4 vì như vậy là “tự sát”; duy trì khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa bất tam quyền phân lập” do đảng CS tuyệt đối và toàn diện lãnh đạo ; tiếp tục gắn cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” vào kinh tế thị trường và lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo; không phục hồi chế độ tư hữu về đất đai và chẳng có việc đòi lại đất đã bị xử lý, cưỡng đoạt. Nghĩa là đảng vẫn cố chấp lì lợm trong những điều mà thực tế và nhân dân thấy là sai trái hoàn toàn.

1- Về Điều 4 Hiến pháp

Vốn là nền tảng cho quyền lực của đảng Cộng sản, điều khoản ngang ngược này đã bị vô số người chỉ trích là phản dân chủ và yêu cầu bãi bỏ từ bao lâu nay. Tuy nhiên, Nguyễn Phú Trọng một lần nữa tái khẳng định: “Đảng CSVN... là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, tiếp đó tụng lại một mớ công thức sáo rỗng lường gạt xưa rày: chế độ tại Việt Nam là “chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa”, Nhà nước tại Việt Nam là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua tổ chức nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng…”, “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân... Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” Rồi thì là : “Nhà nước ta không tam quyền phân lập…”, “Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.”

Chính vì não trạng Đảng phải lãnh đạo toàn diện, và 3 quyền lực cao nhất trong bộ máy nhà nước phải là công cụ trong tay Đảng, nên người ta hiểu tại sao đại đa số cán bộ đảng viên, nhất là những thành phần có chức quyền chưa bao giờ nghiêm chỉnh tuân thủ Ðiều 8 Hiến pháp 1992 viết rằng: “Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng.” Ngược lại rất nhiều cán bộ, đảng viên không còn là “đây tớ” của nhân dân nữa mà là những “trời con bản thổ”, “lãnh chúa địa phương”, “chủ nhân khu vực” cư xử ngang tàng, mất phẩm cách, sống xa hoa, chuyên láo lường, thích bạo lực, coi nhân dân như tôi tớ để hành hạ, thậm chí như kẻ thù để đàn áp hay cướp bóc, tệ hại hơn bất kỳ thời đại nào trong lịch sử. Và cũng chính vì thế mà đảng tiếp tục giam cầm, xét xử, kết án nặng nề những ai phê phán độc tài, đòi hỏi đa nguyên, kêu gào dân chủ. Mới nhất là phiên tòa sơ thẩm đối với 4 sinh viên yêu nước lẫn phiên tòa phúc thẩm y án đối với 2 nhà đấu tranh ở Nghệ An, và sắp tới sẽ là phiên tòa trừng trị 3 nhà dân báo tại Sài Gòn….

Dĩ nhiên cũng có những kẻ mang danh trí thức, song là loại trí thức gia nô, tự bịt mắt để khỏi trông nhìn, tự tẩy não để thôi phán đoán, thản nhiên nhận định: “Không phải một đảng là thiếu dân chủ… Yêu cầu một đảng cũng được nhưng đảng đó phải trong sạch và làm đúng với quyền lợi của người dân… Khi mà đảng viên đều là những người tốt và đảng có đường lối đúng thì một đảng chẳng có hại gì”. Ha ha !

2- Về đường lối kinh tế.

Như trong bài nói tháng trước tại trường đảng cao cấp ở Cuba, Nguyễn Phú Trọng tiếp tục nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể –“nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”, tiếp tục coi các tập đoàn Nhà nước là quả đấm mạnh, là xương sống của nền kinh tế, coi các doanh nghiệp Nhà nước là công cụ để điều tiết kinh tế vĩ mô và ổn định thị trường! Ông trâng tráo khẳng định “tính đúng đắn của luận điểm” này rằng: “Đây là kết quả của quá trình trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, đúc kết từ thực tiễn đổi mới thành công của Việt Nam”.

Không hiểu cái “thực tiễn” mà Nguyễn Phú Trọng “đúc kết” là thực tiễn nào? Đang khi thực tiễn sờ sờ trước mắt nhân dân trong nước lẫn người ngoại quốc những năm vừa qua là tình trạng yếu kém, sai phạm đến trở thành tội đồ, trở thành quốc nạn của các đại tập đoàn, tổng công ty (gọi chung là Doanh nghiệp Nhà nước) mà Nguyễn Tấn Dũng và đàn em đang nắm giữ.

Các DNNN này được chính phủ đầu tư (cấp vốn) tới 34% GDP, sử dụng tới 65% tổng số tín dụng, được ưu đãi nhiều về đất đai và vô số lợi thế khác nữa. Nhưng kết quả sản xuất kinh doanh thì 9-10 đồng vốn mới làm ra được 1 đồng lãi, thua hẳn DN tư nhân và DN FDI (=Foreign Direct Investment, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài). Những sai lầm như đầu tư tràn lan, buông lỏng quản lí, lãng phí tham ô, giả dối lạm quyền, cưỡng chế đất đai bừa bãi… đã gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng. Điển hình là tập đoàn tàu thủy Vinashin đã làm thất thoát tới 86.000 tỷ đồng và để lại món nợ khổng lồ mất khả năng hoàn trả. Tập đoàn độc quyền Điện lực trong khi không cung cấp đủ điện cho đất nước (thiếu hụt 25%) mà vẫn đầu tư ngoài ngành, như đầu tư vào viễn thông nhưng đã thua lỗ hơn chục ngàn tỷ. Tập đoàn dầu khí PetroVietnam với lợi thế “trời cho, đất tặng” cũng sai phạm 18.000 tỷ. Các tập đoàn khác như Than–Khoáng sản, Sông Đà, Viettel… theo thông tin từ thanh tra nhà nước, cũng sai phạm tương tự. Gần đây nhất, làm nóng nghị trường và công luận là vụ bê bối của tổng công ty hàng hải Vinalines, “đổ cả ngàn tỷ xuống sông xuống biển cứ như đùa” (Nguyễn Bá Thanh). Ngay từ 2007, tổng giám đốc Dương Chí Dũng đã tự động ký duyệt cho xây nhà máy sửa chữa tàu biển với mức đầu tư 3.854 tỉ đồng, tức 185 triệu đôla. Sang năm sau, chi phí này nâng lên thành 6.489 tỉ đồng, tức 312 triệu đôla. Tương tự với ụ nổi có sức nâng 25 ngàn tấn nhưng cũ mèm mang tên No83M: tháng 10-2007 Dương Chí Dũng ký đầu tư 14,136 triệu đôla. Tới tháng 2-2008, tức là chỉ 4 tháng sau, tiền đầu tư này đội lên thành 24,3 triệu. Và điều lạ lùng là hành vi tham nhũng lộ liễu này bị ém luôn tới năm 2012 mới khui ra, đang khi thủ phạm vẫn được đề bạt làm cục trưởng Cục hàng hải và nay thì đã trốn biệt.

3- Về quyền sở hữu đất đai.

Trong diễn từ bế mạc, Nguyễn Phú Trọng báo cáo: “Hội nghị nhất trí cho rằng, phải tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều này có nghĩa Hiến pháp sửa đổi sắp tới cũng sẽ giữ nguyên qui định về phần này: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, hui thềm lục địa và vùng trời... thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý."

Ông Tổng Lú còn thêm như một phát kiến mới: quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu. Rõ ràng là ý đồ muốn biến thứ quyền phụ tùy này thành một phương tiện thêm nữa trong tay các quan chức chính quyền địa phương. Ngoài ra, Nguyễn Phú Trọng còn muốn đưa thêm vào các điều luật buộc nông dân không được quyền giữ đất, đòi đất, bảo vệ đất. Tức là không có quyền giữ nguồn sống, đòi nguồn sống, bảo vệ nguồn sống của họ! Tuy nhiên, để mỵ dân một chút, Nguyễn Phú Trọng hứa hẹn hạn thời giao đất nông nghiệp có thể kéo dài trên 20 năm và hạn điền diện tích cày cấy có thể mở rộng trên 3 hecta như hiện thời. Nhưng ngay đến đứa trẻ cũng hiểu rằng “sở hữu toàn dân” là xạo hết chỗ nói (XHCN), là dối trá lừa đảo. Dân chỉ là cái bung xung còn quyền sở hữu đất đai thực chất là trong tay đảng viên cán bộ bản địa. Các địa chủ thực này có quyền tước đoạt hết đất đai của dân cày mà vẫn “đúng quy định pháp luật”. Đang khi sở hữu đất đai là quyền tự nhiên của con người. Chính quyền da trắng ở Mỹ, ở Úc các năm gần đây đã phải trả lại nhiều vùng đất rộng lớn cho thổ dân bản xứ là vì vậy.

Để hỗ trợ cho luận điểm của Nguyễn Phú Trọng, báo Quân đội Nhân dân ngày 16-05 đã viết rằng ở VN đất là “nguồn sống của nhân dân, tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước”, rằng người dân được hưởng quyền sử dụng, nhưng chủ yếu nhấn mạnh đến các nghĩa vụ của người sử dụng đất hơn là các quyền lợi của họ: từ “nghĩa vụ chấp hành pháp luật về đất đai, sử dụng đất đúng mục đích, tuân thủ quy hoạch” đến nghĩa vụ “chấp hành quyết định thu hồi đất của Nhà nước”.

Chính vì nguyên tắc “sở hữu đất đai” không giống ai trên địa cầu này (ngoại trừ Trung cộng) mà người ta đã chứng kiến hàng ngàn hàng vạn vụ đuổi dân ra khỏi nơi cư trú hay hành nghề (chăn nuôi, trồng tỉa) bằng bạo lực. Động trời nhất là vụ Tiên Lãng Hải Phòng tháng giêng, vụ Văn Giang Hưng Yên tháng tư, vụ Vụ Bản Nam Định tháng năm, vụ Dương Nội Hà Đông đang sôi sục và vụ Cái Răng, Cần Thơ đang gây nhức nhối lương tâm, phô bày bộ mặt ghê tởm của Cộng sản qua sự việc hai mẹ con đã phải dùng tới biện pháp khỏa thân để cố giữ đất đai của mình.

Qua việc tái khẳng định quyền lực là sở hữu của họ, kinh tế là sở hữu của họ, đất đai là sở hữu của họ, đảng CS đang tiếp tục “dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của… tiền và quyền”. Không phải họ bất biết đó là cố chấp trong bế tắc, lì lợm trong sai trái. Nhưng chẳng lẽ để “mọi lợi quyền đã chuyển qua tay mình” (như lời Quốc tế ca) phải vuột mất sao? Tuy nhiên, vấn đề là họ sẽ giữ được đến bao lâu, đang khi cơn mây đen báo hiệu cuồng phong bão lũ của nhân dân đã xuất hiện ở chân trời?

BAN BIÊN TẬP

Mời độc giả bấm vào đây xem toàn bộ tờ Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn luận số 148 (01-06-2012)


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Nợ của doanh nghiệp nhà nước đầy rủi ro

Thực trạng tài chính của các tập đoàn kinh tế-tổng công ty nhà nước đang ở mức đáng lo ngại, điều này thể hiện trong đề án tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước do Bộ Tài chính trình Chính phủ.

Quốc hội nên có quyết sách

Các Tập đoàn cột trụ của kinh tế quốc gia. RFA file
Theo VnExpress, các doanh nghiệp Nhà nước đang nợ ngân hàng hơn 415.000 tỷ đồng tính đến tháng 9/2011, trong đó nợ vay của 12 tập đoàn kinh tế nhà nước chiếm hơn phân nửa. Ba đại gia Nhà nước nợ đầm đìa được nêu tên gồm, Tập đoàn dầu khí PVN nợ 72.300 tỷ, Tập đoàn Điện lực EVN nợ 62.800 tỷ, Tập đoàn Than và khoáng sản Vinacomin nợ gần 20.000 tỷ.

Bộ Tài chính cũng đưa ra những chi tiết màu xám tiềm ẩn rủi ro đổ vỡ như 30 trong số 85 tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước đang có hệ số nợ cao hơn 3 lần vốn chủ sở hữu. Ngoài ra có 7 trường hợp đang có hệ số nợ cao hơn 10 lần vốn chủ sở hữu.

Đáp câu hỏi của Nam Nguyên về tình hình nợ nần của khu vực doanh nghiệp Nhà nước, TS Lê Đăng Doanh nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung Ương từ Hà Nội nhận định:

...đây là một tín hiệu rất quan trọng cần được phân tích rõ và cũng là một lý do nữa để Quốc hội quan tâm thảo luận để có những quyết sách để chấn chỉnh quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước, các tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước.
TS Lê Đăng Doanh
“Tôi nghĩ là cần công khai và làm rõ toàn bộ số nợ của doanh nghiệp nhà nước, không chỉ là số nợ ngân hàng mà cả nợ do phát hành trái phiếu, nợ do vay các ngân hàng ở nước ngoài hoặc phát hành trái phiếu ở nước ngoài. Làm rõ số nợ đó có an toàn hay không, khả năng chi trả như thế nào. Còn đối với số nợ trong nước, chúng ta thấy rõ là nợ của các tập đoàn nhà nước chiếm tỷ trọng rất lớn so với sản lượng và sự đóng góp kinh tế mà các tập đoàn đó đang đóng góp cho nền kinh tế, tỷ lệ tín dụng và số nợ rất là đáng kể. Đặc biệt một số tập đoàn có số nợ ngân hàng lớn hơn tỷ lệ nợ trên vốn tự có là rất cao. Và có một số tập đoàn như chúng ta đã biết Vinashin, Vinalines và gần đây là Sông Đà có gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ. Vì vậy tôi nghĩ đây là một tín hiệu rất quan trọng cần được phân tích rõ và cũng là một lý do nữa để Quốc hội quan tâm thảo luận để có những quyết sách để chấn chỉnh quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước, các tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước.”

Trụ sở Tập đoàn Petro Việt Nam tại
Hà Nội hôm 22/09/2011. RFA PHOTO.
Tại cuộc họp báo trước thềm Hội nghị giữa kỳ nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam được tổ chức vào chiều 28/5 ở Hà Nội, bà Victoria Kwakwa, Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đã thúc giục chính phủ đẩy mạnh cải cách khu vực doanh nghiệp Nhà nước vì sai phạm của một số tập đòan lớn đang là mối quan tâm của các nhà tài trợ quốc tế. Theo VnExpress, những bình luận vừa nêu của đại diện Ngân hàng Thế giới được đưa ra sau khi báo chí dồn dập đặt câu hỏi về quan điểm của nhà tài trợ quốc tế đối với những vụ phanh phui nợ nần, kết quả kinh doanh cũng như bê bối liên quan đến các ông lớn như Vinashin hay Vinalines.

...những số nợ mà chính phủ đã có bảo lãnh hoặc chính phủ có cho phép các doanh nghiệp nhà nước vay thì trách nhiệm pháp lý thuộc về chính phủ đối với số nợ đó phải được làm rõ và rõ trách nhiệm chi trả như thế nào. Bởi đây là vấn đề vô cùng quan trọng cho sự an toàn tài chính của Việt Nam...
TS Lê Đăng Doanh
Trước đó Saigon Tiếp Thị bản tin trên mạng ngày 23/5 đã trích nguyên văn lời bà Victoria Kwa Kwa: “Chúng ta ngày càng có thêm bằng chứng để nói rằng, vẫn còn những Vinashin khác, cần có phương thức đáng tin cậy để xem xét các vấn đề của doanh nghiệp Nhà nước.” Người đại diện Ngân hàng Thế giới đã phát biểu nhân dịp công bố báo cáo cập nhật kinh tế Đông Á-Thái Bình Dương vào sáng 23/5 ở Hà Nội.

Làm rõ nợ chính phủ bảo lãnh


Dưới sự lãnh đạo của ông Phạm Thanh Bình, tập đoàn Vinashin đã sụp đổ năm 2010 với số tiền thất thoát khổng lồ 84.000 tỷ đồng tương đương 4,2 tỷ USD. File photo
Vẫn theo Saigon Tiếp Thị Online, báo cáo của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh, tuy Việt Nam vẫn thuộc nhóm nguy cơ
thấp trước tình hình nợ nước ngoài, nhưng sự không chắc chắn lớn nhất đối với bền vững nợ xuất phát từ các doanh nghiệp nhà nước. Bản báo cáo nói rõ, các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước không được liệt kê trong các con số thống kê của nợ Chính phủ hay nợ được chính phủ bảo lãnh. Không có một ước tính đáng tin cậy nào về những khoản nợ này. Chính điều đó làm hạn chế khả năng của Chính phủ trong quản lý các rủi ro liên quan.

Chúng tôi nêu vấn đề này với TS Lê Đăng Doanh và ông đã đưa ra nhận định:

“Đúng là ở Việt Nam nợ chính phủ không bao gồm số nợ của doanh nghiệp nhà nước và bây giờ Bộ Tài chính đã công bố số nợ đó rồi. Tôi nghĩ những số nợ mà chính phủ đã có bảo lãnh hoặc chính phủ có cho phép các doanh nghiệp nhà nước vay thì trách nhiệm pháp lý thuộc về chính phủ đối với số nợ đó phải được làm rõ và rõ trách nhiệm chi trả như thế nào. Bởi đây là vấn đề vô cùng quan trọng cho sự an toàn tài chính của Việt Nam mà gương tày liếp của các nước từ Hy Lạp, Ireland cho đến các nước khác đang luôn luôn nhắc nhở chúng ta về một sự an toàn cần thiết trong quản lý nợ doanh nghiệp”

...những số nợ mà chính phủ đã có bảo lãnh hoặc chính phủ có cho phép các doanh nghiệp nhà nước vay thì trách nhiệm pháp lý thuộc về chính phủ đối với số nợ đó phải được làm rõ và rõ trách nhiệm chi trả như thế nào. Bởi đây là vấn đề vô cùng quan trọng cho sự an toàn tài chính của Việt Nam...
TS Lê Đăng Doanh
Đối với kết quả kinh doanh rất xấu của nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước. Saigon Tiếp Thị Online trích lời bà Victoria Kwa Kwa: “Vấn đề thực sự ở đây là cần có thêm hành động tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước để giải quyết các rủi ro đối với khu vực tài chính và toàn bộ nền kinh tế. Đồng thời đảm bảo là Chính phủ hỗ trợ mạnh mẽ hơn tăng trưởng ở khu vực tư nhân.”

Đối với tương lai tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp Nhà nước, TS Lê Đăng Doanh nhận định:

“Hiện nay đã có các dự thảo đề án được trình ra và có đề án tổng thể về tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước. Tôi nghĩ rằng nhiều vấn đề đã được đề cập ở đó như một ý tưởng chính sách, bây giờ cần phải được làm rõ. Điều quan trọng là phải kiện toàn khung pháp lý về quản lý; điều thứ hai là cần làm rõ trách nhiệm của người chủ sở hữu vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp; điều thứ ba nữa là phải thực hiện công khai minh bạch; điều thứ tư là cần làm rõ trách nhiệm giải trình của những người quản lý doanh nghiệp Nhà nước đối với người dân là người chủ sỡ hữu đích thực của các tài sản đó; điều cuối cùng là phải có một chế độ quản trị hiện đại trong các doanh nghiệp Nhà nước bao gồm cả việc thuê Tổng giám đốc trên cơ sở một hợp đồng trách nhiệm. Thí dụ ông làm bao nhiêu năm thì sẽ được các mục tiêu gì? nếu không đạt được thì sẽ có những xử lý như thế nào để nó làm rõ ra, tránh việc chúng ta bổ nhiệm một người Tổng giám đốc quản lý một tài sản rất lớn nhưng lại không làm rõ trách nhiệm của ông ta là phải làm những gì? Và nếu ông không làm được thì trách nhiệm của ông ra sao, như trường hợp ông Dương Chí Dũng vừa rồi là một điều chúng ta thấy rõ là rất đáng tiếc ở Vinalines.”

...Tiền thuế của nhân dân, cổ phiếu mà họ gắp ra là tiền bạc của nhân dân thôi, họ đầu tư làm ăn thua lỗ mất tiền nhà nước cũng là tiền của nhân dân…nó làm cho nền kinh tế phát triển chậm xuống, nhân dân giống như con bò sữa để nuôi những vị lãnh đạo các công ty đó và đất nước này nó phát triển trong trạng thái là không hiệu quả...
Ông Đỗ Việt Khoa
Trước vụ sụp đổ của Vinashin năm 2010 thất thoát 84.000 tỷ đồng tương đương 4,2 tỷ USD, cũng như thua lỗ triền miên ở Vinalines do đầu tư sai và làm trái quyết định của Thủ tướng, hoặc mới nhất là Bộ Xây Dựng đang tìm cách cứu Tập đoàn Sông Đà tránh vỡ nợ nước ngoài, ông Đỗ Việt Khoa một giáo viên ở Thường Tín Hà Nội, người từng gặp nhiều khó khăn trong công việc vì đòi hỏi công khai minh bạch cho rằng, cách làm ăn phá sản của Vinashin, Vinalines gây tổn thất lớn lao cho đất nước và chính người dân phải lãnh những món nợ này. Ông Đỗ Việt Khoa nhấn mạnh:

“ Tiền thuế của nhân dân, cổ phiếu mà họ gắp ra là tiền bạc của nhân dân thôi, họ đầu tư làm ăn thua lỗ mất tiền nhà nước cũng là tiền của nhân dân…nó làm cho nền kinh tế phát triển chậm xuống, nhân dân giống như con bò sữa để nuôi những vị lãnh đạo các công ty đó và đất nước này nó phát triển trong trạng thái là không hiệu quả.”

Ông Dương Chí Dũng, Cục trưởng Hàng hải,
 nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines
 đã phê duyệt vụ mua sắm ụ nổi 83M,
 ảnh chụp trước đây. File photo
Việt Nam đang ở vào giai đoạn cực kỳ nhạy cảm, nền kinh tế có thể bị ách tắc sau 25 năm đổi mới với một số thành đạt nhất định. Trong thông điệp đầu năm 2012, Trước nhu cầu cấp bách phải cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng trấn an các đồng chí của ông là, sẽ tái cơ cấu theo phương cách “không bứt dây động rừng”.

Nay với tình hình tài chính đầy nguy hiểm của rất nhiều Tập đoàn Kinh tế-Tổng công ty Nhà nước, liều thuốc tái cơ cấu có thể sẽ phải mạnh hơn nhanh hơn và không tránh khỏi làm kinh động khu rừng quốc doanh mênh mông với nhiều kỳ hoa dị thảo mang tên đặc quyền đặc lợi.

© Nam Nguyên, phóng viên RFA


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Quyền của cái miệng

Luật Biểu tình cuối cùng vẫn là dự án luật gây tranh cãi nhất trong chương trình xây dựng luật của Quốc hội. Và lần này, thay cho phát ngôn nổi tiếng “Biểu tình là sự ô danh”, thì “Chủ nghĩa xã hội” được đưa ra như một lý do chính để bác bỏ dự án luật này.

“Nước ta là nước Xã hội chủ nghĩa, chưa nói tới biểu tình, để cho quần chúng nhân dân đi ăn xin giữa đường đã là không được”- Đây là phát biểu của ĐBQH Đắk Lắk, ông Niê Thuật.

Ăn xin là vạn bất đắc dĩ, là một cách để cái miệng có thứ mà nhai, là một cách kiếm sống. Không ai muốn phải tha hương, phải “lao động khổ sai” cả ngày trên đường, phải “cúi nhặt đồng xu dưới cống” cả. Hơn nữa, cũng cần phải nói là có nhiều cách để xóa bỏ tình trạng “ăn xin giữa đường” thay cho biện pháp hành chính là cấm, là bắt, là trả về địa phương, là đưa đi trại bảo trợ xã hội. Mà cách hữu hiệu nhất là chính quyền cho họ một cái cần câu cơm để tự họ có một cuộc sống “có cái để cho vào miệng”. Ông Niê Thuật là Bí thư tỉnh ủy Đắk Lắk, là quan đầu tỉnh, chắc hẳn ông quá hiểu chuyện đó. Vì thế, sự “được” hay “không được” không quyết định bởi những người vô nghề nghiệp, đang đói rã họng phải lê lết đi xin ăn ngoài phố, mà ở trách nhiệm của các bậc phụ mẫu với nhân dân của mình. Ước mơ giản dị của cụ Hồ “Ai cũng có cơm ăn áo mặc” từ ngày lập nước đến giờ đã mấy chục năm, xem ra vẫn còn là một mục tiêu cần phấn đấu.

Thế đấy, dù xã hội chủ nghĩa là tươi đẹp, là ưu việt, vẫn có những người phải ăn mày thiên hạ. Nhưng ngay cả khi nhân dân đã no ấm đến mức không còn người ăn xin, không còn hàng trăm ngàn người thiếu đói mỗi tháng thì chế độ xã hội cũng không phải là lý do để bác đi một trong những quyền cơ bản nhất của công dân đã được ghi trong Hiến pháp. Thưa ông Niê Thuật, một xã hội có những vấn đề - ăn xin chẳng hạn, thì cái đáng sửa, là cái cách xã hội đó đối xử để người dân không phải ăn xin, chứ không phải mặc áo đạo đức nói nó không có “ăn xin”, hoặc không chấp nhận “ăn xin” là vấn đề xã hội.

Còn nhớ tháng 11 năm ngoái, với tư cách là người có sáng kiến xây dựng Luật Biểu tình, Thủ tướng Chính phủ đã nói một cách rất giản dị rằng một dự án luật điều chỉnh hoạt động tuần hành, biểu tình là cần thiết vì thực tế đang đòi hỏi và bởi Luật Biểu tình là thực hiện theo Hiến pháp, với quy định công dân dược biểu tình. Chính phủ chấp nhận Luật Biểu tình, Thủ tướng Chính phủ thậm chí là người có sáng kiến xây dựng Luật, dù có thể các cuộc biểu tình sẽ là nơi nhân dân tỏ thái độ, hoặc ủng hộ, hoặc chưa ủng hộ với Chính phủ. Vậy thì can cớ gì mà một đại biểu dân cử lại không chấp nhận quyền hiến định của dân?

Phát biểu trước nghị trường ngày hôm qua, ĐBQH Trương Trọng Nghĩa, người từng coi Luật biểu tình là một “món nợ” của nhà nước đối với nhân dân, tiếp tục yêu cầu đưa Luật Biểu tình vào chương trình xây dựng luật. Bởi theo ông: “Một bên người dân có quyền hiến định, một bên là tình trạng thả nổi sẽ làm phát sinh xung đột, sự cố bất lợi nhiều mặt, kể cả uy tín của Nhà nước và thậm chí là thể diện quốc gia”. Ông gọi những người từng biểu tình là “bà con”: “Rất nhiều trường hợp biểu tình là do liên quan tới đất đai, vì không có hành lang pháp lý nên cách làm của bà con không theo mô hình nào cả, không có tư vấn nên dễ bị kẻ xấu xúi bẩy, gây ra nhiều hành vi phản cảm”. Và “Luật biểu tình sẽ đưa tình trạng này vào nề nếp, nhiều ngòi nổ sẽ được tháo bỏ kịp thời trước khi vụ việc trở nên nghiêm trọng hơn. Hy vọng khi có luật, các vụ biểu tình sẽ giảm bớt với mức độ sẽ bớt nghiêm trọng hơn”.

Không có Luật biểu tình vẫn có những cuộc biểu tình, dù đó là bất hợp pháp. Có Luật Biểu tình, có nghĩa là sẽ có biểu tình. Nhưng một đất nước có những cuộc biểu tình hợp pháp thì đó không phải là sự “ô danh” khi cùng với quyền được nhai, cái miệng còn có quyền được nói.

© Đào Tuấn
Theo blog Đào Tuấn


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế?

Trung Quốc bắt đầu lên tiếng tranh dành quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ năm 1909. Trong thời kỳ bảo hộ, nước Pháp, đại diện đế quốc An Nam, đề nghị hai lần với Trung Quốc một trọng tài phân giải, vào năm 1932 và năm 1947, nhưng cả hai lần Trung Quốc đều không đáp ứng. Thái độ của Trung Quốc có thể biết trước, vì không ai dại dột đặt cược lớn khi biết mình không có hy vọng nào để thắng. Ở các thời điểm đó Trung Quốc không hề có cơ sở pháp lý hay bằng chứng lịch sử nào để có thể chứng minh chủ quyền của họ tại quần đảo Hoàng Sa.
Ông Trương Nhân Tuấn (Ngô Quốc Dũng)
Do đó họ chủ trương sử dụng mưu kế hay chờ đợi thời cơ, dùng vũ lực để giải quyết vấn đề. Kể từ đó, nhiều thế hệ lãnh đạo, hay chế độ chính trị, tiếp nối nhau, mục tiêu chiến lược của Trung Quốc không thay đổi. Năm 1956 Trung Quốc lợi dụng cơ hội sự lúng túng của Pháp tại Đông Dương đổ quân chiếm nhóm đảo An Vĩnh. Năm 1974, lợi dụng cơ hội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam Việt Nam, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm nốt nhóm đảo còn lại là nhóm Nguyệt Thiềm, qua một trận hải chiến bất cân xứng giữa hải quân nước này với hải quân của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng điều đáng ngại là mục tiêu chiến lược của Trung Quốc bao gồm luôn quần đảo Trường Sa và một vùng biển chiếm khoảng 80% diện tích biển Đông. Tham vọng bành trướng của Trung Quốc sẽ không ngừng ở Hoàng Sa. Họ có thể sử dụng vũ lực bất kỳ khi nào có thời cơ thuận tiện để chiếm quần đảo Trường Sa và vùng biển tại đây.

Điều làm người ta bất mãn là thái độ hiện nay của nhà cầm quyền CSVN. Họ luôn tuyên bố rằng Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng họ luôn thụ động trước vố số hành vi dã man của hải quân Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam như bắn giết, bắt cóc đòi tiền chuộc, tịch thâu thuyền bè và dụng cụ… khi những người dân này buông lưới tại những vùng biển truyền thống của Việt Nam, chung quanh quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa, thậm chí ngay trong vịnh Bắc Việt, trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam; hoặc các thái độ ngang ngược của Trung Quốc khi cho đặt các dàn khoan dầu khí, nhiều nơi ngay trên thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ chưa tới 250km, trong khi cách đảo Hải Nam đến hàng ngàn km. Hành động phản đối gọi là "kịch liệt" lắm của Hà Nội vẫn chỉ giới hạn ở các tuyên bố suông. Trong khi đó, một mặt, các chiến hạm của Trung Quốc, ngụy trang dưới lớp vỏ các tàu Ngư Chính, vẫn thường xuyên đi tuần tiễu ở biển Đông, trong vùng thuộc Hoàng Sa và Trường Sa, để khủng bố ngư dân Việt Nam và mặt khác, hàng năm, Bắc Kinh còn hạ lệnh cấm biển trên biển Đông, trong một vùng rộng lớn, trong nhiều tháng (từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm), với lý do bảo vệ nguồn thủy sản. Đôi lúc họ còn ra lệnh cấm biển vì lý do quân sự: hải quân Trung Quốc diễn tập, cấm thuyền bè qua lại. Hậu quả các việc này làm cho đời sống của ngư dân Việt Nam đảo lộn, hầu hết lâm vào cảnh khó khăn nghèo đói, một số phải bỏ nghề. Nhưng tệ hại hơn cả là nếu việc này tiến diễn thêm vài năm nữa mà phía Việt Nam vẫn chỉ tuyên bố hay phản đối suông mà không có hành động cụ thể để ngặn chặn, chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng biển này sẽ được khẳng định.

Bởi vì, một cách để chứng minh chủ quyền của quốc gia ở một vùng lãnh thổ hay biển đảo nào đó là áp đặt được quyền tài phán của quốc gia ở các vùng đó. Nếu lệnh cấm biển của Trung Quốc được ngư dân Việt Nam "thi hành", như các việc đóng tiền phạt chuộc ngư cụ, hay không đánh cá tại các vùng biển do Trung Quốc cấm, cho dầu qua hình thức cưỡng bức, điều này cũng hàm ý Việt Nam chấp nhận quyền tài phán của Trung Quốc (ở các vùng biển bị cấm). Tức Việt Nam mặc nhiên chấp nhận các vùng biển đó chủ quyền thuộc về Trung Quốc.

Như thế thời gian cũng là một yếu tố rất bất lợi cho Việt Nam.

Trước nguy cơ lớn lao, đe dọa sự tồn vong và tương lai vinh nhục của cả dân tộc, nhà cầm quyền Việt Nam đến nay vẫn không có một biện pháp nào xem ra có thể thích nghi để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa. Trong khi đó quyền lợi của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa lại bị Trung Quốc đe dọa trầm trọng.

Trong các năm vừa qua Việt Nam đã đảm nhận những vai trò quan trọng trên quốc tế, như là thành viên luân phiên của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, hay làm chủ tịch ASEAN. Thời cơ do đó không phải là thiếu. Tại sao Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? không đưa các vụ tranh chấp ra tòa án quốc tế hay trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc? Các hành động này có thể ít có hiệu quả trên thực tế, vì thái độ ngang ngược, bá quyền của Trung Quốc, nhưng ít nhứt nó sẽ xoa dịu những bất bình đến từ công chúng trong nước, và trong chừng mực, khẳng định tính chính đáng về lãnh đạo của đảng CSVN.

Dưới thời thuộc địa, nước Pháp ràng buộc với đế quốc An Nam qua hiệp ước bảo hộ, họ có nhiệm vụ "bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đế quốc An Nam trước kẻ thù gây hấn bên ngoài". Người ta có thể phê bình nước Pháp về nhiều mặt, nhưng về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa thì các hành động của Pháp có thể gọi là tạm đủ.

Nhưng hành động của đảng CSVN, từ khi "cướp chính quyền từ tay Pháp, Nhật", lập được nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ năm 1949, cho đến năm 1975 "đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào", gồm thu đất nước về một mối "Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam", thì chưa bao giờ củng cố hay khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Câu hỏi chính đáng đặt ra: Tại sao Việt Nam không đề nghị một trọng tài quốc tế để phân xử tranh chấp biển Đông, ít ra tại Hoàng Sa, trong khi nước Pháp đã hai lần đề nghị trong quá khứ?

Người ta chỉ có thể tìm thấy câu trả lời qua các hành vi của nhà nước này trong từ thập niên 90, qua vụ Trung Quốc xâm lấn bãi Tư Chính.

Tháng 5 năm 1992, phía Trung Quốc ký hợp đồng với công ty khai thác dầu khí Cresston của Hoa Kỳ nhằm khai thác khu vực Vạn An Bắc, tức khu vực Tư Chính của Việt Nam. Lý lẽ của phía Trung Quốc là vùng Vạn An Bắc thuộc "vùng nước và thềm lục địa kế cận các đảo Nam Sa (tức Trường Sa) của Trung Quốc". Khu vực này cách bờ biển Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? 160 hải lý và cách đảo Hải Nam trên 600 hải lý.

Lý lẽ của Trung Quốc như thế phải hiểu: 1/ Trung Quốc có chủ quyền tại Trường Sa. 2/ Các đảo Trường Sa có hiệu lực là "đảo" và 3/ vùng Tư Chính, tức Vạn An Bắc, là vùng chồng lấn giữa thềm lục địa bờ biển Vì sao Việt Nam không kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế? với các đảo Trường Sa.

Theo lý lẽ của tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington phụ trách bênh vực quyền lợi của Việt Nam. Hồ sơ bãi Tư Chính được thành hình năm 1995, do Brice M. Claget thuộc tổ hợp thành lập, mang tên: “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông”. Lập luận của hồ sơ này là: 1/ bãi Tư Chính nằm trên thềm lục địa của Việt Nam, 2/ các đảo Trường Sa quá nhỏ để có hiệu lực của "đảo" theo luật Biển 1982 và 3/ vì vậy không hề có chồng lấn giữa các đảo Trường Sa với thềm lục địa Việt Nam.

Ta thấy các nhược điểm trong lập luận của Brice M. Claget là: 1/ không xác định chủ quyền của Việt Nam trên các đảo Trường Sa, không phản đối chủ quyền của Trung Quốc ở các đảo Trường Sa, điều này có thể hiểu ngầm Việt Nam đồng ý Trung Quốc có chủ quyền tại các đảo này. 2/ Các đảo Trường Sa quá nhỏ để có hiệu lực của "đảo". Lý lẽ này không vững vì yếu tố lớn hay nhỏ của một đảo không hề được đề cập trong luật Biển 1982. Một đảo có hiệu lực hay không là do hai việc: a) có thích hợp cho người sinh sống và b) có một nền kinh tế tự túc.

Tại sao phía Việt Nam chấp nhận lý lẽ của tổ hợp luật sư trong hồ sơ "Tư Chính" mà không hề có bảo lưu về chủ quyền của Việt Nam tại TS?

Lý ra, Việt Nam có thể nhân vụ này kiện Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế ít nhất về 3 lẽ : 1/ khu vực Tư chính nằm trên thềm lục địa của Việt Nam (theo qui định 200 hải lý tính từ đường cơ bản theo luật Biển 1982. 2/ Chủ quyền các đảo mà Trung Quốc gọi là Nam Sa, thực ra là Trường Sa, từ lâu đã thuộc về Việt Nam. 3/ Không hề có việc "chồng lấn" hiệu lực giữa các đảo "Nam Sa" với thềm lục địa Việt Nam, đơn giản vì các đảo Trường Sa, mà Trung Quốc tiếm gọi là Nam Sa, thuộc về Việt Nam.

Mấy ông luật sư của Hoa Kỳ trong tổ hợp Covington & Burling ở Washington đã "không ngu" như ta tưởng. Vì nếu đưa vấn đề chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa vào hồ sơ thì phải thay đổi hoàn toàn các dữ kiện, mà điều quan trọng là phải chứng minh Việt Nam có chủ quyền tại các đảo này. Làm việc này thì sẽ gặp một trở ngại lớn lao là phải vô hiệu hóa các tuyên bố đơn phương (déclaration unilatérale) cũng như các thái độ mặc nhiên đồng thuận (acquiescement) của nhà nước CSVN về chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong quá khứ.

Đó là 1/ tuyên bố 1958 của Phạm Văn Đồng về tuyên bố hải phận của Trung Quốc. 2/ Sự im lặng của miền Bắc Việt Nam năm 1974 khi Trung Quốc xâm lăng các đảo Hoàng Sa. Sự im lặng này chính là sự đồng thuận ám thị hành động của Trung Quốc là chánh đáng, Trung Quốc có chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài ra còn có nhiều tuyên bố qua báo chí hay của các nhân vật lãnh đạo cũng như nhiều hành vi ám thị đồng thuận khác.

Trong khi việc "kế thừa" di sản Hoàng Sa và Trường Sa của VNCH thì nhà nước CHXHCNVN đến hôm nay vẫn chưa thực hiện.

Về vấn đề này, nhiều người cho rằng nhà nước CHXHCHVN là người thừa kế hợp pháp VNCH. Tuy nhiên không thấy ai đưa ra các lý lẽ chứng minh.

Phía CS miền Bắc gọi VNCH là "ngụy", tức là giả, không phải là một thực thể chính trị. Người ta không thể kế thừa ở một cái gì đó không thật (ngụy). Vả lại, nếu có tư cách "thừa kế", thì theo bộ luật về "kế thừa" của Việt Nam hiện nay, nhà nước CHXHCNVN có thể bị truất quyền "kế thừa" theo điều 643, khoản a và b.

Điều 643 của bộ luật Dân sự 2005 (hoặc theo Pháp lệnh về kế thừa trước đó) Người không được quyền hưởng di sản 1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản: a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.

Ta thấy khi cộng sản miền Bắc chiếm được miền Nam, một chính sách trừng phạt dân miền Nam đã được áp dụng liên tục trong nhiều thập niên. Văn hóa miền Nam bị xem là "văn hóa đồi trụy", đã bị xóa bỏ. Hầu hết nhân sự có liên quan, xa hay gần, đến chính quyền VNCH đều bị trừng phạt như bắt đi tù, bị truất hữu tài sản, nhà cửa, cả gia đình bị đuổi đi kinh tế mới. Lính miền Nam bị khinh miệt gọi là "lính ngụy", chính quyền miền Nam là "ngụy quyền", thậm chí dân miền Nam bị khinh bỉ gọi là "ngụy dân". Đến hôm nay, người dân miền Nam vẫn còn bị trừng phạt. Trên bình diện đầu tư, miền Nam đóng góp trên ¾ của cải cho cả nước, nhưng về hạ tầng cơ sở miền Nam không được đầu tư như miền Bắc. Thậm chí, trong vấn đề giáo dục, miền Nam chỉ được đầu tư một phần tỉ lệ rất nhỏ so với miền Bắc.

Nhà cầm quyền CSVN, liên tục từ nhiều thập niên, đã "ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm" của người miền Nam. Tư cách gì nhà cầm quyền CSVN lên tiếng đòi "kế thừa" di sản VNCH ngày hôm nay?

Vì thế ta không ngạc nhiên về các lý lẽ của tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington trong hồ sơ: “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông”. Các lý lẽ của họ hôm nay, theo đúng như lập luận trong hồ sơ: 1/ các đảo Trường Sa và Hoàng Sa quá nhỏ để có hiệu lực của đảo. 2/ Khẳng định quyền chủ quyền của Việt Nam trong vùng 200 hải lý (theo đúng qui định ZEE và thềm lục địa của luật Biển 1982).

Đối với họ chỉ có hai chọn lựa: Việt Nam mất ít hay mất nhiều. Họ chọn giải pháp "mất ít".

Đối với tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington, là một tổ hợp lừng danh thế giới về Công pháp quốc tế, đã nhận ra Việt Nam đã mất tố quyền (forclusion – estoppel) tại Hoàng Sa và Trường Sa. Do đó không thể đứng trên căn bản "Việt Nam có chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa" để lập hồ sơ mà phải dựa trên lập luận "các đảo Trường Sa và các đảo nhỏ, không thể có ZEE".

Như thế, đối với nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay, Hoàng Sa và Trường Sa là đã mất.

Sự việc như vậy thì làm sao có thể kiện Trung Quốc ra một tòa án quốc tế?

Nhưng nhượng bộ này của Việt Namcũng không xong. Chủ trương của Trung Quốc là "muốn hết". Chủ trương này, nếu Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về họ, là khá phù hợp trên quan điểm pháp lý. Thỏa mãn Trung Quốc, Việt Nam không phải "mất ít" hay "mất nhiều" mà là "mất hết".

Tôi đã viết một số bài, như bài "Chủ quyền của Việt Nam tại Tư Chính, Vũng Mây", trong đó đả kích đích danh một số cá nhân có chủ trương của nhà cầm quyền Việt Nam. Người ta chỉ có thể bảo vệ được quyền lợi chính đáng của dân tộc chỉ khi nào lý lẽ của mình dựa trên nền tảng đúng. Lý lẽ "các đảo Trường Sa là các đảo nhỏ do đó không thể cho chúng vùng ZEE như lãnh thổ đất liền" là không thuyết phục trên phương diện pháp lý. Đảo lớn hay nhỏ, theo luật, chúng có tình trạng pháp lý như nhau, như lãnh thổ trên đất liền.

Tôi chống, tôi đả kích nhưng người này và nhà nước CSVN, vì tôi thấy có giải pháp khác. Việt Nam "được ít, được nhiều hay được tất cả" thay vì "mất ít, mất nhiều hay mất tất cả".

Làm thế nào thì tôi đã viết giới thiệu trong bài trước. Cốt lõi của việc này là làm thế nào để kế thừa di sản VNCH. Đây là một vấn đề thuộc về chính trị. Đảng CSVN có can đảm chính trị hay không? Có can đảm nhìn nhận VNCH như là một chế độ đã bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa hay không? Có dám phục hồi danh dự và bồi xứng đáng cho tập thể "ngụy quân, ngụy quyền" mà họ dã truy bức và trả thù tàn độc trong quá khứ hay không?

Anh làm sao có thể kế thừa được di sản của một người mà trước đó anh đã đối xử tàn tệ, dã man? Không. Anh có thể ăn cướp di sản của người này nhưng anh không thể "kế thừa" di sản của người này được.

Ngoài ra còn thái độ của các học giả Việt Nam hiện nay. Tôi đã viết, các tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa hầu hết đều do các học giả VNCH viết từ năm 1974. Tôi nhận thấy rằng, các bài viết chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa của các học giả Việt Nam hôm nay đều không ghi tên các tác giả VNCH. Việc này cho thấy, các học giả Việt Nam hiện nay cũng phủ nhận tính chính thống của các học giả VNCH. Các anh cứ nói ông Trần Văn Hữu tuyên bố thế này thế kia, chính quyền thực dân, chính phủ Bảo Đại bù nhìn, chính nguyền ngụy hành sử chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa thế này thế nọ… Trong khi điều nổi bật của chế độ CSVN là công hàm Phạm Văn Đồng 1958 cùng các tuyên bố ngu xuẩn khác. Các anh viết như thế là đã xác nhận tính chính thống của các chế độ đó nhưng các anh không có can đảm nói ra.

Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của quốc gia Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Đó là điều hiển nhiên. Nhà cầm quyền CSVN chỉ là giai đoạn, trong khi đất nước và dân tộc là trường cửu. Nhà cầm quyền này không nhìn nhận di sản của VNCH thì sẽ có chính quyền khác trong tương lai nhìn nhận nó. Việc này có thể không còn xa lắm.

© Trương Nhân Tuấn

Đôi lời giới thiệu về tác giả Trương Nhân Tuấn: Ông Trương Nhân Tuấn tên thật là Ngô Quốc Dũng, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1956 tại Bạc Liêu. Năm 1974 đã đậu chứng chỉ căn bản về Khoa học (MPC) tại Đại học Khoa học Sàigòn. Việc miền Nam sụp đổ năm 1975 khiến ông phải bỏ học một thời gian. Năm 1980 ông qua Pháp, vừa đi làm vừa học lại, lấy được bằng Cao học về Toán và Vật lý. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, biên khảo công phu về chủ quyền biên giới lãnh thổ - lãnh hải của Việt Nam.


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều