Em không phải là hạng gái nhơ nhớp thấp hèn (IV)

13:42 |
Khu mại dâm cao cấp: “Cô ấy không phải là một phụ nữ nhơ nhớp thấp hèn”

Quan hệ của gái đi khách và khách hàng trong khu vực mại dâm cao cấp là những trao đổi riêng tư làm ranh giới giữa quan hệ kinh tế và tình cảm riêng tư lu mờ hơn cả ranh giới này ở khu mại dâm bậc trung. Đối với tác giả, đây là khu mại dâm khó đến gần nhất vì tác phong gái đi khách của những phụ nữ hành nghề trong khu vực này không hiển thị rõ rệt. Những phụ nữ mại dâm cấp bậc này này thường lai vãng các quán bar, quán rượu hạng sang như là khách hơn là chiêu đãi viên.
 Hơn nữa, quan hệ khách-gái đi khách ở khu vực này giống như quan hệ của nhân tình, bồ bịch. Vì thế tác giả khó nhận ra ai là gái đi khách ai là khách hàng của quán rượu. Tác giả đã gặp nhiều phụ nữ giới trung lưu tại các quán rượu sang trọng mà họ không phải là phụ nữ mại dâm. Tuy nhiên, vì thường một mình lai vãng đến những quán bar đó nên một số phụ nữ ngỡ rằng tác giả là một cô gái đi khách, và mời tác giả lại cùng bàn uống. Qua thời gian, tác giả trở thành người quen biết với nhiều phụ nữ khác nhau trong quán và nói chuyện với họ về đề tài đang nghiên cứu. Cuối cùng, một số đã thổ lộ cho ta giả biết họ là gái đi khách cao cấp.
Bar Chill (Quận Nhất Tp HCM). Nguồn ảnh: flickr.com
Khách mãi dâm ở khu vực cao cấp giao du với gái đi khách ở tầm mức kinh tế và vốn văn hóa tương đương với họ. Khách loại này không đi tìm để cứu vớt những phụ nữ nghèo mà chỉ muốn tìm những thiếu nữ trẻ, đẹp và có nhiều lựa chọn. Không như những phụ nữ mại dâm ở bậc trung, gái đi khách Việt kiều giàu có không thuộc thành phần nghèo khó trong xã hội. Trên thực tế, nhiều phụ nữ trong số gái đi khách cao cấp là con nhà tương đối giàu, có kinh doanh nhỏ và có một mạng lưới xã hội và nhiều phương tiện để thoải mái lui tới những quán xá đắt tiền nhất ở Tp HCM. Dù gái đi khách cao cấp thường nhận tiền từ khách, nhưng họ coi những số tiền đó là quà tặng và không khi nào là thù lao, và nhất định không phải là cách để cứu phụ nữ ra khỏi hoàn cảnh đói nghèo.

Trong câu chuyện sau đây, tác giả minh họa những loại vốn khác nhau từ kinh tế đến văn hóa, và thể xác mà phụ nữ đi khách cao cấp có được. Tác giả gặp Ngọc, một thiếu nữ cao, mảnh dẻ, hai mươi bốn tuổi, vào tháng Năm, 2007 tại quán Con Chuồn Chuồn một trong những quán bar đắt nhất Tp HCM. Một ly nước ở đây giá rẻ nhất là bảy đô-la. Một chai Rémy Martin, loại cognac khách Việt Nam ưa chuộng, giá từ một trăm đến năm trăm đô-la. Vào một tối, tác giả đến quán Con Chuồn Chuồn khoảng 9 giờ, coi như là còn sớm. Ngọc và tác giả là hai người duy nhất trong quán, ngồi ở hai bàn khác nhau. Nửa giờ sau, tác giả lại bàn của Ngọc và tự giới thiệu. Hai người ngồi trò chuyện, uống nước, hút thuốc. Trong mùa hè đó, tác giả đã bỏ vài đêm theo Ngọc đi quanh thành phố. Gia đình Ngọc có một tiệm nhỏ bán đồ điện tử ở Quận Nhất. Ngọc mới bắt đầu làm việc với Star Capital, một công ty đầu tư có trụ sở quốc tế ở Hoa Kỳ. Thu nhập của Ngọc khoảng sáu trăm đô la mỗi tháng, làm phụ tá cho một quản lý. Như Ngọc, đa số những phụ nữ đề tài nghiên cứu trong khu vực mại dâm cao cấp này đều tốt nghiệp cao đẳng hay đại học. Cùng với nghề nghiệp vững chắc, mức thu nhập tương đối cao so với tiêu chuẩn của Tp HCM, Ngọc còn được cha mẹ giúp thêm về mặt tài chánh.

Ngọc luôn luôn diện quần áo hợp thời trang, có vài cái xách tay hàng hiệu, vài cái điện thoại di động.

Một hôm tại một spa tại thành phố, Ngọc kể cho tác giả biết những loại giải phẫu thẩm mỹ đã nâng cấp thân hình mình. Ngọc khoe với tác giả đôi vú đã nâng cao và nói bằng tiếng Việt:

“Chị coi có đẹp không nè? Em sửa ngực ở Thái Lan với một bác sĩ chuyên sửa cho mấy người đổi hệ: đàn ông muốn thành đàn bà đó chị. Ông bác sĩ khuyên em lấy cỡ C vì như vây nó coi tự nhiên hơn và đầu vú em coi đẹp hơn. Chị đừng có xài đồ rẻ ở Việt Nam như mấy cô ở Việt Nam sửa [vì] nó coi như đồ giả.”

Ngoài việc nâng vú khi hai mươi bốn tuổi, Ngọc còn nâng sống mũi, mổ cho mắt thành hai mí, hút mỡ đùi, mỡ bụng và chích botox trên trán. Ngọc làm tất cả những phẫu thuật này, trừ chuyện chích botox, tại Thái Lan - một nhãn hiệu độc đáo phân biệt Ngọc với những cô gái bản xứ khác chỉ có tiền làm phẫu thuật ở Việt Nam. Ngọc đã tốn cho những trùng tu thẩm mỹ này hơn mười hai ngàn đô-la. Ngọc còn đi spa mỗi tuần để được xoa bóp. Ngọc tốn vài giờ làm tóc, trang điểm ở tiệm trước khi đi chơi tối. Đối với Ngọc, đi làm phẫu thuật thẩm mỹ, mặc quần áo hàng hiệu, bỏ cả ngày ở spa, đi làm tóc, làm móng tay đã phân biệt Ngọc với những phụ nữ Việt Nam nghèo hơn - những người phục vụ khách hàng da trắng.
Spa (Việt Nam). Nguồn ảnh: greentrailtours.com.vn
Tác giả và Ngọc đã bỏ vài đêm ở một số quán cà phê, nhà hàng, và quán bar và giới thiệu tác giả với nhiều bạn bè là chủ nhà hàng, chủ bar. Những người đàn ông này thường giới thiệu khách cho Ngọc. Trong những lần đi chơi với tác giả, một số đại gia Việt Nam đã đề nghị với Ngọc. Ngọc luôn luôn từ chối, vì như Ngọc nói, “Họ sẽ biết ngay là em hành nghề, và nếu có sự không may xả ra, mọi người sẽ biết em làm gái.” Tác giả hỏi, “Còn đàn ông da trắng thì sao?” Ngọc nói, “Những người đó dành cho các cô gái quê muốn di cư. Nếu em đi với một người da trắng, mọi người sẽ biết em là gái hành nghề.” Ngoài những đại gia Việt Nam và những thương nhân da trắng, Ngọc cũng đã từ chối một số đàn ông Việt kiều. Trả lời câu hỏi tại sao lại từ chối nhiều khách hàng trong cả hai tuần lễ không có nhiều khách, Ngọc giải thích:

“Chị phải biết chọn khách. Nhiều anh Việt kiều về Việt Nam để nổ thôi, thực ra họ là những người đàn ông nghèo. Chị có thể biết đàn ông giàu và đàn ông nghèo bằng cách quan sát quần áo họ mặc, đồng hồ họ đeo, và nơi họ lui tới. Những ông Việt kiều ít tiền sẽ đi ăn ở những quán rẻ tiền, nhưng đàn ông có tiền sẽ biết đến những tiệm ăn ngon.”

Việt kiều chắc chắn biết sử dụng sức mạnh của đồng đô-la để tiêu xài được nhiều ở Việt Nam hơn là tại Mỹ nhưng Ngọc biết phân biệt Việt kiều giàu có với Việt kiều giới lao động qua cách ăn tiêu của họ.

Những gái đi khách như Ngọc tránh phát triển quan hệ với đàn ông mà họ nghĩ là Việt kiều trong giới lao động vì những người phụ nữ mại dâm này không muốn có những quan hệ đi đên hôn nhân và di cư. Như Ngọc nói:

“Em yêu Việt Nam và ở đây em thấy thoải mái. Em không muốn sống ở đâu khác. Ở Việt Nam, khi có tiền, chị có thể có tất cả. Em có các cô, các bác bên Mỹ, và chị biết đó, ở Mỹ người ta phải tự đi chợ, tự lau dọn nhà cửa, và tự nấu ăn. Em nói được tiếng Anh nhưng em biết em không thể tìm được việc có lương đủ cho em sống như vầy. Cuộc sống ở đây dễ dàng hơn nhiều nếu chị có tiền. Nếu gia đình em nghèo, Em nghĩ em sẽ muốn lấy chồng đưa em đi Mỹ để sống sướng hơn. Em không nghèo. Tại sao em lại từ bỏ lối sống này?”

Khả năng sống một cuộc sống trưởng giả quanh năm đã giúp Ngọc có những quan hệ ngắn hạn, không ràng buộc, với vài đàn ông Việt kiều, những người tiêu tiền không tiếc cho Ngọc khi họ ở Việt Nam. Ngọc biết rằng di dân Việt Nam sang các nước phát triển hiếm khi tìm được việc làm tốt trong thị trường lao động hàng đầu có những công việc vững chắc, có phúc lợi tốt, thu nhập cao. Thường thì di dân Việt Nam làm việc thấp kém với đồng lương thấp. Ngọc không muốn lấy chồng, rồi xuất ngoại vì khả năng đời sống bị xuống cấp quá lớn. Vào một lúc khác, trả lời câu hỏi của tác giả, “Nếu em đã có đủ tiền, và em không muốn sống ở Mỹ, thì tại sao em lại bỏ thì giờ với những người đàn ông đó?” Ngọc nói [bằng tiếng Anh]:

“Em nay hai mươi sáu tuổi và em chưa muốn lập gia đình. Đời sống gia đình ở đây không dễ dàng. Em thấy quá nhiều ông chồng phụ rẫy vợ đi theo những cô gái trẻ, đẹp hơn và em muốn vui sống càng lâu càng tốt. Đó chỉ là tạm bợ. Mấy anh (Việt Kiều) đó rồi sẽ trở về Mỹ, và được chiều chuộng bằng quà tặng và có thêm tiền là điều sung sướng. Em thấy vui khi làm những việc này. Em còn trẻ, tại sao không, đúng không chị?” Em không thể làm thế này nữa khi vào tuổi ba mươi, đó là lúc em sẽ lấy chồng.”

Những thuận lợi về mặt xã hội, văn hóa, kinh tế, và sắc đẹp thể chất đã cho phép Ngọc di chuyển trong thế giới những Việt kiều giàu có lui tới. Vốn thể xác, tiềm năng kinh tế, và khả năng chuyển đạt một hình ảnh phụ nữ cao sang đã khiến cho Ngọc có thể dùng sức mạnh với khách mãi dâm của mình. Trong một câu chuyện về hai người tình, Ngọc kể:

“Đôi lúc em phải nhanh trí lắm. Lắm lúc có nhiều đàn ông quá để em kịp xếp đặt. Em không muốn họ nghĩ là em đi [khách] với tất cả mọi người vì thế có lúc em phải nói láo là em bận đi làm việc ở Hà Nội, em bận đám giỗ trong gia đình, hay em có nhiều việc ở sở quá. Em kiếm được nhiều tiền hơn khi em có thể xắp đặt nhiều mối quan hệ nhưng giống như em chạy show vậy [Chạy từ khách này sang tiếp khách khác trong cùng đêm].”

Những phụ nữ như Ngọc cẩn thận thu xếp những quan hệ với khách hàng bằng cách làm như họ bận rộn, quan trọng, và được nhiều người theo đuổi. Sức mạnh mà những phụ nữ này có thể dùng với khách hàng khiến họ có thu hút thêm nhiều sự chú ý và cho phép chọn lựa chọn khách kỹ càng. Hơn nữa, vì Ngọc không cần tiền nhận được từ khách hàng, Ngọc lại càng có thể sáng tạo hơn nữa khi đòi hỏi những tặng vật đắt tiền. Điều này cho phép Ngọc chiến lược hóa cách làm thế nào lấy tiền của khách. Những gái đi khách trong khu vực mại dâm cao cấp không khi nào hỏi thẳng khách hàng về tiền bạc như phụ nữ mại dâm ở hai khu vực thấp hơn. Thay vào đó họ chỉ nhẹ nhàng nói họ muốn có tiền đi mua sắm hay mua đồ mới. Nếu khách hàng không mặc nhận, những phụ nữ đi khách sẽ không trả lời điện thoại hay tin nhắn của khách nữa. Tác giả quan sát thấy một vài mối quan hệ tan đi vì khách không đền bù xứng đáng những người tình của họ.

Vào tháng Sáu, 2007, Ngọc giới thiệu, với tác giả, Tuấn, một Việt kiều Pháp, đã hành nghề bác sĩ chỉnh răng 15 năm trước khi trở về mở phòng mạch ở Việt Nam. Tại một trong bốn cuộc phỏng vấn không chính thức, Tuấn nhận định:

“Tôi ba mươi chín, sắp đến tuổi bốn mươi và tôi chưa định lập gia đình với ai cả nhưng tôi cũng không muốn cô đơn suốt ngày. Đây là một thành phố đi chơi đêm rất lý thú. Tôi không muốn bị ràng buộc vì thế tôi đi chơi với những cô gái - như là gái đi khách - Tôi biết mình phải mua quà và tiêu tiền cho cô ấy. Và tôi cũng không thể đi chơi với bất kỳ cô nào. Tôi cần đi với những cô trẻ, và đẹp. Đi chơi ở Việt Nam, người ta dòm ngó mình. Nếu mình có tiền thì không thể đi chơi với gái rẻ tiền được.”

Đàn ông Việt kiều tìm đến với phụ nữ bản xứ không chỉ vì tìnnh dục. Những người đàn ông này mua dịch vụ của những gái đi khách mà sự khéo léo và sắc đẹp phải khác những phụ nữ mãi dâm bậc thấp hơn phục vụ ngoại kiều da trắng. Những người đàn ông như Tuấn muốn ở quanh những người đàn bà giúp họ trưng bày tính đàn ông của họ ở những nơi rất công cộng. Gái đi khách cao cấp đóng vai nhân tình của khách hàng sành sõi hơn những phụ nữ mại dâm các bậc thấp hơn vì họ không làm việc trá hình như những chiêu đãi viên quán bar. Họ có thể trả tiền mua nước và dịch vụ tại những quán bar, quán cà phê hạng sang dành cho người nước ngoài. Khách cấp cao như Tuấn tiêu nhiều tiền cho đàn bà như Ngọc, vì, như Tuấn nói [bằng tiếng Anh]:

“Sài Gòn là một thành phố nhỏ. Ở Paris, tôi có thể bước vào một quán bar và chi hàng ngàn đô-la và không ai để ý đến. Ở Pháp, người giàu dấu tiền của họ. Ở đây, Sài Gòn, là chuyện khác. Khi tôi vừa đến quán bar thì mười người trước cửa đến đưa tôi vào bàn. Khi tôi bỏ năm trăm đô-la cho một chai Rémy [Martin], mọi người để ý ngay. Đối với đàn bà cũng vậy. Khi tôi đi với một thiếu nữ trẻ đẹp mà nhiều đàn ông khác thèm muốn, tôi không ngại tiêu tiền mua quà đắt tiền cho cô ấy. Cô ấy không phải là hạng gái nhơ nhớp thấp hèn. Ngòai ra khi người ta thấy cô ấy đeo xách tay và dùng điện thoại đắt tiền thì người ta lại thấy tôi ngon lành.”

Hơn nữa, những quan hệ mật thiết hẳn phải có chuyện tình dục ở những không gian riêng tư, đồng thời với những quan hệ khách-gái đi khách xảy ra tại những nơi rất công cộng như quán bar, cà phê, nhà hàng, khách sạn, và trên đường phố. Lao động mật thiết xảy ra ở nhiều nơi cùng lúc với những hình tức đền bù khác nhau. Những người khách này thường chi những món tiền lớn mua điện thoại di động đắt tiền, xe máy, xách tay và áo quần hàng hiệu cho gái đi khách, tất cả những thứ đó đều là dấu hiệu độc đáo. Những khách hàng thường sẵn sàng chi tiêu tùy tiện mua tặng vật cho phụ nữ mại dâm vì - như Thanh, một chuyên viên sửa máy điện tính ở Paris giải thích - “Tôi không đi với những cô gái thấp hèn, nhơ nhớp.” Những cô này đều trẻ đẹp, và những đàn ông khác đều muốn họ. Họ tinh nhanh, biết nói tiếng Anh, và là con của những gia đình tốt.” Tóm lại, chuyện mua dâm từ những gái đi khách cao cấp liên quan đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, và vốn thể xác. Trả lại, khách hàng đền bù phụ nữ mại dâm băng tặng vật đắt giá và tiền mặt. Tuy nhiên, tiền mặt luôn luôn được xem là quà tặng chứ không phải là phương tiện để thỏa mãn một nhu cầu như đối với gái đi khách ở những bậc thấp hơn.

Đàn ông Việt kiều còn tìm đến với những phụ nữ bản xứ có nét đàn bà Việt Nam lý tưởng của họ. Khi tác giả hỏi Tuấn tại sao ông lại thích phụ nữ Việt Nam hơn phụ nữ Việt Kiều, Tuấn nói:

“Những nhân tình cũ của tôi ở Paris đều là phụ nữ có sự nghiệp. Một người là luật sư. [Cô ấy] yêu tôi rất nhiều, nhưng cô ấy quá độc lập, và như một người đàn ông, tôi chỉ muốn cảm thấy mình có thể bảo vệ được cô ấy. Tôi không cảm thấy điều đó. Tôi không cảm thấy mình là người đàn ông có thể chăm lo cho cô ấy, vì cô ấy độc lập quá.”

Như Tuấn nói, phụ nữ Việt Nam có thể làm Tuấn cảm thấy thoải mái, không như phụ nữ ở phương Tây, họ biết làm nổi bật sự phụ thuộc của họ vào đàn ông và đưa tự do ý chí vào hậu cảnh để cho đàn ông cảm thấy mình quan trọng.

Đàn ông Việt kiều, không như đàn ông da trắng, có vốn ngôn ngữ và văn hóa để tham gia vào khu mại dâm cao cấp. Trong khi tại những khu mại dâm thấp hơn, khách hàng và gái đi khách nói chuyện thẳng thừng hơn về hình thức trả thù lao, thì ở khu mại dâm cao cấp quan hệ khách-gái đi khách là những trao đổi kín đáo và gián tiếp. Thực vậy, vì những phụ nữ mại dâm cao cấp trong nghiên cứu của tác giả ngụy trang nghề nghiệp hay đến nỗi có nhiều khách hàng người da trắng không biết làm thế nào để đi đến với họ. Trái lại, đàn ông Việt Kiều lại rất thoải mái trong những điệu nhảy quanh co phức tạp giữa hai người mà gái đi khách hạng sang chờ đợi. Điều này hiển nhiên nhất vào lúc tuyệt giao, khi quan hệ hai bên đang trở nên bất ổn. Khách hàng hiểu rằng họ cần phải đề bù người tình của họ bằng cách nào đó; nếu không thì quan hệ sẽ tan biến. Trung, một Việt kiều từ Quận Cam ở California, nhận xét:

“Tôi đang đi chơi với một cô. Cô ấy tuyệt vời! Khi chúng tôi đi chơi với nhau cô ấy xin tôi quà tặng này nọ, tôi bèn mua quần áo, nước hoa bebe [một loại hàng hiệu của Mỹ]. Tôi đưa tiền để cô ấy đi mua sắm, và những chuyện khác vân vân. Tôi biết tôi phải tặng quà cho cô ấy nếu không cô ấy sẽ đi với người khác giàu hơn. Rồi một hôm, cô ấy muốn tôi mua một chiếc xe máy. Tôi nói tôi sẽ mua cho cô ấy chiếc Attila [giá hai ngàn đô-la], nhưng cô ấy nói với tôi một người phụ nữ như cô ấy không thể để người ta thấy lái xe rẻ tiền đi vòng vòng, vì người đời sẽ nhìn vào và đánh giá cô ấy. Cô ấy muốn tôi mua cho cô ấy một chiếc Dylan hay một chiếc SH. Những hiệu xe máy này giá chín ngàn đô-la. Tôi nói không. Thế là hết - chúng tôi chia tay. Cô ấy ngừng trả lời điện thoại và tin nhắn của tôi.”

Trung không có khả năng mua xe máy đắt tiền cho tình nhân đã chấm dứt quan hệ giữa hai người. Không cần cô gái [đi khách] nói thẳng, Trung cũng hiểu khi tiền và tặng vật không tới thì quan hệ cũng không còn.

Trong những trao đổi với khách hàng và gái đi khách cao cấp tác giả ghi nhận hành động làm tình vừa là cách để phụ nữ mại dâm xếp họ vào loại gái hạng sang và còn làm cho khách hàng cảm thấy quan hệ mật thiết hơn nữa. Những gái đi khách trong khu vực cao cấp thường không quan hệ tình dục, ra vẻ mình không phải là hạng gái “dễ” ai cũng đi. Khi quan hệ tình dục, gái đi khách thường nói với khách là họ chỉ có một người tình và vì thế không cần phòng ngừa khi có mây mưa. Tuy vậy, đa số khách hàng trong nghiên cứu của tác giả cho biết họ dùng bao cao su vì không muốn vô tình làm đàn bà mang bầu. Như Huy nói, Nếu tôi làm cô ấy mang thai thì tôi sẽ phải đưa tiền cho cô ấy một thời gian dài, và tôi không muốn người đàn bà nào nắm đầu tôi như thế.”

Quan hệ kinh tế và quan hệ mật thiết trong khu mại dâm cao cấp tròng chéo trong nhau, vì cả hai, khách và gái đi khách, đều cố hết sức phân biệt họ là giới sang trọng. Thói quen tiêu dùng của gái đi khách cao cấp đã khiến những đàn ông như Tuấn có thể phân biệt họ với đàn ông da trắng mãi dâm ở thị trường bậc trung. Một số đàn ông da trắng cũng tiêu rất nhiều tiền cho gái đi khách bậc trung nhưng họ minh giải bằng những cách khác. Đàn ông da trắng quan hệ với gái mại dâm “cần” được giúp đỡ trong khi đàn ông Việt kiều đi với gái đi khách - những người giúp họ xác định một địa vị nào đó ngoài công cộng. Cái lô gíc văn hóa của sự ao ước đã gắn liền không chỉ trong khả năng quan hệ của khách với gái đi khách cao cấp mà còn thấy ở khả năng của gái đi khách để tách biệt họ với những phụ nữ mại dâm bậc trung và thấp - những người không có những loại vốn thể xác, văn hóa, xã hội, và tượng trưng. Phụ nữ mại dâm như Ngọc là thuộc giới gái đi khách thạo đời bậc nhất vì họ có tiền, có kỹ năng, và ngoại hình để ngụy trang nghề bán dâm của họ. Khách mua dâm ở khu cao cấp được chi trả cho những mối quan hệ mô tả rõ rệt bằng một tập hợp kín của lao động mật thiết tròng chéo với một thỏa ước kinh tế. Phụ nữ mại dâm bậc thấp phục vụ tình dục cho khách là chính, trong khi gái đi khách cao cấp cung cấp cho khách hàng những cuộc hẹn hò ngắn hạn ở mặt thể chất, tình dục, và tình cảm riêng tư.

Còn tiếp

© Trần Giao Thủy
Đọc tiếp…

Video và Hình Ảnh: Tường thuật trực tiếp ngoài phiên toà xét xử 4 thanh niên Công giáo

10:22 |
VRNs (24.05.2012) - Nghệ An - 08:30 am: Cha Phanxicô Xaviê Hoàng Sỹ Hướng, chánh xứ Cầu Rầm đến, bà con giáo dân theo ngài kéo nhau đến trước cổng tòa án. tại trước cổng tòa án giáo dân bắt đầu đọc kinh cầu nguyện.

Bên ngoài phiên toà, một giáo viên ở huyện Đô Lương cho biết: “Tôi không có đạo, nhưng trước đây khi là sinh viên, tôi đã tham gia vào một số các công việc xã hội của bốn bạn sinh viên Công Giáo này. Tôi cho họ là người tốt”. Cố giáo này là người có theo dõi vụ án, nên nói tiếp: “Việc bầu cử mà đảng cộng sản VN thực hiện là một việc lừa đảo. Nếu họ là chính nghĩa thì không việc gì phải sợ 4 thanh niên nhỏ bé này. không thể chấp nhận sự bắt cóc, giam giữ và xét xử theo lối xã hội đen này được.

Trong tòa: ông Chu Văn Nghiêm đã đứng dậy hô lớn rằng: “các con vô tội, các con hãy can đảm lên. Cha mẹ, anh em, bạn bè, luật sư, công luận và những người tiến bộ đang ủng hộ các con”. Sau câu nói này, lực lượng công an đã áp giải ông ra khỏi tòa án.

Hình ảnh các đoàn học sinh, giáo dân các Giáo Xứ đến tham dự phiên tòa. Tay cầm băng rôn khẩu hiệu khẳng định 4 sinh viên nói riêng và 17 thanh niên Công Giáo nói chung: VÔ TỘI.

Nhiều đoàn thể khắp nơi kéo về dự phiên tòa, tay cầm băng rôn khẩu hiệu. Nhà cầm quyền Nghệ An đã huy đông rất đông lực lượng công an chìm nổi đến trấn áp các băng rôn của bà con.
Công an các nơi tăng cường về Toà án mỗi lúc một đông - VRNs photo
"Bạn tôi vô tội" là điều mà những người trẻ nói với mọi người ngay giữa đường phố Nghệ An - VRNs photo
Bạn chúng tôi vô tội ! - VRNs photo
Thánh thiếu nhi cầu băng-rôn khẳng định các thanh niên Công giáo vô tội - VRNs photo
Nhiều người đi đường đã dừng xe lại để xem các băng-rôn - VRNs photo
:45 am: Ông Chu Văn Nghiêm, cha của em Chu Mạnh Sơn và em gái của Đậu Văn Dương là Đậu Thị Thủy đã bị đuổi ra khỏi tòa án.

Ảnh chụp tại Toà án nhân dân Nghệ Tỉnh, lúc 06:00 am - VRNs photo
Những bó hoa tươi xinh trên tay các thiếu nữ mang đến chuẩn bị tặng cho các thanh niên Công giáo bị xét xử và luật sư của họ - VRNs photo
Từ 05:42 phút sang, ngày 24.05.2012, công an và bảo vệ đã có mặt rất đông để tại khu vực Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An, ở số 105 Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Vinh. Theo lịch đã thông báo công khai, sáng nay tại đây sẽ diễn ra phiên toà xét xử 4 thanh niên Công giáo là các anh Đậu Văn Dương, Trần Hữu Đức, Chu Mạnh Sơn và Hoàng Phong về tội tuyên truyền chống nhà nước cộng hòa XHCNVN vì đã “rải truyền đơn” kêu gọi “đa nguyên đa đảng, dân chủ nhân quyền và phủ nhận cuộc bầu cử quốc hội khóa XIII”.

Phóng viên VRNs vừa nhận được tin có hai nhóm giáo dân ở hai giáo xứ đã khởi hành và đã gần đến địa điểm xét xử để theo dõi phiên toà mà họ cho là bất công này.

© Nhóm PV. VRNs tại Nghệ An
    Theo Dòng Chúa Cứu Thế












Những giáo dân không được vào tòa, đã quỳ xuống trên hè phố đọc kinh cầu nguyện, tiếng kinh vang cả đoạn phố dài, những người qua đường thực sự ngạc nhiên trước khung cảnh phiên tòa này.

Giáo dân Giáo xứ Thái Hà đến hiệp thông với các nạn nhân với khẩu hiệu: “Việc của Vinh cũng là việc của Thái Hà”

















9h: Trước sự tập trung quyết liệt của giáo dân, nhà cầm quyền đã buộc phải để bà con vào trong sân Tòa án để giảm bớt sự chú ý của những người qua đường. Trong sân tòa, các giáo dân đã liên tục cầu nguyện và đọc kinh vang dội vào tận phòng xử án.

Trong tòa, các luật sư tranh tụng quyết liệt nêu rõ sự vô tội của các em. Các luật sư đã chỉ rõ những sai phạm trong quá trình tố tụng và yêu cầu Tòa trả lại hồ sơ vì không đủ chứng cứ buộc tội các em.

9h30: Phiên tòa bỏ túi đã đề nghị mức án cho các nạn nhân như sau: Chu Mạnh Sơn,  Đậu Văn Dương đã bị đề nghị mức án: 42-45 tháng; Trần Hữu Đức 36 đến 39 tháng; Hoàng Phong từ 26 đến 29 tháng tù giam.

Đây là sự trắng trợn chà đạp lên pháp luật và đạo đức của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đối với các thanh niên có tấm lòng vì Sự thật, Công lý, vì đất nước.

10h: Phiên tòa đang tiếp tục tranh tụng sau sự tranh tụng của các Luật sư, hiện nay Viện Kiểm sát đang cố tình buộc tội các em trong phần tranh tụng của mình. Vở kịch này làm người ta nhớ đến phiên tòa Cù Huy Hà Vũ cách đây 9 tháng.

10h05: Linh mục Anton Nguyễn Văn Niên có mặt tại sân Tòa án, sự có mặt của các linh mục đã được các giáo dân nồng nhiệt ủng hộ. Tinh thần giáo dân vẫn kiên vững và trong trao đổi họ cho biết: Dù nhà cầm quyền có dùng đủ mọi mưu ma chước quỷ để buộc các em khiếp hãi mà nhận tội, thì họ vẫn tin các em hoàn toàn vô tội.

10h30:Tòa tạm nghỉ giải lao để nghị án.

Trong quá trình tranh tụng, mỗi khi Luật sư tranh tụng, loa phát ra sân bị ngắt hoặc rất nhỏ không thể nghe được, ngược lại khi Tòa hoặc Viện Kiểm sát nhân dân nói thì loa bật to. Đông đảo bà con giáo dân đã hô to yêu cầu bật loa để bà con nghe, nhưng tòa vẫn… điếc.

Một xe chở tù đã đến chắn ngang cửa phòng xử án, ngăn chặn bà con nhìn vào trong tòa.
Hình ảnh các nạn nhân trong phiên tòa cuội của nhà cầm quyền CSVN hôm nay. NuVuongCongLy photo
11h43: Bất chấp các sai trái vi phạm Luật tố tụng và các bào chữa trên cơ sở pháp luật của Luật sư và thực tế Pháp luật, cái gọi là Tòa án Nhân dân Tỉnh Nghệ An vẫn tuyên án như sau:

Chu Mạnh Sơn 36 tháng tù giam, quản chế 1 năm sau khi mãn hạn tù,  Đậu Văn Dương 42 tháng tù giam, 18 tháng quản chế; Trần Hữu Đức 39 tháng tù giam, quản chế 12 tháng; Hoàng Phong 18 tháng tù treo.

Phiên tòa này đã bôi thêm một vết nhơ ô nhục lên nền pháp lý Việt Nam, ông Chu Văn Nghiêm, bố của em Chu Mạnh Sơn phát biểu: "đây là một phiên tòa ô nhục, dù các bị cáo có nhận tội thì đó cũng là nhận tội trong hoàn cảnh bị ép buộc, ép cung”

Một lần nữa, phiên tòa cho thấy bộ mặt nhơ nhớp nham nhở của chế độ độc tài Cộng sản Việt Nam trong khi hành xử với người dân yêu Sự thật, Công lý và mong muốn cho đất nước luôn tiến bộ. Ngược lại với thái độ hèn hạ, bạc nhược quỵ lụy trước kẻ thù dân tộc, trước bọn bành trướng Bá quyền Bắc Kinh đang xâm lược nước ta và âm mưu thôn tính lâu dài đất nước này, đẩy dân ta vào vòng nô lệ.

Xin cảm ơn sự quan tâm của quý vị trên hành trình Công lý, Sự thật, Hòa bình của Nữ Vương Công Lý.

© Nữ Vương Công Lý

Đọc tiếp…

Những con người đứng thẳng

09:55 |

Có những con người ta gặp thoáng qua trên đường đời nhưng để lại những dấu ấn khó phai trong tâm trí. Đó là những con người bề ngoài rất tầm thường nhưng có nhân cách cao thượng, có tư duy khác thường, tạo nên những mẫu mực, những gương sáng cho ta noi theo.
Chị Bùi Thị Minh Hằng bị giật rách chiếc nón có ghi dòng chữ "Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam" trong một cuộc tuần hành chống Trung Quốc tại Hà Nội
Đó là trường hợp anh sỹ quan công an của Trại phục hồi nhân phẩm Thanh Hà - Vĩnh Phúc, nơi chính quyền đảng trị trong quá trình suy thoái về chính trị và nhân cách đã cố tình đầy ải cô Bùi Thị Minh Hằng để trả thù người chiến sĩ rất mực yêu nước này. Anh đã tỏ thái độ rõ ràng chống lại hành vi sai trái của một chính quyền bất công, trừng phạt nữ công dân nước mình, làm theo ý muốn của ngoại bang là phải chấm dứt các cuộc xuống đường đông người chống hành động xâm lược của Bắc Kinh.

Người ta chưa biết rõ tên anh, cấp bậc của anh trong ngành công an. Chỉ mới biết anh là một bác sỹ, chăm sóc sức khỏe cho các trại viên. Tôi đoán anh là một trung úy hay thượng úy quân y ngành công an, chăm lo sức khỏe của các trại viên.

Anh đã nói và làm gì? Anh đã tỏ ra thông cảm với cô Minh Hằng, bị chính quyền vu cáo, chụp mũ là thành phần phá rối trật tự xã hội, cưỡng bách cô phải vào trại phục hồi nhân phẩm, sau khi biết không thể công khai xử cô trước tòa án. Anh đã theo dõi tình hình sức khỏe của cô, biết rõ cô bị họ đày đọa cả tinh thần và thể xác ra sao, để bị sụt 14 kilô, anh cũng thấy rõ tinh thần cô Minh Hằng trong khi bị đày đọa vẫn kiên cường, minh mẫn, bất khuất như thế nào. Và anh đã tình nguyện đi cùng nhóm của trại đưa cô về tận nhà trong Vũng Tàu để chăm sóc sức khỏe cô trên hành trình dài gần 2,000 kilômét. Anh cho rằng đó sẽ là công việc cuối cùng có ý nghĩa của anh, ngay sau đó anh sẽ cởi bỏ bộ quân phục công an, trở về nhà sống cuộc sống của người dân thường.

Xin ngả mũ chào những con người như anh. Sống ngay thẳng, đứng thẳng người trước cường quyền, trước bọn bành trướng ngạo mạn khinh thường các dân tộc láng giềng. Anh đã cho mọi công dân nước ta, cho cả tập thể độc đảng cầm quyền “hèn với giặc, ác với dân” một bài học sinh động về tư cách làm người, luôn ngẩng cao đầu, đứng thẳng người, không bao giờ cúi đầu quỳ gối trước bất cứ thế lực phi nghĩa hung hãn nào. Anh thật sự là anh “công an bạn của nhân dân”, trong khi phần lớn đồng đội của anh đã mù quáng tuân theo những mệnh lệnh và chỉ thị đi ngược lại quyền lợi dân tộc, đi ngược lại cuộc sống bình an của toàn dân, xông vào hành hung, chửi bới đồng bào ta ở Tiên lãng, Văn Giang, Vụ Bản, được các cấp từ trung ương đến tỉnh ủy, huyện ủy đồng lõa, khuyến khích.

Tất nhiên những người chỉ huy trại đã không cho anh thực hiện nguyện vọng chính đáng của anh, chắc chắn họ sẽ còn tìm cách trả thù anh. Họ đã không cho anh đưa tiễn cô Minh Hằng vào Vũng Tàu, vì họ vẫn tiếp tục hành hạ trả thù cô cả khi trả cô về với gia đình. Họ khóa tay cô, có lúc xiềng chân tay cô suốt cuộc hành trình, huy động đến 40 quân quan hung tợn trang bị đủ loại súng ống để áp giải người phụ nữ ốm yếu tay không, một hành vi không hề có bất cứ ở đâu.

Rồi đây chắc chắn công luận sẽ biết tên tuổi, thái độ, động cơ của anh bác sỹ sỹ quan công an thật sự trung với nước, hiếu với dân. Phong trào đòi tự do, yêu dân chủ, trọng pháp luật sẽ ôm anh vào hàng ngũ trùng điệp của mình, cổ vũ anh, bảo vệ anh như một công dân trung kiên hiếm có, thân thiết của mình.

Nhân đây cũng xin nhắc đến 2 người phụ nữ nạn nhân của vụ cướp đất ở Cống Rộc, Yên Lãng. Đó là chị Nguyễn Thị Thương, vợ anh Đoàn Văn Vươn, và chị Phạm Thị Hiền, vợ anh Đoàn Văn Quý, với lời phát biểu tuyệt vời với các nhà báo: «Chúng em đau buồn xót xa lắm, bao nhiều công sức của cải đổ vào mảnh đất ao hồ này bị mất trắng, nhà cửa tiêu tan chỉ còn mảnh lều xơ xác, nhưng chúng em không thất vọng. Chúng em tin rằng qua vụ án này vấn đề cưỡng bức tước đoạt ruộng đất của nông dân sẽ được cả nước biết đến. Hy sinh cuộc sống riêng để đòi công bằng cho bà con nông dân khắp nơi, chúng em không còn đau buồn nữa.»

Đó, lại 2 công dân nữ rất bình thường, ngẩng cao đầu bên cạnh đội ngũ hàng ngàn hàng vạn con người vẫy nhau đứng cả dậy đòi công lý, độc lập, hòa bình và phát triển cho quê hương đất nước.

Tin do mạng Bauxite công bố, số người ký tên vào kiến nghị đòi công lý cho bà con Văn Giang chỉ vài ngày đã đạt gần 3,000 chữ ký, cũng là loại tin vui về phong trào yêu nước đang lan rộng, dâng cao. Để chính quyền tham nhũng, hung dữ “hèn với giặc, ác với dân” buộc phải thấy mọi người công dân ngay thẳng đều đứng về phía nhân dân, quyết bảo vệ nền độc lập trọn vẹn của tổ quốc, bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân ta. Những công dân dũng cảm ngày càng xuất hiện đông đảo, lôi cuốn toàn xã hội đứng thẳng trước cường quyền tham lam quỳ gối trước quân xâm lược.

Bùi tín - VOA Blog
Đọc tiếp…

Sự sụp đổ dây chuyền của các tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam

06:25 |
Vinalines sụp đổ mang theo nhiều dấu hỏi cho chính sách ưu tiên tập đoàn kinh tế nhà nước.

Ngay sau khi Vinashin sụp đổ không ít chuyên gia kinh tế, tài chánh trong và ngoài nước tiên đoán rằng còn nhiều Vinashin khác sẽ nối gót sụp theo nếu chính sách ưu đãi cho các tập đoàn nhà nước như hiện nay vẫn tiếp tục bất kể các hậu quả do Vinashin mang lại.
Trụ sở của Vinalines, Tổng Công Ty Hàng Hải Việt Nam. AFP photo
Phá sản vì chính sách ưu tiên của nhà nước

Nhà nước đã tái cơ cấu lại Vinashin trong đó chia khoản nợ mà tập đoàn này đang gánh cho nhiều tập đoàn nhà nước khác trong đó có Tập đoàn Dầu khí và Tổng công ty hàng hải Việt Nam còn gọi là Vinalines.

Dư luận cho rằng việc làm này tỏ ra thiếu cân nhắc khi bản thân Vinalines khi ấy cũng đang cần vực dậy. Các cấp cao nhất trách nhiệm tái cơ cấu tập đoàn Vinashin đã không biết hay cố tình không biết gì về sự thâm lạm mà Vinalines đang phải đối phó. Các kết quả kinh doanh tổng hợp năm 2007-2008 cho thấy Vinalines có lãi, nhưng đến năm 2009 thì tập đoàn này bị lỗ hơn 400 tỷ đồng, đến năm 2010 lại tiếp tục lỗ nặng hơn lên tới gần 1. 300  tỷ đồng.

Tính tới tháng 12 năm 2011, sau khi quá trình tái cơ cấu đã được 17 tháng, Vinalines cho biết không thể tiếp nhận 12 công ty con của Vinashin theo yêu cầu của Chính phủ. Điều này cho thấy tầm nhìn của những viên chức trách nhiệm trong đề án tái cơ cấu Vinashin hoàn toàn sai lầm nếu không muốn nói là thiếu trách nhiệm, gây hậu quả gián tiếp cho sự sụp đổ của Vinalines trong thời gian gần đây.

Nếu chính phủ nắm rõ những món nợ của Vinalines và cách làm ăn có vấn đề của tập đoàn này thì sự thể đã không như hôm nay. Là một bộ phận của chính phủ, Vinalines được ưu đãi trên mọi phương diện. Về vốn, Vinalines được vay vốn với lãi suất ưu đãi từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Vinalines cũng được cho vay lại nguồn vốn trái phiếu quốc tế của Chính phủ. Vinalines được bảo lãnh vay vốn nước ngoài, cho phép phát hành trái phiếu, cũng như các ưu đãi khác mà một công ty tư doanh không thể nào có được.

Từ năm 2006 khi chính phủ Việt Nam bắt đầu thí điểm các tập đoàn thì tôi đã đưa ra ý kiến và báo chí Việt Nam có đăng hẳn hoi là việc tập trung vào nguồn lực kinh tế quá nhiều và để cho nhà nước trực tiếp làm là không đúng và chắc chắn là sẽ thất bại. Cái quan trọng nhất không phải tại vì lỗi của Vinashin và không phải lỗi của Vinalines mà lỗi tại đường lối của đảng Cộng sản Việt Nam.
TS Nguyễn Quang A
Riêng việc quản lý tài chính, giống như nhiều tập đoàn, tổng công ty khác đang làm hiện nay, Vinalines có hoạt động đầu tư rất dàn trải khi góp vốn vào 158 doanh nghiệp không đúng mục đích. Vinallines đã chi gần một nửa số tiền trong 1.000 tỷ đồng mà tập đoàn này được ưu đãi từ nguồn vốn trái phiếu phát hành năm 2010 để cho các công ty con vay mà không tính lãi. Kết quả là sau nhiều năm nợ không thể đòi của các đơn vị vệ tinh của Vinalines lên tới hơn 23.000 tỷ đồng.

Nhận xét về những sai phạm này, TS Nguyễn Quang A nguyên giám đốc viện Nghiên cứu phát triển IDS cho biết:

Từ năm 2006 khi chính phủ Việt Nam bắt đầu thí điểm các tập đoàn thì tôi đã đưa ra ý kiến và báo chí Việt Nam có đăng hẳn hoi là việc tập trung vào nguồn lực kinh tế quá nhiều và để cho nhà nước trực tiếp làm là không đúng và chắc chắn là sẽ thất bại. Cái quan trọng nhất không phải tại vì lỗi của Vinashin và không phải lỗi của Vinalines mà lỗi tại đường lối của đảng Cộng sản Việt Nam. Đường lối ấy của đại hội lần trước nữa đã đặt ra phải xây dựng những tập đoàn như thế, đường lối ấy hết sức là sai lầm. Có thể xây dựng những tập đoàn kinh tế Việt Nam hùng mạnh nhưng không phải cách như Đảng Cộng sản Việt Nam muốn tự làm và dùng nguồn lực của đất nước để tự mình làm. Chính cái đường lối ấy nó dẫn đến Vinashin, Vinalines và nó sẽ còn dẫn đến những đổ bể như thế nữa và đấy là những nguyên nhân chính.

Bài học về quyền lực kinh doanh của TĐKTNN

Trong kinh doanh, Vinalines cũng được ưu tiên vận chuyển hàng hóa trong nước. Việc đầu tư đăng ký, mua bán tàu biển cũng được thực hiện theo cơ chế ưu đãi và được nhà nước cho phép chỉ định thầu đóng mới tàu biển trong nước.

Thế nhưng Vinalines đã dùng những đặc quyền đặc lợi này để thao túng các hợp đồng khi tập đoàn này tự ý mua, bỏ tiền ra tân trang nhũng con tàu cũ kỹ quá hạn sử dụng để rồi sau đó nhiều con tàu này vẫn nằm trong các ụ

bao giờ xuất xưởng. Có hàng chục chiếc tàu bị bỏ hoang trong nhiều năm nhưng vẫn phải trả lương thủy thủ, thuyền viên cũng như tốn rất nhiều chi phí khác.

Vinalines đã chi ra gần 23 ngàn tỷ để mua 73 con tàu từ nước ngoài về, tất cả đều là tàu cũ trong đó có 13 chiếc không thể đăng kiểm để hoạt động, có nghĩa là nếu hoạt động chúng sẽ bị quốc tế giam giữ và bị phạt theo luật hàng hải. Điển hình là tàu Vinalines Global bị bắt giữ tại Trung Quốc 28 ngày, gây thiệt hại hơn 1 triệu USD bao gồm tiền phạt và các chi phí giải quyết vụ kiện.

Vinalines đã dùng những đặc quyền đặc lợi này để thao túng các hợp đồng khi tập đoàn này tự ý mua, bỏ tiền ra tân trang nhũng con tàu cũ kỹ quá hạn sử dụng để rồi sau đó nhiều con tàu này vẫn nằm trong các ụ đóng tàu mà không bao giờ xuất xưởng. Có hàng chục chiếc tàu bị bỏ hoang trong nhiều năm nhưng vẫn phải trả lương thủy thủ, thuyền viên
Vinalines đã dùng những đặc quyền đặc lợi này để thao túng các hợp đồng khi tập đoàn này tự ý mua, bỏ tiền ra tân trang nhũng con tàu cũ kỹ quá hạn sử dụng để rồi sau đó nhiều con tàu này vẫn nằm trong các ụ đóng tàu mà không bao giờ xuất xưởng. Có hàng chục chiếc tàu bị bỏ hoang trong nhiều năm nhưng vẫn phải trả lương thủy thủ, thuyền viên

Tuy nhiên tai tiếng của Vinalines lớn nhất có lẽ là vụ mua ụ nổi No83M. Ụ nổi 43 tuổi này được Vinalines mua với giá 9 triệu USD, sau đó sửa chữa tại nước ngoài và vận chuyển về Việt Nam tốn thêm gần 5 triệu nữa. Cộng với những chi phí khác ụ nổi này lên tới 26,3 triệu USD - tương đương 70% giá đóng mới. Tuy nhiên, điều đáng nói là cho tới nay ụ nổi này vẫn không thể hoạt động.

Không tính các vụ việc khác xảy ra trước đó, qua vụ mua ụ nổi này thì hành động tham ô trong cấp lãnh đạo của Vinalines không khó thấy tuy nhiên báo chí vẫn không hiểu tại sao một vấn đề lớn như thế lại được bao che trong một thời gian rất dài, mãi tới hai ngày vừa qua khi Tổng giám đốc của tập đoàn Vinalines là ông Mai Văn Phúc bị bắt giam, ông Dương Chí Dũng đương kim Cục trưởng Cục Hàng hải nguyên Chủ tịch Hội Đồng Quản trị Vinalines bị lệnh truy nã khẩn cấp thì sự việc đã hoàn toàn ngoài tầm giải quyết của chính phủ. TS Nguyễn Minh Phong, Trưởng phòng Nghiên cứu kinh tế thuộc Viện nghiên cứu KHXH Hà Nội cho biết:

Thực ra hiện nay vụ Vinalines đang trong quá trình xem xét của các cơ quan chức năng, tuy nhiên qua những biểu hiện cũng như những thông tin ban đầu cho thấy rõ ràng ở đó đang có những vấn đề đặc biệt liên quan tới việc cố tình làm sai, kể cả có thể nói lạm dụng trách nhiệm để gây ra những hậu quả khá nặng nề cho đầu tư công cũng như cho phát triển của ngành và cho nền kinh tế nói chung.

...vụ Vinalines đang trong quá trình xem xét của các cơ quan chức năng, tuy nhiên qua những biểu hiện cũng như những thông tin ban đầu cho thấy rõ ràng ở đó đang có những vấn đề đặc biệt liên quan tới việc cố tình làm sai, kể cả có thể nói lạm dụng trách nhiệm để gây ra những hậu quả khá nặng nề cho đầu tư công cũng như cho phát triển của ngành và cho nền kinh tế
TS Nguyễn Minh Phong
Qua thực tiễn của Vinalines cũng như Vinashin và một số những vấn đề khác nữa thì có thể nói bên cạnh việc khẳng định vai trò và tầm quan trọng đã, đang và sẽ tiếp tục của đầu tư công của các tập đoàn nhà nước Việt Nam thì đã đến lúc cần phải nghiêm túc nhìn nhận những lổ hổng. Nhìn nhận lại cách thức quản lý và hoạt động của các tập đoàn này để sao cho nó duy trì được vị trí, vai trò và đặc biệt cần phải sửa chữa nâng cao hoạt động của nó  đặc biệt nữa là phải bịt chặt những kẽ hở tạo ra sự lạm dụng.

Rõ ràng ở đây sự lạm dụng cũng như tính không hiệu quả của tập đoàn gắn liền với mấy điểm. Mục tiêu hoạt động của nó nói  gì thì nói bên cạnh những mục tiêu phi lợi nhuận nó cũng có mục tiêu vì lợi nhuận. Thế nên trong quá trình hoạt động vì lợi nhuận như vậy rất dễ bị lạm dụng mà hiện nay các tiêu chí để đánh giá hiệu quả của các dự án, hay tiêu chí để kiểm soát các quá trình thực thi cũng như những điều gọi là sự tuân thủ nhà nước xung quanh các hoạt động của tập đoàn hiện đang bị thiếu. Đây là một trong những điểm quan trọng nhất tạo ra tình huống thất thoát, lãng phí như những vi phạm vừa qua.


Ung thư chữa bằng thuốc cảm?

Vừa qua trong phiên họp quốc hội, một đề án về tái cấu trúc các tập đoàn đã được đệ trình và TS Nguyễn Minh Phong tỏ ra lạc quan khi chính phủ nhìn lại mấu chốt những vấn đề cơ bản nhằm vận dụng vào các tập đoàn trong thời gian sắp tới:

Trong đề án tái cấu trúc kinh tế mới trình Quốc hội trong đó có một điểm rất quan trọng đó là khẳng định tái cấu trúc tập đoàn theo hướng tập trung vào những lãnh vực quan trọng nhất cũng như phân chia lại các doanh nghiệp nhà nước theo bốn nhóm. Trong đó nhóm thứ tư liên quan tới hoạt động vì lợi nhuận thì phải bình đẳng hoàn toàn với những doanh nghiệp khác. Ba nhóm còn lại liên quan tới công ích, liên quan tới bảo đảm ổn định cũng như bảo đảm đột phá trong tăng trưởng sẽ có cơ chế mới và những cơ chế này sẽ phản ảnh trong hai luật mới sẽ ra đời.

Xét kỷ luật hay chọn người các thứ này khác cũng chỉ là vá víu một chút mà thôi, giải quyết một chút chứ không giải quyết được vấn đề cơ bản. Vấn đề cơ bản là đường lối sai lầm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng các lực lượng kinh tế quốc doanh ...
TS Nguyễn Quang A
Một là luật đầu tư công, hai là luật quản lý các doanh nghiệp nhà nước cũng như các hoạt động kinh doanh của nhà nước trong doanh nghiệp. Đây là hai điểm bổ xung rất quan trọng để tạo ra nền tảng pháp lý cũng như tạo ra rào cản pháp lý để ngăn chặn những hoạt động mang tính chất lợi dụng.

Tuy nhiên khác với những suy nghĩ lạc quan của TS Nguyễn Minh Phong, theo TS Nguyễn Quang A thì hình thức kỷ luật hay thay đổi nhân sự trong cách giải quyết sẽ không đi tới đâu nếu cốt lõi vấn đề không được xem xét và thay đổi, ông nói:

Xét kỷ luật hay chọn người các thứ này khác cũng chỉ là vá víu một chút mà thôi, giải quyết một chút chứ không giải quyết được vấn đề cơ bản. Vấn đề cơ bản là đường lối sai lầm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng các lực lượng kinh tế quốc doanh và chừng nào họ không xử được nguyên nhân chính ấy thì không có cách gì cả.

Vai trò chủ đạo của các tập đoàn nhà nước vẫn được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trong khẳng định trong Hội nghị Trung Ương 5 và vì vậy sự thay đổi cung cách quản lý là điều không thể tránh nếu không muốn những sự sụp đổ khác nối tiếp sau Vinashin và Vinalines, hai tập đoàn mà nhà nước đặt rất nhiều kỳ vọng trong những năm qua.

© Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
Đọc tiếp…

Khung cửa hẹp cho luật đất đai

05:59 |
Đảng Cộng sản Việt Nam một lần nữa xác định không chấp nhận quyền tư hữu đất đai và người dân chỉ có quyền sử dụng đất.

Điều này cho thấy việc sửa đổi luật đất đai sẽ giống như một khung cửa hẹp và các nhà làm luật sẽ chỉ tiếp tục luồn lách về chính sách.
Người nông dân Việt Nam với con trâu là bạn trên một mảnh ruộng ở Ninh Bình. AFP photo


Mặc dù có thể thấy trước là Đảng Cộng sản Việt Nam chưa thể đổi mới tới mức độ trao trả quyền sở hữu đất đai về cho người dân, nhưng nhiều người vẫn không khỏi thất vọng khi báo chí đưa tin về kết quả phiên họp kín của Trung ương Đảng.

Ngày 15/5/2012 Hội nghị Trung ương 5 sau 9 ngày họp ở Hà Nội đã kết thúc, trong diễn từ bế mạc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng báo cáo: “Hội nghị nhất trí cho rằng, phải tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều này có nghĩa Hiến Pháp sửa đổi sắp tới cũng sẽ giữ nguyên qui định về phần này.

Những gì quyết định ở Hội nghị Trung ương 5 liên quan tới chính sách, pháp luật đất đai sẽ trở thành nghị quyết. Đây sẽ là những điều kiện căn bản để Chính phủ hoàn thiện dự thảo luật sửa đổi Luật Đất Đai 2003 và đệ trình Quốc hội vào cuối năm 2013.

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tỏ ra tâm đắc về một điều mà ông gọi là điểm mới của lần này, đó là Trung ương Đảng đã nhận thức rõ ràng hơn và qui định rành mạch hơn sự khác nhau giữa quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất; quyền và trách nhiệm của Nhà nước với quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đối với từng loại đất.

Tăng thời hạn-mở rộng hạn điền

Theo báo cáo tổng kết của Tổng Bí Thư, quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu. Tuy nhiên thời hạn giao đất nông nghiệp có thể kéo dài hơn mức 20 năm hiện nay. Đồng thời mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, từng giai đoạn để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ, tập trung  đất, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn trong nông nghiệp.

Một nông dân Việt Nam. AFP photo
Trong cuộc phỏng vấn của Nam Nguyên, GSTS Võ Tòng Xuân chuyên gia nông nghiệp dày kinh nghiệm hiện là Hiệu trưởng trường Đại học Tân Tạo Long An nói rằng, nên hợp pháp hóa bằng luật chứ người dân đã lách luật tích tụ đất đai từ lâu rồi:

“Giới hạn tích lũy đất đai chỉ có 3 ha một người thì làm sao nói chuyện phải canh tác qui mô lớn được…Ở trong miền Nam thực sự người ta canh tác diện tích lớn mấy năm nay rồi. Nông dân họ cứ ngấm ngầm thôi, họ giao đất lại cho một người có khả năng quản lý tốt, kế đó họ lại làm mướn trên đất đó. 

Như vậy họ lấy hai đầu tiền, một đầu là tiền cho mướn đất, đầu thứ hai là tiền làm mướn trên đất đó, dưới sự quản lý của một người nông dân có kinh nghiệm canh tác tốt hơn, có điều kiện đầu tư máy móc thiết bị cơ giới hóa. Bây giờ đồng bằng sông Cửu Long có những ông nông dân quản lý giỏi đã làm 50 hec-ta, có người 100 héc-ta thậm chí có anh Sáu Đức ở Tri Tôn canh tác 650 hec-ta luôn.”

Tôi nghĩ giao đất cứ giao vĩnh viễn hoặc lâu dài không thời hạn, còn hạn điền thì nên xóa bỏ.
Một nông dân ĐBSCL
Theo lời GSTS Võ Tòng Xuân, Nông dân Sáu Đức sử dụng phương tiện hoàn toàn cơ giới, san phẳng mặt ruộng điều khiển bằng tia laser, cày bừa thu hoạch bằng máy. Giao đất cho anh Sáu Đức nông dân họ cũng tham gia, người trong đội máy cày, đội bón phân, hoặc đi phun thuốc trừ sâu, hoạt động này người ta làm rất tốt có kết quả. GSTS Võ Tòng Xuân tiếp lời:

“Tới đây những hiện tượng như thế phải hợp thức hóa, phải sửa đổi Luật Đất Đai, sửa đổi Hiến Pháp thì những mô hình như thế sẽ trở nên hiện thực và người ta không có giấu diếm nữa. Bây giờ thì đất đai giao cho ông kia nhưng giấy tờ đất ai nấy giữ và trên thực tế làm một cách tập thể.”

Không nên thu hồi đất

Trao đổi với Nam Nguyên, một nông dân có quá trình khai phá đất đai ở vùng sông nước Cửu Long nói lên nguyện vọng của đa số những người mà cuộc sống gắn liền với đồng ruộng:

“Anh thấy đấy… người ta không an tâm. Có những mảnh đất từ đời ông cố tới đời ông nội lưu truyền cho người ta làm, tại sao lại cứ gọi là sở hữu toàn dân được. Tôi nghĩ giao đất cứ giao vĩnh viễn hoặc lâu dài không thời hạn, còn hạn điền thì nên xóa bỏ. Nếu người ta có tiền có khả năng thì có thể mua đất để làm phát triển kinh tế, những người không có đất có thể đi làm thuê cho những người kia. Đa số nông dân làm 1 héc-ta trở xuống, nếu cứ bám vào đó suốt cuộc đời đủ ăn không nổi đâu, không đủ trang trải đời sống nông dân khổ lắm. Làm dưới 1 héc ta sống không nổi, miền Nam còn đỡ ngoài bắc ít đất hơn nữa họ tính bằng sào.”

Tất nhiên phải đợi đến khi chính phủ hoàn tất sự thảo Luật Đất Đai 2003 sửa đổi, thì mới biết thời hạn giao đất và hạn điền cho nông dân được mở rộng như thế nào. Hiện nay thời hạn giao đất nông nghiệp là 20 năm và giới hạn chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được điều chỉnh từ 3 ha lên mức 6 ha ở vùng đồng bằng. TS Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn nhận định:

Tốt nhất là mọi người nếu sử dụng đất đúng quy hoạch có hiệu quả thì không nên thu hồi đất của người ta cho đến một giới hạn nào cả, chỉ trừ trường hợp có nhu cầu công cộng thật sự quan trọng của quốc gia...
TS Đặng Kim Sơn
“Nói chung mọi người muốn mở rộng thời gian đến mức cao nhất không có giới hạn. Tốt nhất là mọi người nếu sử dụng đất đúng quy hoạch có hiệu quả thì không nên thu hồi đất của người ta cho đến một giới hạn nào cả, chỉ trừ trường hợp có nhu cầu công cộng thật sự quan trọng của quốc gia thì theo tinh thần bồi hoàn thỏa đáng cho người ta. Hoặc là các trao đổi thay đổi mục đích sử dụng thì phải diễn ra theo cơ chế thị trường.”

Đảng Cộng Sản tái xác định yếu tố cốt lõi đất đai là sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Đồng thời nhấn mạnh là, quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu. Như vậy Nhà nước vẫn toàn quyền thu hồi đất và cưỡng chế khi người dân chống lệnh như xảy ra hàng chục năm vừa qua.

Chính phủ có thời gian hơn 1 năm để hoàn tất dự thảo Luật sửa đổi Luật Đất Đai 2003, người dân trông đợi luật mới tiến bộ hơn, minh bạch hơn để tránh bị vận dụng sai lạc vì quyền lợi nhóm, cơ hội cho tham nhũng của cán bộ chính quyền các cấp. Người dân cũng hy vọng được an tâm hơn trên mảnh đất có quyền sử dụng nhưng không có quyền sở hữu.

© Nam Nguyên, phóng viên RFA
Đọc tiếp…

Khi công an hành xử như xã hội đen

05:32 |
Trong thời gian gần đây, tác phong và hành động của lực lượng trong nước mệnh danh là “công an nhân dân” – và cả dân phòng, xã hội đen – “có muốn tránh không nhắc đến cũng không được nữa” – nói theo lời blogger Mẹ Nấm.
Lực lượng công an nhân dân Việt Nam. AFP photo


Côn đồ trong cả hành động lẫn lời nói

Lối hành xử của lực lượng mệnh danh là bảo vệ nhân dân, bảo vệ pháp luật và trên nguyên tắc phải am hiểu pháp luật xem chừng như ngày càng khiến công luận phẫn nộ, nhất là, ngoài “cú đạp lịch sử” vào mặt người biểu tình yêu nước, cảnh công an, dân phòng đánh đập dã man, vô cảm và vô cớ 2 nhà báo Đài Tiếng Nói VN VOV, và nhất là cảnh họ bẻ quặt tay và tung cú đá “có nghề” vào bụng một phụ nữ trong biến cố Văn Giang khiến có ý kiến báo động rằng “sao cùng con người với nhau mà lại có thể ác với nhau thế?”. Đó là lời của nhà thơ Văn Công Hùng sau khi xem cái clip đánh người tàn độc khiến thi nhân trĩu nặng nỗi “căm phẫn” ngút ngàn pha lẫn sự cảm thương cho các bà mẹ của những chiến sĩ công an kia vì “các bà đã đẻ ra những người con quá ác”.

Hành động – và cả ngôn từ khiếm nhã – của nhiều nhân viên công an đã khiến người dân Việt, nhất là những nạn nhân trực tiếp của “công an nhân dân”, từng thốt lên rằng:

“Tôi cảm giác mình đang rơi vào một đám thảo khấu côn đồ… Có chế độ nào, đất nước nào khám người như vậy không ?...Tôi không thể tượng tượng nỗi những con người như vậy mà lại đại diện cho một nhà nước, cho nên nhà nước này quả thực rất mờ ám và hành xử rất côn đồ…”

Khi “Nghĩ về ngành công an, từ vụ hai nhà báo bị đánh ở Văn Giang”, tác giả Minh Đoàn thật sự bức xúc và không hiểu nỗi tại sao họ có thể “ra tay tàn bạo” như thế, đánh “hội đồng” tàn bạo như thế với những người tay không, không hề có biểu hiện nào sai trái, không hề có ý chống cự ?

Tác giả tin chắc là các nhân viên công an kia động thủ hung bạo như vậy không phải phát xuất từ quyền lợi cá nhân, từ “phong bì” của phía đầu tư hay từ nhiệm vụ cụ thể của cấp trên là “phải đấm, đá hết cỡ bất cứ ai”, mà theo cái nhìn của tác giả, những “đòn thù” đó có tính cách “tự phát” một cách máy móc, quen thuộc” tôi đấm, anh đá, nó thọc gậy…”. Tác giả Minh Đoàn nêu lên câu hỏi “vậy thì tất cả do đâu?”, rồi bày tỏ nỗi băn khoăn, lo sợ:

“Phải chăng những hành động vô nhân tính một cách “bộc phát, hồn nhiên, vô tư” trên của một số công an viên xuất phát từ khâu tuyển chọn, đào tạo, giáo dục, rèn luyện của ngành công an? Phải chăng đã có sự xóa nhòa, đánh đồng giữa người dân vô tội và bọn tội phạm, trong ý thức, trong cách nhìn nhận của nhiều công an viên ? 

Phải chăng thói quen bạo hành, trấn áp, đánh người đã trở nên quen tay, trở thành nhu cầu, trở thành thành tích của không ít công an viên - khiến họ không còn phân biệt được đâu là dân ( phải tôn trọng, lễ phép), đâu là kẻ thù ( phải kiên quyết, khôn khéo)…?

Nên nhớ trên thế giới không ai gọi tên ngành công an là công an nhân dân như ở VN, điều đó nói lên điều gì ?...Bởi với tình trạng trên, rồi đây bất cứ ai trong chúng ta ( kể cả người thân của các công an viên) cũng sẽ có lúc trở thành nạn nhân của thói vô cảm, tàn bạo trên.”

Tình trạng công an – nói theo lời nhà báo tự do Nguyễn Hữu Vinh ở Hà Nội – “đánh dân như chớp, đánh tàn bạo, đánh như đòn thù” ấy khiến GS Nguyễn Văn Tuấn thuộc Đại Học New South Wales bên Úc nêu lên câu hỏi rằng tại sao họ lại hành xử với người đồng hương mình như những kẻ thù, và đánh đập một cách không nương tay, đánh để sướng tay ? Vẫn theo GS Nguyễn Văn Tuấn thì những người công an này bị “phơi nhiễm” bởi những giáo điều độc hại nào đó, nên cái ác thắng thế cái thiện và dẫn đến những hành động mà chúng ta thấy trong cái clip video mang tính lịch sử.

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc thuộc Đại học Victoria bên Úc thấy “rộ lên” những cáo giác, lên án dữ dội công an VN - và cả giới lãnh đạo, khi trên mạng ào ạt, tràn lan những chữ như “tàn bạo”, “dã man”, “không thể gọi đó là người”, “ngu” và “đểu”…

Đẩy dân vào thế đối nghịch

Chuyện công an đánh người, chẳng hạn như “cảnh công an đánh phóng viên như đánh một con chó dại: kẻ thì thụi, người thì đạp, kẻ thì đá, người thì cầm gậy quất tới tấp…” ,theo GS Nguyễn Hưng Quốc, thật ra chả có gì lạ. Ông gõ thử vào Google 3 chữ trong ngoặc kép “công an đánh” thì hiện ngay gần 6 triệu kết quả về vô số chuyện công an hành dân, như GS Nguyễn Hưng Quốc mô tả:

“Lái xe không đội mũ bảo hiểm: bị đánh. Học sinh tình nghi ăn cắp: bị đánh. Dân chúng xuống đường biểu tình chống Trung Quốc: bị đánh. Giáo dân Công giáo cầu nguyện đòi đất: bị đánh. Nông dân không chịu dời nhà theo lệnh giải tỏa: bị đánh. Thường, chỉ đánh bị thương. Nhưng không hiếm trường hợp công an đánh quá tay khiến nạn nhân bị gãy cổ hoặc có khi chết tốt. Chết thì dễ thôi: Công an sẽ dàn cảnh tự tử. Gia đình chỉ việc mang xác về chôn. Những chuyện “tự tử” trong nhà giam xảy ra khá thường xuyên, vài ba tháng lại nghe một lần”.

Nhận xét về thực trạng này, nhà báo Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội, lên tiếng từ Matxcơva:

“Chưa bao giờ tôi thấy tình trạng CA lộng quyền đến như thế. Vì sao ? Vì nhà nước, những người lãnh đạo cho quyền CA được làm như thế thì họ mới có thể làm. Nhà nước bây giờ xử màu mè một vài vụ. Nhưng chính những hành động đàn áp của CA như vậy là do nhà nước, những người lãnh đạo bày cho họ, do những người lãnh đạo sử dụng các phần tử gọi là “quần chúng tự phát”, tức CA giấu mặt để đàn áp dân chúng.

Đó là cái gì ? Là sự khuyến khích của nhà nước dẫn tới tình trạng CA hành hung người dân. Chưa bao giờ số người dân bị CA giết chết nhiều như vậy. Trong điều kiện như thế thì làm sao nói đến nhân quyền ? Cho nên công luận thế giới nhìn nước VN mình thiếu thiện cảm. Khinh bỉ nhà nước này không biết gì luật pháp cả.”

Theo GS Nguyễn Hưng Quốc thì khi cho phép công an đánh dân và khi nằng nặc bào chữa, bênh vực cho những tên công an đánh dân như vậy, nhà nước đã xem dân như một thành phần thù nghịch, hoặc nếu chưa, thì họ cũng đang dần dần đẩy người dân vào thế đối nghịch.

Khi đề cập tới việc để tang cho lòng tin đã mất, tác giả Hồ Như Hiển có những dòng kết luận cho bài “Tín Tang” của ông rằng “Những kẻ đánh dân, những kẻ ra lệnh, thao túng, bao che cho thuộc cấp đánh dân phải ra trước vành móng ngựa về tội xúc phạm tính mạng, sức khoẻ danh dự con người. Bằng không, vành khăn người dân Vụ Bản - Nam Định quấn trên đầu vào chiều ngày 08/5/2012 không phải chỉ là địa tang - để tang đất, mà là tín tang - để tang lòng tin về cái gọi là “của dân, do dân, vì dân”.

© Thanh Quang, phóng viên RFA

Đọc tiếp…

HRW lên tiếng về 4 giáo dân bị đưa ra xét xử

05:19 |
Sáng ngày mai, 24 tháng Năm năm 2012 tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An dự kiến sẽ mở phiên tòa xét xử bốn thanh niên Công Giáo: Đậu Văn Dương, Trần Hữu Đức, Chu Mạnh Sơn và Hoàng Phong.
Ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền. AFP photo
Bốn thanh niên này bị bắt cùng với nhiều thanh niên Công giáo khác hầu hết thuộc cộng đồng Công giáo Vinh, tỉnh Nghệ An. Họ bị chính quyền bắt giữ với lý do được cho là phát tán truyền đơn ủng hộ dân chủ.

Ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho chúng tôi biết về các hoạt động thật sự của những thanh niên này qua sự điều tra độc lập của Human Rights Watch như sau:

"Bốn thanh niên này là những nhà hoạt động xã hội. Họ chỉ là những người làm thiện nguyện tại địa phương qua tổ chức bác ái của nhà thờ Công Giáo. Nhiệm vụ của họ là vận động chị em phụ nữ đừng phá thai. Dĩ nhiên là phụ nữ Việt Nam có quyền chọn lựa phá thai nếu họ muốn nhưng những thanh niên này muốn giúp họ có những chọn lựa đúng hơn và điều này chính phủ không nên can thiệp vào. 

Ngoài ra nhóm thanh niên này còn giúp cho trẻ em mồ côi hay các nạn nhân thiên tai trong lúc khó khăn và tôi nghĩ rằng những hành động như thế được hầu hết chính phủ các quốc gia trên thế giới ủng hộ, khuyến khích.
Tôi không hiểu tại sao chính phủ Việt Nam lại làm khác đi khi lên án và sẽ bỏ tù họ trong một thời gian có lẽ rất dài. Qua việc truy tố bốn nhà vận động nói trên chính quyền Việt Nam cho thấy họ rất coi thường tự do tôn giáo và tự do ngôn luận".

Thật cực kỳ xấu hổ khi chính quyền Việt Nam đưa những nhà vận động Công giáo ra tòa xử và có thể sẽ kết án tù chỉ vì họ bày tỏ quan điểm và phát truyền đơn. Qua việc truy tố bốn nhà vận động nói trên, chính quyền Việt Nam cho thấy họ rất coi thường tự do tôn giáo và tự do ngôn luận.
Phil Robertson
Trong phiên tòa ngày mai bốn thanh niên này sẽ bị xét xử dựa theo điều 88 bộ luật hình sự về “tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Ông Phil Robertson cho biết quan điểm của ông về điều luật nay như sau:

"Rõ ràng điều 88 đã vi phạm nghiêm trọng đến quyền phát biểu của công dân. Chính phủ đã ngăn cấm tất cả những chất vấn lẫn phê phán đối với nhà nước.

Điều 88 có tác dụng tương tự như cỗ máy cưa của luật pháp được thiết kế để đốn hạ những ai lên tiếng chất vấn hoặc phê phán chính phủ. Tôi nghĩ rằng cấp lãnh đạo của Việt Nam nên tuân thủ những gì họ đã ký kết với thế giới về vấn đề tôn trọng nhân quyền tại Việt Nam."

Điều 88 quy định mức án từ 3 đến 20 năm tù cho các hành vi như “tuyên truyền,” “lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm,” ngay cả bày tỏ  quan điểm chính trị mình trên các trang blog cá nhân cũng bị ghép vào tội chống chính phủ và sẽ bị đem ra xét xử bởi điều luật này.

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok

Đọc tiếp…