05/28/12 - VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Cởi truồng đứng trước đám đông

Đăng bởi Biên tập viên vào Thứ hai, ngày 28 tháng năm năm 2012


Mùa hè, cảm giác thật là khó chịu khi phải ra ngoài đường, ánh nắng chói chang cứ hắt vào mặt, khói xe bụi cứ nhiên tục bắn xả làm đôi mũi như cay lại, đã thế lại còn tắc đường… Hà Nội trông rất lộm nhộm, thế nhưng chả hiểu sao người ta cứ treo đầy băng rôn, áp phích màu đỏ, cái màu đỏ lòe loẹt giữa cái nắng đầu hè thật là phản cảm. Tôi ước người ta thay cái màu đó bằng màu xanh của lá cây, nước biển hoặc da trời có phải tốt hơn không, có lẽ vì thế biết đâu tôi sẽ thích mấy câu khẩu hiệu tuyên truyền của Đảng, mến Bác và yêu luôn Chủ nghĩa cộng sản. Nhưng không, họ không bao giờ trao tôi được cái thỏa ước đó, đơn giản cái tông màu ấy là chủ đạo của lịch sử 80 năm qua, sai hay đúng, khoa học hay phản khoa học không quan trọng bằng việc họ cứ tương lên để làm nền.

Mặt nạ xấu

Ngụp lặn sau một giờ đồng hồ tôi cũng về đến nhà, có cảm giác như tôi vừa về đích, thật là sảng khoái. Bật một lon Coca, nằm xoài ra và xem chương trình thời sự, vốn là thói quen của tôi gần chục năm về trước, cái thời mà tôi vẫn là một cậu học sinh biết phấn chấn khi nước tòa tháp đôi WTC bị khủng bố, rất tức giận khi Mỹ xâm lược Iraq,…
Ảnh minh họa
Nhưng rồi kể từ khi vào đại học tôi đã dần lãng quên nó, phần thì bởi đó không còn là mối quan tâm sở thích, phần vì có quá nhiền quan điểm khác dồn dập lạc vào suy nghĩ của mình. Đang miên man suy nghĩ, mắt dán lên màn hình tôi bỗng giật thót ngửa, tôi nhận ra sự vô dụng của một cái tivi, làm sao mà có thể là cái tivi được khi 45 phút của nó chỉ có hai bóng hình phát thanh viên và ông đầu bạc, nếu tôi là một người ngoại quốc thì sẽ nghĩ đó là show truyền hình hội thoại của một đôi vợ chồng già trẻ. Nhưng đôi tai của tôi nó không như suy nghĩ, màng nhĩ vẫn rung để nhận ra rằng Chủ nghĩa xã hội vừa được phổ biến cho toàn dân vào giờ vàng. Thật là phí tiền thuế của dân và thương cho những giếng dầu có mùi tanh của máu, tôi lẩm bẩm.

Rồi tôi buồn cười, buồn cười cho một đám người. Một đám người sống không có lý tưởng, cũng chẳng biết Chủ nghĩa cộng sản là cái chi chi, nhưng họ cứ mở miệng ra là xã hội chủ nghĩa phải thế này, phải thế kia… Họ nói như đó là chân lý, như họ yêu nó lắm, trong khi chính bản thân họ lại cho con cái đi du học ở các địa ngục tư bản chủ nghĩa, tìm mọi cách để ve vãn những đồng tiền đô la thối nát, mặc dù họ suốt ngày công kích nó. Đúng là cái đồ… đeo mặt nạ xấu xa! Cô hàng xóm đang nguyền rủa người chồng đê tiện của mình làm phá tan cái sự yên bình của khu xóm nơi tôi đang ở.

Một chương trình nhàm chán đã kết thúc, thật vui mừng khi người dẫn chương trình đưa tôi đến tiết mục hai tiếng đồng hồ sống trong âm nhạc, những bài hát về Hồ Chí Minh, tất nhiên tôi thích nó. Ở đó đưa tôi về với âm hưởng dân ca xứ Nghệ mà mình đã sinh ra, những câu hò Huế mộc mạc mà tôi đã ghé qua và yêu lấy nó, hay bài hát nặng chất điệu Nam Bộ mà tôi đã từng ngửi thấy qua đất trời miền Tây mưa nắng… Anh quê vậy!!! Tiếng vọng của đứa em gái đang nhíu môi. A, thì ra nàng đang ghen tỵ với mình, nàng đang dè bỉu sở thích của mình, nàng yêu Super Junior. Nàng nói vậy để nàng chứng tỏ cho thế giới thấy, đừng ai động đến thần tượng SJ của nàng, dù có mang bác Hồ, cái tên mà nàng gọi một cách tôn kính ra đi nữa. Mình chợt nghĩ, nếu như để đanh sập thần tượng Kim Il Sung để làm đổ Bắc Triều Tiên thì Hàn Quốc phải mất công làm gì cho lắm, khi mà chính trên đất nước họ đang có những chảng trai hấp dẫn thế này.

Và những suy nghĩ không đâu

Người ta vẽ ra một chương trình mười mấy chữ dài ngoằng ngoặc “Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là để chuộc sự nhàm chán lên dân chúng, để các quan chức có thể độc thoại hàng giờ đồng hồ cho các đồng chí của mình nghe, trong khi những người vợ, những đứa con của họ xắn tay xây biệt thự, mở rộng kinh doanh tư nhân, tằng cường quản lý nhà nước bằng những quyết định lấp ló hình ảnh cụ Hồ trên nền polymer xanh xanh đỏ đỏ.

Rồi tôi chìm trong suy tưởng về những cái không đâu, tôi thử hỏi, cái gì đẻ ra chế độ này? Đó là Hồ Chí Minh, đúng, đó là Chủ nghĩa cộng sản, cũng đúng. Vậy Hồ Chí Minh là ai, đó chả phải là kết quả tất yếu của một dân tộc chọn bạo lực cách mạng làm phương pháp đấu tranh dành độc lập, của sự thiếu kiên nhẫn với tư tưởng Phan Chu Trinh của một cộng đồng đang chìm trong áp bức và bóc lột của thực dân phong kiến. Vậy Chủ nghĩa cộng sản là cái gì, đó chẳng phải là kết quả của tình cảm chán ghét thân phận nô lệ mà nhân dân ta bị đọa đày, đó chả phải là sự thăng hoa và hoài bão của một dân tộc yếu kém về tri thức nên mới tin vào thế giới đại đồng và sự công bằng ngu xuẩn.

Nhưng thôi, tôi không có thói quen sục sạo lịch sử, vốn đã chẳng minh bạch gì khi mà các tài liệu chưa được giải mã, còn các nhà sử học vẫn bị ớm ờ bởi quyền lực roi gậy. Tôi chỉ quan tâm đến thực tại hôm nay, mà sẽ là lịch sử ngay mai. Cái gì duy trì chế độ hôm nay? Chủ nghĩa cộng sản, không! Hồ Chí Minh, không! Xin thưa chế độ Việt Nam mà chúng ta đang thụ hưởng được duy trì bằng ba nền móng vững chắc:
  1. Sự hài hòa lợi ích cầm quyền. Đó là những thỏa ước về quan điểm sống, làm giàu, thành công, hạnh phúc… Trong chính quyền chia sẻ quan điểm quyền lực thông qua mệnh lệnh, phát triển không dựa vào chiến lược lâu dài mà phụ thuộc và cán cân thu chi của mỗi cá nhân hình thành nên Chủ nghĩa tư bản thân hữu, ở đây không chỉ giới hạn trong gia đình chính trị mà còn được hiểu là các mối quan hệ sinh lợi cho họ.
  2. Hệ thống công an trị. Nhà nước pháp quyền bị đánh gục, thay vào đó là sự bưng bít thông tin và gieo nỗi sợ hãi cho dân chúng đến quyền lực số một này của thể chế. Hệ thống quyền lực này đặc biệt nguy hiểm không những đánh sập chí khí của dân chúng mà còn thúc đẩy Chủ nghĩa bình yên vô sự, vốn là sự lãnh cảm của quần chúng với quyền lực chính trị, họ vẫn coi đó là việc của thiên hạ không phải phận của chúng mình.
  3. Văn hóa công dân. Hay nói rõ ra là trách nhiệm, tinh thần của mỗi cá nhân đối với cộng đồng chưa được gây dựng và tạo ra mối liên kết. Chưa được gây dựng vì sự truyền bá và giáo dục của chúng ta không được quan tâm đúng mức, cũng như mỗi bản thân chúng ta chưa thực hành công việc này. Trong khi các mối liên kết bị bẻ gãy vì quyền lực độc tài và đấu tranh một cách mơ hồ.
Ba yếu tố có tính chất chi phối lẫn nhau, trong đó nhằm đảm bảo sự tương hỗ cho các nhóm lợi ích mà giới cầm quyền lạm dụng các công cụ pháp luật để kiểm soát xã hội. Hệ thống công an trị như là công cụ đầy đủ để hóa giả những mối bất hòa của các nhóm lợi ích, vấn đề này gây ra sự rối loạn tâm lý trong dư luận, buộc dân chúng vào tâm trạng chống đỡ với các biện pháp và thông tin thiếu minh bạch, góp phần làm xói mòn niềm tin trong xã hội. Đất nước đang rơi vào một vòng xoáy mà ở đó các giá trị và chuẩn mực xã hội bị phá nát một cách không thiếc tiếc. Đã đến lúc phải cắt một liều thuốc đủ mạnh để cứu vãn tương lai của chính chúng ta.

Có nên cởi truồng đứng trước người yêu?

Thằng bạn tôi hỏi một câu vô duyên vậy khi đôi mắt tôi đang lim dim chìm trong suy tưởng, tôi không định trả lời câu hỏi ngớ ngẩn ấy. Bởi tôi cũng chắng biết chắc được nude sẽ hấp dẫn hơn hay không, nhưng tôi nghĩ dù sao thì cũng có tác dụng kích thích và sẽ dễ dàng khi lên giường hơn. Nên tôi gật đầu, như bày tỏ sự đồng tình. Tôi lại dán mắt vào cái màn hình tivi, tội nghiệp, tôi đã ‘đốt’ hơn 4h đồng hồ mà không thu được kiến thức hay tình cảm gì, cuộc vận động của đảng và nhà nước xem ra kém hiệu quả, nên cách chức người nào đứng ra chủ trì cái vụ này, tôi nghĩ vậy. Tôi cố nán lại hết chương trình bản tin cuối ngày trước khi kịp nghĩ ra mình đã tốn tiền một ly trà đá, để phí mất một buổi tối khi tìm lại thói quen xưa kia. Cứ tưởng người ta không phổ biến lại bài phát biểu nhàm chán của ngài có cái tên rất nặng, trong lúc vắn tin thoáng qua đầu tôi nảy ra một ý nghĩ, nếu như ông ta cởi truồng đứng trước đám đông mà vận động quần chúng thì sao nhỉ?

Một phụ nữ dự cuộc họp nom trông quen hiện qua trên màn hình, đang che tay nói thì thầm với vị đại biểu bên cạnh, miệng lầm bẩm như nghe được câu hỏi hí hỏm của tôi. Bị teo rồi, có cởi ra cũng chả ai nứng lên được! Dù là rất thoảng thôi, nhưng nếu có cái máy ghi âm, tôi nghĩ mình đoán chuẩn.

Rồi tôi bỗng chĩa miệng sang thằng bạn:

- Ê ku, mày hãy xem một bộ film rồi hẵng cởi.

- Film gì? Nó tròn mắt ngơ ngác.

Tôi không đáp lại, phần vì tôi sợ phát tán văn hóa phẩm trái với luật của đảng ta, phần vì để nó tự tìm đúng cái nó thích chắc sẽ tốt hơn.

26/5/2012
Hy Văn
Theo Dân Luận


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Tự do báo chí, Internet nên được hiểu ra sao?

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vừa công bố bản phúc trình toàn cầu thường niên về tình hình nhân quyền năm 2011 vào ngày 24/05/2012, đúng vào ngày bốn sinh viên công giáo thuộc Giáo phận Vinh bị tòa án ở Nghệ An tuyên án tổng cộng 117 tháng tù giam về “tuyên truyền chống nhà nước XHCN” theo Điều 88 Bộ Luật hình sự Việt Nam. Một trong số họ là anh Lê Sơn, người từng được đề cử giải thưởng “Công dân mạng” của tổ chức Phóng viên Không Biên giới – Reporters Without Borders (RSF)

Trong phần báo cáo dành cho từng quốc gia, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ trích Việt Nam “đàn áp các quyền tự do” của công dân trong đó có quyền bày tỏ chính kiến và quyền tự do Internet. Các điểm này hầu như đã không có thay đổi nhiều trong bản báo cáo về nhân quyền trước đó vào năm 2010.

Ngược lại, phía Việt Nam luôn khẳng định rằng không có cái gọi là “tù chính trị” ở trong nước và “không có ai bị bắt vì lý do bày tỏ chính kiến”. Tuy nhiên, phản ứng của phía Việt Nam với các cáo buộc vi phạm nhân quyền từ các tổ chức phi chính phủ cũng như các cơ quan ngoại giao nước ngoài thường là những luận điểm yếu ớt, kém thuyết phục.

Tiêu chí nào về tự do Internet cần được xét tới?

Tháng 3 vừa qua, Việt Nam tiếp tục bị tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) liệt vào danh sách các nước đứng chót bảng về tự do báo chí, bị xếp vào danh sách các nước là “kẻ thù của Internet”. Trong bài báo mới đây đăng trên báo mạng Quân đội Nhân dân (QĐND) do Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát, trích lời một giáo sư Mỹ Thomas Jandl trong lần tới Việt Nam “đã phải thốt lên rằng ‘có thể truy cập internet ở bất kỳ chỗ nào’.” Tờ QĐND nhanh chóng kết lại “lời nói của một người Mỹ liệu đã đủ để thay đổi cách nhìn về ‘tự do internet’ ở Việt Nam hay chưa?”. Tuy nhiên, đây là một lời chống chế, ngụy biện khá thô thiển bởi không ai cáo buộc rằng Internet ở Việt Nam bị cấm tuyệt đối như ở Bắc Triều Tiên hoặc “ở Việt Nam không thể truy cập được Internet”, mà họ cáo buộc các trang mạng xã hội như Facebook, các trang blog cá nhân, đài tin tức nước ngoài…bị chặn tường lửa, đánh phá nửa bí mật, nửa công khai!

Như vậy, vào được Internet, hay nói cho cùng là vào được với những kênh truyền thông mà chính quyền Việt Nam muốn dân chúng vào, dứt khoác không phải là một biểu hiện của “quyền tự do Internet” như phía Việt Nam thường xuyên quan niệm. Tự do Internet phải được do lường bằng những tiêu chí như: các blog cá nhân, các báo đài, các ý kiến bất đồng với chính quyền có là mục tiêu bị theo dõi, ngăn chặn, kết tội hay không; người dùng Internet có được tự do phát biểu ý kiến đối lập, khác biệt với chính quyền một cách ôn hòa mà không bị bắt bớ hay không, v.v…

Tiêu chí nào về tự do báo chí cần được xét tới?

Ngoài Internet, tự do báo chí tại Việt Nam luôn là đối tượng chỉ trích trong nhiều bản phúc trình nhân quyền của nhiều tổ chức, chính phủ nước ngoài nhắc tới – mới đây nhất là phúc trình của Freedom House, Ân xá Quốc tế và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Ở Việt Nam, tính đến tháng 3/2012 đã có gần 17.000 nhà báo, hơn 19.000 hội viên nhà báo, 786 cơ quan báo in, 67 đài phát thanh[1]. Các số liệu này cũng thường được dùng để “đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc” về tự do báo chí tại Việt Nam.

Cũng giống Internet, số lượng các ấn bản, cơ quan báo chí, kênh truyền hình…không hề phản ánh chất lượng và tính chất của chúng.

Phát biểu tại Đại hội Toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc nhắc đến tình trạng quyền tự do báo chí tại Việt Nam bị thực dân Pháp chà đạp như sau: “Giữa thế kỷ XX này, ở một nước có đến 20 triệu dân mà không có lấy một tờ báo! Các bạn có thể tưởng tượng được như thế không? Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như ta thấy ở châu Âu và các nước châu Á khác, chứ không phải một tờ do chính quyền thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển … kể chuyện vớ vẩn, ca tụng công ơn của nền khai hóa và ru ngủ dân chúng. Báo đầu độc người ta như thế thỉ ở Đông Dương cũng có ba hay bốn tờ đấy” [2].

Dựa trên tư tưởng của Hồ Chí Minh về tự do báo chí qua phát biểu trên ta có thể khẳng định một số quan niệm về tự do báo chí: Số lượng tờ báo nhiều hay ít không phải là thước đo cho một nền báo chí có tự do hay không! Tự do ở đây được nêu rõ, dân chúng có quyền thành lập, tiếp cận với những kênh truyền thông không phải do “chính quyền thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển” hay không? Thực tế này tại Việt Nam đã quá rõ ràng! Nếu sửa lại đôi chút trong lời nói của Hồ Chính Minh thành “Giữa thế kỷ XXI này một nước có đến hơn 80 triệu dân mà không có lấy một tờ báo không do chính quyền kiểm soát” thì có khác gì thời thực dân Pháp!?

Chỉ thị 37 của Chính phủ Việt Nam nêu rõ “kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức”[3] là một minh chứng không thể chối cãi cho quyền tự do báo chí đang bị giới hạn nghiêm trọng.

Điều 19 Công ước Quốc tế về Quyên Dân sự, Chính trị mà Việt Nam đã ký kết, phê chuẩn nêu rõ: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ.” Vậy hãy dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh và luật pháp quốc tế để soi rọi vào tình hình Việt Nam để xem quyền tự do ngôn luận, báo chí, Internet được “tôn trọng” và “bảo đảm trên thực tế” đến đâu.

Đ.T.
26/05/2012

© TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC 2012
___________________

[1] http://www.petrotimes.vn/dam-luan-doi-thoai/2012/05/cai-nhin-sai-lech-cua-freedom-house-ve-tu-do-bao-chi-o-viet-nam
[2] Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000 Trang 403.
[3] http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2006/12/74120/


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Đừng thờ ơ với những "cốt mốc sống" ở biển Hoàng Sa

Báo chí mấy tuần nay bận bịu chuyện thông tin về họp quốc hội, về vụ tham nhũng cộm tại Vinalines, về lạm phát giảm phát… toàn chuyện lớn, dường như quên hay ít để ý một chuyện tưởng chừng nhỏ nhưng thực chất còn lớn hơn nhiều điều: Tàu cá của ngư dân Việt Nam ra vùng biển khu vực đảo Hoàng Sa đánh bắt bị tàu hải giám, hải quân Trung Quốc xua đuổi, bắt bớ, ngược đãi, giam tàu giam người; tài sản, số phận sống chết không biết thế nào. Ngư dân đang chới với, kêu gọi, cầu cứu chính quyền giúp đỡ. Vụ mới nhất là tàu cá của ông Nguyễn Thành Nhất (xã Bình Châu, H.Bình Sơn, Quảng Ngãi) bị tàu Trung Quốc rượt đuổi, bắt ngay tại vùng biển Hoàng Sa ngày 16.5, đến nay chúng vẫn cầm giữ tàu, không chịu trả.

Hoàng Sa, về bản chất, thuộc chủ quyền thiêng liêng bất di bất dịch của Việt Nam. Đó là điều không thể tranh cãi. Còn trên thực tế, hiện toàn bộ quần đảo Hoàng Sa do Trung Quốc chiếm đóng, sau cuộc cưỡng chiếm phi pháp phi nhân của nhà cầm quyền Trung Quốc năm 1974. Việt Nam có bằng chứng lịch sử, còn Trung Quốc tạm có vật chất biển đảo cụ thể. Hai bên tranh qua cãi lại, chỉ riêng ngư dân Việt Nam chịu thiệt.

Ngày 14.5, Cục ngư chính Trung Quốc ngỗ ngược ban bố lệnh cấm đánh bắt cá trên biển Đông. Năm nào họ cũng cấm, năm nào người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng lên tiếng phản đối, rằng “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng và cơ sở pháp lý về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, lệnh cấm là vô giá trị”. Đồng thời với sự khẳng định hùng hồn đanh thép ấy là việc động viên ngư dân Việt tiếp tục ra Hoàng Sa đánh bắt hải sản, vừa làm kinh tế, vừa thành cột mốc sống khẳng định chủ quyền trên biển. Chỉ tiếc rằng lời động viên ấy chưa kèm theo sự đảm bảo hữu hiệu. Bất chấp sự phản đối của ta, nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn ngang ngược xua đuổi tàu Việt Nam, tịch thu ngư cụ, bắt bớ ngư dân Việt Nam.
Đã là ngư dân thì phải ra biển để mưu sinh. Họ đánh bắt cá trước hết vì cuộc sống của mình và gia đình

mình, sau nữa là những điều khác. Nếu đã khẳng định vùng biển khu vực quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam và động viên họ ra đó hành nghề thì nhà nước cần có kế hoạch, lực lượng bảo vệ ngư dân mình. Biển Hoàng Sa cực kỳ nguy hiểm, nguy cơ tai họa do Trung Quốc gây ra lớn gấp trăm lần thiên tai, đừng chỉ đẩy bà con ra khơi rồi bỏ mặc, giống như đem con bỏ chợ.

Nếu đã xác định mỗi ngư dân Việt là cột mốc chủ quyền sống trên biển đảo Hoàng Sa thì nhà nước phải có trách nhiệm trong những việc cụ thể. Tạo điều kiện cho bà con vay vốn lãi suất ưu đãi để đóng tàu, mua sắm ngư cụ, xăng dầu… là đương nhiên, nhưng ngay cả trường hợp tàu bè, ngư cụ của họ bị Trung Quốc tịch thu, rồi đẩy họ về tay không thì nhà nước cũng cần có sự hỗ trợ kịp thời: hoặc giúp dân đòi lại tài sản, hoặc chia sẻ, gánh một phần thiệt hại với dân. Khi dân đã có trách nhiệm với đất nước thì nhà nước cũng cần tỏ trách nhiệm với dân, đừng nên chỉ từ một phía. Ngoài ra, các cơ quan có trách nhiệm của Việt Nam, nhất là Bộ Ngoại giao, cần hành động rốt ráo, khẩn trương khi xảy ra vụ việc, không chỉ bảo vệ tính mạng, tài sản của ngư dân mà còn sớm đưa người dân từ nơi bị giam giữ trái phép trở về, đừng nên để chậm trễ, kéo dài như nhiều trường hợp vừa rồi.

Theo PGS Trần Ngọc Vương, không nên lợi dụng nhu cầu sinh tồn của ngư dân (về thì đâm đầu vào đâu - tình huống điển hình mà chị Dậu lâm phải) để hô hào suông; nhất thiết chính quyền phải có những chính sách và biện pháp gì đó lúc này để ít ra là hỗ trợ cho họ có hiệu quả.

Thời gian gần đây, chính quyền tổ chức nhiều đoàn quân dân chính đảng từ các cơ quan, đoàn thể, địa phương liên tục đi thăm hỏi, động viên cán bộ chiến sĩ làm nhiệm vụ ở Trường Sa, ở các giàn DK, đem đến cho anh em nhiều giá trị vật chất và tinh thần. Với người lính giữ biển đảo, sự ủng hộ bao nhiêu cũng không đủ so với những hy sinh, đóng góp của anh em. Nhưng còn những người lính không mặc áo lính ngày đêm bám biển cùng cả nước bảo vệ chủ quyền, liệu chúng ta đã quan tâm đầy đủ chưa? Trong lúc quần đảo Hoàng Sa chưa thực sự thuộc lại quyền kiểm soát của nhà nước Việt Nam thì có thể coi bà con là những người dân binh Việt ở Hoàng Sa hiện thời. Không phải ai khác, chính ngư dân là những người xác nhận, chứng minh cụ thể chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam lúc này. Họ là những “nghĩa sĩ Cần Giuộc” trên biển. Không cần phải tổ chức đoàn này đoàn nọ đi thăm hỏi, ủy lạo họ, bởi vì hình thức như thế chỉ mang tính nhất thời, không bền vững, mà hãy giao cho các chính quyền địa phương nhiệm vụ chăm sóc, đảm bảo tối đa nhất cuộc sống của ngư dân và gia đình những người đánh bắt hải sản trên biển Hoàng Sa.

Hậu phương có vững vàng, dân binh mới có thể yên tâm nơi đầu sóng ngọn gió.

27.5.2012

© Nguyễn Thông
Theo blog Nguyễn Thông


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Nhiều khả năng Trung Quốc sẽ tấn công quân sự bãi cạn Scarborough của Philippines vào thời gian tới đây

Những diễn biến về diễn tập quân sự trong mấy ngày qua của Trung Quốc nhân lúc tranh chấp gia tăng giữa Philippines và Trung Quốc quanh bãi cạn Scarborough của Philippines rất dễ để ta đưa ra nhận định như trên.

Trong bài viết Thời sự Biển Đông của báo điện tử Petrotimes, ngày hôm nay 26/5/2012, nhận định:
bãi cạn Scarborough của Philippines
Trung Quốc cấm biển để dọn đường cho một cuộc tấn công quân sự?

Theo nhà phân tích về biển ở Đông Nam Á Alec Almazan của Philippines, tại bãi đá ngầm Scarborough, Hoàng Nham (ảnh), nhiều dấu hiệu cho thấy, Trung Quốc đang chuẩn bị phát động một cuộc tiến công quân sự. Ông Almazan trích tin tức từ một báo cáo gần đây cho biết, Hải quân Trung Quốc đã triển khai một lực lượng đặc nhiệm đổ bộ gồm 5 tàu chiến hiện đại nhất ở khu vực biển tranh chấp với Philippines. Ông nói: “Mặc dù dừng chân tại các vùng biển quốc tế, nhưng lực lượng đặc nhiệm của Trung Quốc có thể nhanh chóng triển khai đến bãi đá ngầm Scarborough trong 1-2 ngày”. Ông Almazan cũng cho rằng, việc Trung Quốc công bố lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông là dấu hiệu Bắc Kinh muốn khu vực bất đồng này không còn tàu cá dân sự Trung Quốc khi họ phát động các cuộc tiến công trên biển nếu có. Đến nay cuộc đối đầu ở bãi đá ngầm Scarborough giữa Trung Quốc và Philippines bước sang tuần thứ 6, nhưng hai bên vẫn chưa tìm được một giải pháp ngoại giao nhằm giải quyết bất đồng.

Cơ sở để đưa ra nhận định như đã nói của đề bài là:

1. Tình hình nội bộ Trung Quốc kể từ ngày nổ ra sự kiện Bạc Hy Lai (06/2) đến nay là rất nghiêm trọng, được báo chí Quốc tế đánh giá là một sự khủng hoảng chính trị trầm trọng nhất trong lịch sử ĐCSTQ vài thập kỷ qua…; chính vì thế mà Trung Quốc sẽ “chuyển mâu thuẫn nội bộ ra bên ngoài” nhằm kết hợp để ổn định tình hình trong nước.

2. Kể từ ngày trình Liên hợp quốc và công khai tuyên bố về “đường lưỡi bò” (07/5/2009) đến nay, Trung Quốc đã phát động một tinh thần dân tộc cực đoan một cách rầm rộ, mạnh mẽ…; và nay là thời điểm chín muồi để giới lãnh đạo Bắc Kinh ra tay, vì họ cho rằng đã rất thành công trong việc tạo dư luận trong nước.

3. Tạo uy tín cho Tập Cận Bình, người sẽ giữ cương vị Tổng Bí thư và Chủ tịch nước thay Hồ Cẩm Đào sau Đại Hội ĐCSTQ lần thứ 18 tới đây; đồng thời đập tan mưu đồ của các phe cánh đối lập của ông ta trong nội bộ ĐCSTQ; tạo tiền để cho Tập Cận Bình thực hiện các cải cách (kể cả việc thực hiện chuyển sang chế độ dân chủ đa đảng…) đi đến thắng lợi.

4. Mặc dù Mỹ đã cam kết hỗ trợ Philippines trong trường hợp Philippines bị tấn công; tuy nhiên, trong trường hợp bãi cạn Scarborough lại không như vậy; đây là một trong những lý do chính để Trung Quốc quyết định tấn công quân sự vào bãi cạn Scarborough của Philippines.

5. Trong trường hợp tấn công bãi cạn Scarborough, Trung Quốc biết rằng Mỹ chắc chắn sẽ không ra tay, một phân như đã nói trên, mặt khác đây là thời điểm chuẩn bị cho cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, và vì vậy, Tổng thống Barack Obama và cộng sự của ông sẽ không giám mạo hiểm ra tay.

6. Sau khi chiếm bãi cạn Scarborough, đồng thời Mỹ không ra tay, Trung cộng sẽ đưa giàn Dàn khoan khủng TQ CNOOC 981 ra đúng vị trí họ dự kiến (hiện nay đang trong giai đoạn đặt thử được ấn định thời gian là 56 ngày); đây là vị trí chiến lược, rất có thể nằm trong đường 200 hải lý của Việt Nam, đồng thời vị trí này khống chế được đường vận chuyển từ eo biển Malaca đi lên Đông Bắc Á đến Nhật Bản, Hàn Quốc. Qua đó, từng bước kìm chế Nhật Bản, Hàn Quốc về kinh tế thông qua đường vận chuyển chiến lược này.

Như vậy, nếu Trung Quốc khởi sự tấn công bãi cạn Scarborough và đặt Dàn khoan khủng TQ CNOOC 981 vào đúng vị trí mong muốn của họ, thì thời gian tính đến thời điểm cuộc bầu cử xong Tổng thống tại Mỹ và thời gian thành lập nội các của Chính phủ Mỹ sẽ khoảng 6 tháng, đây là khoảng thời gian vừa đủ làm nguội dư luận, và Bắc Kinh đạt được điều họ mong muốn, vì sự đã rồi.

Ngoài ra, đánh chiếm bãi cạn Scarborough của Philippines đồng thời là để leo thang, “dằn mặt” Tokyo trong tranh chấp Sekaku/ Điếu Ngư; vừa qua, Trung Quốc cũng đã tuyên bố xem Senkaku là “lợi ích cốt lõi” của mình.

Tiếp theo bãi cạn Scarborough sẽ là Trường Sa.

Mạnh dạn đưa ra nhận định trên là dựa trên các cơ sở sau:

1. Đây là thời điểm mà “Quan hệ Việt-Trung”, đang trong thế “cài răng lược”, có rất nhiều thuận lợi (theo cách nhìn nhận của Bắc Kinh) để Trung Quốc ra tay.

2. Kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn khủng hoảng nặng nề và sẽ kéo theo nhiều hệ lụy chưa từng có; niềm tin giữa “ý đảng” và “lòng dân” chưa bao giờ có khoảng cách xa vời như hiện nay; ngay cả tình hình chính trị nội bộ của Việt Nam không khó để Bắc Kinh nắm được.

3. Trong một vài bài viết trước đây, tôi đã nhận định rằng, để thực hiện được “đường lưỡi bò” trên Biển Đông, buộc Trung Quốc phải gây chiến tranh với Việt Nam để gọi là “thu hồi Nam Sa”…; vì vậy, việc đánh chiếm bãi cạn Scarborough; và rất có thể Trung Quốc đồng thời sẽ tiến đánh luôn Trường Sa.

4. Trong vài năm vừa qua, Trung Quốc đã tiến hành tập trận hợp đồng binh chủng với những cuộc hành quân cách xa hàng ngàn km; đây chính là mưu đồ để thực hiện đối với Trường Sa; Việc Nga-Trung diễn tập trong tháng 5 vừa rồi trên biển Hoa Đông, trong đó có bắn đạn thật, đây được xem như là cuộc tập dượt cuối cùng trước khi khởi sự đối với bãi cạn Scarborough và Trường Sa của Việt Nam.

5. Trong khoảng thời gian ngắn vừa qua, Việt Nam đã làm nhiều việc có ý nghĩa tại Trường Sa, trong đó có việc để các nhà sư ra Trường Sa trụ trì các chùa, đặc biệt, việc dựng tượng Trần Hưng Đạo, người đã 3 lần hiển hách đánh bại quân Nguyên Mông, ở Trường Sa đã làm cho Trung Quốc xem đây như là một sự sỷ nhục; mặt khác Bắc Kinh không muốn để yếu tố tâm linh gắn vào tâm thức người Việt ở Biển Đông, vì vậy, Bắc Kinh sẽ ra tay trong dịp này nhằm sớm gạt bỏ ý thức tâm linh của người Việt về chủ quyền đối với Biển Đông.

6. Tiềm lực quân sự trong tương quan lực lượng Việt Nam-Trung Quốc hiện nay, mà theo nhận định của Bắc Kinh là rất lớn, đủ để Bắc Kinh tự tin đã ra tay là dành thắng lợi chắc chắn.

Mạnh dạn đưa ra nhận định trên đây, để cán bộ, nhân dân và bộ đội ở ngoài Trường Sa và cả nước không bị bất ngờ.

26.5.2012
© Nguyễn Hữu Quý
    Theo blog Nguyễn Hữu Quý


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Thế giới thơ ca Phạm Ngọc Thái

Chân dung một nhà thơ lớn còn bị che lấp & Thế lực văn học mờ ám chỉ đạo HNVVN vẫn cố tình bưng bít kìm hãm

THẾ GIỚI THƠ CA PHẠM NGỌC THÁI
Nguyễn Đình Chúc

Tôi biết Phạm Ngọc Thái (PNT) từ thưở còn chiến tranh, cùng là anh lính chiến ăn rừng ngủ rú qua ba mặt trận Việt-Miên-Lào. Suốt chặngđườngchinh chiến ấy Thái ham viết nhật ký và làm thơ! Nhiều đêm nằm với nhau bên võng giữarừng,Tháivẫn thường hayđọc thơ chochúng tôi nghe. Được biếtnhững cuốn nhật ký đó đã bị mất trong chiến tranh, tác giả chỉ còn nhớlại ít bài tản mạn, cũng là một điều đáng tiếc.

Bọn lính Hà Nội cùng trong tiểu đoàn chúng tôi ra đi hồi đó, hết chiếntranh rồi kiểm lại cũng chỉ còn mươi đứa sống sót trở về. Chẳng ai có thể ngờ rằng cái anh chàng lính trận rất ham thích thơ thưở đó, nay đãtrở thành một nhà thơ có tên tuổi trong làng ngoài nước. Thái cũng đãcho xuất bản 3 tập thơ, hay nhất là tập "Rung động trái tim" - Nxb Thanh niên 2009 rất có tầmvóccủa anh.

Tôi kể mộtchút kỷ niệm xưa cũng chỉ là bộc bạch đôi nét trước khi giới thiệu thơanh! Phần nữa, qua những tập thơ đãxuất bản và nhiều chùm thơ anh cho quảng bá trên mạng - không khỏi ngỡngàng: tâm lý, tình cảm của PNT hôm nay đã khác với năm xưa ấy nhiềuquá? Nếu đọc ở mảng thơ tình ta nhận thấy một tâm hồn tha thiết yêunhưng hoang dã, mà phần nhiều đều là những mối tình dang dở hoặc tan vỡ,tác giả nuối lại những kỷ niệm đã xa xưa.

Thí dụ như bài ĐÊM NAY TRỜI LẠI KHÔNG MƯA anh viết:

Ta lại bước lang thang trên phố vắng
Đến mỗi gốc cây có vệt cũ em ngồi
Tiếng hát xưa đưa bờ hồ gió thổi
Bóng với mình đi mãi tới ban mai...
Cứ tưởng buổi cuối cùng em đến... đã chia tay?

Còn ở bài NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẮNG:

Vết thương lòng không dễ đã lành đâu / Những đêm sao buồn, những đêm gió khát
Khúc thơ tình anh lại viết về em / Ngườiđàn bàngậm cả vầng trăng.

Mảng thơ tình này tôi sẽ nói kỹ hơn ở phần sau. Trong số bài thơ khácta lại thấy một cái bóng bảng lảng, quanh quất cõi thiền của một conngười cập kề tuổi hoa niên. Có lẽ không phải chỉ là vấn đề tuổi tác, còndo khách quan cuộc sống và tâm trạng bởi thời thế đã làm thay đổi nhữngsuy nghĩ, tình cảm và tâm hồn tác giả.

Như trong tựa đề của tập thơNgười Đàn Bà Trắng anh viết:

Tiếng chuôngchùa bốn phía âmvang / Mình lễ cả ba thiên toà phật
Người có vận! Thôi đừng oán trách / Chuyện thơ văn vừa thực, vừa chơi...

Một quan niệm rất thiền. Còn tựa đề cho tập Rung Động Trái Tim thìtâm tưcủa nhà thơ lại hoà trộn trong cát bụi cuộc đời:

Con sẻ hót mênh mông đồng nước / Người hát rong hát vui sân ga
Tiếng Hát Đời Thường thường lẫn vào bụicát / Anh hát cho đời... / Anh hát em nghe...

Để có thể nhận thức được một phần nào đó về thế giới thơ Phạm NgọcThái, tôi tạm chia ra làm mấy tiêu đề lớn cho tiện phân tích.

A/- SỰKHÁI QUÁT HÀM SÚC TRONG THƠ

Tính hàm súc có thể nói bao trùm trong thơ PNT,kể cả những bài thơ viết dưới dạng triết lý đến nhiều bài chảy theodòng cảm xúc tự nhiên. Xin bắt đầu từ bài CỬA QUÁN:

Bà chủ quán / Bước lên xe mô-đéc / Đeo kính gọng vàng
Mấy côgái / Ngồi ở lan can / Mặc toànváy ngắn
Mùa thu rơi / Sau kính...
Anh thi sĩ/ Hoá thằng gù / Nhà thờ - Đức Bà - Pa Ri!
( Tập "Người đàn bà trắng" )

Nó khái quát tới mức độ: Bài thơ được tạo thành từ 4 tứ thơ, mỗi tứ chỉ là một bức ảnh.

- Bức ảnh thứ nhất chụp về sự giàu có sang trọng.

- Bức thứ hai chụp về sự trẻ trung hoa mỹ, gợi cảm của các cô gái (mô típrất thời đại), qua đó để nói lên sự quyến rũ, đam mê trong khát vọngcon người.

- Bức thứ ba chụp về thiên nhiên trinh bạch và êm ả: Con người còn hướng đến sự thanh tao, khoáng đạt của đất trời.

- Để rồitác giả rút ra triết lý, kết tất cả vào trong bức ảnh thứ tư: Đó là tấm chân dung thảm hại của thằng gù Nhà thờ Đức Bà, PaRi... trong tiểu thuyết của văn hào vĩ đại V.Huy Gô. Dựng lên cả tấn bi kịch cuộc đời - Rằng, nếu nghèo khốn quá thì đến chân dung một con người cũng chỉ như một con vật!

Bốn bức ảnh ấy tự biến hoá, tác động lẫn nhau để lột tả chủ đề tư tưởng trong tác phẩm của anh.

Tôi phân tích một bài thơ khác của tập Rung Động Trái Tim là bài NỖI TRĂN TRỞ NGƯỜI ĐI TÌM VÀNG - Bài thơ vẽ cho chúng ta một bức tranh về những con người đi xuất khẩu lao động ở nướcngoài:

Tôi sống âm thầm trong một đoàn người hỗn hợp / Rời quê qua bên kiabiểnsóng / Kẻ tìm vàng,người vì cảnh nghèo đi...

Nó cũng giống như một đoàn quân ô hợp tha phương kiếm sống, nhiều mặtbị tha hoá... không khác gì lớp người ở dưới đáy xã hội:

Đạo lý có hoá thừa đành giả dại làm ngơ / Đứa mách qué lại vân vi dễ sống...

Gia đình ở trong nước thường vui mừng khi nhận được tiền của mà ngườithâncủa họ từ nước ngoàigửi về, nhưng không thấy được những nỗi đời ê chề, thậm chí tới mứckhốn nạn mà những người thân của họ đã gánh chịu. Ta hãy nghe xem tácgiả đã nói về cái giá mà những con người tha phương đó phảichịu đựngthế nào?

Ai mang bán vàng mười giữa phiên chợ đông (*)
Tôi tìm chắt những bụi vàng như anh lính lê-dươnglọc sàng từng đống rác (**)
Dầu kẻ bán - Người tìm vàng có khác / Nhưng giá vàng tính cũng như nhau.

Câu 1 (*) - Tác giả sử dụng ý câu thơ của Nguyễn Duy: "Còn chút vàngmười mang ra bán nốt"- nghĩa của hai chữ"vàng mười" đó ý nói làthứ "vàngcủa lương tâm". Trong mâuthuẫn hiện thực cuộc sống, nếu nghèo khổ quá thì có khi đến cả tâm hồncũng phải mang ra mà bán cho quỉ sứ! Huống chi còn cả gia đình và nhữngngười thân trong nước đang chờ họ. Nền tảng xã hội xuống cấp thì cá nhânlàm sao có thể giữ trong sạch được?

Câu sau (**) -Tác giả phỏng theo tích truyện "Bông hồng vàng" của nhà văn NgaPau-Tốp-xki: Có người lính lê-dương làm cận vệ cho một viên tướng Pháp.Trong chuyếnsang chiếntrường Đông Dương, viên tướng ấy đã mang theo một cô con gái nhỏ. Trướckhi bị tử trận, viên tướng còn kịp dặn lại người lính cận vệ của mình:Hãy mang cô con gái của ông ta về trao lại cho mẹ nó ở Pa Ri! Trên đườngvềPháp, cô béngây thơ cứ ao ước cómột bông hồng bằng vàng ? "Bông hồng vàng" chính là biểu tượng cho hạnhphúc của bé gái!

Những năm sau đó, cuộc sống xô đẩy anh línhlê-dương trở thành một người quét rác nghèo hèn, sống trong một túp lềuxiêu vẹo dưới gầm cầu của ngoại ô Pa Ri. Tuy vậy, trong tâm trí củangười lính ấy vẫn mong muốn sẽ thực hiện được ước mơ của cô bé. Ngàyngày khi quét qua các cửa hiệu kim hoàn, người quét rác lại chắt lọc lấynhững nắm bụi vàng mang về nơi mình ở. Năm này qua năm khác, dần dà anhta cũng tích được một ít vàng, đủ để nhờ người thợ kim hoàn làm cho côbé một bông hồng vàng nhỏ. Khi đó cô bé ấy đã trở thành một thiếu nữxinh đẹp ở Pa Ri!

Trớ trêu, bông hồng vàng chưa kịp gửi đicho bé gái thì người quét rác đã chết trong đói nghèo và khổ cực. Xácanh ta nằm trên một manh chiếu mục, đầu vẫn gối lên bông hồng vàng...sau đó đã bị người thợ kim hoàn đến lấy đi mất. Vậy là, loại "vàng mười"(vàng lương tâm)mà nhà thơ Nguyễn Duy đã phải đem ra chợ bán, với "vàng" mà người quétrác kia lăn lộn kiếm từ trong rác bẩn cuộc đời - nó cũng giống như cáithứ vàng mà những người lao động đi kiếm khi họ ra nước ngoài làmthuê:

Dầu kẻ bán - Người tìm vàng có khác / Nhưng giá vàng tính cũng như nhau...

Khi mang ra thị trường thì vàng nào cùng loại mà giá chẳng như nhau? Nếu đặt trên bàn giá của lương tâm ta cũng không thể chê trách những conngười lao động ấy, bởi những tình cảm đóxuất phát từ lương tri của lương tri, như tác giả thổ lộ:

Hạt muối xót tháng năm và lòng ai đắng? / Tôi nhận chìm tôi vào những lãng quên!

Ý thơ thật xót xa. Kịch tính bao nhiêu khi chính những con người đó còn phải sống với nhau như giữa chốn chợ giời:

Giả dại ở đời thường mà khôn lại trong mơ

Bài thơ đã được khai thác cả bề diện lẫn bề sâu, nó hay lên vì "cái tôi" chảy trong máu tim tác giả hoà quyện với hiện thựccủa cộng đồng.Chỉ hơn 20 câu thơ tác giả đã phục lại không khác gì một pho tiểu thuyết, một bi kịch xã hội và con người.

Thơ PNT giàu triết lý, đặc điểm của tính triết lý ấy là được vận từ đờisống vào thơ như được chắt từ trong óc, nên cảm xúc vẫn mạnh mà khôngbị gò ép. Thí dụ:

Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu / Anh cũngkhông làm chàng Trương Chi suốt đời chèo sông vắng
Ta không đi theo con-đường-lông-ngỗng-trắng / Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau!
(Người đàn bàtrắng)

Bờ bãi đời người "Cuộc sống -Tình yêu" / Trái tim nhỏ em dựng cả Toà sen chân phật tổ!
Ta cũng thể loài cua còng nơi bể cả / Yêu thương nhiều hưởng đã baonhiêu?
(Em về biển)

Cuộc cờ ấy theo thời như hội / Vàng đỏ trắng đen... thay sắc luânhồi
Từ anh nhà thơ tới đứa ăn mày / Mấy ai tránh nổi trò sấpngửa.
(Viết sau đám xe tang)

Thế đó, em ơi! Tình qua không trở lại / Xế chiều rồi mà máu tim chảy mãi không thôi
Em có nghe gió hồ Tây đang thổi / Anh ở đây vẫn bên hồ Tây mây trôi...
(Anh vẫn ở bên hồ Tây)

B/- PHẨM CHẤT VÀ TÍNH CÁCH NHÂN VĂN TÁC PHẨM

Lưu ý một chút ta sẽ thấy nổi lên một đặc điểm rấtrõ: Hầu như bài thơ nào của Thái cũngcó thiên nhiên. Khi thì nóđược viết dưới các hàng cây, lúc ở bên hồ, trong các quán xá của mộtchiều hoàng hôn hoặc dưới đêm trăng. Nhờ vào cảnh thiên nhiên bỗng mộtký ức xa xăm nào đó vụt tới tạo thành cảm xúc thơ. Thiên nhiên không chỉlà chỗ dựa cho những tình cảm vui, buồn trong đời thường tác giả, nócòn là yếu tố quan trọng nuôi sống thơ anh. Như tác giả đã thổ lộ:

Mai ta chết, các bạn bè thânhữu / Bọc thiên nhiên mà đọc điếu văn
Đại bàng vỗ cánh rợp trời mưa gió / Trong không gian vào mãi xứ vôbiên...
(Viết dưới chân đài hoàn vũ)

Thơ anh đều bắt nguồn từ đời thường. Cái đời thường ấy được khái quát bằng một sự trải nghiệmtương đốisâu sắc: Con người với xã hội, cá nhân và thế giới. Nó mang tính đờisống triết học, tính vũ trụ (tồn tại và cát bụi), đời vừa thực lại vừa hư. Tuỳ theo cảnh tình nhào luyện thànhvóc thơ ca,ẩn chứa một thế giới bêntrong rất thấm thía.

Tôi xin nói thêm đôi nét về đời tư tácgiả để bạn đọc dễ cảm nhận khi đọc thơ anh! PNT sinh ra và lớn lên trongthời chiến. Từ thưở còn trẻ anh đã phải rời bỏ đời sinh viên đại học,từ giã Hà Nội để tiếp nhận cuộc sống người lính ngoài chiến trường.Trong những năm tháng chiến tranh ấy, chúng tôi đã có một số năm sốngvới nhau trong cùng đơn vị. Sau này mỗi đứa phiêu bạt một nơi, cho tớitận ngày kết thúc chiến tranh trở về Hà Nội mới lại gặp nhau. Có lẽ vìtâm lý cũng đã mệt mỏi đường binh nghiệp nên khi trở lại thành phố quêhương anh đã xin rời khỏi quân ngũ, tiếp tục theo học đại học ngoạithương, để sau này trở thành một cán bộ của ngành ngoạithương quốc tế.

Tâm lý diễn biến của cuộc đời tác giả trongnhững năm hoà bình trở lại đây cũng khá phức tạp. Khi anh trở về thì nhàtan cửa nát, do bị bom B52 giặc Mỹ đánh vào phố Khâm Thiên Hà Nội năm1972, khi ấy gia đình anh sống ở đó. Rồi năm tháng lại thêm sự chán nảnbởi thời thế, Thái sống chẳng khác gì một người đi ở ẩn, chỉ vui thú vớigia đình, bạn bè, sớm hôm bàu bạn văn chương. Tâm lý ấy đã được bộc lộtrong nhiều bài:

Ta đã sống phần đời sau chót/ Trong ngôi nhà ẩn khuất bóng nhân gian
Một cuộc sống bình thường bàu bạn / Nửa trăng hồ nửa gã hiền nhân.
(Trên nấm mồ truyền thuyết)

Có lúc tác giả rơi vào một trạng thái cô đơn đến gai lạnh:

Hãy vứt ta lên chiếc giường phủ những nệm chăn màn... làm từ những tế bào đói khát
Ta không đói khát tình em / Mà đói khát con người!

Hay là:

Một thứ ma người quen hút khí đêm thay cho sữa mẹ
Chơi với hoa, với cá, với chim
(Cô đơn)

Nhiều khi chỉ bàu bạn với trăng sao:

Ta! Anh thisĩ củanhân gian / Tạc thù với cả khối sao trăng
Hồn hoa nâng cốc xin dốc cạn / Dẫuchỉ mình thôi vẫn mê man...
(Tối quán)

"Cõi thiền" cũng là một trong những phẩm chất nhân văn rất căn bản củathơ PNT. Trong mảng thơ đời của anh, tính hiện thực xã hội, thời đại, cókhi lại hàm chứa cả những quan niệm vũ trụ đầy bí ẩn. Tôi xin phân tíchcụ thể vào một số bàithơ.

1/. EM BÁN XOÀI- Hình ảnh nhân vật trong thơ đã được tác giả nghén thai từ những ngàysau chiến tranh, khi anh vẫn còn là một sĩ quan trên con đường binhnghiệp. Trong một buổi chiều tối lang thang trên bãi biển của thành phốNha Trang, tác giả đã gặp một cô gái, nhiều cô gái bán xoài - để rồi mãisau này khi nỗi lòng có nhiều trắc ẩn, kỷ niệm bao năm tháng qua lạitrở về và bài thơ đã ra đời:

Em bán xoài đi đêm trên cáttrắng / Bãi biển chập chờn kiếp đời các cô gái lang thang

Đó là những thân phận nổi trôi sau một cuộc chiến tranh, những kiếp đờicát bụi. Nó nhỏ bé, côi cút trong một biển sống đầy sóng dữ chỉ muốnnuốt chửng lấy nó. Những người con gái thân phận lạc loài, linh hồn gần như không có nơi bám víu:

Biển to lớn - Bóng em nhỏthẫm / Linh hồn treo ngoài thế giới em đi / Trên những cành dừa hay trong đám mâyqua?

Cái thếgiới ấy giống như:...vòng thiên la địa võng /- Mặc dù sự tồn tại của thế giới đó phải nhờ vào vị thơm của trái xoài và hương mát của những người con gái kia! Thế mà:

Ai mua xoài? Còn ai có mua em?

Hay là:

Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi...

Hồn thơ nhập vào những thân phận bọt bèo để rồi cùngvô vi trong cát bụi cuộc đời.Như thế là cái thế giới với những đảo điên trong thế thái giống như cáitúi càn khôn bủa vây, vùi lấp đám dân lành tội nghiệp. Bài thơ được kếtthúc trong lời ru, sự cảm đồng của lòng tácgiả cùng với quê hương quanh những cô gái bán xoài:

Biển ru ta và ta ru em
Dưới hàng dừa xứ sở gió ngàn năm

2/. CÔ QUÉT LÁ ĐÊM HỒ- Một bài thơ cũng rất giàu tính dân dã:

Một đêm hồ nước đầy sương gió / Người đi không rõ mặt người
Liễu ru nhènhẹ quanh bờ vắng / Em thầm thì quét lá, bên tôi!

Vào cái đêm trời đất đầy sương gió tác giả đã gặp cô quét lá, chính làngười quét rác trong phố khuya. Đọc đến câu thứ 2 ta thấy hiện thực xãhội đã hiện ra: Không phải chỉ trời sương gió, mà đó là những con ngườicủa đời sương gió. Lớp người đông đảo nhất xã hội, nhưng bước đi:...không rõ mặt người/-Những con ngườilao động nghèo khổ "sống không còn nhânảnh", chẳng quacũng chỉ là những lớp đời phù du, thân phận giống như chiếc chổi tre năm tháng quét lê trên đường để... mòn vẹt dần đi:

Em quét lá lẫn đời lẫn kiếp / Tiếng chổi mòn kêu xiết vào tim!

Cảnh đời và tác giả cứ hiu hắt ru quanh cô quét lá đưa ta vào khoảng không gian vừa mơ hồ, êmả, nửa thực, nửa không, như có những giọt lệ từ trong trái tim nhà thơ rơi ra:

Em hoá thành thơ rơi lặng lẽ / Trong cõi lòng tôi buồn triền miên...

Tôi đi sâu để phân tích hai câu thơ hay nhất bài:

Trăng như đứa không nhà trôi lạc lõng
Con nai vàng chết bóng thu xưa...

Tác giả có kể về xuất xứ của 2 câu thơ này: Nhìn lên vòm trời đêm ấyxung quanh là tiếng lá cây reo, anh có cảm giác... không phải cô quét lácô đơn mà chính là nhà thơ cô đơn! Nó cũng như cái bóng trăng đang lạclõng, hiu hắt trên trời kia? Thế là bóng trăng đã được nhân cách hoá vàothân phận con người đang bơ vơ không nhà, không cửa. Còn hình ảnh đêmmùa thu cô quạnh, mơ mộng và man mác buồn... gợi lêntrong tâmtrí tác giả về hình tượng "con nai vàng" trong bài thơ TiếngThu củaLưuTrọng Lư! Một sự liên tưởng nấy sinh trong đầu óc anh: Chỉ có thi nhân"mộng và sầu" mới có thể thấy được bóng:

Con nai vàng ngơ ngác
đạp trên lá vàng khô

Còn nhữngcon người lao động nghèo khổ kia đang phải vật vã từng ngày để kiếm miếng cơmmanh áo,thì làm gì còn tâm trí mà....mơ đến bóng nai vàng? Thế là nẩy ra cảnh ngược thơ: Con nai vàng phải chết! Nên mới có câu:

Con nai vàng chết bóng thu xưa...

Vậy là hình ảnh "con nai vàng ngơ ngác" của cố thi nhân Lưu Trọng Lư thì bọc chứa cả thế giới trong thơ, còn hình ảnh "con nai vàng chết"...ở bài thơ "Cô quét lá đêm hồ" của PNT lại để phản ảnh ý nghĩa cuộc sống và xã hội nằm bên ngoài câu thơ. Haicâu thơtrên như gói cả thân phận cùng nỗi lòng của nhà thơ và cô quét lá vào trong đó!

3/. ĐÊM KHÔNG NGỦ - Là một bài thơ tác giả trăn trở vềnhân tình thếsự! Đó là vào một đêm mùa đông:

Thành phố của những ổ chim / Âm ỉ hót phù du...

Có một con chim (con chim đó đã phải đeo kính trắng), cứ tối tối rađường:

Nhặt những hạt sấu, cánh hoa lơ đãng / Bước đi như không có chuyện gì?

Nhưng " không có chuyện gì" ? nghĩa là có chuyện! Vậy tại sao nó lại"lơ đãng"? Nghĩa là chuyện ấy nhàm rồi, chán rồi, không còn đáng lưu tâmhay nó khôngmuốn lưu tâm đến nữa. Hình ảnh những "ổ chim" ởđây, tác giả lấy làm biểu tượng để nói về chốn dân tình. Thông quatiếng của loài chim ấy để nói lên tâm tư tình cảm nhân gian về xã hội và thế thái này.

Đêm không ngủ không buồn

Cái điệp khúc tác giả nhắc đi nhắc lại để mở đầu cho mỗi tứ thơ: nó bộclộ một tâm trạng còn u uẩn, khuất khúc? Vừa như lãnh đạm bàng quan vớixung quanh, nhưng lại... không ngủ được!Giai đoạn mà anh viếtbài thơ này là... đúng vào cái đêm "bức tường Berlin bị đạp đổ", ĐôngĐức mất vào tay Tây Đức, kéo theo là sự sụp đổ của nước Nga Xô viết cùng hàng loạt các nước XHCN ở Đông Âu.

Đứng trước một sự kiện lớn lao đến như thế, sự sụp đổ của cả một hệthống CNXH cũng có nghĩa là sự tan vỡ của chủ nghĩa Marx làm chao đảo cảmột thời đại - Ấy vậy mà hình ảnh của cả một thành phố (như tác giả tả trong thơ) vẫn chìm trong một không khí lạnh lẽo, như không ai thèm đếm xỉa đến sự tan vỡ ấy:

Thành phố khôngmưa / Cũng không nghe ai khóc!

Bởi vì cái thế thời ấy đã... thoái hoá, làm cho người ta chán quá rồi! Nó có sụp đổ đi cũng là đúng thôi, chẳng ai hoài công mà thương tiếc nólàm gì nữa. Đây chính là thái độ nhân sinh và thế giới quan của nhà thơ!Nên "con chim đã phải đeo kính trắng" kia mới:

Bước đi như không cóchuyện gì...

Cuối cùng tác giả dồntoàn bộ ý tưởng vào trong mấy câu thơ sấm sét để kết bài:

Đêm không ngủ! Phải, đêm nay mình không ngủ! / Đúng vào đêm sụp đổ giữa cộng đồng
Chủ nghĩa Marx hết thời. CNXH cũng suy vong...

Tác giả bỏ lửng ở đấy để cho đời tự ngẫm mà phán xét? Thi phẩm đã bộc lộ một tình yêu quê hương tha thiết của nhà thơ.

4/. TRỞ VỀ - Bài thơ đã được viết ở nước ngoài cũng trong giai đoạn phe XHCN bị sụp đổ đó, vàonhữngngàyanh chuẩn bị trở về quêhương:

Đôi cánh chim trời quạt gió mây / Ta về non nước nước non đây

Hay là:

Ta về bàu bạn cùng mưa nắng / Lưu lạc người ơi gió cuốn thôi..
.
Trên bàn cân thế giới khi ấy dấu ấn về thành trì CNXH bị nghiêng ngả đã được tác giả ghi nhận trong bàithơ:
Đông Âu bão giật xiêu thành Marx

Và tình hình rối ren của nhân tình thế thái:

Bốn bể chân trời lạc khói sương...

Thành thử chỉ từ một bài thơ có tính chất ngẫu hứng tự sự bản thân đãmang ý nghĩa về một phạm trù của lịch sử thời đại. Bốicảnh quê nhà khi tác giả ra đi:

Ở chốn quê nhà bụi cát bay / Hoà bình mà tan mộng trăng say

Nhưng vì tình yêu da diết với quê hương anh vẫn kiên quyết trở về, trong khi rất nhiều bạn hữu củaanh tìm cách ở lại nước ngoài làm kinh tế. Theo lời tác giả nói: Anhkiên quyết trở về quê hương còn vì sự nghiệp văn chương, đã được anh ghi nhận trong câu kết bài:

Ta về trọn cuộc đất cố hương / Với mộng ngàn thu gửi nhân gian...

Có lẽ vậy cho nên việc PNT có trở thành một thinhân vớibao nhiêu áng thi ca hayđể lưu lại cho đời cũng chỉ là tất nhiên thôi!

5/. Nếu kể đến mảng thơ viết về thành phố quê hương thì không thể không nói tới bài TIẾNG HÁT ĐỜI THƯỜNG -Bài thơ viết như một truyền thuyết: về người vợ trẻ với đứa con thơđang chờ anh ở cố hương. Nơi có ngôi đền, quán báo, gốc đa bên hồ Tây. Nơi bàThị Lộ năm xưa đi bán chiếu gon đã gặp ông Nguyễn Trãi. Nơi mà vẫn còn in dấuđại bác ở cổng thành phía bắc Thăng Long, khi quân giặc Pháp vào đánh chiếm Thủđô, thành Thăng Long thất thủ, quan tổng đốc Hoàng Diệu phải thắt cổ để tuẫntiết. Cái thành phố quê nghèo ấy với những hình ảnh bình dị thân thiết:

Ôi quê hương! / Cái phố nhỏ cứ mưa là lầy lội / Cháu gái nhà bên tuổi không đoán nổi
Chưa tối đã khêu đèn bê mẹt thuốc rao đêm / Ngày hai bữa, bữa nào cũng vội 

Và lòng nhà thơ tha thiết luôn hướng về miền cố hương ấy:

Ai biết chiều nay ngườivợ trẻ / Đứng mong chồng bên đứa con thơ / Giọt lệ cháy xót lòng mang sắc xanh thu!... 

Hay là: Tuyết bạc quê người, xứ sở mưa cau / Đi đâu, đến đâu... nhớ về phố ấy! /- Cái tiếng hát đời thường ấy lẫn vào trong cátbụi, nó cũng giống như tiếng của người hát dạo trên sân ga, tiếng của những conchim sẻ nhỏ nhoi trên cánh đồng mênhmông nước - nhưng đó là những tiếng hát tha thiết và thân thương của trái tim ta.

6/. Tôi bình bài ĐÊM TRUNG THU VÀ ĐỨA ĂN MÀY mà tác giả nói về cái nghèo đói:
Trước đứaăn mày tất cả chúng ta hoáthánh! / Nó đói lòng cúi lậy rất từ bi...

Nghĩa là cáiđói khổ đã đẩy conngười ta xuống hàng cấp thấp, đê hèn. Đây lại chỉ là hai đứa trẻ. Đứalớn vẫn còn bé, nó đã gầy yếu nhưng còn phải cõng trên lưng một bé emcòm cõi:

Ăn mà từ thưở khai sinh!

Hai đứa ăn mày ấy xuất hiện trong một khung cảnh nào? Đó là vào giữa đêm trung thu đèn hoa, trăng sáng. Một bức tranh tạo nên cảnh tương phản đến khốc liệt, khi cảnh thê lương ấy lại xẩy ra ở trong cái đêm hạnh phúc nhất giành cho con trẻ trên toàn trái đất này.Bố mẹ chúng đâu và là ai? ta không biết! Cái hiện thực thật tộinghiệp, xót xa. Còn với chúng phải sống lang thang xin ăn như thế nó sẽnghĩ gì?... thậm chí nó còn chưa đủ tuổi để nghĩ đến thân phận của mìnhnữa:

Hai đứa ănmày mặt lạnh như trăng / Hoà phối cảnh vào bức tranh xứ sở...

Cái màu trăng rằm tháng tám thì đẹp và rực rỡ, còn màu trăng nhờn nhợttrên mặt những đứa trẻ kia thì lạnh lẽo làm ta rợn gai người - Và, haicái màu trăng ấy hoà vào nhau làm thành màu...đất nước? Bài thơ đã đượckết thúc trong những mâu thuẫn không thể nào tháo gỡ nổi trên cõi thếgiannày:

Dưới gầm trời này có phải đã muôn năm như vậy: / - Kẻ cần cơm bên những đứa cần vàng

- Lũ cần tình thương sống lẫngiống bạo tàn / Và gộp lại gọi chung là... nhân thế!

Ta nhìn ra thế giới hôm qua, hôm nay và ngày mai: châu Á, Âu, Phi &Mỹ la tinh - con người đang bị quyền lực, bom đạn chiến tranh đè nén vàchết chóc. Những người da đen đói khổ cũng như cáclớpngườibần cùng sống như con vật. Nhân thế cứ như thế, như thế mãi biết baogiờ cho hết? Thực tế đầy rẫy những bất công dội vào thế giới quan củanhà thơ để anh kết lại bài thơ như trên! Giá trị đích thực của bài thơlà những tiếng nói như máu, tiếng nói nhân đạo từ bên trong.

C/- ĐIỂM QUA MẢNG THƠ THIỀN & THƠ TÌNH

Như đã nói ở trên: cõi thiền là một nhân tố rất căn bản của thế giới thơ PNT, nó chiếm số lượng bài cũng rất đáng kể như: Thu tĩnh, Chiều hoàng hôn,Khoảng buồn vô lý, Mộtchiều cuộc đời, Với mùa xuân đang tan, Tối quánv.v... Mỗi bài lại có sắc thái, hương vị riêng. Trong mảng thơ thiềnnày, tôi xin chọn để phân tích một bài thơ khá đặc biệt của anh.

1/. MỘT GÓC HỒ TÂY:

Anh đến mình anh trong chiều muộn / Nhặt thơ tình ở một góc hồTây
Ngắm mặt gương hồ vào chập tối / Mặttrời lại ngỡ bóng trăng soi.

Thỉnh thoảng ta bất chợt bắt gặp bóng mặt trời khuất muộn trong cảnhchiều chập choạng. Lúc đó nó giống như bóng trăng sáng trắng, vừa hơiviên mãn lại vừa như ảo. Tác giả đến bên hồ một người một cảnh, trăngnước vơi đầy. Tiếp theo không phải cái đọt mây kia lơ đễnh mà chính làlòng tác giả:

Lơ đễnh đọt mây qua phớt trắng / Vừa đơn côi mà không đơn côi!?

Hai chữ "lơ đễnh"ấy bộc lộ một trạng thái tình cảm và tâm hồn, vừa có cái gì thật dadiết lại chơi vơi nửa vời. Cảnh với người hơi bảng lảng, buồn buồn màtình vẫn đầm đìa. Sau đó tác giả có nhắc đến một cô gái nào đó, nhưnghình như không phải là một cô gái hay em nào cụ thể? Đó chỉ là khát vọngtrong nỗi hiu hắt của một con người đang bướctới cái tuổi hoa niên:

Thiếu vắng em nên anh lẻ bóng / Lá vàng rơi thay vào chỗ em ngồi...

Nó không còn chỉ là cảnh hoàng hôn của trời đất nữa mà còn là buổichiều hoàng của cuộc đời anh! Hình ảnh chiếc lá vàng rơi thay vào chỗngồi của người thiếu nữ xưa vừa đằm thắm mà nuối nả, xót xa. Buồn hơnnữa là khi lòng tác giả lại nhập vào trong cảnh chùachiền:

Mõ chùa buông thay tiếng nói của người yêu! / Trong sân gạch sư già quét lá / Bước người đi thầm lặng cõi hư hao...

Phố xá mà cảnh như chiều thôn quê. Từ tâm trạng của nhà thơ tới hìnhbóng hư hao, lãng quên trần thế của nhà sư kia cũng chỉ là một. Vào đấtphật lại cô đơn vì tình trai gái, vừa phàm trần mà lòng vô vi, thực vàkhông... đều quyện trongmột buổi chiều hồ. Để rồi cuối bài thì chính tác giả đã ví mình với nhà sư kia:

Người quên hết! Còn ta yêu tất cả / Trong tiếng lá bay chầm chậm bóng ta theo...

Tâm trạng của nhà thơ cũng u hoài như những chiếc lá đang bay đó thôi!... Giờ tôi xin bình sang một số bài thơ tình.

2/. KHOẢNG TRÔI TRONG LÁ- Tác giả nhớ về kỉ niệm với một thiếu nữ. Trong đời thường khi tìnhbị tan vỡ có phải chịu dày vò đau khổ hoặc xót xa, nhưng anh hay em thìvẫn cứ phải tồn tại để sống! Tuy vậy, năm tháng qua đi lá rụng hết lớpnày đến lớp khác, tình yêu với người thiếu nữ xưa vẫn trở về cồn càotrong trái tim anh:

Bỗng cồn nhớ một thời dĩ vãng / Gió vẫn trôi không hữu hạn bếnbờ
Nhưng vẫn đó: em, anh - cuộc sống / Xa nhau rồi, tình cũ đến bơ vơ...

Người con gái ấy giờ đây ra sao? Cuộc sống thế nào? không ai biết! Chỉ còn lại bóng trăng trên trời cùng những làn mâytrắng trong tiếng lá cứ bay đi xa mãi. Tình yêu ấy hát trong hư vô và trăng sao:

Bài hát năm xưa, bên anh em đã hát / Giờ đây trong lá nẻo trời nào?
Anh đi qua chỉ thấy toàn mây trắng / Mặt trăng tít trên trời. Em ở tận nơi đâu? 

"Khoảng trôi trong lá" là một bài thơ tình tha thiết, ngôn ngữ đọng nhưng hình ảnh vẫn sinhsôi, được viết ratừ trong ký ức và trái tim thương nhớ của nhà thơ.

3/. TRĂNG LẶN - Nói là "thơ trăng" mà lại là một đêm không trăng. Trăng không mọc vìtrăng chán trời, không biết em có chán anh như vầng trăng kia không? Đóchính là uẩn khúc của nỗi lòng nhà thơ.

Biển vỗ vào anh - Biển vỗ vào em / Em hoá đá để sóng ghềnh ôm mãi
Năm tháng, nắngmưa... đá vẫn còn nguyên đấy! / Anh phong ba, anh nhẫn nại suốt đời.

Tình yêu hoá thành biển cả: Nàng thì thành đá, chàng hoá sóng. Tình tan vỡ nhưng sóng biển còn vỗ mãi quanh cái hòn đá ấy:

Biển hư vô cả những khi cầm bút / Xé rách lòng cho cánh thơ bay...

Cuối cùng tác giả lại trở về với hình ảnh vầng trăng, nhưng đó không phải là vầng trăng của trời mà chính là... "vầng trăng em"!

Mất một vầng trăng lại mọcmột vầngtrăng / Sóng khốn khổ hôn mãi hòn đá trắng
Nỗi đau của trái tim thơ tháng năm còn rền xiết mãi. Một tình thơ giàucảm xúc được tác giả xây dựng quanh hình tượng biển và trăng.

4/. TRONG BÓNG CÂY NGỦ ĐÊM- Trái tim nhà thơ giống như một con tàu chở đầy ắp tình yêu chuyểnbánh. Con tàu ấy chạy qua những cái quán cô quạnh trong tiếng gió hú,những vầng trăng chết đuối đang trôi, những làn mây lang thang ở chântrời và những thành phố đang chìmđắm trongđêm:

Trong bóng cây ngủ đêm / Có một loài hoakhông ngủ / Loài hoa yêu xếp đầy cánh hoa đau
Hương đã theo anh và con tàu chuyển bánh / Đến vô cùng mà chẳng biết đi đâu?

Tình yêu người thiếu nữ năm xưa như: Hồi chuông nơi thánh đường trắng trinh/- vuốt ve trái tim đau nhói của nhà thơ. Trái tim ấy như một loài hoakhông ngủ, đó là loài hoa yêu! Nó bay theo con tàu chuyển bánhđi mãi, đi mãi tới vô cùng:

Quán cô quạnh suốt đời nghe gió hú / Trăng chết đuối rồi trắng dại đang trôi
Mây lang thang dưới chân trời bão tố / Thành phố chìm trong đêm xa xôi.

Tình yêu ấy vôvi nhưng nó vẫn như cánh chim bay xa... mang đến cho ta cả đau khổ cùnghạnh phúc, khát vọng và tan vỡ! Những hình tượng thi ca đã được chứađầy ắp hồn của nhà thơ trong đó.

5/. LỜI HÓT CON CHIM KHÁCH - Tác giả kể: Vào một buổi sáng anh có gặp một thiếu nữ, nói dăm ba câuchuyện xung quanh việc thơ phú văn chương... rồi người thiếu nữ ấy bỏđi. Trái tim nhà thơ xôn xao, anh đã ra một cái quán trong thành phố gầnbên một hồ nước để viết bài thơ này. Chuyện rằng: Có một loài tim vỡgiống như sự tan vỡ của những cánh hoati-gôn, những mảnh vỡ ấy tan tác bay đi để rồi lẫn vào trong cát bụicuộc đời. Chỉ có một mảnh duy nhất đã hoá thành "con chim khách":

Con tim buồn không còn thuộc về anh / Những mảnh vụn lẫn vào trong cát bụi
Có một mảnh hoá thành "con chimkhách" / Bay đi tìm bóng lạc giữa vu vơ...

Con-chim-khách bay đi trong cõi vô vi đó để tìm lại bóng hình người thiếu nữ kia! Tình thơ đã được kết thúc rất hậu:

Chầm chậm đừng đi người con gái của ban sơ / Anh thả xuống ốc-đảo xanh em một mối tình nguyên thuỷ
Mốt mai lỡđau nỗi khổ đau của loài tim vỡ / "Con chim khách" vẫn về để hót ru em!

Cách kết thúc này gợi cho ta nhớ tới bốn câu thơ kết đầy nhân hậu trongbài thơ tình nổi tiếng "Một chút tên tôi đối với nàng" của thi hàoPuskin:

Nhưng nếu gặp ngày buồn đau đớn / Emthầmthì hãygọi tên lên!
Và hãy tin còn đây một kỷ niệm / Em vẫn còn trong một trái tim...

Tình cảm chớm nở trong trái tim nhà thơ chân thành và trong mát như con suối ban mai, hoang dã mà thanh khiết.

6/. TIẾNG RÚC CHIM ĐÊM - Vào một đêm mưa gió nằm trong nhà nghe thấy tiếng rúc của một con chim trong bụi cây. Cùng với nhữngtích chuyệncổ ở dân gian, đã giúp cho tác giả liên tưởng tới câu chuyện tình của đôi chim:

Chim gọi đàn - Anh gọi tên em / Năm tháng, nắng mưa, non ngàn, bão tố
Có lẽ nào em không về nữa / Để hồn anh hoang mạc bơ vơ...

Thế là chuyện "tình chim" trở thành chuyện "tình người"! Lòng tác giả cũng run rẩy như con chim kiavà hồi ức về một mối tình cũ lại gợi về? Cái đêm đó không hiểu vì saocon chim mái không về... hay nó đã bỏ đi theo người tình khác? Con chimđực cứ gọi, gọi mãi trong vô vọng. Cùng nỗi lòng đó đứng trên thềm nhớcủa không gian mênh mông, nhà thơ đã nhớ về em:

Đã xa rồi! Mùa dĩ vãng trăng mơ.../ Đời vui vẻ cuốn theo dòng gió bụi

Đó là tiếng run rẩy của con chim trống cất lên trong vòm xanh. Tiếngcủa nó còn vọng mãi vào năm tháng xa xôi, vô cùng vô tậnkia:

Con chim đêm run rẩy bóng xanh già / Anh bổi hổi một thời qua vọng lại...

Cũng chính là tiếng lòng của nhà thơ vọng gọi người yêu!... Nỗi thơ nhưlời thủ thỉ của một đôi "trống mái", mang ý nghĩa nhân bản sâu sắctrong tình yêu và sự sống con người.

7/. TRÚC HỒ ĐÊM- Cuộc đời: có khi người ta nhận ra sự tồn tại, hạnh phúc của mình...lại chỉ từ tiếng kêu của những con chão chuộc? Bài thơ thi vị & chứachất tình đời này đã nẩynở vào một đêm Trúc Hồ động. Từ mởđầu đến kếtthúc bài thơ tác giả cũng chỉ lắng trong cái tiếng chão chuộc ở hồ đêmấy:
Đêm nghe Trúc Hồ động / Tiếng chão chuộc vọng đưa / Chợt lòng anh thổnthức / Chuyện ngày xưa ngày xưa...

Tác giả hồi tưởng lại những kỷ niệm và lòng anh trào lên tha thiết:

Tình yêu như cơn mưa / Thấm sũng đời bãi cát / Hồn thiếu nữ ngây thơ / Một chân trời tím sắc...

Ý nghĩa của tình thơ nói: niềm vui sướng, lẽ sốngthường tình của con người chínhlà những tình cảm thân thương rất gần gũi với cuộcđời. Một bài thơ 5chữ,tình thơ bình dịnhưng da diết máu tim và rất đáng yêu!

Thơ tình của Phạm NgọcThái nhiều vô kể, sâu sắc và không ít tình thơ đã đạt được tầm vóc lànhững thi phẩm hay! Thực ra thì còn rất nhiều các bài thơ hay và thíchcủa anh mà tôi lại chưa thể bình được ở đây như: Người đàn bà trắng, Đêm nay trời lại không mưa, Thời áo trắng, Em về biển, Anh vẫn ở bên hồ Tây, Trước núi Mỹ Nhân v.v. - Thơ anh chứa đầyắp nỗi tình ở thế giới bên trong, phần lớn là thơ tự do hiện đại. Tuyvậy tác giả rất coi trọng tính nhạc và giọng điệu nên thơ đọc cuốn hút,truyền cảm và sinh động... cảm hoá được tình người. Có thể nói thế giớithơ ca Phạm Ngọc Thái như một bàu trời mênh mông sâu thẳm... được chảy ra từ trong máu tim và cuộc đời, càng đọc kỹ, đọc sâu càng thấm thía và hay!

Nguyễn Đình Chúc
Đô thành Thăng Long - 2012
NR: Ngõ 44, phố Hào Nam, Hà Nội.
-----------------------
Bài viết do tác giả gửi - BBT.VANGANH biên tập và minh họa...
-----------------------


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Tiểu luận về về cuộc đấu tranh dân chủ cho Việt Nam

Thân tặng bạn hữu-những người con ưu tư vì tình hình đất nước và dấn thân tranh đấu cho một tương lai tươi sáng của dân tộc.

Tôi-Nguyễn Văn Thạnh-một con dân đất Việt, luôn suy nghĩ, ưu tư về tình hình đất nước. Rõ ràng như ban ngày là đất nước ta còn đầy bất công: tham nhũng, lãng phí tràn lan, một bộ phận nhỏ nắm quyền hoặc cấu kết với quyền lực giàu có, ăn sung mặc sướng trong khi đó đại đa số nhân dân sống khốn khổ, đổ mồ hôi, sôi nước mắt mà cuộc sống bấp bênh, không bảo đảm.

Một tầng lớp con ông, cháu cha, thăng quan tiến chức vù vù, nạn chạy chức, chạy quyền,…kẻ bất tài ngồi xổm trên đầu trí thức, người tài thật sự; đất nước ngày càng lụn bại. Ai cũng thấy điều đó, tầng lớp lãnh đạo cũng thấy điều đó, tại sao không thay đổi được?

Từ những suy tư, trăn trở trên, tôi luôn suy nghĩ tìm ra một hướng hành động để sao đất nước đổi thay, giàu mạnh, mọi người ai cũng hưởng lợi, cuộc sống sung túc mà không lâm vào cảnh loạn lạc, chết chóc, máu chảy đầu rơi, đất nước tàn phá tiêu điều?

Mọi sự vật, hiện tượng đều chịu sự chi phối của các qui luật tự nhiên, nếu chúng ta hành động đúng qui luật thì kết quả thu được sẽ như ý muốn. Một chiếc máy bay nặng hàng trăm tấn, người phi công chỉ cần ấn nút khởi động, tác động lên cần lái là nó có thể bay vút lên trời một cách nhẹ nhàng? Thật kì diệu. Tại sao nó bay được? Vì các qui luật tự nhiên lần lượt tác động dây chuyền lên nhau, cái này tác động đến cái kia, cái trước dẫn truyền cái sau theo đúng qui luật mà con người đã hiểu để phát minh ra máy bay. Người phi công chỉ cần khởi động dòng điện, dòng điện kích hoạt động cơ, động cơ phát lực, hệ thống điện, hệ thông tin, điều khiển hoạt động,….máy bay lấy đà trên đường băng và cất cánh. Nếu không hiểu hết các qui luật chi phối, dù chúng ta có dùng đến sức một vạn người, nó cũng không bay được, hoặc có nâng lên nó cũng sẽ rớt xuống. Hiểu điều tất yếu thì mới có tự do.

Con người và xã hội loài người cũng có những qui luật tất yếu chi phối, chúng ta chỉ có thể vận động, cải biến xã hội khi chúng ta biết, thừa nhận và vận dụng những qui luật tất yếu đó.

Xét về tự nhiên, con người thoát khỏi giới động vật là nhờ lao động, lao động làm ra tài sản, của cải, tiền bạc. Tiền chính là giá trị sức lao động (rộng ra là giá trị con người), có tiền (tài sản, của cải) thì sẽ được sống sung sướng, không chỉ cho mình mà cho người thân trong gia đình, không tiền, không tài sản, không của cải thì sống vô cùng khốn khổ không khác gì con thú, điều này thì rõ ràng, không cần bàn cãi. Do vậy ai cũng muốn có nhiều tiền, nhiều tài sản, nhiều của cải, vì nó là nguồn sống.

Có nhiều suy nghĩ thi vị về con người, tuy nhiên chúng ta cần thừa nhận tính tất yếu sau: con người có thuộc tính ích kỉ, tư hữu, lo cho mình và người thân trong gia đình trước,….tất cả những thuộc tính đó được tập hợp lại trong cái gọi là chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân chi phối con người rất mạnh mẽ như trọng lực chi phối lên chiếc máy bay và vạn vật. Chúng ta không thể thần thánh hóa con người mà bỏ qua chủ nghĩa cá nhân, chúng ta cần thừa nhận, tôn trọng nó như một tất yếu để rồi ứng dụng nó trong quản lý, vận hành xã hội đến mục đích tốt đẹp như thừa nhận trọng lực tác dụng lên máy bay và vận hành đúng các qui luật để nó bay.

Về mặt tài sản, con người chỉ lên tiếng khi nó có lợi cho mình, tiền của người khác thì có thể họ thờ ơ hoặc im lặng (chúng ta hay gọi là hèn, nhưng chúng ta cũng sẽ hèn như vậy) nhưng tiền của mình, nguồn sống của mình thì họ sẽ lên tiếng, chiến đấu đến cùng để giành lấy. Từ ngàn xưa đến nay bao cuộc khởi nghĩa, cuộc cách mạng cùng vì quyền sống, cũng xoay quanh vấn đề tài sản. Động lực về tài sản là một trong những động cơ mạnh mẽ để cho xã hội chuyển mình (xưa với khẩu hiệu cướp của người giàu chia dân nghèo, gần đây với khẩu hiệu người cày có ruộng),….ít ai hành động khơi khơi mà không có động lực quyền lợi thúc đẩy. Đây là một nguyên lý lớn giải thích tại sao, ai cũng thấy tham nhũng, bất công, đất nước lụn bại nhưng ít người lên tiếng, vì nó không cướp trực tiếp đến miếng cơm, manh áo họ.

Về mặt xã hội chi phối mạnh nhất là quyền lợi của đám đông. Lòng tham tác động lên từng người như trọng lực tác dụng lên từng giọt nước, lòng tham tác động lên xã hội như trọng lực tác dụng lên dòng sông. Một nguyên tắc đơn giản: nước chảy chỗ trũng mà thành những dòng sông hùng vĩ cuồn cuộn chảy, vượt qua bao thác ghềnh, không gì ngăn cản nổi.

Qui luật “vật chất chỉ có thể đánh đổ bỡi lực lượng vật chất”, dân ta có câu “lòng tham chỉ được khống chế bỡi lòng tham”, trong một thiết chế xã hội, luôn luôn có một nhóm người hưởng lợi và họ tìm mọi cách để duy trì điều đó, phần đông dân chúng khốn khổ muốn thay đổi để sinh tồn. Cuộc đấu tranh chỉ thắng lợi khi lực lượng muốn thay đổi mạnh hơn lực lượng thủ cựu, tùy theo lực lượng ủng hộ mạnh hay yếu, người lạnh đạo tài năng hay không mà cuộc đấu tranh thắng lợi hay thất bại. Khi đủ lượng: cuộc sống quá lầm than, lực lượng ủng hộ đủ mạnh, người lãnh đạo sáng suốt thì lúc đó như bờ đê đã vỡ, không gì ngăn cản nổi, nó cuốn ra biển tất cả (chất đổi). Đó là điều tất yếu.

Tình hình đất nước chúng ta hiện nay rõ như ban ngày là nhóm người nắm quyền và nhóm người ăn theo là hưởng lợi, đủ thứ lợi từ quyền lực, chức vụ đến doanh nghiệp nhà nước. Lực lượng này tìm mọi cách để truy trì quyền lợi, điều đó giải thích vì sao: ai cũng thấy nguyên lý cha cung không ai khóc, doanh nghiệp nhà nước không bao giờ hiệu quả, nó là nơi tạo ra tham nhũng lãng phí mà họ vẫn cố duy trì bằng mọi lý lẽ, cùng với lý lẽ doanh nghiệp nhà nước là lý lẽ một đảng nắm quyền. Điều vô lý tồn tại vì không đủ lực lượng thắng nó. Đó là điều tất yếu.

Lực lượng này nằm ở đâu? Làm sao phát huy nó? Nút bấm để khởi động tiến trình chiếc “máy bay” nằm ở đâu?

Chúng ta đang chứng kiến một tất yếu là nền kinh tế chúng ta đang suy sụp, hàng trăm ngàn tỷ nợ nần do các công ty tập đoàn nhà nước gây ra, sớm muộn cũng phải tư nhân hóa (hay còn gọi là cổ phần hóa), rồi một nhóm người sẽ mua được giá rất rẻ.

Đau khổ là nó còn được bán cho cả người ngoại quốc. Đọc bài đây để hiểu hơn: http://dantri.com.vn/c76/s76-588944/giat-minh-nguoi-trung-quoc-thau-tom-doanh-nghiep-viet.htm

một tầng lớp siêu tỷ phú sẽ xuất hiện, phần lớn nhân dân vẫn khốn khổ, lầm than, thậm chí là nô lệ kiểu mới cho ngoại bang.

Nếu phần lớn người dân ý thức được điều này, có thông tin về nguy cơ cuộc sống nô lệ của họ, của con cháu họ, ắt hẳn họ sẽ lo lắng và không còn thờ ơ. Tuy nhiên để họ hành động, và làm sao họ cùng hành động để tạo ra một lực lượng áp đảo thì chưa thể, nó còn thiếu một động cơ mạnh mẽ: quyền lợi sát sườn, là tài sản mà họ có được.

Theo tiến trình tất yếu hiện nay, chúng ta phải tiến hành tái cơ cấu nền kinh tế (cách gọi của chính phủ), thực chất của quá trình này là gì? Sau khi ném hàng trăm ngàn tỷ đồng vào các doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn,…sau một thời gian ảo thuật tham nhũng, rút ruột, lãng phí, mua đồ nát của nước ngoài,…..tất yếu là gây ra nợ nần đầm đìa. Tái cơ cấu kinh tế là cứu chúng: khoanh nợ, xóa nợ, bơm tiền cứu trợ, bán (cổ phần hóa) cho nhà tài phiệt trong nước hoặc tư bản nước ngoài. Nên nhớ chính phủ không phải là nơi làm ra tiền tất cả tiền bạc đầu tư, tái cơ cấu đều là tiền mồ hôi, nước mắt, xương máu của dân: tiền thuế, tiền vay mượn, tiền bán tài nguyên,….

Điểm cuối của tiến trình này là gì? Một lần nữa tài sản nhân dân bị cướp đoạt một cách hợp pháp, một tầng lớp siêu tỷ phú sẽ xuất hiện, cả trong và ngoài nước. Nhân dân vẫn là kẻ trắng tay, lao động cực khổ, sống khổ sở ngay trên chính quê hương, đất nước của mình. Đến lúc đó, không một cuộc cách mạng nào có thể thay đổi số phận của toàn dân, có chăng chỉ là các cuộc bạo loạn lật đổ, hết kẻ độc tài này xuống thì kẻ độc tài khác lên mà thôi. Khi đó tình hình sẽ như Paskistan, Bangladesg, các nước cộng hòa trung á, Nga,….Xấu hơn nữa là có thể vong quốc, làm nô lệ, giống nòi tiệt diệt. Lịch sử ngàn năm và những năm gần đây cho thấy khi nước nhà suy kiệt thì bị xâm lăng.

Đây là thời điểm ngàn năm có một, có đầy đủ các yếu tố thời cơ thuận lợi để toàn dân bẻ lái con tàu lịch sử của dân tộc đi đến thịnh vượng, tự do, sống sung túc.

Các yếu tố thời cơ thuận lợi nào?

Cuộc khủng hoảng kinh tế với hàng trăm ngàn tỷ nợ nần đầm đìa đã nhấn chìm lý lẽ của kẻ cầm quyền hưởng lợi, đã phơi bày đẩy đủ các bất cập, các bất công, phi lý, các hình ảnh giàu sang tuột cùng cũng như lầm than quá mức. Niềm tin đã thay đổi.

Internet đã làm công cụ truyền tin vô cùng hiệu quả, mọi người có thể thấy được thực tại xã hội một cách chân thực nhất, mà kẻ nắm quyền có muốn che dấu cũng không được. Internet đã tạo ra kết nối vô cùng lớn, kết nối là sức mạnh to lớn và duy nhất đối với lớp dân khốn khổ, bị trị, bị bóc lột. Chỉ có kết nối mới tạo ra thế vào lực như một thác nước trên cao, một khi nó đã xuyên thủng bờ ngăn thì không gì cưỡng được.

May mắn là chúng ta mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình tái cơ cấu kinh tế, quá trình tư nhân hóa (cổ phẩn hóa), còn rất nhiều tài sản: công trình, xí nghiệp, tập đoàn vẫn là tài sản công, danh nghĩa nó là tài sản của dân. Điều này là vô cùng quan trọng vì nó cho phép chúng ta có nút nhất để khởi động cuộc đổi thay cho dân tộc.

Chúng ta phải làm gì để bẻ lái con tàu lịch sử dân tộc?

Nhận thức được hướng đi tất yếu và các nguy cơ của dân tộc, tôi-K.s Nguyễn Văn Thạnh-đưa ra chủ trương sau:

Tất cả những tài sản hiện do nhà nước quản lý: các công ty, xí nghiệp, tập đoàn,…..đây là tài sản của toàn dân đóng góp trong bao năm qua: thuế, vay nợ, bán tài nguyên,….Vì nó là tài sản của nhân dân nên trao trả lại cho nhân dân. Ai công tác ở đâu, chia nhau sở hữu ở đó, không cần phải mua. Tiền cứu trợ nếu có được tính như tiền nhà nước cho vay. Các nghĩa vụ nợ nần đều được giữ nguyên.

Theo tính toán hiện nay, chi phí để hồi phục nền kinh tế ở tầm 30 tỷ USD, nếu chúng ta chuyển biến sang nền dân chủ, hoàn toàn có thể vay quốc tế để trang trải chi phí.

Chính sách này là một nút nhấn cho con tàu Việt Nam, tại sao?

Nếu người dân ý thức được tình hình hiện tại, họ trắng tay, lao động nô lệ thì họ sẽ hành động, một trái ngọt cho việc hành động là được sở hữu tài sản, đây là một động cơ vô cùng mạnh mẽ, như thác đã đổ, không gì ngăn lại được (Nên nhớ sau khi tư nhân hóa, cổ phẩn hóa, các ông chủ mới sẽ đổi việc phần lớn người lao đông, họ phải ra đường, họ sẽ trắng tay, đây là một thảm cảnh chờ họ).

Như khoán 10, khi tư liệu sản xuất được người lao động sở hữu, đồng tiền đi liền khúc ruột, họ sẽ hăng say lao động, làm việc, kinh doanh có trách nhiệm,làm cho hiệu quả doanh nghiệp tăng cao, sản xuất của cải cho đất nước, nhà nước có nguồn thu thuế dồi dào. Khi không còn doanh nghiệp nhà nước, bầu sữa vĩ đại cho việc tham nhũng, lãng phí sẽ không còn, hiệu quả kinh tế sẽ rất cao. Dân giàu, nước mạnh như Hàn Quốc, Singapore là tất yếu!

Khi tài sản nằm trong tay phần lớn nhân dân, ngoài hăng hái sản xuất, họ còn tự tin tiêu dùng, sức mua thị trường sẽ hồi phục, khi đó tất cả các doanh nghiệp đang khủng hoảng tồn kho, sống ngắt ngoải sẽ bán được hàng, sẽ hồi sinh. Đây là điều cốt tử để các vị doanh nhân ủng hộ cho đề xuất này. Nếu không quá trình cải tổ kinh tế rất chậm chạp, dân suy kiệt sức mua không có thì họ cũng chết và cũng bị thâu tóm rẻ mạt bỡi các trùm tài phiệt mà thôi.

Trong một xã hội mà tầng lớp trung lưu đông đảo thì nền dân chủ mới bảo đảm, nhà nước pháp quyền mới tồn tại thực (động cơ là con người có tiền mới có quyền, vì có tài sản nên họ mới lên tiếng bảo vệ tài sản), xã mới tốt đẹp, thái bình; mô hình các xã hội ở các nước Bắc Âu là một minh chứng. Trong một đất nước mà tầng lớp trung lưu yếu, tài sản do các trùm tài phiệt nắm hết, nhà nước pháp quyền, dân chủ không bao giờ bảo đảm, xã hội không thịnh vượng, yên ổn: Pakistan, Nga, Trung Á, Nam Mỹ,……là minh chứng.

Kinh tế quyết định chính trị, kinh tế vào tay dân, chính trị tự đổi, dân chủ sẽ đến (Các bạn biết tại sao Nga dù có đa đảng, bầu cử loạn cào mà chính quyền vẫn độc tài, kinh tế èo uột, trong khi Singapore hình thức gần như độc đảng và có dân chủ, kinh tế phồn vinh? Bí quyết là kinh tế nằm trong tay phần lớn nhân dân).

Làm sao nút nhấn trên tạo ra một lan truyền kích hoạt tất yếu để khởi động và chiếc tàu dân tộc lao trên đường băng, cất cánh?

Bước 1: Truyền tin cho mọi người cùng biết, tận dụng tất cả các công cụ truyền tin sẵn có: mạng (đưa lên nhiều blog, facebook, tốt nhất là sản xuất những đoạn video tung lên mạng), tờ rơi, in ấn, photo, điện thoại giới thiệu,…Thậm chí Photo, in ấn, ném vào nhà người dân để họ đọc, họ biết….Thiết kế những khẩu hiệu đòi trả tài sản cho dân ngắn gọn, dễ hiểu. Hãy truyền tin đến các đối tượng ủng hộ mạnh nhất: nhân viên các công ty, tập đoàn nhà nước, doanh nhân, trí thức, sinh viên. (Sinh viên rất quan trọng, nếu kinh tế suy sụp họ ra trường sẽ thất nghiệp, kinh tế khởi sắc họ mới có việc làm).

Bước 2: Tổ chức những cuộc biểu tình, tuần hành để kêu gọi trả tài sản, đòi quyền sống trước khi bị tước đoạt. Hãy nhắm vào điểm yếu của chế độ hiện nay là tham nhũng tàn phá hàng trăm ngàn tỷ đồng xương máu của nhân dân, là những căn biệt thự nguy nga của quan chức. Một điểm yếu cốt tử là đường xá xuống cấp, thuế phí nặng nề. Hãy tổ chức ngừng chạy xe, gây tắt nghẽn giao thông, biểu tình ở những con đường xuống cấp. Hãy chụp ảnh, quay video để tạo sự chú ý của dư luận về chủ trương.

Bước 3: Đấu tranh chống trả thế lực thủ cựu chống đối. Chúng chống đối vì muốn giữ quyền, giữ miếng ăn, hãy nhận diện những tên ra lệnh, thực thi việc bắt bớ, đàn áp,…..đánh vào nhà chúng. Khi chúng ở cơ quan chúng rất mạnh nhưng về nhà chúng như dân thường và rất yếu. Làm cho vợ con, bố mẹ, dòng họ chúng mệt mỏi.

Ý thức được rằng thế lực hưởng lợi hiện tại sẽ phản ứng, các bước tiếp theo tôi sẽ chỉ dẫn sau.

Hãy hành động để cứu đất nước, cứu tương lai cuộc sống của chính mình, gia đình mình!

Ai là thủ lĩnh tổ chức lực lượng thực thi chủ trương-đường lối trên, chắc chắn có chỗ đứng trong lòng nhân dân, đất nước!

© Ks. Nguyễn Văn Thạnh
-----------------------
Bài viết do tác giả gửi - BBT.VANGANH biên tập và minh họa...
-----------------------


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Khoán 10 và bài học cho chúng ta hôm nay?

Khoán 10

Sau năm 1954 và năm 1975 với niềm tin kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước sẽ tốt đẹp không còn nạn người bóc lột người, sẽ có quan hệ sản xuất tiên tiến, sẽ thúc đẩy sản xuất… Chúng ta đã tiến hành hợp tác xã (HTX) trong sản xuất nông nghiệp: ruộng đất là của chung, sở hữu của toàn dân, của hợp tác xã, nhà nước cử các ban chủ nhiệm HTX để chăm lo sản xuất, sẽ có cánh đồng ngàn mẫu, sẽ cơ giới hóa: cày bừa bằng máy kéo, phun thuốc sâu bằng máy bay… như mơ ước của các vị lãnh đạo.

Kim Ngọc, ông tổ của khoán 10
Tuy nhiên qui luật tự nhiên của kinh tế, của sở hữu không đúng như vậy, hợp tác xã tàn tạ, đói nghèo, nông nghiệp bết bát… Cuối cùng lối thoát là trả lại ruộng đất cho nông dân, để họ tự quyết sản xuất (khoán 10), điều kỳ diệu đã đến: từ thiếu đói, chúng ta đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo.
Điều gì sẽ xảy ra nếu lúc đó chúng ta không trả lại ruộng cho nông dân mà “cổ phần hóa”, buôn bán đất… Chắc chắn đất sẽ rơi vào tay một nhóm người có tiền, cấu kết quyền lực mua rẻ và nông dân vẫn trắng tay, đói kém sẽ theo ta đến ngày nay.

Nền kinh tế chúng ta hôm nay cũng vậy: nhiều, nhiều nhà máy, hầm mỏ, công ty, xí nghiệp… đang là của nhà nước: doanh nghiệp quốc doanh, như HTX khi xưa, chúng làm ăn không hiệu quả, tham nhũng, lãng phí, nợ nần đầm đìa cả hàng trăm ngàn tỷ đồng như Vinashin, Vinalines, EVN… Tất yếu chúng ta cũng phải xử lý như HTX, chỉ khác là chúng ta cổ phần, bán…

Bài học từ Nga

Khi Liên Xô sụp đổ, tất yếu phải tư nhân hóa. Bằng ảo thuật vay mượn qua ngân hàng và cấu kết với chính quyền, một lớp người đã đoạt hết tài sản, trở thành tỷ phú sau một đêm, một sự cướp đoạt hợp pháp. Tỷ phú Roman Abramovich là một minh chứng.

Với tài sản khổng lồ, ông có thể vung hàng tấn tiền cho bóng đá, cho du thuyền, cho máy bay, gái đẹp… sống sung sướng như một ông hoàng trong khi đó hàng triệu dân Nga lao động cực khổ, sống như nô lệ trên chính quê hương mình.

Đau đớn thay tầng lớp đó đã đăng ký quốc tịch nước ngoài, mặt nhiên tài sản được hợp pháp, được luật pháp quốc tế bảo vệ.

Tài sản nằm trong tay một nhóm nhỏ người thì dù có đa đảng, có bầu cử thì dân chủ cũng không đến với người Nga. Người Nga cũng không thể giàu có, tự do, thịnh vượng (Đó là lý do vì sao nhiều người cho rằng đa đảng cũng không giải quyết được gì), trong điều kiện này nhiều khi đa đảng tranh giành quyền lợi làm cho đất nước rối ren thêm.

Bài học nào cho chúng ta hiện nay?

Việt Nam chúng ta cũng đang trong tiến trình như hậu Liên Xô cách đây 20 năm. Chúng ta đang chứng kiến một tất yếu là nền kinh tế chúng ta đang suy sụp, hàng trăm ngàn tỷ nợ nần do các công ty tập đoàn nhà nước gây ra, sớm muộn cũng phải tư nhân hóa (hay còn gọi là cổ phần hóa), rồi một nhóm người sẽ mua được giá rất rẻ (cả người ngoại quốc), một tầng lớp siêu tỷ phú sẽ xuất hiện, phần lớn nhân dân vẫn khốn khổ, lầm than. Hàng triệu người VN rồi sẽ làm nô lệ trên chính quê hương mình.

Những con dân đất Việt, làm sao chúng ta tránh được tình trạng trên để xây dựng một đất nước phồn vinh, ai cũng có cuộc sống sung túc, hạnh phúc?

Như bài học từ khoán 10, ruộng đất của dân trả lại cho dân. Tài sản của dân hãy trả lại cho dân.
Tôi muốn tài sản nhà máy, hầm mỏ được trao cho công nhân. Bệnh viện được trao cho bác sĩ. Chợ búa được trao cho tiểu thương. ất đai trao lại cho nông dân… Đây là tiền của của nhân dân, hãy trả cho họ trước khi bị cướp đoạt hợp pháp bi các nhóm tài phiệt.

Dân có tài sản dân mới có quyền (dân chủ), cũng vì tài sản mà dân mới có động lực lên tiếng. Khi đó nền dân chủ, nhà nước pháp quyền mới có thực, mới bảo đảm, đất nước mới phồn vinh.

Lời giải đang chờ chúng ta.

Hãy hành động để giữ lấy tài sản. Của Caesar phải trả lại cho Caesar. Tài sản của nhân dân phải trả lại cho nhân dân.

Nhân dân Việt Nam, trước hết là giới trí thức hãy ủng hộ cho chủ trương trên.

Hãy lên tiếng, hãy hành động giành lại tài sản, nguồn sống cho mình, cho dân tộc, cho đất nước!

© Ks. Nguyễn Văn Thạnh 
-----------------------
Bài viết do tác giả gửi - BBT.VANGANH biên tập và minh họa...
-----------------------


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều