05/23/12 - VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

"Điện thờ Hồ Chí Minh" trong trụ sở ĐSQ Việt Nam tại Ba Lan

Đăng bởi Biên tập viên vào Thứ tư, ngày 23 tháng năm năm 2012


Hòa chung vào phong trào "Tâm linh hóa" toàn quốc, các cơ quan chức năng của Việt Nam cũng đang dần đi sâu vào lĩnh vực tâm linh, cúng lễ... Ngày 19.5.2012, nhân kỷ niệm lần thứ 122 ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh (ông tự đặt ngày sinh cho mình), Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan đã làm lễ khai trương "Điện thờ" Hồ Chí Minh ngay trong khuôn viên của cơ quan Đại diện.

Đông đảo đại diện các tổ chức Hội đoàn người Việt Nam tại Ba Lan đã được triệu tập tới. Trong buổi khai trương, Đại sứ quán và các đại biểu đến dự được phổ biết và hướng dẫn nghi lễ cúng bái cùng các nghi thức "thờ Phật".

Ngoài nghi lễ như thường lệ: tuyên bố lý do, ý nghĩa của ngày gặp mặt này cùng công lao của vị "Cha già dân tộc".., ông đại sứ còn cảm ơn những người đã giúp để khai trương kịp thời Điện thờ. Đặc biệt, trong đó có cháu của Hồ Chí Minh là Hồ Chí Dũng.

Trong phần nghi lễ chính, đại sứ Nguyễn Hoằng và phu nhân đã cùng làm lễ hô thần nhập tượng chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong nghi lễ, việc "mời" linh hồn Hồ Chí Minh để nhập vào tượng trực tiếp từ Lăng trên quảng trường Ba Đình hay từ hang Pác bó và Bác sang Ba Lan bằng phương tiện giao thông nào là một điều bí hiểm thuộc "bí mật ngoại giao" mà ông Hoằng đại sứ giữ kín không tiết lộ.

Tiếp là các đại biểu ĐSQ, các Hội đoàn người Việt Nam tại Ba Lan lần lượt vào thắp hương tưởng niệm vị Cha già dân tộc để chứng minh lòng trung thành tuyệt đối của mình với sự nghiệp và đường lối của chủ tịch Hồ Chí Minh còn dang dở.
Các nhân viên ĐSQ VN tại Ba Lan cúi lạy 'vong hồn Bác'. Ảnh:Queviet.
Tuy Điện thờ có chiếm một một phòng riêng, nhưng việc khai trương là một thành công lớn về ngoại giao tâm linh của Đại sứ quán. Trong lúc những người yêu đạo Phật tại Ba Lan đang cãi nhau ầm ĩ về  chùa tại đâu, trên mảnh đất riêng nhà ông Thái hay trên bản vễ của ông Huê chưa xong, Đại sứ quán tại đây đã cực kỳ nhạy bén và "nhanh tay" lập Điện thờ Hồ Chí Minh.

Việc làm này được đánh giá cao về chiến lược ngọai giao- một mũi tên trúng nhiều đích. Trước đây không lâu ông Thái đã tuyên bố, sẽ khai trương và hô thần nhập tượng Hồ Chí Minh trong khuôn viên chùa Thiên Phúc (dự kiến trong tháng 5/2012). Sau sự kiện này, việc "hô thần" của ông Thái chắc phải trì hoãn thêm một thời gian nữa.

 Một số hình ảnh trong ngày khai trương:
Đại sứ Nguyễn Hoằng trình bầy "mục đích và ý nghĩa của Điện thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh".
Vợ chồng ông đại sứ trong nghi lễ nhập hồn vào tượng
Các cán bộ đại sứ quán cung kính nguyện "cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư"
Hội người Việt Nam tại Ba Lan nguyện làm theo lời Bác mọi lúc, mọi nơi.
Hội người Việt tại Ba Lan yêu đạo Phật nguyện "đoàn kết và tu từ Tâm"
Hội người cao tuổi tại Ba Lan
Võ đường Đại Nghĩa "làm việc nghĩa"
Hội doanh Nghiệp Việt nam tại Ba Lan
Đại diện hội đồng hương tại Ba Lan
Trường tiếng Việt Lạc Long Quân.
Các cháu trong Hội thanh niên nguyện "sống và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại"
Theo Vietinfo, ảnh Quê Việt.


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Em không phải là hạng gái nhơ nhớp thấp hèn (III)


Khu mại dâm bậc trung: “Cô ấy là một phụ nữ duyên dáng bị kẹt trong một đất nước nghèo nàn”

Khu “Tây ba lô” ở Tp HCM nổi tiếng trong giới du lịch tiết kiệm. Dọc đường phố trong khu này là các tiệm bán đồ kỷ niệm, khác sạn mini, văn phòng du lịch, nhà hàng, quán cà phê và bar dành cho người nước ngoài. Đa số các chủ tiệm ở khu này đều biết nói chút tiếng Anh.

Tại đây tác giả đã quan sát, thu gặt dữ liệu như người trong cuộc tại bẩy trong số hai mươi lăm quán bar trong khu vực này. Khách mua dâm, mà tác giả đã gặp, tại đây tuổi từ hai mươi hai đến sáu mươi lăm, tất cả là người Mỹ da trắng, người châu Âu, hay người Úc. Những du khách da trắng trong khu mại dâm bậc trung coi họ là những người du lịch sành sõi biết tận dụng khu mại dâm ở các nước Thế giới Thứ ba. Họ có khuynh hướng ở trong các khách sạn nhỏ, nếm mùi Việt Nam “thực”. Adam, môt du khách Mỹ từ Houston, Texas - nói:

“Tôi muốn thấy một Việt Nam thực, không phải Việt Nam dành cho du khách. Tôi muốn thưởng thức thức ăn địa phương, nói chuyện với người Việt Nam, và nhìn xem người Việt Nam sống thực sự ra sao. Đa số những gia đình ở đây sống bằng một hay hai trăm đô-la mỗi tháng. Tôi không đến đây để lui tới các khách sạn chỉ dọn thức ăn phương Tây, và để nhìn người da trắng.” 

Gái đi khách bậc trung phục vụ cho những đàn ông như Adam; họ cống hiến cho khách nhiều hơn là chỉ giao hoan. Họ là những người hướng dẫn du lịch, người môi giới văn hóa, hiến cho đàn ông những kinh nghiệm “thực” của các nước Thế giới Thứ ba.

Tác giả cho rằng các phụ nữ mại dâm bậc trung khai thác thị trường tình dục bằng cách phát triển quan hệ với đàn ông hải ngoại và thực hành “chủ nghĩa vượt phạm vi quốc gia từ gốc” như Smith và Guarnizo đã đề cập đến.

Dĩ nhiên những phụ nữ đi khách bậc trung này chắc chắn có đổi sex lấy tiền, nhưng họ còn biết dùng vốn văn hóa để vờ yêu nhằm cống hiến cho khách làng chơi một số những dịch vụ khác. Câu chuyện sau đây minh họa những cô gái mại dâm vượt phạm vi quốc gia sành sõi làm thế nào để thiết lập và giữ bền quan hệ tình dục bằng khả năng Anh ngữ cũng như thân hình của họ.

Tác giả và Linh gặp và biết nhau từ tháng Sáu 2006 và giữ liên lạc đến tháng Tám 2007. Linh làm việc ở quán bar Pink Star, trong khu “Tây ba lô” ở Quận Nhất. Gần 1m68, Linh cao hơn đa số phụ nữ Việt Nam và còn có thân mình thon với đôi chân dài. Linh luôn mặc áo đầm bó sát màu hồng hay đen làm nổi bật đôi chân mình. Cũng như nhiều phụ nữ mại dâm trong khu vực bậc trung này, Linh đầu tư hơn ngàn đô-la để sửa đổi một số bộ phận trên cơ thể như nâng vú, xâm lông mày, bơm botox trên trán, hút mỡ bụng cho thêm eo.
Váy bó sát, chân dài. Nguồn ảnh: OntheNet
Khi gần như tất cả phụ nữ mại dâm bậc thấp là dân quê lên tỉnh thì những gái đi khách như Linh thường là con nhà - nghèo theo tiêu chuẩn đô thị - ở thành phố nhưng vẫn khá giả hơn gia đình của những phụ nữ mại dâm bậc thấp. Họ, những gái đi khách bậc trung, biết những vùng phục vụ những người da trắng nước ngoài muốn tìm kinh nghiệm Việt Nam thực sự, và tất cả đều biết nói chút tiếng Anh. Tất cả những phụ nữ này làm việc tại những quán bar địa phương, trá hình là chiêu đãi viên. Tuy nhiên, họ không lãnh lương chiêu đãi viên, mà chỉ kiếm sống bằng tiền tip và qua những quan hệ tình dục với khách hàng. Những phụ nữ này học tiếng Anh bằng cách nói chuyện với đàn ông ngoại quốc trong quán bar; nhiều tham vọng hơn, một số khác còn ghi tên theo học các lớp Anh văn. Đầu tư vào việc chỉnh sửa thân hình và khả năng Anh ngữ đã giúp Linh mở đường và đặt quan hệ với người da trắng với tiềm năng kinh tế từ các nước tiên tiến. 

Vào một buổi chiều, một người khách từ New York, tên Jeff, trạc hơn năm mươi tuổi vào ngồi ở quán Pink Star. Jeff mặc quần kaki ngắn, áo sơ mi ngắn tay, chân mang dép. Jeff đang mướt mồ hôi. và Linh bước đến lấy khăn ướt lau mặt cho Jeff, một việc Linh thường làm để tỏ ra mình chăm sóc khách. Hai người ngồi nói chuyện vãn bất chấp tiếng Anh bập bẹ của Linh. Họ trao đổi những câu hỏi bình thường như “Anh từ đâu đến?” “Anh ở đây bao lâu?” “Anh làm nghề gì?” “Anh bao nhiêu tuổi?” “Gia đình anh ở đâu?” Sau năm chầu rượu, Linh xà vào, thúc vào người Jeff, và nói, “Anh đưa em về nhà với anh.” Jeff cười, nói, “Okay.” Sau đó Linh nói, “Anh trả em trăm đô-la chứ?” Jeff lại cười, “Nhiều thế... Anh trả em năm mươi thôi.” Họ mỉm cười với nhau trong im lặng; vài phút sau Linh nói “Được rồi, sáu mươi.” Họ đứng dậy bước đi khỏi quán Pink Star.

Sáng hôm sau Linh gọi rủ tác giả cùng đi vườn chơi với Linh và con gái. Sau vài giờ tản bộ ở vườn chơi, họ ngồi xuống ăn trưa trong khi con gái Linh chợp mắt. Linh kể với tác giả rằng việc làm ở Pink Star chỉ là cơ hội để Linh gặp khách người nước ngoài. Khi biết khách sẽ ở lại Việt Nam một thời gian ngắn, Linh hỏi thẳng xem họ có muốn ngủ với Linh giá từ năm mươi đến bảy mươi đô-la một đêm không. Tuy nhiên, với những khách sẽ ở lại Việt Nam một thời gian lâu hơn Linh sẽ cố gắng phát triển quan hệ lâu dài đôi khi trở thành quan hệ bồ bịch phức tạp.

Hầu hết phụ nữ mại đam bậc trung đề có nhiều “bồ” một lúc. Trả lời câu hỏi nếu đã yêu người khách nào chưa, Linh nói:

“Khi mới vào nghề, em còn trẻ và không khôn lắm. Em đã yêu rất dễ rồi thương đau khi việc không thành. Bây giờ, em không để cho mình yêu nữa. Em nghĩ rằng tình yêu của em sẽ có thể đến với người đàn ông chăm lo cho em tốt nhất tại Việt Nam hay ở xứ khác. Em muốn đổi đời trước và sau đó mới yêu.” 

Trong cả hai loại, quan hệ ngắn hạn và quan hệ lâu dài, Linh đều cố gắng làm cho những người đàn ông đó gởi tiền về sau khi rời Việt Nam. Linh cũng có nhiều nhân tình một lúc, nếu người này không muốn đưa Linh đi [khỏi Việt Nam] thì đã có người khác có thể làm việc đó.

Một quán bar khu “Tây ba lô” Tp HCM. Nguồn ảnh: OntheNet
Sau khi rời vườn chơi của trẻ, Linh đã nhờ tác giả giúp dịch điện thư đầu trong một loạt hàng trăm email giữa Linh và James, một thương gia người Úc, sáu mươi bảy tuổi đã là chủ công ty trước khi nghỉ hưu. Linh gặp James vào tháng Mười Hai, 2005 tại quán Pink Star khi James sang Việt Nam nghỉ hè. Hai người, ban đầu, liên lạc bằng text chat trên điện thoại di động; sau đó Linh đổi sang email vì text chat quá tốn kém. 

Trong những điện thư tác giả giúp dịch cho Linh, trong khoảng tháng Sáu 2006 đến tháng Ba 2007, Linh đã vẽ lên nhiều màn kịch khủng hoảng. Thí dụ, Linh kể chuyện cha sắp chết, món nợ phải trả cho mafia nếu còn muốn sống, chuyện có thể mất nhà, ước muốn mở quán cà phê, thêm vào đó là ba trăm đô-la mỗi tháng để đi học Anh văn và trường dạy thẩm mỹ. Qua những emai loại này, đến tháng Tám 2006, Linh đã nhận được khoảng bảy trăm đô-la từ ba “người tình” nước ngoài, hai ở Úc, và một từ Mỹ. Linh thuyết phục cả ba người đó họ đều là những người đàn ông duy nhất trong đời Linh. Linh thực sự đã đi học Anh văn và học phí của một khóa đó lại do ba người đàn ông gời về chi trả. Với ngoại tệ rủng rỉnh, Linh có tiền đi sửa sắc đẹp hay mua thêm quần áo đẹp hơn, sắm điện thoại di động hiện đại hơn. Đàn bà như Linh đã tư bản hóa mối liên lạc toàn cầu bằng cách đặt ra hàng loạt chuyện hư cấu về cuộc đời của họ tại Tp HCM. 

Hôm đó, tác giả đã gặp James trên Yahoo Mesenger. Linh giới thiệu với James tác giả là một người nghiên cứu về quan hệ vượt phạm vi quốc gia. Một điều ngạc nhiên là James lại tỏ ra quan tâm đến dự án nghiên cứu của tác giả. Cả hai đã giữ liên lạc qua emai, chat trên mạng, và thư qua bưu điện hơn sáu mươi lần trong khoảng tháng Bảy 2006 đến tháng Tám 2007. Vào tháng Tám 2007, tác giả đã gặp mặt James ở một quán cà phê tại Quận Nhất. Người đàn ông sau mươi bảy tuổi người Úc đã quyết định làm “Tây ba lô” suốt quãng đời còn lại. 

Trong những lần trò chuyện, James mô tả về Linh như sau.

“Cô ấy là một người lương thiện, cứng cỏi, chính trực. Cô biết không, Linh mới học tới lớp sáu, nhưng biết nói tiếng Anh khá thông thạo. Chúng tôi trao đổi với nhau về nhiều chuyện. Tôi yêu Linh nhiều lắm và tôi muốn sự tốt lành nhất cho Linh. Cô ấy là một phụ nữ tinh nhanh, thông minh sống ở một nước nghèo không có được nhiều cơ hội. Tôi muốn giúp Linh mở thương vụ riêng, tự lập, không phải đi làm ở quán bar nữa.”

Qua những điện thư trao đổi, James không hề nói tới chuyện lấy tiền mua khoái lạc mà coi quan hệ vói Linh là tình yêu thực sự. James khẳng định mình yêu Linh và tin rằng Linh yêu mình thực sự. James tin chắc rằng chính James sẽ là người “cứu” Linh ra khỏi cuộc đời cô gái bán bar. 

Tất cả những đức tính James gắn cho Linh như lương thiện, cần cù, liêm chính đã khuyến khích James gởi một số tiền lớn cho Linh mà không đặt câu hỏi về những câu chuyện cần tiền Linh đã kể. James thông cảm với Linh vì, như James nói, “là một đàn ông ở nước tiên tiến với quá nhiều đặc quyền, tôi cảm thấy giúp người là điều quan trọng.”

Quan hệ khách-gái đi khách ở khu mại dâm bậc trung diễn ra ở nhiều nơi như tại quán bar, tiệm cà phê, nhà hàng, khách sạn, và trên mạng Internet. Những quan hệ loại này có thể ngắn hạn như chuyện bán sex lấy đô-la hay những quan hệ dài hạn. Tác giả gọi hoạt động mại dâm loại này là “làm việc quan hệ riêng tư” vì cả hai bên, khách và gái đi khách, đều chia sẻ với nhau những câu chuyện về cuộc đời riêng của họ (dù thực hay không thực). Trong đa số các cuộc gặp gỡ giữa khách và gái đi khách, ngay từ đầu, giá cả đã rõ ràng cho dịch vụ tình dục. Tuy nhiên, khi quan hệ đôi bên phát triển, sự quan tâm riêng tư và phục dịch tình dục trở nên tròng chéo một cách phức tạp với quan hệ kinh tế. Khi những quan hệ này chuyển từ khách-gái đi khách sang nhân tình-nhân tình, gái đi khách không tiếp tục dùng bao cao su là một hình thức bày tỏ sự chăm sóc người tình. Về mặt khách mua dâm, những dịch vụ nào đáng hậu đáp bằng tiền hay tặng vật là điểm không rõ ràng lắm. James thường mua quần áo, nữ trang cho Linh; tuy nhiên, một phần rất lớn những sự giúp đỡ vật chất cuả James cho Linh là gởi tiền như là để đưa Linh ra khỏi sự nghèo đói.

Tác giả gặp lại Linh vào tháng Tám, 2009 tại Tp HCM để tìm hiểu xem đời Linh đã thay đổi thế nào. Linh và James lấy nhau vào năm 2007, Linh đã có chiếu khán xuất cảnh đi Úc sau một năm rưỡi chờ đợi. Trong bữa tiệc tiễn đưa, tác giả hỏi, “Chị có yêu James không?” Trả lời, bằng tiếng Việt trộn lẫn tiếng Anh như Linh thường thực tập để chuẩn bị xuất ngoại:

“Tụi em đã trải qua bao nhiêu là khó khăn và anh ấy làm hết sức để em có được visa. Dạ, bây giờ thì em yêu anh ấy. Trong đời này hên xui thôi, em cảm thấy rất may mắn.”

Trong dự án nghiên cứu của tác giả, đa số khách và gái đi khách ít nhất đều có cố gắng giữ mối quan hệ như tình nhân cách xa, nhưng chỉ có một số nhỏ có thể giữ được quan hệ vượt không gian, thời gian, và nhiều rào cản quốc gia - cấm đoán việc di cư. Tính đến tháng Sáu, 2009 chỉ có năm trên ba mươi mốt phụ nữ trong nghiên cứu của tác giả đã có giấy xuất cảnh đi lập gia đình. Mười sáu ngươi khác tiếp tục làm việc ở những quán bar hay về quê lấy chồng. Tác giả không liên lạc được với 10 người còn lại.

Mối quan hệ của Linh và James cho thấy gái đi khách bậc trung, trong khi hành nghề, đã qua lại hai vùng kinh tế và tình cảm một cách có ý thức. Tác giả cho rằng chính sự không cân bằng kinh tế-xã hội - và cả những thảo luận đạo đức về vấn đề này - đã làm cho đường biên giới kinh tế-tình cảm có nhiều lỗ hổng. Linh và James ban đầu gặp nhau như gái đi khách-khách, Linh cùng lúc đã có nhiều nhân tình đến khi có giấy xuất cảnh, và cuối cùng Linh đã yêu James. Cái nhãn “nghèo” của nước Việt Nam cho phép Linh và những phụ nữ cùng cảnh ngộ, đóng vai nạn nhân của sự đói nghèo trên thế giới, gây được sự cảm thông, và nhận được tiền giúp đỡ đều đặn từ vài người đàn ông nước ngoài như James. Biết nói tiếng Anh, thông thạo đường đi trong không gian lạ, đóng được vai người hướng dẫn du lịch, và đưa cả tình yêu và sự cảm thông đến với khách là những nhân tố đã gầy dựng và giữ được mối quan hệ xuyên quốc gia loại này. Có nhiều tình nhân một lúc là điều kiện cho phép Linh chọn lựa người mình sẽ phục vụ và chọn lựa cả nước nào Linh muốn di cư đến sinh sống trong tương lai. Tương tự, James dựa vào những bất bình về sự không công bằng kinh tế-xã hội toàn cầu để giải thích cho việc Linh đi vào đường mại dâm. James và những người đàn ông như ông đã biết tận dụng những khả năng về quan hệ và tình dục tại một quốc gia đang phát triển như Việt Nam ở đó họ biết tiền có thể mua cả hai, nhiều tình dục hơn và giúp được những phụ nữ họ xét là đáng được giúp đỡ. 

Những câu chuyện giữa những người đàn ông và đàn bà như James và Linh đã chứng minh những phụ nữ tưởng như hoàn toàn bất lực có thể khai thác được những hệ thống áp bức trên toàn cầu và tại bản xứ bằng cách tư bản hóa được những liên hệ vượt phạm vi quốc gia và hoạt động tình dục có quan hệ với niềm hy vọng sẽ di cư sang sống ở một quốc gia khác có nhiều cơ hội hơn, và nếu “may mắn” họ còn có thể biết yêu.

Còn tiếp...

© Trần Giao Thủy




* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Những phụ nữ nông dân quyết tâm bảo vệ đất

Công việc đồng áng vốn là một công việc nặng nhọc vất vả nhưng lại được đảm đương phần lớn bởi phụ nữ.

Có lẽ cũng chính bởi vậy mà sự gắn bó giữa đất đai và người phụ nữ là rất lớn. Họ sống dựa vào đất, tranh đấu đến cùng để bảo vệ đất, vì đó là nguồn sống của họ, của con cái và gia đình họ. Họ là những người phụ nữ đã dũng cảm đứng ra bảo vệ ruộng trong những vụ cưỡng chế đất tại nhiều địa phương ở Việt Nam thời gian qua.
Những phụ nữ nông dân trên một thửa ruộng ở miền Bắc Việt Nam. AFP photo

Buổi sáng kinh hoàng

Đã gần hai tuần trôi qua kể từ sau buổi sáng cưỡng chế đầy bạo lực của huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, bà Phúc vẫn chưa thể đi lại bình thường trở lại. Người bà vẫn đau ê ẩm vì những cú đấm vào mặt, và những cú đánh bằng dùi cui vào khắp người của lực lượng cưỡng chế dành cho người dân trong buổi sáng hôm đó.
Bà nhớ lại: “Tôi hôm đó đang đứng ở đường thì không biết từ đâu có người đấm vào mặt tôi tối tăm mặt mũi xong tôi xỉu xuống, bà con phải khênh về. Bây giờ vẫn cứ đau”.

Những người có mặt tại hiện trường vụ cưỡng chế vẫn còn nhớ hình ảnh bà Phúc ngã khuỵu xuống đường, bị dẫm đạp, đau đớn quằn quại như một con sâu. Bà tưởng mình đã chết cho đến khi có hai phụ nữ khác trong xã đến khiêng bà ra khỏi đám đông và đưa bà về nhà.

Năm nay 65 tuổi, bà Phúc vẫn là người làm ruộng chính trong nhà vì chồng bà mắt kém không còn nhìn rõ đường, con cái đã ở xa. Một mình bà suốt từ năm 1994 đến nay phải lo chăm sóc gần 8 sào ruộng của gia đình. Vào mùa cấy, bà đi làm ruộng từ sáng sớm tinh mơ có khi từ 1, 2 giờ sáng và chỉ kết thúc công việc khi trời tối mịt. Có những hôm sáng trăng, bà cấy cả tối.

Công việc vất vả nhưng với 8 sào ruộng, bà Phúc cũng lo đủ cái ăn cho hai vợ chồng già và một đứa cháu nội 9 tuổi:

“Cấy nhiều làm nhiều thì đủ ăn. Một năm ăn uống rồi tôi cứ bán 1 tấn, hơn 1 tấn thóc để mua thuốc sâu, rồi việc lớn nhỏ trong nhà, đình đám ma chay, tin vui trong làng thì cứ bán thóc đi.”

Cuộc sống bình lặng của bà Phúc cứ trôi đi như vậy cho đến cái ngày 9 tháng 5 đau thương, khi chính quyền tỉnh Nam Định huy động hàng trăm công an, cảnh sát cơ động và dân phòng với trang bị dùi cui, lá chắn và chó săn đến cưỡng chế nốt số đất ít ỏi còn lại trong số 160 ha đất của 120 hộ dân huyện Vụ bản, tỉnh Nam Định, trong đó có 8 sào ruộng của nhà bà Phúc. Chính quyền địa phương cưỡng chế số đất này để lấy mặt bằng cho dự án khu công nghiệp Bảo Minh, nhưng lại đền bù quá ít ỏi cho người dân.

Từ sáng sớm ngày hôm đó, bà Phúc cùng rất đông các chị em phụ nữ khác trong xã đã lật đật chạy ra đồng, tay không để giữ ruộng. Họ không ngờ mình lại bị đánh đập, đẩy lùi khỏi những thửa ruộng của mình một cách nhanh chóng:

“Có ngờ đâu là người dân bị đòn, chúng tôi phải chịu thôi chứ biết sao bây giờ. Chúng tôi phụ nữ chân yếu tay mềm, vũ khí trong tay chỉ là đất với cát làm sao thắng được những người được trang bị từ đầu tới chân.”
Không chỉ bà Phúc mà còn rất nhiều người phụ nữ khác của huyện Vụ Bản đã bị đánh đập. Họ bị đánh bằng dùi cui, bị xô đẩy, ném lên đường.

Một hình ảnh lan truyền trên mạng một ngày sau đó cho thấy một phụ nữ bị vứt lên đường nhựa nằm bất động. Người phụ nữ đó sau này được xác định là bà Ngô Thị Vệ, 70 tuổi, bị đánh đến ngất xỉu và phải đưa đi cấp cứu. Cho đến tận bây giờ, trên người của rất nhiều phụ nữ đã tham gia bảo vệ đất vào ngày hôm đó vẫn còn những vết thâm tím của dùi cui.

Nặng lòng với đất

Vậy sức mạnh nào đã khiến những người phụ nữ nông dân chân yếu tay mềm có thể dũng cảm đứng lên bảo vệ ruộng đất của mình, chịu đau đớn về thể xác? Nữ nhà văn Thùy Linh, người đã theo dõi các vụ cưỡng chế vừa qua, nhận xét:

“Bởi vì văn minh lúa nước thì vai trò của người đàn bà gắn với ruộng đồng nhiều hơn người đàn ông cho nên đối với họ thì mảnh đất nuôi sống gia đình là nặng lòng nhất. họ phải đổ mồ hôi nhiều nhất. Một thực tế trong xã hội Việt Nam ngày nay, đàn ông cũng phải bươn chải ra thành phố kiếm sống nên ở lại làng quê hầu hết là phụ nữ và trẻ em. Nên nặng lòng với đất thì người đàn bà hiểu hơn ai hết tại sao họ phải hành động như vậy.”

Chị Ngô Thị Ánh, 46 tuổi, người đã tham gia bảo vệ đất trong một vụ cưỡng chế khác tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên vào ngày 24 tháng 4 vừa qua, cho biết:

“Bây giờ người phụ nữ chúng tôi chỉ nghĩ là mình chỉ sống về đồng ruộng, phải nuôi con cái ăn học. Chúng tôi là phụ nữ không biết buôn bán gì, chỉ biết giữ ruộng để có miếng cơm để con và ấm bụng này. Công an hỏi tại sao tôi giữ ruộng thì tôi chúng tôi bảo chúng tôi không buôn bán gì, không làm mướn được nên phải giữ ruộng, phải tranh đấu.”

Chị Ánh đã rất nhiều lần tham gia các đoàn nông dân của huyện Văn Giang lên Hà Nội ăn trực nằm chờ cả ngày trời để nộp đơn xin các cấp trung ương giải quyết các khiếu kiện đất đai. Chị không đếm được chị đã đi bao nhiều lần như thế với không biết bao nhiêu chị em khác trong xã, trong huyện. Chị cũng đã bị đánh đập không thương tiếc trong vụ cưỡng chế đất tại địa phương. Mệt mỏi, đau đớn nhưng chị vẫn cố bám lấy đất. Chị nói:

“Mệt mỏi chứ, nhưng không gì bằng giành được đất của mình. Kể cả mệt mỏi đến đâu mà giành được đất của mình thì cũng không mệt mỏi. Tiếp theo bọn chị sẽ vẫn phải giữ đất, vẫn phải đi đòi hỏi để giữ đất nuôi con cái.”

Và để chứng minh cho sự cương quyết bảo vệ đất của mình, chỉ 2 ngày sau cưỡng chế, chị Ánh cùng nhiều chị em phụ nữ khác ở Văn giang đã lại ra cánh đồng cưỡng chế để ươm trồng những cây cảnh mới vào chính những thửa ruộng đã bị máy ủi, máy xúc đào bới tan tành trước đó.

Trong hầu hết các vụ cưỡng chế, chính quyền địa phương luôn giành phần thắng vì họ có lực lượng cảnh sát đông đảo với trang bị vũ khí tận răng. Họ giành được đất cho các dự án khu công nghiệp, khu đô thị hiện đại. Trong khi đó, những người dân bị ép nhận mức đền bù quá ít ỏi không đủ để cho họ nuôi cả gia đình trong một năm, nói gì đến tương lai lâu dài.

Với bà Phúc, kể từ sau vụ cưỡng chế, 8 sào ruộng của gia đình bà mất sạch. Cả cuộc đời bà chỉ biết làm ruộng, giờ ngoài 60 tuổi, cái độ tuổi đáng nhẽ bà phải được nghỉ hưu, ở nhà vui với con với cháu nhưng bà không thể:

“Tôi chỉ có làm ruộng, ngoài ruộng ra chả có nghề ngỗng gì. Bây giờ ruộng mất rồi đang nghĩ đến đoạn đi làm thuê bế con cho nhà người ta kiếm ngày vài bữa cơm.”

Bà dự định sẽ lên thành phố Nam Định để trông con cho các gia đình. Sáng thứ hai đi, đến sáng chủ nhật về. Có người nói với bà thu nhập một tháng khoảng 1 triệu đồng, tính ra vẫn ít hơn so với ở nhà làm nông nghiệp. Bà cứ nghĩ khi bà đi, ông cụ ở nhà mù lòa với đứa cháu nhỏ có ai trông nom. Nhưng rồi bà biết tính sao khi ruộng đất không còn?

© Việt Hà, phóng viên RFA



* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Martian Mobile - Nước Mỹ: Nhân quyền hay mơ mộng.

Phản ứng với cuộc trốn thoát đầy nguy hiểm không khác gì trên phim ảnh của Hollywood của nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc mù, ông Trần Quang Thành (GuangCheng Chen), người phát ngôn của Nhà Trắng tuần trước chỉ tuyên bố là chính quyền Obama sẽ hy vọng cố gắng làm "cân bằng" (balance) cam kết của nước Mỹ với nhân quyền mà họ trước giờ tự nhận là người tiên phong. Cùng với sự kiện xẩy ra gần đây, khi trả lời cho 150,000 người Mỹ gốc Việt tham gia chiến dịch ký thỉnh nguyện thư về nhân quyền, chính quyền Mỹ qua Michael Posner, đại diện Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, chỉ có một lời nói suông là “Chúng tôi muốn nói lời cảm ơn tất cả mọi người ký thỉnh nguyện thư yêu cầu Hoa Kỳ chú trọng nhân quyền tại Việt Nam trong quan hệ Việt-Mỹ. Trong tiến trình đối thoại với Việt Nam, chúng tôi ghi nhận quan điểm của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ...” và Hoa Kỳ tiếp tục đẩy mạnh tiến trình nhân quyền ở cấp cao nhất trong khi Hoa Kỳ theo đuổi một loạt các quyền lợi liên quan đến an ninh, kinh tế và chiến lược với Việt Nam.

Tuần trước khi ông Nguyễn Quốc Quân, còn có tên Richard Nguyen, người Mỹ gốc Việt trong chuyến đi về Việt Nam bị bắt tại Tân Sơn Nhất và bị tố cáo âm mưu lật đổ chính quyền. Chính quyền Mỹ làm được những gì ngoại trừ Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ chỉ gới người vào gặp trong trại giam. Không một lời tuyên bố sự tạm giữ ông Quân trong 4 tháng là vô lý. Ông Quân cũng không vi phạm luật pháp nào của Việt Nam vì chỉ mới đặt chân xuống phi trường Tân Sân Nhất là đã bị bắt do đó điều này là không có căn cứ, và những điều chính quyền Việt Nam nói trên báo chí chỉ là xuyên tạc và vi phạm nhân quyền.

Chính quyền Obama không khác gì với các chính quyền Mỹ lúc trước như George W. Bush hay Clinton. Họ luôn luôn tự nhận là những kẻ tiên phong về nhân quyền nhưng khi họ chiếm được địa vị trong Nhà Trắng thì thay đổi thái độ và bẻ cong lời nói như từng tuyên bố là người Mỹ chúng tôi muốn quân bằng về nhân quyền nhưng ngược lại chúng tôi muốn giữ cam kết của mình để duy trì mối quan hệ kinh tế và chiến lược với các nhà độc tài của Trung Quốc, Việt Nam.

Đáng buồn thay, điều này đã đến và không còn bất ngờ đối với những đã quan sát chính sách của chính quyền Mỹ một cách thận trọng nhưng thực là chán cho 150,000 người Việt ngây thơ vì nghĩ rằng chính quyền Obama sẽ khác với những chính quyền tiền nhiệm cũ. Nhà Trắng đã làm ngơ và gần như bán đứng những người Tây Tạng, các người Công Giáo Trung Quốc, những người Pháp Luân Công, và những người ủng hộ dân chủ Trung Quốc, Việt Nam theo Ngoại Trưởng Clinton từ Bắc Kinh cho tới Hà Nội để được đổi lại lấy những món lợi kinh tế trước mắt nhưng ngược lại tiếp tục đẩy Kinh Tế Mỹ vào lụn bại với những thất nghiệp rất cao hiện nay, cán cân trao đổi mậu dịch gần như nghiêng hoàn toàn làm lợi thế cho Trung Quốc và tương tự với Việt Nam, nước Mỹ đã đẩy những công nhân của họ không còn có gì để sản xuất trong nôi địa Hoa Kỳ để cạnh tranh được với nhân công giá rẻ tại Trung Quốc và Việt Nam. Những khẩu hiệu như chỉ mua hàng của Mỹ "Made in USA" chỉ là trò quảng cáo của các đảng chính trị Dân Chủ hay Cộng Hòa, nó thực sự đúng là trò hề. Làn sóng mua hàng hóa của Trung Quốc đầy rẫy tại các mọi cừa hàng Walmart, Costco, Best Buy, etc. Thử hỏi nếu ngày mai, Trung Quốc ngưng xuất cảng sang Hoa Kỳ thì có lẽ kinh tế nước Mỹ này không đứng vứng được một tuần, thị trường chứng khoán dễ dàng rơi xuống cả ngàn điểm trong một ngày và chính quyền Mỹ rơi vào tình trạng khủng hoảng ngay lập tức.

Tại sao chính quyền Obama lại vui mừng mở của đón mừng nhà độc tài tương lai của Trung Quốc, Xi Jinping (Tập Cận Bình) vào Nhà Trắng thảng trước, trong khi họ lại bất ngờ và phản ứng khó khăn khi 1500,000 người Việt nghe lời của "ứng cử viên trang cử Obama" năm 2008 tham gia chiến dịch ký thỉnh nguyện thư về nhân quyền hay một người mù Trung Quốc nhưng rất dũng cảm như ông Trần Quang Thành xuất hiện đột ngột tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Bắc Kinh? Không những vậy, đây là ác mộng của chính quyền Hoa Kỳ, không một ai xác nhận ông Trần Quang Thành có mặt trong tòa Đại Sứ mà ngay đến cả ngoại trưởng Clinton và Tổng Thống Obama cũng từ chối bình luận. Trong khi không ai trong chính phủ đã chính thức xác nhận rằng Trần là trong đại sứ quán, thực tế là họ đã từ chối phủ nhận tin đồn làm cho nó khá rõ ràng, rằng điều mà ông Trần ở trong đại sứ quán là đúng sự thật. Sự im lặng về vấn đề này chứng tỏ đã có những sự khó chịu của chính quyền Mỹ về ông Trần tới đây.

Câu trả lời quá rõ ràng: Bầu cử Tổng Thống 2012 tại Hoa Kỳ.

Trường hợp của ông Trần đã đưa cho đối thủ đảng Cộng hòa của ông Obama quăng cà chua vào vào chính sách nhân nhượng của chính quyền Obama. Mitt Romney nhanh chóng kêu gọi chính quyền Obama "dùng mọi biện pháp để bảo vệ Trần" và Dân biểu Chris Smith của New Jersey viết thư yêu cầu ngọai trưởng Clinton đặt vấn để nhân quyền khi họp mặt với Trung Quốc trong hội nghị thượng đỉnh kinh tế và chiến lược trong tuần này tại Bắc Kinnh: "nâng cao vấn đề nhân quyền, đề cập vấn đề sách nhiễu, bị bắt, biến mất, và ngăn cản quyền con người, thiếu luật sư và bảo vệ với Chính phủ Trung Quốc trên một cơ sở hiện thực và liên kết vấn đề này với lợi ích của Hoa Kỳ trong các quy định của pháp luật và tôn trọng quyền con người nói chung ở Trung Quốc." Hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa thực ra dùng ông Trần để đánh lẫn nhau, không một ai trong Đảng Dân Chủ đứng lên chỉ trích chính quyền Obama và không một ai trong đảng Cộng Hòa yêu cầu đảng Cộng Hòa im tiếng để chính quyền Obama làm việc.

Câu trả lời cho 150,000 người Mỹ gốc Việt:

Năm 2010, trước động thái gây hấn từ phía Bắc Kinh gia tăng một cách đáng ngại trước đó, các nước Asean và đặc biệt là Việt Nam đã vui mừng tại hội nghị An ninh khu vực vùng ARF, khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton khẳng định "Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia của mình đối với vấn đề tự do hải hành, tự do tiếp cận các các vùng biển chung của Châu Á cũng như tôn trọng luật lệ quốc tế về biển Ðông". Với sự hung hăng của Trung Quốc tiếp tục hiện nay, với chính quyền Obama, mở rộng hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, còn thể hiện thuyết sách ngoại giao mới tập trung vào những ưu tiên chuyển đổi, trong đó ưu tiên chuyển đổi địa dư, từ châu Âu sang châu Á với sự trở lại của nước Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương, nằm ở vị trí đầu tiên. Hoa Kỳ muốn kiềm chân Trung Quốc, lo sợ rằng sự trổi dậy lớn mạnh về quân sự sẽ làm lật cán cân chính trị, kinh tế và quân sự tại Á Châu nơi mà kinh tế Mỹ tùy thuộc rất nhiều trong hiện tại và tương lai. Việt Nam là câu trả lời của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ muốn có sự hiện diện ở đây, đổi lại nhân quyền chỉ là một món quà trao đổi giưa chính quyền Obama và Hà Nội không hơn không kém. Nhân quyền tại Việt Nam không có gì để Nhà Trắng muốn thay đổi như một Lybia, Syria. Nhân quyền tại Việt Nam chỉ là một danh từ ngoại giao để đánh bóng chính quyền Mỹ hiện nay.

Câu trả lời với chiều sâu:

Để được tài trợ cho những chi tiêu thiếu thận trọng của Washington đã được hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ làm mờ mắt người dân và để cho những chính sách này thành công trong nhiều thập niên qua và nhất là những chính sách gần đây về y tế, xã hội của chính quyền Obama, Hoa Kỳ cần phải có những quốc gia mua trái phiếu của Hoa Kỳ để trang trải nợ nần, Trung Quốc đã không ngần ngại giúp Hoa Kỳ đạt được những mục tiêu này để đổi lấy những tiền lợi nhuận quay trở lại vào nước Mỹ thay vì Trung Quốc phải lấy tiền về nước trong tình trạng kim ngạch nhập khẩu lớn hơn kim ngạch xuất khẩu trong cán cân thương mại của Mỹ hiện nay. Điều này giải quyết được sự bất bình của dân chúng và quốc hội Hoa Kỳ. Đúng là "một mũi tên bắn được hai con chim" mà Trung Quốc thành công được trong nhiều năm nay. Chính quyền Obama đã không muốn phật lòng nguời cầm hầu bao kinh tế cho những chính sách của họ. Nếu làm phật lòng Bắc Kinh, Nhà Trắng sẽ vấp phải một thảm họa về kinh tế và chắc chắn điều này sẽ tạo ra một "không có 4 năm" nữa cho "Tổng Thống Obama" chưa kể là Quốc Hội và Thượng Viện sẽ nằm trong tay đảng Cộng Hòa

Để nhân quyền không còn chỉ là những danh từ mĩ miều ngoại giao, người dân Mỹ phải thay đổi suy nghĩ. Họ không thể đòi hỏi để có những điều không hiện thực như một chính sách y tế cho toàn người dân Mỹ, những chi tiêu xã hội, thất nghiệp một cách quá đáng mà ai cũng biết được là nước Mỹ không còn tiền để chi tiêu cho những chính sách này và do đó họ phải đi ngửa tay mượn của Trung Quốc. Người dân Mỹ không thể bầu ra những người mị dân với những lời nói đẹp đẽ rằng họ sẽ cho mọi người dân Mỹ tất cả những gì họ mong muốn. Người dân Mỹ phải thức tỉnh rằng nhân quyền không phải chỉ là những lời nói suông mà có thể là tính mạng của hàng ngàn, trăm ngàn, triệu người trên trái đất này có thể chết vì những bức tranh nhân quyền mà các chính trị gia tại Mỹ vẽ ra, tô đẹp trong mùa tranh cử. Nếu người Mỹ nhìn thấy sự thực về kinh tế và tài chính, quyết định đúng đắn về tương lai của họ, nếu họ chấp nhận không nợ nần, chi tiêu trong hạn chế của họ, thì họ sẽ không phải ngửa tay xin tiền của các quốc gia khác, họ sẽ không những giải quyết về nợ nần, thất nghiệp, họ sẽ có một kỹ nghệ sản xuất không thua gì một Trung Quốc hay Đức (Đức đứng đầu thế giới vể tỷ lệ xuất khẩu) và chắc chắn là khi nói về nhân quyền thì rất nhiều nước trên thế giới sẽ phải lắng nghe họ.

Hy vọng về Mỹ quá nhiều, 150,000 người Việt đã mù không thua gì ông Trần Quang Thành mù của Trung Quốc. Về so sánh thì ít nhất ông Trần Quang Thành của Trung Quốc mặc dù mù nhưng cuối cùng cũng được hy vọng để sang Hoa Kỳ "du học" sau khi có thỏa ngầm thầm của Trung Quốc và Hoa Kỳ hôm nay, trong khi đó ông Tiến Sĩ Người Mỹ gốc Việt thì vẫn bị tạm giam 4 tháng ở Việt Nam và blogger Ðiếu Cày thì chỉ được "nhớ" nhân ngày Quốc Tế Tự Do Báo Chí, Tổng Thống Barack Obama nhắc “đừng quên những người khác như blogger Ðiếu Cày”. Mọi người cũng đừng quên là năm nay là năm bầu cử 2012, nhân quyền nói và thực hành thì rất xa và nhiều người rất cần lá phiếu của người Mỹ gốc Việt chúng ta hiện nay. Sử dụng lá phiếu đúng thì những gì chúng ta muốn, chúng ta sẽ được. Sử dụng lá phiếu sai chúng ta sẽ chỉ có bánh vẽ mà hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đang vẽ ra.

Ôi bức tranh nhân quyền!

Trong khi ông Tiến Sĩ Người Mỹ gốc Việt Nguyễn Quốc Quân thì vẫn bị tạm giam 4 tháng ở Việt Nam và blogger Ðiếu Cày thì được hân hạnh được "nhớ đến" trong ngày Quốc Tế Tự Do Báo Chí của ông Obama thì ông Trần Quang Thành (GuangCheng Chen) được may mắn hơn. Không biết ông Thành chỉ vì không phải là người của nước nhược tiểu Việt Nam hay ông ta là người của nước "lạ" Trung Quốc nên nước Mỹ trọng vọng hơn, hôm qua ông Thành đã rời bệnh viện hay nơi "tạm giam" ở Bắc Kinh qua Mỹ đi "du học."

Ông Thành là có lẽ là một người đặc biệt rất nổi bật trên thế giới về nhân quyền. Bị mù nhưng vẫn tự học để trở thành luật sư giúp đỡ những người phụ nữ nông dân lên án chính phủ ở Shandong có những hành vi dã man, thiếu công lý khi áp dụng chính sách "một con" của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ông ta bị liên tiếp tù đầy và giam lỏng tại nhà trong liên tiếp hơn 7 năm mà chính quyền Obama và ngoại trưởng Clinton thường xuyên lên tiếng trong những năm trước đây. Nhưng sự có mặt của ông ta tại Đại Sứ Quán Hoa Kỳ tại Bắc Kinh lại làm cho chính quyền Obama lúng túng với lãnh đạo Trung Quốc. Thay vì lấy cơ hội này và đặt nó vào trọng tâm của chính sách về ngoại giao của Obama, thì họ làm mất cơ hội để đối thủ của họ trong mùa tranh cử năm nay là Mitt Romney nhanh chóng kêu gọi chính quyền Obama "dùng mọi biện pháp để bảo vệ Trần." Đáng lẽ họ dùng nó để nêu cao chính sánh dân chủ, tự do, và nhân quyền của Mỹ thì họ lại bị thụt lùi "the down low." Chẳng khác nào Washington miệng vẫn nói về nhân quyền nhưng khi phải đối đầu với nó thì chính quyền Obama đâm ra lúng túng không biết đối xử ra sao. Nhưng sự "ngu ngốt may mắn" (dumb luck) cuối cùng của nhân viên ngoại giao Mỹ cũng đã xong và ổn thỏa. Nhưng thực ra có lẽ cũng nằm trong ván bài tháu cáy của Trung Quốc trong phút cuối là đẩy Trần Quang Thành ra khỏi nước và làm vô hiệu hóa tiếng nói của Thành và các cảm tình viên về nhân quyền.

Mọi năm có khoảng 22,000 sinh viên Trung Quốc qua du học Hoa Kỳ nhung không ai nổi đình nổi đám bằng ông Trần Quang Thành hôm qua. Rời Trung Quốc chỉ biết trước gần hai tiếng, được đưa cấp tốc từ bệnh viện, được đẩy bằng xe lăn, từ thang máy, qua lối vô máy bay, tại phi trường quốc tế Bắc Kinh hôm Thứ Bảy, lên thẳng máy bay đi Mỹ, chấm dứt gần một tháng giằng co giữa Washington và Bắc Kinh. Ông Thành và gia đình gồm vợ và hai con lên chuyến bay United Airlines 88. Giấy tờ hộ chiếu thì giao cho viên chức Hoa Kỳ tại phi trường. Nhìn vào thì ai cũng nghĩ là vấn đề này đã xong nhưng thực tế khác hẳn. Ai là người thua thiệt trong vấn đề ngày. Nhà nước và Đảng Cộng Sản Trung Quốc thì mất mặt, chính phủ Mỹ thì thất bại vì lúng túng, ông Trần Quang Thành lúc này thì coi như thắng nhưng đường trường thì ông ta thua thấy rõ. Không ai biết là ông ta liệu có được trở về Trung Quốc để thăm người mẹ cô độc hơn 80 tuổi nữa hay không chứ đừng nói chuyện là ông ta liệu có trở lại sinh sống trên quê hương của ông ta nữa? Chưa kể chỉ vì hành động của ông, bao nhiêu họ hàng của ông ông bị chính quyền địa phương truy tố về tội "giết người" vớ vẩn nào đó để răn đe quần chúng.

Ai là người thua thiệt nhiều nhất? Có lẽ nhân quyền là kẻ thua thiệt nhất. Người dân Mỹ hiểu biết nhiều nhất về nhân quyền. Biết bao nhiêu người Mỹ trước khi đến đây đã bị đàn áp về chính trị, tôn giáo, chủng tộc tại quê hương nhà. Quyền tối thiểu của họ đã bị va chạm mãnh mẽ, nhân quyền là mồ hôi, nước mắt và máu của họ đã phải hy sinh. Nhưng nhân quyền đã bị sói mòn, ăn cắp, lợi dụng bởi các chính trị gia của hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa chỉ vì mang nợ nhiều quá, họ trở nên lệ thuộc vào kẻ cho vay Trung Quốc và dùng nhân quyền để bao vây Trung Quốc. Họ dùng ông Trần cũng như Ðiếu Cày để trả giá cho những chi tiêu của họ hay những bàn cờ "có qua có lại" (Quid pro quo) trong ván cờ chính trị, quân sự hay ngoại giao. Ngày nào con cờ Trần Quang Thành, Nguyễn Quốc Quân hay Ðiếu Cày còn có giá thì sẽ có những cuộc trả giá về "nhân quyền."

Nước Mỹ có quá nhiều luật sư chả lẽ họ lại cần thêm một luật sư Trần Quang Thành. Nguời Mỹ muốn dùng họ Trần để thăm dò ảnh hưởng của Bộ Chính Trị Trung Ương đảng Cộng Sản Trung Quốc. Việt Nam và Trung Quốc không dễ gì sụp đổ do các yếu tố bên ngoài hay đảo lộn bởi các hành động quân sự nhưng Việt Nam, Trung Quốc có thể sụp đổ vì các rạn nứt bên trong như Xô Viết. Xô Viết sụp đổ không phải vì Hoa Kỳ xâm lăng mà xụp đổ vì Gorbachev. Trung Quốc có thể sụp đổ vì các rạn nứt của các nhân vật trong Bộ Chính Trị. Lich sử của Trung Quốc cho thấy nước này nhiều lần tan rã trong quá khứ vì các lãnh tụ chia rẽ. Trong trường hợp Trần Quang Thành đã tạo ra tầng lớp dân chúng vô sản đứng lên chống lại chính quyền Cộng Sản tại địa phương tạo ra tình trạng phản cảm đối với chính quyền trung ương. Liệu nó cáo bị ảnh hưởng xấu rộng trong quần chúng cả nước, người Mỹ đang quan sát và học hỏi điều này.

Nhưng một điều chắc chắn là hôm qua, Thứ Bảy ngày 19 tháng 5 2012, khi ông Trần Quang Thành đặt chân tới nước Mỹ thì nhiệm vụ về nhân quyền của ông ta đã xong. Con cờ Trần Quang Thành không còn ảnh hưởng nhiều đến nhân quyền tại Trung Quốc nữa ngoại trừ sự may mắn và tài giỏi của ông ta sau này vì chính quyền Trung Quốc rất mánh khóe. Ông Wu'er Kaixi, một lãnh tụ trong cuộc biểu tình tại Tiananmen Square (tháng Tư, 1989) đã không vào được Tòa Đại Sứ Trung Quốc tại Washington để về Trung Quốc hôm thứ Sáu tuần trước sau khi bố mẹ ông ta đã bị từ chối rời Trung Quốc sang Hoa Kỳ để thăm Wu.

Cho dù Trung Quốc thành công là một quốc gia có sức mạnh về kinh tế và quân sự hiện nay nhưng một điều chắc chắn chúng ta biết rõ là Trung Quốc không phải là một quốc gia "lớn" "khi công dân Trung Quốc phải lánh nạn tại Hoa Kỳ để được đảm bào về an ninh và nhân quyền. Là một công dân Trung Quốc, tôi rất lấy làm buồn cho đất nước này và cho chính bản thân tôi" theo lời nói của luật sư Liao Rui, sống ở phía tây nam vùng Sichuan than thở.

© MartianMobile


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Thuốc cho “quả đấm thép”


Người dân, với những đồng thuế ngày càng cao, rõ ràng không thể cứ nuôi báo cô mãi những “võ sĩ quả đấm thép” chỉ được cái to xác, chỉ có tác dụng tốn tiền cơm.

Sau khi Vinalines “chìm tàu”, điều mà dư luận quan tâm không phải là Chủ tịch Hội đồng thành viên của “Quả đấm thép” này vì sao có thể bỏ trốn, trốn ở đâu, mà là sẽ còn Vina gì gì nữa sẽ tiếp tục đổ bể.

Vinalines giống Vinashin không phải chỉ ở hai chữ Vina, không phải vì tính chất sinh đôi trong cùng một mô hình tập đoàn kinh tế. Bởi những sai phạm của họ cũng không mảy may khác Vinashin, và có lẽ, cũng chẳng có gì khác các tập đoàn, Tổng công ty nhà nước khác.
Y hệt “người tiền nhiệm” Vinashin, chỉ trong 4 năm, Vinalines đã “tung vốn” vào 158 doanh nghiệp. Trong đó các Vinalines “con” tung vốn tại 94 công ty cháu. Rồi cũng sử dụng vốn trái phiếu (1.000 tỷ) trái mục đích. Chi hơn 22.000 tỷ đồng cho việc mua về 73 tàu mà có tới 23,3% số trong đó “quá date”. 1.836 tỉ đồng đầu tư dang dở không phát huy hiệu quả, gây lãng phí lớn. Thậm chí, chỉ một chiếc ụ tàu “quá date” đã gây lãng 489,6 tỉ đồng. Kinh hoàng nhất là chỉ riêng một lễ khởi công cho dự án Cảng quốc tế Vân Phong, 4,114 tỷ đồng đã được ném ra, vượt tới 80 lần quy định. Đổi lại không gì khác ngoài hai từ “Lỗ” và “Nợ”: Năm 2009, lỗ 412,325 tỷ. Năm 2010 lỗ 1.273,892 tỷ. Năm 2007 nợ phải trả 17.071 tỷ, chiếm 65,8% tổng nguồn vốn. Năm 2010 lỗ 36.599,7 tỷ chiếm 91,4%. Hiệu quả sử dụng vốn giảm mạnh, tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu từ 14,15% năm 2007 xuống còn âm 14,8% năm 2010.

Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung có lần nói: Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước luôn có “lợi thế” là khi làm ăn có lãi thì họ cho đó là sự thành công của họ, nhưng lúc thua lỗ lại đổ tại vì phải gánh vác những “trách nhiệm xã hội” mà Nhà nước giao cho, và yêu cầu giải cứu…

Mô hình thế, làm ăn vậy, và trên đầu là bảo bối “trách nhiệm xã hội”, nếu mô hình này không bị khai tử, hoặc chuyển đổi, sẽ còn rất nhiều những Vina khác lần lượt biến thành cái “máy say tiền” trước khi trở thành những “con tàu chết”.

Sau Vinashin, lòng tin của người đóng thuế lại tiếp tục được thử thách với Vinalines. Và vì thế, thật khiếm nhã khi mà chỉ vài ngày trước, Bộ trưởng Đinh La Thăng “ném” ra dư luận dự án đầu tư 100.000 tỷ cho việc “phát triển đội tàu biển” tại chính Vinalines.

Chính phủ không phải là không nhìn thấy “gót asin” của mô hình tập đoàn, TCT. Bằng chứng là trong Đề án tái cơ cấu DNNN, có đề ra thời hạn thoái vốn 2015, có vô số gạch đầu dòng bắt đầu bằng hai chữ “Sứ mệnh”, “Hoàn thiện”, “Đổi mới”. Thậm chí có tới 8 cái “hoa thị” (*) là những thông tin mà các “quả đấm thép” này phải công bố để công khai minh bạch hóa các hoạt động.

Nhưng “hoàn thiện”, “đổi mới” có vẻ chỉ là loại thuốc cảm cho căn bệnh đã nan y. Nhưng công khai minh bạch, kể cả điều tế nhị nhất, chẳng hạn về nhân thân, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, các vị trí quản lý đã nắm giữ, cách thức được bổ nhiệm, công việc quản lý được giao, cách thức trả lương và các lợi ích khác của những cán bộ chủ chốt… chỉ là một trong vô số những “gót chân”, chỉ có thể giảm thiểu những vụ “bầu bổ” bất ngờ, chẳng hạn nữ sinh viên trường báo có phẩm chất “chân dài đến nách” làm Chủ tịch HĐQT một DN nhà nước, khiến dư luận “rớt tròng ù tai”, biểu hiện phổ biến của tình trạng “quân anh quân tôi, con anh con tôi”.

Thế còn mô hình? Còn bảo bối thoát tội mang cái tên chung chung là “trách nhiệm xã hội”?

Hôm qua, báo cáo thẩm tra Đề án tái cơ cấu nền kinh tế đã đặt câu hỏi lớn về mô hình các tập đoàn, TCT này. Ngoài yêu cầu đánh giá khách quan, toàn diện chương trình thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước, Ủy ban Kinh tế còn yêu cầu trước là “giảm tối đa tính độc quyền”, sau là buộc chúng phải hoạt động theo các nguyên tắc của thị trường. Đó là việc: Không dùng doanh nghiệp nhà nước để điều tiết kinh tế vĩ mô. Có lộ trình cho việc thoái vốn của các “quả đấm thép” này ra khỏi các ngành kinh doanh không liên quan nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh chính. Kiên quyết tách bạch nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận với các nhiệm vụ an sinh xã hội khác không vì mục tiêu lợi nhuận.

Dù mới chỉ là “đông y”, nhưng dù sao đây vẫn có vẻ mới là thuốc.

Hội nghị TƯ lần 5 vừa bế mạc đã có một quyết định quan trọng: Tiếp tục khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Nhưng đó phải là sự chủ đạo trong việc khai mở, gỡ nút những điểm khó, điểm nghẽn, chứ không phải là chủ đạo trong việc tiêu tốn nguồn lực. Bởi suy cho cùng, người dân, với những đồng thuế ngày càng cao, không thể cứ nuôi mãi những “võ sĩ quả đấm thép” chỉ được cái to xác, chỉ có tác dụng tốn tiền cơm.

© Đào Tuấn
Theo blog Đào Tuấn


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Tản mạn... Quốc hội!


Từ hội trường Quốc Hội (QH) về, uể oải. Chợt nhớ NL - TBKTSG kỳ QH trước, hôm khai mạc lúc trở về trung tâm Báo chí có lẩm bẩm chửi là: "Chúng nó coi bọn mình như chó" nên tự cười, nghĩ: Mịa, có khi còn khổ hơn chó ấy chứ. Cái từ "chó", ngoài đời người ta hay dùng để ví với mấy người làm nghề gì mà có tính chất như giữ nhà và trung thành với chủ. Nó ko hợp để chỉ nhà báo. Cho dù gần đây, chỗ nọ, chỗ kia người ta hay dùng từ "ẳng" để nói việc nhà báo kêu chuyện nọ, chuyện kia như chuyện bị đánh... Nhà báo thì trung thành với ai? - với độc giả thôi.

Buổi sáng, biết là lần này, văn phòng QH đã ra mấy cái quy định khá là khe khắt khiến đám phóng viên khó phỏng vấn được đại biểu tại hội trường: ko cho phỏng vấn ở tầng 1: hành lang trái, phải, giữa... Nếu có nhu cầu dẫn lên tầng 2, có bố trí phòng (như thế không khác cấm tiệt vì chẳng đại biểu nào tự nhiên lại chịu leo lên tầng 2, mất thời gian, trong khi tầng 1 đang đầy thức ăn, đồ uống...), mình mời anh Trần Hoàng Ngân ra tít góc xa ở sân để phỏng vấn, cũng trót lọt được 1 bài. Vào trong, thấy anh em vẫn đang hớt hải, có 2-3 người đang tranh cãi, giải thích với một anh làm công tác an ninh. Nghe thấy anh lớn giọng đe: lần sau sẽ tịch thu thẻ. Ngán ngẩm. Quanh ra quanh vào, một lúc thấy các phóng viên tụ tập hơn 20 người, xôn xao, bàn tán, bực mình vì không được phỏng vấn. Bỗng đâu, Nguyễn Hạnh Phúc - chủ nhiệm VPQH - đi từ cửa ra, cả đám xông tới đòi hỏi chắc đòi hỏi giải thích. Thấy anh Phúc mặt nửa ra vẻ ngơ ngác, nửa như có vẻ thú vị vì biết trước chuyện này xảy ra... đi tiếp như chạy... Mình chán, chẳng muốn biết cái gì xảy ra tiếp theo. Đi về.

Đổi mới, dân chủ hóa... sinh hoạt Quốc hội. Câu này được nghe thường xuyên, kỳ nào cũng thế. Mấy khóa nay rồi nhưng nó thế đấy. Thời ông Nguyễn Văn An còn làm chủ tịch QH, nghe câu đó cũng có chút tin tin nhưng bây giờ, có lẽ, nó cũng không còn lòe được ngay cả một sinh viên báo chí mới ra trường, đi làm, may mắn được cho đi dự kỳ họp QH. Anh Nguyễn Sĩ Dũng, người trung thành với chức vụ phó chủ nhiệm VPQH qua nhiều khóa chắc có lẽ bây giờ cũng thấy nguợng khi nói ra cái từ "dân chủ hóa" ấy. Mặc dù, với những người mà anh từng làm phó như Trần Đình Đàn và nay là anh Nguyễn Hạnh Phúc, họ nói ra những cụm từ: đổi mới, dân chủ hóa... đó vẫn rất vô tư. Tất nhiên, trong đổi mới hay dân chủ hóa sinh hoạt QH thì báo chí cũng chỉ là một phần. Nhưng dân chủ mà không có báo chí, không mở cửa cho báo chí thì đó là thứ dân chủ gì?

Chủ ý hạn chế báo chí tiếp cận, phỏng vấn đại biểu QH có thể không phải của anh Đàn và nay là anh Phúc, có thể ai đó, cấp trên của các anh, không hài lòng với việc trong kỳ họp, đám phóng viên có phần gây nhiễu khi QH đang họp, ra vào chụp ảnh lộn xộn; trong giờ giải lao thì quây kín trong ngoài một quan chức, cán bộ cấp cao nào đó để phỏng vấn, rất ngộp thở... rồi thì lại có những bài phỏng vấn đọc lên nghe rất khó chịu, như kỳ trước, BT Giáo dục Phạm Vũ Luận phải ê chề vì phát biểu "Tôi thấy hàng ngàn điểm không môn sử là... bình thường". Nhưng thay vì tìm một cách thức để báo chí tiếp cận, phỏng vấn các đại biểu có trật tự, văn minh hơn, có một buổi thảo luận, trao đổi cởi mở hơn với báo chí để tìm cách để phóng viên tác nghiệp tại QH hợp lý hơn... việc đặt ra quy định nghe có vẻ là tạo điều kiện cho phóng viên: có phòng phỏng vấn riêng... nhưng không phù hợp với thực tế như vậy, thực chất đã khiến quy định đó thành hàng rào xấu xí, ngăn chặn báo chí tác nghiệp tại QH từ kỳ này. Thực ra, từ kỳ truớc cũng đã đặt ra rồi nhưng cuối cùng cũng không thực hiện được. Không hiểu sao kỳ này, tự nhiên làm quyết liệt thế???

Nhưng dù thế nào, việc hạn chế PV tiếp cận ở khu vực hành lang ai cũng thấy là điều dở, trừ mấy ông ở VPQH hoặc là những đại biểu, có thể là những bộ trưởng ngại tiếp xúc với báo chí… cũng ủng hộ điều này. Còn nhiều ĐBQH khác, chắc chắn, có không ít nguời có nhu cầu tiếp xúc với báo chí để nói lên quan điểm, suy nghĩ của mình, nhất là khi ở hội trường, khi thảo luận, khi chất vấn… đại biểu đó chưa nói được hết ý kiến, muốn qua phóng viên, báo chí nêu đẩy đủ hơn quan điểm, chính kiến của mình. Hoặc cũng có khi, có đại biểu cũng muốn lắng nghe ý kiến của phóng viên, qua câu hỏi của báo chí, họ cũng thấy có những vấn đề thực tế, nóng bỏng của đời sống ở đó: giá điện, chuyện biểu tình quanh bờ hồ… để đặt vấn đề trên nghị truờng. Mà tất cả những câu chuyện ấy, không phải lúc nào cũng buộc ĐBQH, phóng viên phải kéo nhau lên tầng trên, lên phòng kín…để làm thành bài hoàn chỉnh. Đôi khi, chỉ là một trao đổi ngắn gọn, thậm chí 1 câu hỏi và một câu trả lời. Tại sao cứ phải đăng ký rồi leo cầu thang lên phòng phỏng vấn “nhện chăng dây”??? Hôm nay, trao đổi với phóng viên về chuyện này, khối ĐBQH lấy làm ngạc nhiên: tôi chẳng lấy gì làm phiền về việc phóng viên phỏng vấn ở hành lang. Tôi có quyền trả lời hoặc không trả lời, tôi không thích thì tôi từ chối. Có gì đâu mà phiền?

VPQH thực ra hàng năm cũng có tổ chức hội thảo này, kia, có khi tận mấy chỗ resort, khách sạn... năm thì làm ở Tam Đảo, năm thì làm ở Hà Tây (cũ), Quảng Ninh... để anh em báo chí thảo luận, góp ý về công tác đưa tin, viết bài về QH. "Đổi mới, dân chủ hóa" sinh hoạt Quốc hội vì thế sau đó cũng được nhắc đến trong nhiều bài báo. Nhưng với tôi, tôi chỉ muốn, sinh hoạt QH trở lại giống như... ngày xưa, như khóa X, thời Quốc hội còn họp ở hội truờng Ba Đình cũ, không có rào cản nào cả. Hồi đó, ông Nguyễn Văn An là chủ tịch. Có nhiều quan chức Chính phủ khi đó cũng rất cởi mở. Như ông Nguyễn Sinh Hùng, hồi đó còn làm bộ trưởng Tài chính, giờ giải lao, ông thường ra căng tin, ngồi uống bia hơi, ăn lạc luộc. Phóng viên ai thích phỏng vấn, kê ghế ngồi quanh, ông trả lời cả, từng câu một. Ông Phạm Chuyên, Giám đốc công an Hà Nội và nhiều quan chức khác cũng thế…chưa nói gì đến đại biểu. ĐBQH cũng rất chủ động, họ tìm đến phóng viên để đề nghị làm phỏng vấn. Tôi nhớ có hôm, ông Nguyễn Lân Dũng đi công tác đâu về, đẩy cửa phòng phóng viên hỏi: tớ mới đi công tác về, có cậu nào hỏi tớ ko? Anh em khi ấy còn cuời ồ, có nguời nghĩ là ông háo danh. Giờ sinh hoạt QH thế này, mới nghĩ là, có ĐB mà chủ động tìm đến mình để nói tâm tư, ý kiến với cử tri, với Chính phủ… đó thật đáng quý. Ôi, bao giờ cho đuợc ngày xưa?

Thế nên bây giờ, mỗi ngày VPQH chỉ phát có 20 thẻ sự kiện để phóng viên vào tác nghiệp tại hội trường -lấy lý do chật chội. Rồi lại thêm quy định, rào cản để làm khó anh em báo chí. Dân chủ hoá, đổi mới sinh hoạt QH mà như thế, để anh em báo chí kêu "khổ như chó" thì nói với nhau làm gì?

Theo blog Sỏi

-------------------------------

Cái hành lang và cái cầu

Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, TS Nguyễn Sĩ Dũng có lần hùng hồn khẳng định, đại ý: Nếu một dân tộc hàng triệu người mà thiếu đi truyền thông thì cũng chỉ có sức mạnh của một người.

Phó chủ nhiệm VPQH, Nguyễn Sĩ Dũng
Ông nói điều này trong một cuộc hội thảo với chủ đề “quan hệ với báo chí trong hoạt động Quốc hội”. Hôm đó, khi GS Nguyễn Minh Thuyết tổng kết thái độ, hành động của một dân biểu, trong quan hệ với báo chí- bằng 8 chữ T “thân thiện, thẳng thắn, tỉnh táo, tự tin”, các đại biểu thậm chí còn thân thiện góp thêm 4 chữ “trí tuệ, thực tế”. Thật là sung sướng khi báo chí được ca ngợi là “cái cầu” để cử tri có thể giám sát hoạt động các đại biểu họ đã bầu nên.

Sáng nay, sau phiên khai mạc của kỳ họp thứ 3, QH khóa XIII, dường như không có mấy đại biểu xuất hiện trên báo. Dường như không phải họ đã quên “12 chữ T” mà do một quy định về tác nghiệp của báo chí tại QH.

Tuổi trẻ sáng nay đưa một tin “độc”: Phóng viên gặp khó khi tác nghiệp tại Quốc hội.

Theo đó, trong ngày khai mạc, Trung tâm báo chí kỳ họp thứ 3 QH khóa XIII đã phát hành thông báo yêu cầu các phóng viên không được thực hiện phỏng vấn đại biểu Quốc hội tại các hành lang hai bên và hành lang sau của hội trường Bộ Quốc phòng (nơi Quốc hội làm việc). Muốn phỏng vấn, phóng viên phải mời đại biểu Quốc hội vào phòng phỏng vấn (phòng số 12) được đặt tại tầng hai của khu hội trường. Quy định trên đây khiến các phóng viên báo, đài gặp rất nhiều khó khăn khi tác nghiệp, bởi khu vực trả lời phỏng vấn cách các hành lang của hội trường và nơi giải lao của đại biểu bởi một cầu thang khá dài, trong khi thời gian nghỉ giải lao chỉ có 20 phút (đây là khoảng thời gian các đại biểu thường dành để trả lời báo chí trong nhiều kỳ họp trước).

Thực ra, Tuổi trẻ còn đưa thiếu 1 chi tiết: Khi các đại biểu phát biểu, các PV không được vào chụp ảnh mà chỉ có Ban Ảnh TTXVN được tác nghiệp và có trách nhiệm “cung cấp ảnh” cho các báo.

Nói “gặp nhiều khó khăn” còn là quá nhẹ nhàng. Bởi giờ “ngó mặt” cũng phải ngó qua…tivi, ít tệ hơn thì ngó qua…cái “hành lang dài”. Bởi cái nghề mà giới PV nghị trường hay nói đùa là “bu quanh mồm đại biểu” giờ đã mất nghiệp. Trong cái hội thảo mà TS Nguyễn Sĩ Dũng đã nói tới sức mạnh một người nếu không có báo chí đó, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa giáo dục thanh thiếu niên Lê Như Tiến cũng cho rằng: Đã là đại biểu Quốc hội, là nghị sĩ thì cánh cửa phòng làm việc phải luôn mở rộng với báo chí. Khi phóng viên đề nghị phỏng vấn thì thì dù bận rộn đến mấy chỉ có thể hẹn chứ không được nói không.

Không ai nghi ngờ phát ngôn của ông Tiến. Không ai phủ nhận sự nhiệt tình, thân thiện của các vị đại biểu QH, nhưng giờ muốn gặp họ ở QH giờ khó quá. Nhà báo cần đại biểu có nghĩa là cử tri đang cần, công chúng đang cần, dư luận xã hội đang cần. Thôi thì đành phải nhờ sự khó nhọc của các vị đại biểu QH để “cái hành lang dài” không thay thế cho “cái cầu”: Đại biểu dân cử - Báo chí - Cử tri.

Nguồn: Blog Đào Tuấn


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Trung Quốc lén vi phạm, ta lén xử lý

Nói “Trung Quốc lén vi phạm, ta lén xử lý” có lẽ chưa thật chính xác. Đã có dấu hiệu cho thấy, nhận thấy Việt Nam càng dè dặt, ấp úng, rón rén xử lý nhẹ… hều, hoặc cho “chìm xuồng” các vụ tương tự, Trung Quốc ngày càng hung hăng bạo tợn, ngang nghiên xâm phạm, coi Biển Đông như ao nhà, coi Việt Nam như sân chơi vô chủ.

Câu hỏi đặt ra: cấp nào? cá nhân nào chủ trương rón rén lén lút xử lý các vụ Trung Quốc xâm phạm? Ai tiếp tay Bắc Kinh ngày càng lộng hành ngang ngược? Ai làm dân ta mất cảnh giác hiểm họa phương Bắc?…

Các cơ quan truyền thông tỉnh Khánh Hòa vừa nhận chỉ thị từ Tỉnh ủy: chấm dứt đưa tin vụ 2 tàu hút bùn Trung Quốc xâm phạm trái phép vịnh Nha Trang (tối 23-3-2012) và chư tăng Khánh Hòa ra Trường Sa làm phật sự trụ trì ở các đảo(!?)

Trước đó, khi vụ tàu hút bùn vừa xảy ra, báo chí phỏng vấn, chỉ huy biên phòng Khánh Hòa cung cấp thông tin khá chi tiết. Nhưng sau đó, báo chí đề nghị cung cấp thông tin diễn biến xử lý 2 tàu này, thì chỉ huy biên phòng nói chờ ngoài Hà Nội chỉ đạo (có hẹn ngày cụ thể), sẽ thông tin cho báo chí. Cuối ngày hẹn, báo chí điện hỏi, chỉ huy biên phòng lập… bập: “Lạy các bố! Vấn đề, vấn đề… rất… rất… nhạy cảm. Chúng tôi bị BBC nó đưa tên lên mạng. Làm tôi bị kiểm điểm. Thôi… 


Tiếp cận… tàu
Trưa 1-5, không quân Trung Quốc cho 2 khu trục cơ xâm phạm không phận bán đảo Cam Ranh (Nam Khánh Hòa) và Bắc Ninh Thuận, làm hết cách, phóng viên nhiều tờ báo lớn đành “bó tay” khi Vùng 4 Hải quân, biên phòng Ninh Thuận, đơn vị không quân ở Phan Rang… dứt khoát… “đổ keo miệng”!

Mới đây, nguồn tin đáng tin cậy cho hay, ngày 17-5, công an TP Cam Ranh phát hiện và xử lý 7 thương nhân Trung Quốc đến Cam Ranh mua gom trái phép hải sản. Họ sử dụng tới 5 doanh nghiệp ở địa bàn làm vệ tinh vét hàng, làm các nhà máy chế biến đông lạnh trong khu vực “chết dở sống dở” vì mất nguồn nguyên liệu. Những vụ việc tương tự của đầu nậu nông hải sản Trung Quốc, lâu nay đó đây vẫn đưa tin bình thường. Không biết nhận chỉ thị từ cấp nào, hay là não trạng “tự nhận thức”, ông Điện – Phó trưởng Công an TP Cam Ranh (phụ trách mảng an ninh), được giao chỉ huy trực tiếp xử lý vụ này, dứt khoát từ chối cung cấp thông tin cho báo chí, nói “vấn đề cực kỳ… nhạy cảm”.

Nói “Trung Quốc lén vi phạm, ta lén xử lý” có lẽ chưa thật chính xác. Đã có dấu hiệu cho thấy, nhận thấy Việt Nam càng dè dặt, ấp úng, rón rén xử lý nhẹ… hều, hoặc cho “chìm xuồng” các vụ tương tự, Trung Quốc ngày càng hung hăng bạo tợn, ngang nghiên xâm phạm, coi Biển Đông như ao nhà, coi Việt Nam như sân chơi vô chủ.

Câu hỏi đặt ra: cấp nào? cá nhân nào chủ trương rón rén lén lút xử lý các vụ Trung Quốc xâm phạm? Ai tiếp tay Bắc Kinh ngày càng lộng hành ngang ngược? Ai làm dân ta mất cảnh giác hiểm họa phương Bắc?

Trong lịch sử chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc, ở đời Trần, tương quan lực lượng Đại đế quốc cường bạo Nguyên Mông – Đại Việt chắc chắn chênh lệch hơn nhiều so với tương quan Trung – Việt hiện thời. Ở thế kỷ XIII, Nhà Trần chống Nguyên Mông không có trợ giúp quốc tế, thậm chí còn bị Ai Lao, Chiêm Thành tiếp tay Nguyên Mông mượn đường qua họ bao vây xâm lược Đại Việt. Nhưng Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, vị tư lệnh kháng chiến, đâu có chủ trương nhịn nhục, bưng bít tội ác giặc Nguyên? Chính ông đã viết và truyền “Hịch Tướng sĩ”- thiên cổ hung văn, hạch tội giặc Nguyên, khích lệ ba quân tướng sĩ nêu cao lòng căm thù giặc, nung nấu ý chí quyết “mổ bụng lột da quân giặc”. Nhờ đó, toàn dân hiểu rõ bụng giặc, khẳng định quyết tâm “Sát Thát” tại Hội nghị Diên Hồng, để rồi 3 lần đại thắng oanh liệt giặc Nguyên Mông, chấm dứt vĩnh viễn giấc mộng ngông cuồng thôn tính Đại Việt của nhà Nguyên.

Không lẽ hậu duệ hôm nay chẳng còn chút dòng máu oai hùng cha ông thuở nào?


© Trầm Hương Xứ
    Theo Dân Làm Báo


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Thời gian, cuộc đời, bạn, thù và nhân dân

Cuộc đời có nhiều ý nghĩa. Đấy là cách nói với những người ít nhiều hiểu biết. Thực ra không dễ để hiểu và giảng giải về ý nghĩa cuộc đời. Mà để có suy nghĩ về cuộc đời cho ra nghĩ, trên đời này liệu có mấy ai.

Có nhiều cách nghĩ về cuộc đời. Mỗi người ở góc độ cuộc sống của mình, có ý nghĩ riêng về nó. Về đại thể, trong cuộc sống, có thể ở một số người có những nét đại cương giống nhau, nhưng nói chung là khác biệt và người ta chỉ đi đến sự thống nhất khi mỗi người chúng ta cùng cố giảm cái khác biệt của mình đi. Còn sự thật thì chẳng ai giống ai, “trăm người trăm tính là thế”. Cái đó mới tạo nên cuộc đời đa dạng.

Thêm nữa, suy nghĩ của mỗi chúng ta về cuộc đời cũng thay đổi cùng với những biến chuyển của thời cuộc và thời gian. Vô số sự tác động của cuộc đời vào ta làm ta phải thay đổi suy nghĩ. Chẳng có gì bất biến là thế.

Vâng! Thời cuộc và thời gian. Từ năm bốn nhăm đến nay, gần bảy chục năm, đã bao nhiêu là biến chuyển đổi thay. Suy nghĩ con người về cuộc đời cớ sao lại không thay đổi? Những người đã trải qua các biến đổi đó lẽ nào vẫn lại khư khư những suy nghĩ về cuộc đời như thuở ban đầu năm bốn nhăm?

Lớp người năm bốn nhăm, chứng kiến những sự kiện vĩ đại nhất của hành tinh. Với thế giới, đó là chiến thắng của đồng minh trước trục phát xít. Còn đối với Việt Nam chúng ta, đó là chính quyền cách mạng thay thế cho chính quyền thực dân và phong kiến.

Lớp người năm năm tư, chứng kiến chiến thắng vĩ đại Điện Biên phủ nhưng cũng chứng kiến một sự kiện là nỗi đau của dân tộc: đất nước phải chia làm hai. Ta vẫn nói thời Trịnh-Nguyễn phân tranh là thời kỳ nồi da xáo thịt. Thời năm năm tư cũng chính là thời nồi da xáo thịt, có khác gì đâu!

Sau ngày thống nhất đất nước, những tưởng toàn dân tộc ta đã quy về một mẹ, vậy mà ngay sau đó, với một số người của chính quyền cũ lại là thời kỳ kinh hoàng trong cuộc đời. Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói hộ chúng ta: “Nếu ngày 30 tháng 4, có một triệu gia đình vui, thì cũng phải biết là có một triệu gia đình không vui…” Những triệu gia đình đó là nhân dân, là dân tộc. Dân tộc ta đâu cần cái ngày ba mươi tháng tư đó. Chẳng qua thời cuộc bắt, dân tộc chúng ta phải chịu nên mới có ngày 30 tháng tư.

Lại nghĩ về số phận con người. Số phận con người liên quan đến thời cuộc nhiều lắm.
 
Ngày nào, tuổi thanh niên phơi phới, nhiệt huyết căng tràn, khí thế lắm, thanh niên là phải “xẻ dọc Trường Sơn cứu nước”. Mình cũng là một trong số người ấy. Mình có coi người phía bên kia là kẻ thù không?

Không hẳn coi họ là kẻ thù nhưng không dám nói. Họ cùng người Việt mình cả mà. Nếu gia đình mình không ở phía Bắc mà lại ở phía Nam, đương nhiên là bạn của họ. Phải coi họ là kẻ thù, phân vân lắm. Nhưng mà sợ, không dám nói điều đó.

Ngày nay cũng vậy, lòng lại rối lên những phân vân. Bạn mình một thuở, ngày ấy, mình vẫn coi họ là bạn tốt, giúp ta nhiều thứ lắm trong cuộc chiến tranh. Ngày đó ai cũng nói như vậy chứ có ai biết đâu phía bên kia của lòng tốt là gì. Làm người dân thấp cổ bé họng, phải chấp nhận và công nhận là điều đương nhiên. Biết gì mà nói!

Ấy vậy rồi sự kiện năm bảy chín, Trung Quốc, bạn tốt ngày hôm qua, hùng hổ tràn quân qua biên giới phía Bắc tàn phá và bắn giết đồng bào ta. Lại nhắc lại lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi ông đến các tỉnh biên giới, lúc quân Trung Quốc vừa rút: “Sao họ lại tàn ác như vậy?”. Cái tàn ác của giặc Tầu ngày đó chính là sự tàn ác với nhân dân, với dân tộc mình.

Thời cuộc như vậy, làm sao lòng người không thay đổi? Hà cớ gì cứ bám lấy cái vô lý ngày xưa?
Hôm nay Biển Đông nổi sóng. Sóng đó có nguồn gốc từ phương Bắc, bạn của mình một thuở, thù của mình ngày nay. Trong cuộc đấu tranh này, ai đó vì nhiệm vụ, vì quan hệ quốc tế, cứ “đồng chí, hay ngài” mà xưng hô. Còn đối với người dân, đừng ngăn cản việc người dân coi lũ chúng là kẻ thù dẫu rằng người dân Việt hiểu rất rõ cái giá của nó, nếu phải đánh. “Kẻ thù buộc ta phải ôm cây súng” là thế!

Gần đây, từ mấy sự vụ cưỡng chế để lấy đất ở Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản lại muốn nói lại về bạn và thù và về nhân dân.

Cứ nghĩ đơn giản bạn và thù phân biệt quá dễ. Thằng nào ủng hộ ta, phò ta, yêu ta thì ta coi là bạn. Thằng nào ghét ta, đánh ta thì ta coi là thù. Tưởng là đơn giản, vậy mà không thế. Sự đời thật cũng nhiều điều khiến không muốn nói rồi cũng phải nói. Mình thấm thía cái lời của ông cựu Thủ tướng Anh quốc: “Trên thế giới này, không có kẻ thù vĩnh viễn, bạn bè vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh cửu”.

Bạn Tầu ngày xưa, trong chiến tranh chống Mỹ, đối với ta, cứ coi là tốt đi, nhưng ngày nay nó phá ta, đánh ta, cướp đất cướp biển của ta, nhất định nó không tốt, nó là thù. Thằng Mỹ ngày xưa nó đánh ta, nó xấu, là thù nhưng bây giờ nó chơi với ta, vậy thì có thể coi nó là bạn. Tốt hay không, có thời gian phán xét.
Trở lại mấy vụ cưỡng chế. Bà con mình, tức là nhân dân, những người từng nuôi nấng quân mình, hết lòng ủng hộ chính quyền, cũng chính là đội quân chủ lực đưa cách mạng tới thành công, để lập ra nhà nước hôm nay, bỗng dưng bị coi là kẻ thù, bị đánh, bị đàn áp, bị bắt, bị bỏ tù tơi bời. Ai biến nhân dân thành kẻ thù nhanh thế? Đất nước này bây giờ là nước nào, là của ai, theo chế độ nào? Hoang mang quá.

Vậy hóa ra, phân biệt được bạn được thù và nhân dân không dễ (mà ở trên, mình lại nói là quá đơn giản). Phải đặt câu hỏi tại sao lại có chuyện như vậy? Cũng có thể gọi là kinh qua nhiều nỗi ở đời, ngẫm cái cuộc đời mình trải qua cũng nhiều sự kiện, tự trả lời một đôi điều.

Đó là sự phản bội. Phản bội lại dân tộc, phản bội lại nhân dân. Sự phản bội đó đã biến máu xương của hàng triệu người tạo nên cơ ngơi đất nước hôm nay, thành một thứ hàng rẻ rúng. Có những sự hi sinh mà nhiều năm trôi qua còn không dám nhắc đến, muốn quên đi trong yên lặng.

Đó là sự tham lam cả về tiền bạc và danh vọng. Vậy là con đường cuối cùng của các triều đại vua chúa ngày xưa cũng đã lặp lại. Thử nhìn lại lịch sử nước nhà xem, các triều đại thống trị đất nước ta đều có một kết cục như vậy. Tham lam, ăn chơi hoang tàn vô độ, buông lỏng triều chính và biên cương xã tắc để rồi bị một lực lượng mới lật đổ. Lực lượng mới này chính là nhân dân. “Lật thuyền cũng là dân” là thế. Cay cú vì mất tất cả, phải cậy cục ngoại bang. Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống chính là sản phẩm của một chế độ thối nát.
Đó là sự biến chất, suy thoái đạo đức dẫn đến hèn nhát. Những thế hệ cai quản đất nước sau này đã mấy người kinh qua những ngày gian nan mà hiểu được sự hi sinh, nên cái nghĩa của sự phấn đấu hi sinh cho đất nước mà họ nói đều sách vở và giáo điều và rất cũ kỹ. Càng nguy hại hơn khi đất nước rơi vào những con người cơ hội. Sự biến chất, suy thoái đạo đức dẫn đến hèn nhát trước kẻ thù là điều dễ hiểu.

Đó là sự im lặng của một số lớn những người có hiểu biết, cam chịu cảnh “an phận”. Bất kỳ thời nào cũng vậy, số này vẫn đông, họ lựa theo chiều gió để sống với một chút lấn cấn lương tâm nhưng rồi vì sự tồn tại của cá nhân, có thể có cả bổng lộc trong đó, họ đành tặc lưỡi cho qua. Chính những loại người này, một khi chế độ này sụp đổ, họ sẵn sàng vất bỏ để theo chế độ mới, hoàn toàn không phải vì sự tự giác, vì sự dấn thân thay đổi chế độ cũ, mà chính là vì bản năng sinh tồn của họ. Liên bang Xô-viết sụp đổ là một dẫn chứng. Chính quyền mới lên, nhưng tất cả bộ máy hành chính của nó vẫn tồn tại, quân đội và cảnh sát vẫn tồn tại trên cơ sở của chế độ cũ.

Đó là chính sách biến đám đông đảng viên và một phần quần chúng thành những kẻ mê muội chỉ biết phục tùng mệnh lệnh, tin vào những đức tin mù quáng. Nếu cuộc vận động học tập “Đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh” đạt kết quả tốt làm gì có những chuyện dùng dùi cui đánh dân, thậm chí vô cảm hơn bất nhân, bất nghĩa hơn loài cầm thú, đánh những người mẹ, người bà đã bảy tám chục tuổi… rồi vất ra quốc lộ 10.

Lịch sử đã chứng minh, hai chục triệu đảng viên của Liên Xô đâu có giữ được nhà nước Xô-viết, mấy triệu đảng viên Triều Tiên không còn là những người của nhân dân mà là công cụ, những chi tiết của cỗ máy để bảo vệ chính quyền. Tám chục triệu đảng viên Trung Quốc có giống với lũ hồng vệ binh thời “cách mạng văn hóa” ngày nào? Đối với Việt Nam, ai cũng biết, gần bốn triệu đảng viên Việt Nam không còn là những tấm gương để quần chúng noi theo mà hầu hết chỉ là một lũ cơ hội, ai cũng biết vào đảng là để được leo cao hơn trong bộ máy quyền lực rồi từ đó mong hưởng bổng lộc nhiều hơn. Những phần tử như vậy không gì đích xác hơn là một lũ cơ hội. Đất nước này không cần nhiều đảng viên như thế. Số lượng đông không chứng tỏ được đó là một đảng mạnh, cũng không cần đến những đợt học tập đạo đức Bác Hồ dài dằng dặc cả chục năm mà chẳng hề thấy chuyển biến tốt lên, chỉ là một phong trào hữu danh vô thực, tốn tiền bạc của nhân dân.

Viết đến đây lại nghĩ về một con người chân thực, người bác sĩ đi áp tải Bùi Hằng về Vũng Tầu: “Hằng để tôi đưa về nhà an toàn rồi tôi sẽ cởi bỏ quân phục này”. Viết về anh ta là để răn mình, nhắc nhở mình. Làm một người lương thiện chân chính khó lắm, nhiều cửa ải phải vượt qua lắm, đấu tranh trong lòng gay gắt lắm và đặt câu hỏi: có phải chính cơ chế của xã hội này đã tạo nên những kẻ coi dân mình là kẻ thù?
Thời gian vẫn trôi, thời cuộc sẽ thay đổi, chúng ta sẽ có điều kiện nhìn rõ bạn, thù và hiểu về nhân dân mình hơn.

© Vinh Anh
    Nguồn: Blog Trần Nhương


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Về bản lên tiếng ủng hộ Phi Luật Tân trong vấn đề tranh chấp bãi cạn Scarborough

Một nhóm trí thức Việt Nam vừa lên tiếng ủng hộ Phi trong vấn đề tranh chấp bãi cạn Scarbourough giữa nước này với Trung Quốc. Đây là một nghĩa cử "đẹp", bởi vì trong quá khứ Phi đã từng chơi xấu Việt Nam, đâm sau lưng Việt Nam nhiều lần.

Gần đây nhất, 2011, khi tàu hải giám của Trung Quốc cắt cáp tàu nghiên cứu khoa học của Việt Nam tại vùng biển chỉ cách bờ biển Việt Nam khoảng 100 Km, chính phủ Phi đã không hề lên tiếng, giới học giả Phi cũng nín lặng. Không như Việt Nam, về phương diện chính quyền và xã hội dân sự, đã lên tiếng bênh vực Phi như đã thấy hôm nay.
Bãi cạn Scarborough/ Hoàng Nham, tâm điểm tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc. Ảnh: Google
Tháng giêng 2009, Quốc hội Phi thông qua "Luật về đường cơ sở SB 2699", tuyên bố các đảo thuộc Trường Sa mà họ chiếm của Việt Nam có hiệu lực "đảo theo qui định của Luật biển 1982". Làm điều này Phi đã đâm sau lưng Việt Nam, vì các đảo của Phi thực ra là của Việt Nam. Phi muốn lợi dụng hiệu lực các đảo này để dành thêm vùng biển Trường Sa về cho họ. Trong khi phía Việt Nam, vì nhu cầu cần đồng minh, đã nhượng bộ những yêu sách chủ quyền của Phi. Nhượng bộ của Việt Nam đã không đem lại cho Phi cách đối xử hợp tình với Việt Nam.

Tháng 5 năm 2009, Việt Nam và Mã Lai, hai nước cùng đồng thuận nộp chung hồ sơ thềm lục địa của mình lên "Ủy ban thềm lục địa mở rộng" thuộc Liên hiệp quốc. Không lâu sau đó, Phi và Trung quốc, là hai nước đã phản đối hồ sơ nộp chung của Mã Lai và Việt Nam tại vùng biển phía nam biển Đông. Phản đối của Trung Quốc thì người ta không ngạc nhiên nhưng sự phản đối của Phi dĩ nhiên để lại nhiều ấn tượng không tốt đẹp trong lòng nhiều người Việt Nam. Bởi vì Phi không có lý do để phản đối Việt Nam, trong khi qua hồ sơ này, Việt Nam đã để lộ ý muốn rõ rệt nhượng bộ cho Phi những yêu sách của họ ở các đảo Trường Sa (mà nước này đã chiếm trái phép của Việt Nam).

Xa hơn, năm 2005, chính phủ Phi đã ký kết song phương với với Trung Quốc thỏa thuận "thăm dò chung – JMSU" tại một vùng biển rộng lớn thuộc Trường Sa, trong đó một phần có chồng lấn với vùng biển và các hải đảo của Việt Nam, đồng thời, quan trọng hơn cả là vùng này bao gồm luôn Reed Bank (tức Bãi Cỏ Rong). Làm việc này Phi đã thừa nhận sự hiện diện chính đáng của TQ tại vùng biển liên hệ, biến một vùng biển "không có tranh chấp" thành vùng biển "có tranh chấp" với Trung Quốc. Việc Trung Quốc có những hành vi đe dọa Phi tại khu vực bãi Cỏ Rong hiện nay, làm cho an ninh cả khu vực bị đe dọa, đều do nguyên nhân đến từ các hành động đơn phương của Phi năm 2005.

Xa hơn nữa, năm 1974, lúc Việt Nam bị Trung Quốc dùng vũ lực xâm lăng Hoàng Sa của Việt Nam, thái độ của Phi hoàn toàn không phải là thái độ của một đồng minh đáng tin cậy. Năm 1988, lúc các đảo Trường Sa của Việt Nam bị Trung quốc xâm lăng bằng vũ lực, tiếp theo là thái độ hung hăng của nước này đối với Việt Nam tại các bãi Tư Chính, Vũng Mây... Phi chưa bao giờ lên tiếng ủng hộ Việt Nam. Chỉ đến khi chính bản thân Phi bị Trung Quốc uy hiếp, bị Trung Quốc đánh chiếm đảo Vành Khăn, lúc đó Phi mới ủng hộ cho Việt Nam vào ASEAN. Tức là Phi chỉ ủng hộ cho Việt Nam chỉ khi nào họ cảm thấy bị đe dọa, hay khi có quyền lợi.

Đó là ta chưa kể đến việc Phi nhiều năm trước đã thừa cơ hội chiếm trái phép một số đảo của Việt Nam tại Trường Sa.

Bấy nhiêu đó sự việc trong tương quan ngoại giao giữa Việt Nam và Phi, người ta không thể không nhắc đến.

Đã nói ở trên, tuyên bố này là một nghĩa cử đẹp. Hy vọng trí thức Phi sẽ có hành động đáp lại tương tự, sẽ sớm lên tiếng ủng hộ Việt Nam trong vấn đề tranh chấp Hoàng Sa với Trung Quốc.
Vài ý kiến cá nhân về nội dung của bản tuyên bố, xin được viết ra đây:

Ở Điểm 1:

"Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ quyền chủ quyền và các hành động bảo vệ quyền chủ quyền của nước Cộng hòa Philippines trong khu vực Panatag Shoal."

"Hoàn toàn ủng hộ quyền chủ quyền" của Phi tại bãi cạn Scarborough thì có thể tạm chấp nhận. "Tạm", là vì chủ quyền của Phi tại đây, trên quan điểm quốc tế công pháp, thì không thuyết phục. Phi chưa hề có động thái hợp pháp nào nhằm sát nhập bãi cạn Scarbourough vào lãnh thổ nước mình.

Còn việc "hoàn toàn ủng hộ các hành động bảo vệ chủ quyền" ở đây có nghĩa là như thế nào? nếu Phi (hay Trung Quốc) sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp thì việc "ủng hộ hoàn toàn" sẽ được giải thích ra sao? Những người ký tên sẽ tình nguyện đi lính sang giúp Phi?

Điều lấy làm tiếc, bản tuyên bố ủng hộ đưa việc tranh chấp Phi - Trung tại bãi cạn Scarborough vào thẩm quyền của ASEAN, hô hào nhân dân và chính phủ các nước trong khối ủng hộ cho Phi, mà lại quên đưa tranh chấp Hoàng Sa vào nội dung bản tuyên bố.

Bang giao các nước trên thế giới là bang giao dựa trên quyền lợi hỗ tương, các bên cùng có lợi. Quyền lợi sinh ra nghĩa vụ. Các nước trên thế giới, như Hoa Kỳ, Nhật, Ấn… có quyền lợi được tự do thông thuơng trên biển Đông. Nghĩa vụ của các nước này là bảo vệ sự tự do đó. Bản tuyên bố của các trí thức Việt Nam có nội dung khẳng định nghĩa vụ của nhóm trí thức này đối với Phi trong tranh chấp Trung - Phi tại bãi cạn Scarborough. Không có quyền lợi mà phải gánh vác nghĩa vụ là điều phi lý. Tinh thần về "nghĩa vụ quốc tế" ở các trí thức Việt Nam đã cao hơn bình thường, ở mức độ bất bình thường.

Tranh chấp bãi cạn Scarborough hiện nay là "tiền" tranh chấp Hoàng Sa 1974. Ủng hộ và kêu gọi mọi người ủng hộ Phi, trong khi vấn đề của đất nước thì không thấy ai quan tâm. Không phải việc tìm cách đưa tranh chấp Hoàng Sa vào tranh chấp biển Đông là mục tiêu của Việt Nam đó hay sao?

© Trương Nhân Tuấn
    Theo Dân Luận


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Cuộc tranh giành quyền lực tại Trung Quốc

Nguyễn Bảo Tư – Tổng hợp

Trong khi đang tranh giành chủ quyền ở Biển Đông với các nước láng giềng, giới chop bu nhà nước Trung Hoa Cộng Sản (Trung Cộng) còn triệt hạ lẫn nhau để tranh giành quyền lãnh đạo tối cao. Bài viết này tổng hợp các diễn tiến đã và đang xảy ra của cuộc đấu đá trong nội bộ Đảng Trung Cộng. Các thông tin trong bài được trích dẫn từ nhiều bài khác nhau của báo The Epoch Times (Đại Kỷ Nguyên Thời Báo- vietdaikynguyen.com) và xắp xếp lại theo trình tự thời gian của các sự kiện.

Khi Vương Lập Quân (Wang Lijun) – cảnh sát trưởng thành phố Trùng Khánh chạy trốn tới Lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô [Chengdu - DCVOnline] vào hôm 06/02/2012, và Bạc Hy Lai (Bo Xilai) – Bí thư thành ủy Trùng Khánh [Chongqing - DCVOnline] truy đuổi Vương Lập Quân bằng 70 xe cảnh sát và xe bọc thép, thì những dấu hiệu đầu tiên của cuộc đấu đá giành quyền lực xảy ra trong những cấp cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã bị phơi bày trước cộng đồng quốc tế.

Kể từ khi đó, thế giới đã thoáng nhìn thấy cái cách mà giới lãnh đạo ĐCSTQ hoạt động đằng sau hậu trường. Thế giới đã có cơ hội hiểu được cơ quan khổng lồ đầy quyền lực này của ĐCSTQ – gọi là Ủy ban Chính trị và Pháp luật (PLAC) – đã vi phạm chính những luật pháp mà nó lẽ ra phải bảo vệ, như thế nào.

Cùng lúc đó, trong cuộc đấu đá nội bộ đằng sau hậu trường Trung Nam Hải [Zhongnanhai - DCVOline], những lãnh đạo cao cấp nhất của ĐCSTQ đã tập trung chú ý vào mảng đen tối nhất trong lịch sử Trung Quốc ngày nay: Đó là cuộc đàn áp Pháp Luân Công, còn gọi là Pháp Luân Đại Pháp [Falun Dafa - DCVOnline] . Cuộc đàn áp này hiện nay được cho là vấn đề cốt lõi đằng sau những cuộc đấu tranh đang diễn ra trong nội bộ cấp cao của ĐCSTQ.

Sau khi cựu chủ tịch ĐCSTQ Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) phát động cuộc đàn áp Pháp Luân Công vào ngày 20/07/1999, ông ta đã nhận ra rằng chiến dịch đàn áp của mình khó có thể duy trì. Cuộc đàn áp đó là quá phi lý, gây phản cảm cho đông đảo nhân dân Trung Quốc. Nhưng thay vì quay đầu lại, Giang đã chọn cách gia tăng đàn áp thêm nữa bằng cách trao ngày càng nhiều quyền lực hơn cho PLAC.

Khi Giang Trạch Dân trao quyền PLAC cho Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang - một trong 9 thành viên của Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị - ở trên cùng của bậc thang chính trị của Trung Quốc), thì Chu đã sử dụng Cảnh sát Vũ trang tới 15 lần một năm, và phạm vi hoạt động của cảnh sát vũ trang càng ngày càng gia tăng. Từ việc chiếm, phá dỡ nhà dân cho đến việc kiểm soát an ninh trong những buổi hội nghị, cảnh sát vũ trang đều được sử dụng rất thường xuyên. Khi quyền lực của PLAC tăng lên, thì nó đã tự chứng tỏ rằng nó có thể hoàn toàn bất chấp pháp luật.

Giang Trạch Dân sợ rằng những tội ác của ông ta trong việc đàn áp bức hại Pháp Luân Đại Pháp một ngày kia sẽ bị trừng phạt, cho nên ông ta chỉ tin tưởng những ai đồng lõa tội ác ấy với ông ta. Ông ta biết rằng các quan chức cùng nhúng tay đàn áp chung với ông ta không bao giờ có thể phản lại ông ta.

Gần đây, trang mạng WikiLeaks đã công bố một bức điện ngoại giao của Mỹ, trong đó nói thời Bạc Hy Lai còn đảm nhiệm chức Bộ trưởng Thương mại, ông ta vì “bức hại Pháp Luân Công” mà bị rất nhiều quốc gia nước ngoài khởi tố. Ngoài ra, do Thủ tướng Ôn Gia Bảo (Wen Jiabao) cực lực phản đối họ Bạc nhăm nhe chức Phó Thủ tướng, Bạc Hy Lai đã bị giáng xuống chức Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, và điều này đã đẩy Bạc ra khỏi con đường trở thành người kế nhiệm. Hơn nữa, Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao) thích người đồng đội là Lý Khắc Cường (Li Keqiang) lên nắm quyền hơn. Vì vậy Giang Trạch Dân đã ở vào thế khó từ trước Đại hội lần thứ 17 của ĐCSTQ.

Nhưng thay vì bước xuống lặng lẽ tới Trùng Khánh, Bạc Hy Lai đã tìm cách để phục hồi lại sự nghiệp chính trị của ông với các chiến dịch huy động công chúng. Tự tạo cho mình bộ mặt kiểu mẫu một Mao Trạch Đông, Bạc tổ chức ca hát hàng loạt các bài hát cách mạng và tiến hành một chiến dịch đôi khi tàn bạo đối với cá nhân bị cáo buộc là “mafia.” Các chiến dịch này là một cách để loại trừ kẻ thù chính trị và trưng thu tài sản của họ.

Vào hôm 15/4/2012, thời báo Đại Kỷ Nguyên đã xuất bản một tin tức đặc biệt từ một người trong nội bộ cấp cao ĐCSTQ, đã tiết lộ thông tin gây sốc đằng sau sự kế nhiệm của Tập Cận Bình (Xi Jinping). Nguồn tin cho biết rằng điều mà đang diễn ra bên trong nội bộ ĐCSTQ hiện nay không chỉ là cuộc đấu tranh quyền lực lẫn nhau trong ĐCSTQ, mà còn về một sự thật quan trọng bị che đậy, vốn có liên quan chặt chẽ tới mỗi người dân Trung Quốc.

Bản tin này của thời báo ĐKN cho biết rằng cuộc đấu tranh giành quyền lực căng thẳng trong ĐCSTQ thực sự là xoay quanh Tập Cận Bình. Trong thực tế Giang Trạch Dân đã bí mật chọn Bạc Hy Lai làm lãnh đạo kế tiếp của ĐCSTQ vào Đại hội lần thứ 18 chứ không phải Tập Cận Bình. Nhưng do nhiều nhân tố khác nhau bên trong ĐCSTQ, Giang Trạch Dân đã bị buộc phải chọn Tập Cận Bình làm người kế nhiệm.

Theo bản tin này, tiêu điểm của cuộc đấu đá quyền lực hiện nay giữa phe Giang Trạch Dân và phe Hồ Cẩm Đào, cũng giống như tiêu điểm của những cuộc đấu đã quyền lực trong các kỳ Đại hội ĐCSTQ lần thứ 16, 17, tất cả là để che đậy cuộc đàn áp Pháp Luân Công đã kéo dài suốt 13 năm qua và tội diệt chủng. Người bình luận thời sự Lam Thuật (Lan Shu) đã chỉ ra rằng: Phe cánh Giang Trạch Dân đã tiết lộ “thông tin” này với Bạc Hy Lai từ lâu, để tìm kiếm một lối thoát.
Lam Thuật:

“Theo các bản tin, Giang Trạch Dân đã nói chuyện với Bạc Hy Lai trong những dịp riêng tư về điều này, và rằng để tiếp tục thăng tiến trong sự nghiệp chính trị thì Bạc Hy Lai phải có một vị trí rõ ràng về vấn đề đàn áp Pháp Luân Công. Vì vậy Bạc đã dốc toàn lực để đàn áp Pháp Luân Công. Do đó phe cánh Giang đã cân nhắc sử dụng Bạc Hy Lai để trao quyền lực.”
Ông Văn Chiêu (Wen Zhao), một người bình luận thời sự khác, nói:

“Phe Giang Trạch Dân và ĐCSTQ đã lợi dụng bộ máy nhà nước để tiến hành cuộc đàn áp chống Pháp Luân Công trong nhiều năm qua. Nhưng thay vì tiêu diệt được Pháp Luân Công, thì họ giờ đây đã mắc kẹt vào tình cảnh này.”
Giang Trạch Dân rất lo lắng. Nếu người kế nhiệm mà ông ta đã chọn bị thay đổi thì cuộc đàn áp này không thể tiếp tục được. Đặc biệt là nếu người đó là người thuộc phe nhóm đối lập với ông ta, là người mà ông ta không quen thuộc hoặc là không thể kiểm soát được. Khi đó thì ông ta sẽ bị trừng phạt, điều mà ông ta hết sức lo sợ.”

WikiLeaks còn tiết lộ gần đây rằng một số lãnh đạo ĐCSTQ về hưu cũng thích Tập Cận Bình, người vốn rất thận trọng trong những việc làm của mình. Vì thế Tập Cận Bình đã được đột ngột đẩy lên trong Đại hội ĐCSTQ lần thứ 17.
Văn Chiêu nói “Tập Cận Bình không trực tiếp dính líu vào những tội ác chống lại nhân quyền. Vì vậy Giang Trạch Dân không yên tâm.”

Ông Thạch Tàng Sơn (Shi Zangsan), chuyên gia vấn đề Trung Quốc tại Washington, D.C. cho rằng, trong cuộc đấu đá nội bộ kịch liệt hiện nay của ĐCSTQ, phe Hồ Cẩm Đào – Ôn Gia Bảo muốn lấy danh nghĩa chống hủ bại, đấu tranh đường lối để đánh vỡ phe phái Giang Trạch Dân. Nhằm huy động lực lượng chính trị và đạo đức, họ đã đưa ra ánh sáng một loạt chân tướng đằng sau các tội ác như mổ cướp nội tạng để dân chúng Trung Quốc nhìn thấy Chu Vĩnh Khang, Giang Trạch Dân bao năm qua đã phạm phải tội ác khiến người dân phẫn nộ như thế nào. Ông cho rằng, dân chúng Trung Quốc nhất định sẽ yêu cầu trừng trị những kẻ phạm tội trong hệ thống chính trị-tư pháp.

Vận rủi may của Bạc Hy Lai bắt đầu lộ rõ khi người phụ tá của ông là Vương Lập Quân, vào ngày 6/02/2012, bí mật đến Lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô, một thành phố chỉ cách vài giờ từ Trùng Khánh, và tìm cách để đào thoát. Người ta nghĩ rằng các cơ quan trung ương điều tra Vương là một cách để bắt giữ Bạc. Báo cáo tiếp theo và tin đồn nói rằng Vương đã tiết lộ bí mật về Bạc, bao gồm cả một âm mưu đảo chính phức tạp được bung ra trong năm 2013, với sự giúp đỡ của những người trung kiên với Giang Trạch Dân.

Đương kim lãnh đạo Hồ Cẩm Đào có vẻ như nắm tay trên so với phe đối lập. Phe đối lập gồm có Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai, và cựu lãnh đạo Giang Trạch Dân (người có tin đồn là đã thành ‘người thực vật’). Được biết, phe của Hồ Cẩm Đào nổi lên là nhờ đàn áp Tây Tạng [Tibet - DCVONline] và Nội Mông [Inner Mongolia - DCVOnline], phe của Chu Vĩnh Khang do Giang Trạch Dân cầm đầu nổi lên là nhờ đàn áp Pháp Luân Công và mổ cắp nội tạng.

Cuộc đấu đá nội bộ hiện nay đã buộc Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đứng trước một lựa chọn. Hoặc là họ chiếm ưu thế trước phe cánh Chu Vĩnh Khang, hoặc là họ sẽ mất hết quyền lực và có thể mất mạng

Ngày 24/03/2012, trong hội nghị cấp cao ĐCSTQ, ông Ôn Gia Bảo không chỉ nhiều lần đề xuất “bình phản Lục Tứ” (cuộc thảm sát Thiên An Môn ngày 4/6/1989), mà còn đề xuất sửa lại án sai cho Hồ Diệu Bang (Hu Yaobang) và Triệu Tử Dương (Zhao Ziyang) - các cựu lãnh đạo ĐCSTQ. Ông còn động chạm tới khu vực “nhạy cảm” nhất của ĐCSTQ, đó là đề xuất “giải oan cho Pháp Luân Công”.

Theo tin tức, các đề nghị này của ông Ôn Gia Bảo đã bị phe bảo thủ trong ĐCSTQ ngăn cản. Người phản đối giải quyết oan sai cho Pháp Luân Công là Chu Vĩnh Khang, nhân vật đại biểu phe phái của Giang Trạch Dân. Hồ Cẩm Đào không đưa ra ý kiến nào.

Có nguồn tin nói rằng những người phản đối “bình phản” Hồ Diệu Bang là khá ít, còn phản đối bình phản Triệu Tử Dương lại khá nhiều. Bình phản Triệu Tử Dương, tất nhiên cũng phải sửa lại án oan cho cuộc thảm sát Thiên An Môn. Bình phản Hồ Diệu Bang, sở dĩ số người phản đối khá ít, là vì những nguyên lão cấp cao ĐCSTQ phản đối Hồ Diệu Bang đều đã qua đời rồi. Tuy nhiên, rất nhiều đại nhân vật phản đối sửa án oan cho Triệu Tử Dương thì vẫn còn sống, như Lý Bằng và Giang Trạch Dân, v.v.

Theo nguồn tin, trong hội nghị nội bộ tại Trung Nam Hải, ông Ôn Gia Bảo nói: “Không cần thuốc mê, mổ lấy nội tạng sống, còn đem bán lấy tiền, đây là việc làm của con người ư? Sự tình loại này xảy ra đã nhiều năm rồi, chúng ta sắp về hưu rồi, vẫn còn chưa giải quyết…” và “Hiện tại lòi ra sự kiện Vương Lập Quân, cả thế giới đều biết hết rồi, cần xử lý sao đây?”

Vậy Vương Lập Quân đã hé lộ điều gì mà khiến cho ĐCSTQ phải lúng túng?
Vương Lập Quân đã vạch trần ra rằng Bạc Hy Lai đã ép buộc đội của ông ta làm rất nhiều “những việc không thể tưởng tượng nổi”. Lam Thuật phân tích rằng: dựa trên lời khai và nhiều tài liệu về việc mổ cắp nội tạng, thì điều mà Vương nói là “những việc không thể tưởng tượng nổi” ấy không chỉ là những cuộc đấu đá tranh giành quyền lực và nạn tham nhũng.

Bạc Hy Lai là Thống đốc tỉnh Liêu Ninh [Liaoning - DCVOnline] từ 2000-2004. Việc áp bức thu hoạch nội tạng từ các học viên Pháp Luân Công đã được phát hiện lần đầu tiên vào năm 2006 tại Liêu Ninh, tỉnh thành đã được gọi là “tâm chấn” [epicenter - DCVOnline] của mổ cắp nội tạng ở Trung Quốc.
(Từ trái sang, từ trên xuống): Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo, Tập Cận Bình, Vương Lập Quân, Giang Trạch Dân, Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai
Nguồn ảnh: Onthenet
Hồi năm 2006, 3 năm sau khi trở thành Giám đốc Sở Công an Thành phố Trùng Khánh, tỉnh Liêu Ninh, Vương Lập Quân đã được trao một giải thưởng – nhưng không phải là vì phòng chống tội phạm. Vương đã thực hiện một nghiên cứu tiên phong về cách tốt nhất để cấy ghép nội tạng lấy từ các tù nhân – những người có thể là vẫn còn sống khi các nội tạng của họ bị lấy đi – và đã mài dũa các kỹ thuật của mình trong hàng ngàn cuộc thử nghiệm thật.

Năm 2006, luật sư cố vấn của tổ chức B'nai Brith Canada, ông David Matas, nói. “Trước kia Trung Quốc thường hay xử bắn, rồi họ chuyển từ bắn chết sang tiêm thuốc. Trên thực tế, họ không giết chết bằng cách tiêm thuốc, mà họ làm cho tê liệt bằng cách tiêm thuốc, và lấy các nội tạng ra trong khi cơ thể vẫn còn sống.” [Xem thêm chi tiết “An Independent Investigation Into Allegations of Organ Harvesting of Falun Gong Practitioners in China của David Matas, Esq. and Hon. David Kilgour, Esq. - DCVOnline]

Khi một nội tạng được lấy từ một cơ thể vẫn còn sống thì nó tươi hơn và tỷ lệ đối kháng lại cơ quan nội tạng là thấp hơn. “Có thể lấy tạng ngay sau khi nạn nhân bị chết não, nhưng phức tạp hơn nhiều,” ông Matas nói. “Sự xuống cấp (suy thoái) của tạng là rõ thấy hơn một khi họ bị chết não, nhưng nếu giữ cho cơ thể vấn sống thông qua các loại thuốc thì có thể cấy ghép các nội tạng trong một khoảng thời gian lâu hơn.”

Vương Lập Quân đã ở trong Lãnh sự quán Mỹ gần 30 tiếng đồng hồ. Cuộc đối thoại của Vương với các viên chức lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô có thể làm sáng tỏ các chi tiết như chức năng của các loại thuốc mà ông ta đã dùng trong các ca phẫu thuật cấy ghép ở tỉnh Liêu Ninh. Việc Vương đến lãnh sự quán Mỹ đã đem lại cơ hội tốt nhất từ trước đến nay để có xác nhận từ một quan chức Trung Cộng về việc cưỡng bức mổ lấy nội tạng đang tiếp diễn ở Trung Hoa Lục Địa.

Ngoài ra theo Vương, doanh nhân Heywood, người có nhiều năm sống tại Trung Quốc và là một người bạn của gia đình Bạc Hy Lai, đã bị nhốt trong phòng khách sạn ở Trùng Khánh và bị ép uống một chất độc. Sau đó sau khi bị Vương điều tra, bà Cốc Khai Lai (Gu Kailai, vợ ông Bạc Hy Lai), được cho là đã nhận tội. “Bà Cốc nói ‘Tôi đã làm điều đó’ 3 lần với ông Vương”. Một nguồn tin ngoại giao biết về bản giải trình của Vương, cho hay. “Đó là một cảnh tượng đáng sợ. Heywood đã đổ cyanide đi và họ lại đưa cho ông ấy nhiều hơn”.

Sau cái chết của doanh nhân Heywood và vụ việc cựu Giám đốc Cơ quan Công an Trùng Khánh Vương Lập Quân trốn vào Đại sứ quán Mỹ, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã quyết định loại trừ Bạc Hy Lai ra khỏi Bộ Chính trị và Ủy ban Trung ương Đảng vì ông này bị nghi có liên quan đến những hành vi vi phạm kỷ luật đảng nghiêm trọng.

Có thể nói nguyên nhân ngã ngựa của Bạc Hy Lai không phải chỉ vì tham nhũng, và cũng không phải vì chuyện để cho vợ giết người (Nei Heywood). Đó chỉ là những lý do phụ. Lý do chính là những mâu thuẫn trong nội bộ thành phần lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc.
Báo The New York Times tiết lộ, theo nhiều nguồn tin đáng tin cậy ở Trung Quốc, lâu nay Bạc Hy Lai và Vương Lập Quân có thói quen nghe lén tin tức của mọi người trong địa phương, đặc biệt những người họ thấy có thể gây nguy hiểm cho họ, từ các luật sư đến các nhà đấu tranh cho dân chủ, từ những doanh nhân đến các cán bộ không cùng phe cánh, v.v. Tất cả đều bị theo dõi chặt chẽ. Biện pháp theo dõi phổ biến nhất là nghe lén điện thoại.

Người ta kể nhiều người có chút máu mặt ở Trùng Khánh không bao giờ dám dùng điện thoại nhà hay điện thoại văn phòng để nói chuyện với nhau. Với những vấn đề tương đối “nhạy cảm” chút xíu, người ta đều dung các thẻ điện thoại dưới tên người khác, những người hoàn toàn vô danh. Ngay cả như vậy, nói chuyện với nhau, cũng không ai dám nhắc đến tên của Bạc Hy Lai hay Vương Lập Quân. Nhắc, chỉ nhắc đến tên thôi, cũng có thể gây chú ý ngay tức khắc.

Có điều là, cái tội của Bạc Hy Lai và Vương Lập Quân là đã vượt quá giới hạn mà đảng Cộng sản cho phép: Họ nghe lén (và thu băng) cả điện thoại của giới lãnh đạo cao cấp thuộc chính quyền trung ương, trong đó có cả Hồ Cẩm Đào, chủ tịch Đảng và chủ tịch nhà nước. Chính các nhân viên an ninh kỹ thuật của Hồ Cẩm Đào đã phát hiện ra vụ thu băng và nghe lén này. Nhiều nhà bình luận chính trị cho đó mới là nguyên nhân thực sự dẫn đến sự sụp đổ con đường danh vọng ngỡ như đang thênh thang rộng mở của viên bí thư thành ủy Trùng Khánh. Sự việc không dừng lại ở đây.

Ngày10/4/2012, bà Cốc Khai Lai (Gu Kailai) đã bị bắt– cùng ngày với ngày chồng bà Bạc Hy Lai bị sa thải khỏi chức bí thư đảng ủy Trùng Khánh. Bà Cốc có nhiều khả năng bị kết tội sát nhân công dân Anh và là người bạn của gia đình, ông Neil Heywood.

Theo nguồn tin online Boxun (Bác Tấn Tân Văn - boxun.com) vào thứ năm 16/4/2012, nói rằng Cốc Khai Lai đã tiết lộ một kế hoạch đảo chính chống lại lãnh đạo mới nổi Tập Cận Bình. Bà Cốc có vẻ như nói Chu là ông trùm đứng sau vụ đảo chính, gọi Chu là “trứng thối” của ủy ban trung ương bộ chính trị của đảng cộng sản Trung Quốc. Theo nhà phân tích chính trị He Anquan cho rằng có nhiều khả năng chính Cốc Khai Lai đã đưa ngược bằng chứng chống lại Chu Vĩnh Khang vì đó là điểm chung giữa các quan chức trong đảng để tự cứu lấy mình.

He Anquan nói: “Do đó khi mà họ đang bị bất lợi chính trị, họ sẽ cố gắng bằng mọi cách để cứu mạng họ. Họ làm việc này thông qua ‘tự phê bình’ và phơi bày kẻ khác để trao đổi lấy khoan hồng. Trong cái hệ thống này, người ta nằm xuống và cán qua nhau, giống cũ như những que củi bỏ xó, căn bản là không còn đạo đức và tự trọng gì cả. Không có gì mà họ sẽ không làm.”

Các nhà phân tích tin rằng bệ đỡ cho Chu Vĩnh Khang đã bị lấy đi. Theo một chuyên mục về câu chuyện ngày Chủ nhật của tờ Financial Times tiếng Anh tại Bắc Kinh, quyền điều hành bộ máy an ninh công cộng khổng lồ của chế độ đã bị đoạt lấy khỏi tay Chu Vĩnh Khang và được giao lại cho Mạnh Kiến Trụ (Meng Jianzhu), nguyên là Bộ trưởng An ninh Công cộng.

Báo Đại Kỷ Nguyên đưa tin rằng Hồ Cẩm Đào đã khẳng định trong một cuộc họp rằng cần phải điều tra Chu Vĩnh Khang và cuộc điều tra phải tiến hành “công bằng” nhưng “kín”. Cách xử lý họ Chu như thế này được biết đến với tên gọi “từ từ luộc ếch”!

Nỗ lực đào ngũ của Vương Lập Quân là một đảm bảo chắc chắn cho sự sụp đổ của Bạc Hy Lai và kẻ bảo vệ cho Bạc là Chu Vĩnh Khang. Vương được cho là đã tiết lộ kế hoạch đảo chính của Bạc và Chu để hạ bệ lãnh đạo kế nhiệm của Trung Quốc là Tập Cận Bình. Kế hoạch của Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng (Zeng Qinghong) đang được Bạc và Chu tiến hành trôi chảy. Nhưng sự kiện Vương Lập Quân chạy sang Lãnh sự quán Mỹ đã phơi bày âm mưu đó ra, và toàn bộ kế hoạch đã sụp đổ.

Sau vụ Vương Lập Quân chạy vào Lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô thì cuối tháng Tư/2012 xảy ra vụ luật sư mù Trần Quang Thành (Chen Guangcheng) vượt tù, chạy đến Đại sứ quán Mỹ tại Bắc Kinh. Tuy nhiên, Ngày 2/5/2012 ông Trần đã bị đe dọa rằng nếu không rời khỏi Đại sứ quán, vợ và các con ông sẽ bị đưa đến tỉnh Sơn Đông [Shandong - DCVOnline], nơi mà họ chắc chắn sẽ bị ngược đãi. Việc cưỡng chế đặt Hoa kỳ trong một vị thế khó xử, sẽ bị cáo buộc là phản bội ông Trần. Theo các nhà phân tích, những đe dọa nhằm vào luật sư mù Trần Quang Thành có thể là do Giám đốc An ninh Chu Vĩnh Khang tạo ra với toan tính gây khó khăn cho các cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

AFP dẫn nguồn Tân Cương nhật báo cho biết: Vương Lập Quân, sẽ bị đưa ra xét xử với tội danh phản quốc. Phiên tòa dự trù mở ra vào tháng Sáu tới đây. Còn Chu Vĩnh Khang sẽ là đại biểu của khu tự trị Tân Cương đi dự đại hội Đảng sắp tới, cho dù đã bị 16 cán bộ lão thành ĐCSTQ đề nghị cách chức trong một lá thư ngỏ.

Nhìn về Việt Nam

Cuộc đấu đá tranh giành quyền lực trong nội bộ Đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ ảnh hưởng như thế nào đến Việt Nam?

Trung Cộng đang ở trong một tình thế cực kỳ chênh vênh với nhiều khủng hoảng: kinh tế suy thoái, sự bất mãn ngày càng gia tăng của người dân mọi tầng lớp, sự đấu tranh đòi tự trị của Tân Cương [Xinjiang - DCVOnline], Nội Mông, Tây Tạng, và bây giờ là sự đấu đá quyết liệt giữa các phe phái trong nội bộ Đảng. Có ý kiến cho rằng để hướng sự chú ý của người dân Hoa Lục ra khỏi những bất ổn bên trong, nhà cầm quyền Bắc Kinh sẽ gia tăng áp lực trên Biển Đông. Đó là cách thổi phồng lòng tự tôn dân tộc trong chiêu bài “đoàn kết nhất trí” chống giặc ngoại xâm.

Mưu đồ này làm liên tưởng tới Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt. Sau ngày 2/9/1945. Việt Nam trở thành quốc gia độc lập thật sự, mà kẻ thù chính là thực dân Pháp còn ở xa. Với Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946 Hồ Chí Minh đã mời quân Pháp vào chiếm đóng Hà Nội và nhiều tỉnh miền Bắc. Những người chống Pháp thuộc các đảng phái khác vì nóng lòng vì độc lập tự do nên đã “đoàn kết trong mặt trận Việt Minh”, để rồi tất cả chịu chung số phận oan nghiệt. Ngày nay, trước sự đòi hỏi tham lam của Trung Cộng về đường “lưỡi bò”, nhà cầm quyền Hà Nội cũng nêu chiêu bài “đoàn kết nhất trí”, nhưng sự thực họ vẫn bắt giam những ai công khai lên tiếng chống Trung Cộng xâm lược.
Điều này cho thấy không thể tin vào những gì cộng sản nói dù đó là Việt Cộng hay Trung Cộng.

Trong tình hình khủng hoảng trầm trọng như hiện nay, cả Đảng CS Việt Nam lẫn Đảng CS Trung Quốc đều đang dương cao chiêu bài “đổi mới”, nhưng thay vì đổi mới bằng cách trả lại những quyền căn bản cho người dân thì chỉ tìm cách quy chụp tội lỗi cho một phe và tìm cách trừ khử phe đó, rồi rêu rao là mình đã ra tay “trừ gian diệt bạo”. Người dân hai nước, Trung Hoa và Việt Nam, cần tỉnh táo để không mắc bẫy thêm một lần nữa. Cuộc đấu tranh ngày nay phải là đấu tranh đòi lại các quyền tự do: tự do báo chí, tự do lập hội, tự do tín ngưỡng,… để tiến tới giải thể hoàn toàn chế độc tài Cộng Sản.

Xem thêm Insider's Shocking Information On Xi's Succession

©
Nguyễn Bảo Tư
Theo DCVOnline


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều