05/19/12 - VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Em không phải là hạng gái nhơ nhớp thấp hèn (I)

Đăng bởi Biên tập viên vào Thứ bảy, ngày 19 tháng năm năm 2012

Đây là bài viết sau khi đọc qua hai luận văn nghiên cứu điền dã về khu kinh tế mại dâm tại Thành phố Hồ Chí Minh (Tp HCM) của tiến sĩ Kimberly Kay Hoang, người vừa được Hội Xã hội học Hoa Kỳ (The American Sociological Association, ASA) chấm giải “Luận án hay nhất” năm 2012.

Người viết đã đọc để biết và viết để hiểu thêm cùng giới thiệu lại những kết quả và nhận định của tác giả một công trình nghiên cứu rất đáng chú ý về một góc nhỏ của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện đại.

Hai báo cáo, “Economies of Emotion, Familiarity, Fantasy, and Desire: Emotional Labor in Ho Chi Minh City’s Sex Industry”(1) và “She's Not a Dirty Low Class Girl: Sex Work in Ho Chi Minh City,” (2) là những công trình đã đoạt giải luận văn sinh viên cao học tại các đại học Cornell (2008), UC Berkeley (2010) và những giải thưởng khác cuả ASA và giải Cheryl Allyn Miller, Những nhà Xã hội học cho Phụ nữ trong Xã hội (2011). Tác giả Kimberly Hoàng tốt nghiệp cử nhân về Communication & Asian American Studies tại đại học UC Santa Barbara và theo học Xã hội học tại đại học Stanford trước khi hoàn tất học trình tiến sĩ Xã hội học (chú trọng về phụ nữ, giới tính và tình dục) tại đại học UC Berkeley.
Tác giả Kimberly Kay Hoang, Ph.D., Nguồn ảnh: sociology.rice.edu
- Không phải phụ nữ bán dâm nào cũng là người trong giới nghèo hèn;
- Phụ nữ bán dâm, tùy hoàn cảnh, đã biết khai thác tối đa tất cả tiềm năng có sẵn, từ trình độ văn hóa, tiền bạc, đến xác thịt, để hành nghề;
- Quan hệ giữa kẻ bán-người mua (dâm) là một sự trộn lộn chuyện mây mưa với tiền và cả “tình”. Nghĩa là ngoài phần lao động thể xác (đổi sex lấy tiền) phụ nữ bán dâm ở Tp HCM còn có phần lao động tình cảm (theo thuyết của Arlie Hochschild).

Phương pháp nghiên cứu

Với sự chấp thuận của Đại học Stanford năm 2006 và UC Berkeley năm 2007, tác giả đã thực hiện bảy tháng nghiên cứu điền dã trong lĩnh vực dân tộc học - chia làm ba lần - từ giữa tháng 6 năm 2006 đến tháng 8 năm 2007 tại thành phố Hồ Chí Minh. Để bảo vệ người hành nghề và khách mại dâm, đại học Stanford và UC Berkeley yêu cầu tác giả phải có lời đồng ý của những người nhận tham gia vào cuộc nghiên cứu.

Tại địa bàn nghiên cứu, tác giả đã quan sát, thu gặt dữ liệu như người trong cuộc (participant observation) bằng các cuộc phỏng vấn, sinh hoạt với phụ nữ hành nghề và khách mua dâm ở quán bar, cà phê, nhà riêng, tiệm ăn, trung tâm mua sắm và trên đường phố trong ba khu mại dâm phân tầng rõ rệt - hạ, trung và cao cấp.

Tất cả phụ nữ hành nghề, tham gia vào cuộc nghiên cứu này đều trên 18 tuổi, tự ý chọn làm việc độc lập trong khu vực mại dâm; họ không phải là những phụ nữ hay trẻ vị thành niên bị mua bán hay ép buộc buôn bán tình dục.

Một điểm đặc biệt, dù trá hình cơ sở hoạt động là những tiệm hớt tóc, hay quán bar, hoặc đóng vai nhân tình với khách hàng tất cả những phụ nữ hành nghề mại dâm đều gọi họ là “gái đi khách” thay vì là gái điếm hay gái mại dâm vì nghề mại dâm không được phép hoạt động tại Việt Nam.

Ba khu vực được tác giả chú trọng đến là khu mại dâm dành cho đàn ông Việt Nam ít tiền, khu mại dâm dành cho khách người da trắng nước ngoài, và khu vực mại dâm dàng riêng cho đàn ông Việt Kiều. Lý do những vùng mại dâm này được chọn làm địa bàn nghiên cứu vì quan hệ khách-gái đi khách ở những khu vực đó đều xảy ra ở nơi công cộng, dễ quan sát, và hoạt động ở đó cũng là phần lớn của kỹ nghệ mại dâm tại Tp HCM.

Tác giả cũng đã trở lại Tp HCM 15 tháng trong khoảng 2009-2010 để nghiên cứu về quan hệ khách-gái đi khách trong các không gian riêng tư và kín đáo hơn như tại các quán karaoke dành cho đại gia Việt Nam và các doanh nhân châu Á.

Trong đợt nghiên cứu đầu, tác giả đã thực hiện 13 cuộc phỏng vấn chính thức với 7 khách mua dâm cùng 6 gái đi khách và đã gặp một số khó khăn khi dùng phương pháp phỏng vấn chính thức; dễ hiểu vì phụ nữ mại dâm thường không chịu trả lời phỏng vấn; tuy nhiên họ đã đồng ý để tác giả đi theo, quan sát sinh hoạt thường ngày của họ. Hơn nữa, tác giả cho biết, cả khách và gái đi khách không phải lúc nào cũng thành thật nói tại sao họ lại chọn hành nghề mại dâm hay quan hệ thực sự giữa gái đi khách và khách mua dâm.

Thí dụ, gái đi khách cao cấp thường nói họ vào nghề vì nghèo túng nhưng sự thật, khi tác giả theo đến tận nhà, thì biết họ thuộc những gia đình khá giả ở địa phương và ngay cả khi so sánh với tiêu chuẩn thế giới.

Đối với tác giả, phương pháp “quan sát như người trong cuộc” (participant observation) là yếu tố quan trọng nhất đã giúp tác giả ghi nhận kỹ càng để nghiên cứu về quan hệ phức tạp giữa những người mua và kẻ bán dâm.

Tác giả bắt đầu bằng cách bỏ thời gian lai vãng các quán bar và hè phố địa phương để làm quen với phụ nữ hành nghề, khách mua dâm cũng như các chủ quán. Giai đoạn hai là lúc phương pháp “quan sát như người trong cuộc” được áp dụng triệt để song song với những cuộc phỏng vấn không chính thức với những phụ nữ hành nghề mại dâm đã đồng ý tham gia vào cuộc nghiên cứu.

Là phụ nữ gốc Việt sống ở nước ngoài đã giúp tác giả dễ dàng hơn để làm quen, hỏi chuyện các phụ nữ hành nghề mại dâm. Họ thường tránh đàn ông với những câu hỏi tìm tòi vì cho đó là công an chìm đang làm việc. Dù biết tác giả là người nghiên cứu sống ở nước ngoài và sẽ viết lại về mình nhưng tất cả các phụ nữ mại dâm đêu không quan tâm; ngược lại họ để ý và muốn biết về tác giả và đời sống của tác giả ở Mỹ ra sao.

Về phía khách mua dâm, dù tất cả đều biết tác giả là người làm nghiên cứu ở Hoa Kỳ nhưng ngoại kiều da trắng và Việt kiều tỏ ra cởi mở hơn đàn ông Việt Nam trong nước khi giao tiếp với tác giả.

Trong thời gian nghiên cứu điền dã tác giả đã làm bạn với hai người lái xe ôm Việt Nam là Cường và Lộc - hai người đã hướng dẫn tác giả đi vào khu mại dâm cấp thấp nhất và làm thế nào để ứng xử thích hợp với khách mua dâm và phụ nữ hành nghề trong khu vực đó.

Trong bảy tháng nghiên cứu, mỗi tuần tác giả làm việc, quan sát tại hiện trường ba ngày, và để ba ngày ghi chép lại dữ liệu và nhận định. Sinh hoạt của tác giả thường bắt đầu bằng những buổi sáng ở những tiệm hớt tóc cũng là nhà chứa cho phụ nữ mại dâm cấp thấp hành nghề; và những buổi ăn trưa hay đi mua sắm với khách mua dâm và phụ nữ mại dâm ở bậc trung và cấp cao. Tác giả trao đổi bằng tiếng Việt với khách mua dâm và phụ nữ hành nghề mại dâm cấp thấp. Trong khu vực mại dâm trung và cao cấp tác giả sử dụng cả tiếng Anh và tiếng Việt với khách và gái đi khách.

Tất cả ghi chép của tác giả đều bằng Anh ngữ và không dùng tên thật để phòng khi giới chức tránh địa phương muốn kiểm tra máy tính.

Dữ kiện tác giả trình bày trong luận căn dựa trên những quan sát và các phỏng vấn chính thức với 54 phụ nữ mại dâm và 26 khách hàng. Trong đó là 12 phụ nữ mại dâm và bốn khách hàng trong khu vực thấp, 31 gái đi khách và 15 khách mua dâm trong khu vực hạng trung, và 11 phụ nữ mại dâm và 7 khách hàng trong khu mại dâm cao cấp.

Sau cùng, tác giả trình bày và phân tích ba trường hợp điển hình về mối quan hệ tình dục, liên đới, và riêng tư giữa khách hàng và phụ nữ mại dâm trong ba khu vực phân tầng trong kỹ nghệ tình dục tại Tp HCM.

Mại dâm tại Việt Nam - Bối cảnh lịch sử

Theo tác giả Kimberly Hoàng, kỹ nghệ mại dâm hiện đại tại Đông Nam châu Á đã phát triển nhanh từ thời thuộc địa Pháp và trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam với sự thiết lập các căn cứ quân sự tại nhiều nơi khác nhau trong vùng. Tình trạng này ban đầu đã giúp tạo nên hình ảnh phụ nữ Á châu là những người đàn bà ngoan ngoãn và đẹp kỳ lạ.
Ngoan ngoãn và đẹp kỳ lạ - Việt Nam thời Pháp thuộc, Nguồn ảnh: OntheNet
Nghề mại dâm tại Việt Nam phát triển theo sự thuộc địa hóa mãnh liệt của Pháp tạo ra một khu vực mới để phục vụ đàn ông thực dân. Trước thời là thuộc địa của Pháp, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp; sự phát triển các trung tâm đô thị lớn hội tụ các cơ quan hành chính, thương mại, và tài chánh của chính phủ thực dân đã làm đảo lộn cấu trúc kinh tế, thuận lợi cho nghề mại dâm phát triển. Bị ảnh hưởng nhiều nhất trong thời thuộc địa là khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn - nơi từng được gọi là “Hòn ngọc Viễn Đông”. Dân số tại đây vụt tăng từ 13.000 người năm 1883 lên đến 250.000 người năm 1932. Tại những thành phố giống như Saigon, chính phủ thực dân cố gắng đưa ra những đạo luật nhằm kiểm soát nghề mại dâm bằng cách buộc phụ nữ hành nghề mại dâm phải ghi danh với chính phủ quận lỵ. Lý do cơ bản để chính quyền Pháp ban hành luật gắt gao để bao vệ đàn ông thực dân không bị vướng vào các bệnh hoa liễu. Tuy nhiên, những luật lệ đó đã hoàn toàn thất bại vì những chủ nhà thổ thường là các tổ chức bí mật. Những ổ điếm thường được trá hình là những quán cà phê, nhà hút thuốc phiện, hay quán nhậu khiến việc kiểm soát nghề mại dâm trở nên rất khó khăn.
Bar - Saigon, Việt Nam trước 1975, Nguồn ảnh: OntheNet
Trong chiến tranh Việt Nam, chính sách của Bộ Quốc Phòng Mỹ lúc bấy giờ là ngăn chận mại dâm bất cứ khi nào có thể. Tuy nhiên, tập tục xã hội Mỹ trong những năm 1960 đã trở nên bớt căng về vấn đề sinh dục. Đến năm 1966, tại Saigon có hơn 1000 quán bar, hơn 100 hộp đêm và có ít nhất 30 vũ trường. Khi số binh sĩ Mỹ tham chiến tại Việt Nam tăng thì nhu cầu mại dâm cũng tăng theo. Có khoảng 1/2 triệu lính Mỹ và binh sĩ Việt Nam năm 1967, cùng lúc có độ vài trăm ngàn phụ nữ làm việc trong kỹ nghệ mại dâm. Đường phố Saigon, cạnh các căn cứ và cư xá quân sự, dày đặc những quán bar để phục vụ khách hàng gần như toàn là đàn ông Mỹ.

Sài Gòn sụp đổ vào 30 tháng Tư 1975 và sau đó đổi tên là Tp HCM. Dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa, chính quyền cộng sản đề ra những chương trình “phục hồi nhân phẩm” nhằm loại trừ nghề mại dâm. Sau hơn 10 năm suy sụp về mặt sản xuất, lạm phát gia tăng, nhà nước CHXHCN Việt Nam đã đề ra một chính sách cải cách gọi là Đổi Mới - chuyển đổi Việt Nam XHCN thành một quốc gia theo nền kinh tế thị trường (định hướng xã hội chủ nghĩa); có nghĩa là Việt Nam vẫn giữ lại chế độ chính trị một đảng cầm quyền. Từ đó, Tp HCM trở thành một địa điểm có lưu lưu lượng cao về tư bản và người nước ngoài. Nổi tiếng là “Vùng kinh tế Miền Nam”, kinh tế Tp HCM chiếm 35% tổng sản lượng quốc gia. Năm 2006, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Tác giả Kimberly Hoàng xếp Tp HCM vào hạng một thành phố quốc tế đang lên thay vì là một thành phố toàn cầu vì vẫn chưa có một hệ thống giao thông cao cấp, một sàn giao dịch chứng khoán tầm cỡ quốc tế, và có ảnh hưởng trên thế giới.

Đây chính là luận điểm của tác giả cho rằng Tp HCM là thành phần ven biên của thị trường tư bản toàn cầu; ở đó cấu trúc xã hội và kinh tế ngày càng bị ảnh hưởng do sự toàn cầu hóa từ ngọn - do lưu lượng người và vốn nước ngoài vào Việt Nam - và sự áp dụng chủ nghĩa vượt phạm vi quốc gia từ gốc. Người Việt Nam trong nước nắm bắt những quan hệ, mốc nối từ ngoài để sinh tồn hoặc nâng cao mực sống là những người đang áp dụng chủ nghĩa vượt phạm vi quốc gia từ gốc.

Suốt 20 năm qua ít ai để ý đến độ phát triển của nghề mại dâm tại Việt Nam. Trên thực tế, nghề mại dâm đã lập tức tăng cao ngay sau khi chính sách Đổi Mới đước áp dụng, Hiện nay có khoảng 200.000 phụ nữ Việt Nam đang hành nghề trong kỹ nghệ mại dâm.

Còn tiếp....

© Trần Giao Thủy
Theo DCVOnline
----------------------

----------------------

(1) Kimberly Kay, Hoang, Economies of Emotion, Familiarity, Fantasy, and Desire: Emotional Labor in Ho Chi Minh City’s Sex Industry, Sexualities 13(2): 255-272. 2010.
(2) Kimberly Kay, Hoang, She's Not a Dirty Low Class Girl: Sex Work in Ho Chi Minh City, Journal of Contemporary Ethnography 40(4): 367-396. 2011.





* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Chia sẻ cùng người dân Văn Giang mất đất

1. Vại bia Ecopark

Những người uống bia hơi ở Hà Nội thời bao cấp thiếu thốn, nghèo khổ hẳn còn nhớ: Để được mua một suất hai vại bia hơi thì phải mua kèm đĩa nộm đu đủ hoặc đĩa củ kiệu, đĩa đậu rán. Ngày hè cháy khát, người nghiền men bia hơi Hà Nội cần uống bia chứ không cần ăn nộm. Nhưng nhiều người vẫn phải mua đến hai, ba đĩa nộm để được uống bốn hoặc sáu vại bia hơi. Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng, Vihajico, hứa hẹn làm một đoạn ngắn của con đường nối Hà Nội với thành phố Hưng Yên cũng chỉ là lời hứa mua đĩa nộm để được uống những vại bia ngây ngất Ecopark.

Vại bia Ecopark không phải chỉ làm Vihajico ngây ngất mà còn làm nhiều người say sưa, mê mẩn và người ta đã vắt chân lên cổ hoàn thành thủ tục giấy tờ để có mảnh đất vàng Văn Giang dựng lên Ecopark với tốc độ thần kì:

. Ngày 28. 06. 2004 Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên kí tờ trình số 704 / TT-UB xin Chính phủ giao đất. Tờ trình xin đất làm đường nhưng trong đất được giao làm đường có đất Ecopark, và đất Ecopark mới là mục đích chính của tờ trình số 704 / TT-UB. Nói có sách, mách có chứng: Sau khi có quyết định giao đất thì chủ đầu tư hối hả triển khai thực hiện dự án Ecopark, trưng phối cảnh khu dân cư tráng lệ, lung linh, thiên đường Ecopark, rầm rộ quảng cáo rao bán căn hộ Ecopark, trang điểm lộng lẫy, cao sang cho Ecopark bằng cách đôn đáo chạy cho Ecopark cái Giải thưởng Kiến trúc Xanh. Còn đoạn đường kéo kinh kì dập dìu lại gần Phố Hiến đang thay da đổi thịt, đoạn đường đó đi qua Ecopark sẽ càng làm tăng giá trị của Ecopark nhưng nó chỉ là món nộm đu đủ đi kèm vại bia Ecopark, không phải hàng hóa kinh doanh, không có lợi nhuận thì cứ từ từ!

. Ngay hôm sau, ngày 29. 06. 2004, Bộ Tài nguyên Môi trường kí tờ trình số 99 / TTr-TNMT gửi Chính phủ đồng thuận với việc xin giao đất của Hưng Yên. Vì thế khi Hưng Yên phải cầu cứu tới hàng ngàn cảnh sát chiến đấu của Bộ Công an và huy động cả côn đồ xã hội đen tại chỗ cưỡng chế chiếm đoạt mảnh đất sống của người dân Văn Giang thì ông cựu Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, người đã kí tờ trình số 99 / TTr-TNMT vào hùa với tỉnh Hưng Yên cướp đất của nông dân Văn Giang liền nói rằng việc cưỡng chế là đúng pháp luật! Vì vừa nhắc đến chính quyền Hưng Yên phải huy động cả côn đồ xã hội đen vào việc giành giật đất sống của dân giao cho Vihajico nên cần chỉ rõ rằng vụ hành hung man rợ hai nhà báo đến chứng kiến cuộc cưỡng chế như bầy thú hoang cắn xé một con mồi đơn độc yếu ớt thì chỉ côn đồ, xã hội đen mới hành xử như vậy.

. Chỉ một ngày sau đó, ngày 30. 06. 2004, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng kí quyết định giao cho Hưng Yên đầy đủ diện tích đất mà chủ đầu tư đã chấm ở Văn Giang. Quyết định giao đất ra đời vội vã đến mức văn bản cấp Chính phủ giao quyền sử dụng hàng trăm hecta đất mà quên cả ghi hiệu lực thi hành.

Thực tế nền hành chính đại trì trệ ở nước ta, người dân đã đáp ứng mọi đòi hỏi của thủ tục giấy tờ và chỉ lên cấp quận gần gũi xin giấy chứng nhận quyền sử dụng vài chục mét vuông đất ở, nhà ở mà họ đang sử dụng và thực tế họ đã sử dụng từ lâu, cũng phải chầu trực cả ngày mới được cái hẹn rồi đi tới đi lui từ cuộc hẹn này sang cuộc hẹn khác, từ tháng này sang tháng khác vẫn chưa xong. Vậy mà công ty tư nhân Vihajico xin quyền sử dụng hàng trăm hecta đang là đất sống ổn định từ lâu đời của hàng ngàn hộ dân, thực tế là xin được quyền cướp đất của dân mà chỉ hôm trước hôm sau đã có đủ các dấu son cần có.

Hôm trước có dấu son của tỉnh. Hôm sau có dấu son của bộ chủ quản đất. Hôm sau nữa có dấu son của Chính phủ. Mỗi ngày qua nhẹ nhàng, gọn ghẽ, ngon ơ một cửa ải cấp quốc gia, sừng sững kín cổng cao tường. Chỉ ba ngày có ngay cái giấy được quyền cướp đất sống của dân. Tốc độ thần kì, không bình thường đó, chỉ một mình Vihajico không thể làm được! Chỉ nhìn vào tiến độ thời gian nhanh đến không tưởng giúp chủ đầu tư Vihajico có được mảnh đất vàng Văn Giang cũng thấy rõ những ai, những cửa quan nào có ân tình với Vihajico, có phần, có suất ở mảnh đất vàng Văn Giang, những ai được hả hê uống vại bia Ecopark.

2. Nhà giầu núp bóng nhà nước cướp đất sống của nhà nghèo Văn Giang

Vihajico là đơn vị kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Vihajico vẽ ra dự án nọ, dự án kia để được có mảnh đất vàng Văn Giang cũng chỉ để tìm kiếm lợi nhuận. Đất Văn Giang chỉ là nguyên liệu sản xuất của Vihajico. Sản phẩm Vihajico tạo ra ở Văn Giang không phải là công trình an ninh, quốc phòng, cũng không phải là công trình phúc lợi xã hội của nhà nước, của toàn dân mà chỉ là hàng hóa kinh doanh của riêng Vihajico. Hàng hóa đó là khu đô thị sinh thái Ecopark. Để có nguyên liệu sản xuất, có hàng hóa kinh doanh thì Vihajico phải trực tiếp quan hệ với những chủ nguyên liệu, những nông dân chủ đất ở Văn Giang. Đó là quan hệ dân sự, bình đẳng, quan hệ mua bán, thuận mua vừa bán.

Nhưng ở xã hội có tham nhũng còn có cả loại hình kinh doanh quyền lực, kinh doanh núp bóng quyền lực, núp bóng nhà nước, sử dụng bộ máy nhà nước, dùng quyền uy nhà nước vào kinh doanh tạo ra lợi nhuận cao nhất. Công thức của loại hình kinh doanh này là: Đồng vốn hạn chế của nhà kinh doanh + Quyền lực tối đa của nhà nước = Siêu lợi nhuận. Loại hình kinh doanh này đã biến quan hệ mua bán dân sự bình đẳng giữa người mua và người bán thành quan hệ hành chính bất bình đẳng giữa bộ máy nhà nước và người dân, biến việc thuận mua vừa bán dân sự thành quyết định hành chính, áp đặt, cưỡng chế.

Mang quyền lực nhà nước ra kinh doanh đã là tồi tệ. Những gì đã diễn ra ở Ecopark Văn Giang còn thậm tồi tệ. Biến quan hệ của hai chủ thể mua bán bình đẳng thành quan hệ hành chính bất bình đẳng: quyền lực nhà nước độc đoán quyết định và người dân phải cay đắng chấp hành sự thua thiệt mất nguồn sống của hôm nay và muôn đời mai sau. Để có đất Văn Giang làm hàng hóa của Ecopark, quyền lực nhà nước còn nhẫn tâm sử dụng bạo lực với dân. Chính quyền trung ương huy động hàng ngàn cảnh sát chiến đấu của Bộ Công an ra giành đất của dân giao cho công ty kinh doanh Vihajico. Chính quyền địa phương cho côn đồ xã hội đen vào từng nhà dân đe dọa hành hung những người không chịu giao đất cho Vihajico, viên chức thì bị đe buộc thôi việc, buộc thuyên chuyển đi nơi xa, nhiều khó khăn, phá vỡ cuộc sống đang ổn định. Đó là những việc làm bẩn thỉu, nhục nhã của một nhà nước ra đời bằng máu của dân, tồn tại bằng tiền thuế của dân, tồn tại bằng những giọt mồ hôi lương thiện của người dân.

Thực hiện cuộc cưỡng chế ngày 24 tháng Tư năm 2012, chiếm đoạt đất sống của dân Văn Giang bằng bạo lực đàn áp, chính quyền tỉnh Hưng Yên không biết nhục với dân và không biết xấu hổ với lương tâm còn huênh hoang rằng cuộc cưỡng chế đã thành công và an toàn mĩ mãn!

Cuộc cưỡng chế ầm ầm xe pháo, rầm rập quân quan, mù mịt khói lửa như cuộc càn quét vây ráp của đội quân cướp nước mấy chục năm trước, như cuộc cướp cạn “Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi” thời phong kiến thối nát “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” mấy trăm năm trước mà thành công, an toàn ư?

Lực lượng cưỡng chế áp đảo, xô đẩy, chia tách người dân ra rồi xâu xúm lại vung dùi cui, gậy gộc đánh đập người già, phụ nữ, bắt bớ hàng chục người dân, đánh hội đồng hai nhà báo chứng kiến cuộc cưỡng chế rồi hung hãn đánh cả người phụ nữ tay không muốn cứu hai nhà báo mà thành công, an toàn ư?

Hàng ngàn cảnh sát cơ động chiến đấu của Bộ Công an tua tủa súng, trập trùng khiên xua đuổi dân ra khỏi mảnh đất máu thịt của người dân Văn Giang cho những chiếc máy gạt, máy xúc ủi tung mồ mả, xích sắt xe lạo xạo nghiến nát xương sọ, xương ống của ông bà tổ tiên người dân Văn Giang mà thành công, an toàn ư?

Để nhà giầu núp bóng nhà nước cướp thành công đất của người dân nghèo Văn Giang thì đó là thất bại ê chề, nhục nhã của nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Hàng ngàn cảnh sát vũ khí bịt bùng đối đầu với vài trăm người dân lao động lam lũ là hình ảnh tiêu biểu của nhà nước cảnh sát, nhà nước quân phiệt, là hình ảnh khẳng định chắc chắn, rõ ràng về cuộc sống thiếu vắng dân chủ lại dư thừa bạo lực. Đó là thất bại thảm hại của nhà nước đang ra rả nói về xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh!

3. Người nông dân đang bị gạt ra bên lề công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tất yếu nhưng những gì đang diễn ra ở nước ta những năm ồn ào, rầm rộ công nghiệp hóa, hiện đại hóa vừa qua cho thấy người ta đang làm công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằng nghị quyết hùng hồn, bằng khẩu hiệu màu mè, rổn rảng nhưng không có phương hướng, không có tư tưởng, không có triết lí, không có khoa học, không có tính toán căn cơ, gặp gì làm nấy, mạnh ai người đó làm!

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không phải chỉ là những khu công nghiệp mênh mông, những nhà máy san sát, những đô thị hào nhoáng đua nhau mọc lên xô bồ, lộn xộn, nhốn nháo như hiện nay. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước hết phải là một đất nước, một xã hội được tổ chức, được qui hoạch, được khai thác khoa học, hợp lí, qui củ, ngay ngắn để thế mạnh của mọi vùng đất được huy động, bản sắc của mọi nét văn hóa dân tộc được phát huy, năng lực của mọi cá nhân được thể hiện, được đóng góp, người lao động chân chính nào cũng được nhìn nhận, được tôn vinh và có chỗ đứng xứng đáng trong xã hội. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải là cuộc sống có nhịp điệu, tiết tấu công nghiệp khẩn trương và trật tự, nề nếp, một ngày hôm nay bằng chục năm, trăm năm của cuộc sống trì trệ xưa cũ, để mọi người dân có nếp sống, nếp nghĩ công nghiệp, được sống, được hưởng thành quả của xã hội công nghiệp hiện đại, để cuộc đời đẹp hơn, đáng quí hơn.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa có phương hướng thì không thể có nỗi đau: Chủ nghĩa tư bản hoang dã không còn đất sống ở các nước công nghiệp phát triển liền ồ ạt tràn vào Việt Nam mang công nghệ cũ kĩ đến bóc lột người lao động Việt Nam, coi người lao động Việt Nam như nô lệ ở thế kỉ XVII.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tư tưởng, có triết lí Việt Nam thì không thể có nỗi nhục: Những cánh đồng màu mỡ trở thành sân gôn, trở thành khu công nghiệp. Người dân ngàn đời lao động sáng tạo trên những cánh đồng đó đã sáng tạo ra nền văn minh nông nghiệp lúa nước, sáng tạo ra nền văn hóa Việt Nam. Những người chủ đất, những người chủ của một nền văn minh nay bỗng bơ vơ, xác làm thuê cho chủ tư bản nước ngoài, hồn không nơi nương náu. Hàng chục triệu nông dân Việt Nam từ vị thế làm chủ, làm chủ cuộc đời mình, làm chủ quê hương mình, làm chủ đất nước mình, làm chủ một nền văn hóa rực rỡ nay trở thành những kẻ lơ láo làm thuê không chốn dung thân.

Không còn đất để được trăn trở với đất, để được lao động sáng tạo với đất. Không còn đất để được làm duyên với đất: Trúc xinh trúc mọc đầu đình / Em xinh em đứng một mình cũng xinh. Cơ bắp đành thất thểu mang đi bán rẻ khắp nơi. Nhan sắc bán giá bèo sang xứ người chỉ để đổi lấy miếng cơm thừa của thiên hạ. Lịch sử Việt Nam suốt mấy ngàn năm có bao giờ tủi nhục thế này chăng?

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa có khoa học, hợp lí thì không thể có nỗi buồn: Một đất nước trải dài ôm lấy biển nhiệt đới, có hơn ba ngàn cây số bờ biển quanh năm nắng gió, cứ một trăm cây số vuông đất liền có một cây số bờ biển mà phải nhập khẩu muối!

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tính toán căn cơ thì không đến nỗi mất mát xót xa như ở Văn Giang. Văn Giang nằm trong vùng trung tâm châu thổ đồng bằng Bắc Bộ có lớp phù sa màu mỡ dày cả chục mét do con sông Hồng cần cù bồi đắp từ hàng triệu triệu năm tạo lên. Bề dày lớp phù sa cũng là bề dày của nền văn minh nông nghiệp, bề dày của những kiếp người gắn bó với mảnh đất cha truyền con nối, bề dày tình yêu của con người với mảnh đất sống, bề dày của kinh nghiệm lao động sáng tạo với đất đai, bề dày của những nghề tinh, của tài hoa sáng tạo từ đất đai.

Ở những vùng đất khác, người nông dân lầm lũi, nhọc nhằn, quần quật suốt năm chỉ làm ra được 50 triệu đồng trên một hecta đất. Với đất đai màu mỡ, với kinh nghiệm và tài hoa sáng tạo từ đất đai, người dân Văn Giang lao động nhẹ nhàng, ung dung mỗi năm cũng có thu nhập cả tỉ đồng trên một hecta đất. Đất phồn vinh của người dân Văn Giang nay là đất biệt thự sang trọng, đất căn hộ cao cấp của người giầu từ nơi khác đến. Không còn đất sống, người dân Văn Giang lại thất thểu mang cơ bắp đi khắp nơi bán rẻ, mang nhan sắc ra xứ người bán giá bèo kiếm miếng cơm nuôi bản thân và gia đình!

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa như đang diễn ra trên đất nước ta, như đang diễn ra ở Tiên Lãng, Hải Phòng, ở Văn Giang, Hưng Yên, ở Vụ Bản, Nam Định chỉ là những cuộc chụp giật lợi ích của những người có tiền và có quyền. Tấc đất tấc vàng. Những tấc vàng, những hecta vàng đó lại là sở hữu toàn dân do những người có quyền quản lí! Vì thế đất vàng đang dễ chụp giật nhất, đang là những cuộc chụp giật quyết liệt, tàn bạo nhất và những cuộc chụp giật đất vàng đang diễn ra trên cả nước. Người nông dân trên cả nước đang bị gạt ra bên lề công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lại trở về cuộc sống lầm than, đói nghèo và uất hận chịu đựng bất công như ngàn năm trước!

© Phạm Đình Trọng
Theo pro&contra


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Hai người gốc Việt được tổng thống bổ nhiệm vào VEF

WASHINGTON DC -Hai người gốc Việt được Tổng Thống Barack Obama bổ nhiệm vào Hội Ðồng Quản Trị của Vietnam Education Foundation, theo thông cáo báo chí từ Tòa Bạch Ốc hôm Thứ Năm.
Bà Nguyễn Phúc Anh Lan, vừa được Tổng Thống Barack Obama bổ nhiệm vào hội đồng quản trị Vietnam Education Foundation, cùng với Vương Ngọc Quyên ở San Jose. (Hình: femalesuccessfactor.com)

Hai người được bổ nhiệm là bà Nguyễn Phúc Anh Lan ở Houston và bà Vương Ngọc Quyên ở San Jose.

Trong cộng đồng Việt Nam, bà Anh Lan được biết đến nhiều nhất qua hoạt động trong Hội Văn Hóa Khoa Học Việt Nam.

Tại San Jose, bà Vương Ngọc Quyên sáng lập và điều hành International Children Assistance Network, viết tắt ICAN, với những chương trình hỗ trợ cho trẻ em gốc Việt tại vùng San Jose, cũng như cho trẻ em tại Việt Nam.

Tổ chức Vietnam Education Foundation là một cơ quan do chính phủ liên bang lập ra để hỗ trợ hợp tác về giáo dục giữa Mỹ và Việt Nam.

Bà Nguyễn Phúc Anh Lan hiện làm quản trị nhiều dự án kỹ thuật thông tin ở trung tâm MD Anderson Center thuộc trường Ðại Học Texas, kiêm chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị hội Văn Hóa Khoa Học Việt Nam. Năm 1998, bà thành lập trại National Youth Leadership Development Camp, và năm 1990 bà cũng giúp thành lập trung tâm Vietnamese Youth Center ở Toronto.

Năm 2011, bà Nguyễn được tổ chức Texas Women Empowerment Foundation trao tặng huy chương Women's Leadership Empowerment Award và năm 2010, được Comerica Bank và Steed Society mệnh danh là một trong “25 Phụ Nữ Hàng Ðầu của Houston”, nhờ tài lãnh đạo và hoạt động cộng đồng. Ngoài ra vào năm 2004, bà được hội đồng Youth Leadership Council of Houston tặng Giải Lãnh Ðạo Cộng Ðồng Ưu Hạng và được Junior Chamber of Commerce chọn làm một trong năm người Houston ưu hạng trẻ tuổi vào năm 2000. Bà Nguyễn tốt nghiệp bằng cử nhân và cao học về Computer Science ở trường Ðại Học Toronto, Canada.

Bà Vương Ngọc Quyên là giám đốc điều hành ICAN ở San Jose, một tổ chức bà đồng sáng lập vào năm 2000. Bà còn là thành viên của Pacific Links Foundation, một tổ chức bà đồng sáng lập vào năm 2001, và là thành viên của mạng lưới Vietnamese American Non-Governmental Network, thành lập vào năm 2004.

Bà Ngọc Quyên nằm trong Hội Ðồng Quản Trị của tổ chức Santa Clara Family Health Foundation, ủy viên cố vấn cộng đồng của San Jose Children's Discovery Museum, và hội đồng cố vấn của Asian American Native American Pacific Islander Serving Institution for Mission College.

Bà được học bổng Fulbright năm 1989 và làm việc cho Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc ở Hồng Kông. Bà Ngọc Quyên tốt nghiệp cử nhân Kinh Tế ở Ðại Học Yale, và cao học quản trị kinh doanh ở Stanford. (T.P.)

Theo Người Việt


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Video và Hình ảnh: TS Nguyễn Xuân Diện bị côn đồ bao vây ở Thư viện Hán-Nôm Hà Nội

Sáng 18/5 vào lúc 8 giờ 30, một nhóm thương binh côn đồ đã tới Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm bao vây trụ sở này và xông vào hành hung nhân viên trong thư viện với mục đích tìm kiếm TS Nguyễn Xuân Diện.
Xe của nhóm thương binh côn đồ đậu trước cổng Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm - Hà Nội sáng 18/5/2012.
Đánh người vô cớ

Một nhân viên trong thư viện cho chúng tôi biết:

“Khoảng 8 giờ rưỡi hay 9 giờ kém 15, xe chở thương binh tới đỗ ngổn ngang trước cổng Thư viện của Viện Hán Nôm. Thương binh đã xông vào đánh một cô bé đang làm việc trong Viện vì cô này bảo rằng đây là thư viện, không được vào... thế nọ thế kia… Cô ấy chỉ nói thế thôi chứ không có vấn đề gì cả thế là họ bảo cô ấy là láo, xông vào đánh cô ấy.

Họ yêu cầu TS Diện chấm dứt kêu gọi tẩy chay điện hạt nhân, yêu cầu tịch thu máy tính, yêu cầu hãm blog.
Một Blogger
Lúc ấy em đi xuống nhà có người hỏi là TS Diện ở đâu. Em xuống nhà và thấy có mấy người nữa là thương binh xông thẳng vào, họ chửi ỏm tỏi lên là “phản đảng, phản đảng” Em có cảm giác là không bình thường thì em chạy lên. Lúc ấy thương binh họ xông thẳng lên tầng ba em nghe thấy trên ấy vẫn ầm ĩ tiếng bàn ghế. Em không dám lên vì lúc nãy bọn ấy còn xông vào đánh bọn em mà. Khoảng bảy tám người gì đấy hoặc hơn nữa, em không rõ lắm nhưng toàn là những người trông hùng hổ, sợ lắm, bọn em còn run mà.

Bọn em đã báo công an rồi nhưng không biết công an tới chưa, hình như là có rồi em không biết rõ lắm, em không dám ra vì lúc nãy họ đe tao trông thấy mặt mày thì lần sau tao tới tận nhà chúng mày.”

Chúng tôi liên lạc với ông Nguyễn Đăng Quang nguyên đại tá công an đã về hưu hiện là một torng những người quen với TS Nguyễn Xuân Diện, ông Quang cho biết:

“Xin lỗi anh tôi cũng đang ngồi trên xe để đi đến chỗ hiện trường, lúc nào có điều kiện thì mình trao đổi thêm. Tôi với một luật sư đang ngồi trên xe đây.”

Lúc 10 giờ sáng hơn ba mươi người bạn và blogger đã tập trung tại Viện Hán Nôm để theo dõi tình hình và bảo vệ cho sinh mạng của TS Diện. Một người trong nhóm cho chúng tôi biết:

TS Nguyễn Xuân Diện, ảnh chụp trước đây. 
“Tình hình bây giờ vẫn đang căng thẳng trong phòng anh ạ. Họ yêu cầu TS Diện chấm dứt kêu gọi tẩy chay điện hạt nhân, yêu cầu tịch thu máy tính, yêu cầu hãm blog. Họ là thành phần thương binh có sáu người tất cả. Họ là thành phần rất là nhạy cảm cho nên chúng tôi đứng ngoài và quan sát. Hiện tại họ cũng chưa dám có những hành động mạnh họ chỉ tranh luận dữ dội và gào thét ở trong phòng thôi chứ hiện tại họ chưa xâm phạm gì tới thân thể anh Diện cả, vẫn nói chuyện bình thường.”

Cho tới 11 giờ sáng chúng tôi vẫn không liên lạc được với TS Nguyễn Xuân Diện để hỏi thăm ông về những diễn biến bên trong thư viện của Viện Hán Nôm nơi ông làm việc.

TS Nguyễn Xuân Diện trong vài năm gần đây rất nổi tiếng do trang blog của ông luôn theo dõi những diễn biến thời sự, xã hội nóng bức để thông tin đến dư luận. Ông đưa tin những cuộc biểu tình chống Trung Quốc, các vụ cưỡng chế từ Tiên Lãng tới Văn Giang, Vụ Bản. Hồi gần đây trang blog này đã tập trung chữ ký của nhiều người kiến nghị lên chính phủ yêu cầu chấm dứt dự án nhà máy điện hạt nhân sau khi Nhật Bản lên tiếng trợ giúp VN trong việc xây dựng và triển khai nhà máy, trong khi Tokyo đã bãi bỏ hoàn toàn các nhà máy điện hạt nhân sau sự cố Fukushima

© Mặc Lâm, biên tập viên RFA


Côn đồ được bảo kê của công an để tấn công TS Nguyễn Xuân Diện
Côn đồ được bảo kê của công an để tấn công TS Nguyễn Xuân Diện
Côn đồ được bảo kê của công an để tấn công TS Nguyễn Xuân Diện
222


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Tuyên bố của Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền (từ Việt Nam) về v/đ nông dân bị tước đoạt quyền tư hữu ruộng đất

Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền

Kính gởi

- Quý Đồng bào trong và ngoài nước.
- Quý Bà con Nông dân Việt Nam.
- Quý Anh Chị Em Tín hữu Công giáo gốc Việt.

Đồng kính gởi

- Quý Chính phủ dân chủ và Quý Tổ chức Nhân quyền.
- Quý Vị thành tâm thiện chí trên thế giới.

Mùa hè năm 2011 tại Việt Nam đã nóng lên với những cuộc xuống đường của các công dân yêu nước nhằm biểu tình chống Giặc ngoài đàn áp ngư dân chúng ta và xâm chiếm lãnh hải chúng ta. Mùa hè năm 2012 lại nóng hơn với những cuộc xuống đồng của bà con nông dân nhằm kháng cự Thù trong tước đoạt ruộng đất, cướp trắng kế mưu sinh cuối cùng của họ. Những sự kiện chấn động này buộc chúng ta phải nhìn lại vấn đề quyền tư hữu ruộng đất và thân phận giới nông dân Việt Nam trong thời hiện đại.

I- Với tư cách những người được giao sứ mạng công bố sự thật, bênh vực lẽ phải và phục vụ tình thương, Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền chúng tôi nhận định rằng:

1- Đồng bào nông dân là thành phần chủ yếu của Đất nước (70 đến 80% dân số). Trong quá khứ, kể từ tiền bán thế kỷ XX, nghe theo lời đảng Cộng sản “đi làm cách mạng để người cày có ruộng”, phần lớn trong họ đã tự nguyện góp công sức, xương máu với niềm hy vọng. Thế nhưng, khi đảng nắm được chính quyền, nông dân đã bị phản bội tàn tệ qua cuộc Cải cách Ruộng đất đầy máu và nước mắt, vốn đã giết chết hàng vạn nông gia tài giỏi, rồi qua cuộc Hợp tác hóa Nông nghiệp vốn chỉ mang lại đói nghèo cho nông dân và khiến họ càng lệ thuộc nhà nước.

2- Khi nhà cầm quyền -trong Hiến pháp 1992 (điều 17-18) và Luật đất đai 1993 (điều 1)- độc đoán khẳng định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý”, rồi đến Luật đất đai 2003 (điều 1), lại ngang nhiên tuyên bố: “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai”, thì toàn dân nói chung và nông dân nói riêng như đã nhận một bản án tử hình, nghĩa là đã hoàn toàn bị tước một nhân quyền cơ bản được cả thế giới văn minh công nhận là quyền tư hữu mảnh đất nơi mình sinh sống và hành nghề. Qua chủ trương lộng hành và lừa đảo này, lãnh đạo Cộng sản Việt Nam muốn thâu tóm toàn bộ tài nguyên đất nước vào tay đảng để dễ bề khống chế nhân dân và củng cố quyền lực của riêng họ.

3- Từ đó, dựa vào điều 27 Luật Đất đai 1993 quy định: “Trong trường hợp cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng…”, nhất là dựa vào điều 39 Luật Đất đai 2003, định nghĩa những “lợi ích quốc gia” chủ yếu là những “dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt”, nhà cầm quyền trung ương hay địa phương đã bao phen cấu kết với các “nhóm lợi ích” (công ty, đại gia, tư bản xanh, tư bản đỏ…) nhập nhằng “lợi ích quốc gia” với “lợi ích đại gia” để đuổi hàng triệu nông dân ra khỏi nơi họ canh tác từ bao đời, hầu phân lô chia chác với nhau, đầu cơ bất động sản, bán hoặc cho công ty xí nghiệp thuê mướn, xây dựng những công trình chỉ có tính chất kinh doanh tư lợi (các khu đô thị Thủ Thiêm, Mỹ Phước ở miền Nam và Lê Trọng Tấn, Ecopark ở miền Bắc là những thí dụ)…

4- Hành vi xua đuổi và tước đoạt ấy được thực hiện qua vô số việc bất công tầy trời: a- đền bù rẻ mạt chẳng theo giá thị trường hay giá thỏa thuận, làm cho nông dân không thể xây lại nhà cửa và tái tục nghề cũ hay chuyển sang nghề mới, thành ra dở sống dở chết; b- khiến giao đất bằng hứa hẹn dối láo, bằng bạo lực hành chánh (dọa đuổi học, đuổi việc, không xác nhận đơn từ…), bằng cả bạo lực vũ khí (dùng công an, quân đội, dân phòng, côn đồ tấn công dân lành, cày nát hoa màu, xới tung mồ mả, cấm cản chụp hình, hành hung phóng viên, bắt giữ tra tấn những ai kháng cự…); c- “giải phóng mặt bằng” xong thì bộ máy cầm quyền (đảng ủy, chính quyền, tòa án, công an, mặt trận) dùng trò phủ dụ, vu khống hoặc xử lý, báo đài công cụ thì lấp liếm bao che hoặc im re nín lặng. Điển hình và động trời là các vụ Cồn Dầu (Đà Nẵng), Đak Ngô (Đak Nông), Tiên Lãng (Hải Phòng), Văn Giang (Hưng Yên), Vụ Bản (Nam Định)…

5- Trước chính sách tước đoạt tùy tiện phương kế sinh nhai của dân lành, trước quan niệm coi nhân dân như đầy tớ được thí ban tùy lòng ông chủ, trước thái độ xem nhân dân như kẻ thù cần trấn áp triệt hạ nếu dám phản đối như thấy trên, hàng ngàn hàng vạn nông dân đã đứng dậy trong thời gian qua để bảo vệ phẩm giá lẫn quyền sống của mình. Dẫu đôi khi và đôi nơi họ đã có những hành vi ít nhiều bạo động, nhưng đó là phản ứng hoàn toàn tự nhiên và chính đáng của kẻ bị dồn vào bước đường cùng bởi một bọn cướp mạo danh “chính quyền của dân, do dân và vì dân”. Vì dù chỉ có quyền sử dụng, nông dân nào cũng gắn bó với mảnh đất mình đang canh tác, bởi lẽ đất ấy chẳng phải đã được giao không cho họ từ quỹ công thổ như những quan chức đặc quyền đặc lợi, nhưng chính họ đã phải mua bằng tiền bạc, đã phải tạo lập bằng mồ hôi nước mắt, hay đã được thừa hưởng từ công lao của tiên tổ.

II- Với những nhận định ấy, chúng tôi tuyên bố:

1- Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam và nhà cầm quyền các địa phương như tại Đak Nông+Đak Ngô, Đà Nẵng+Cồn Dầu, Hải Phòng+Tiên Lãng, Hưng Yên+Văn Giang, Nam Định+Vụ Bản, Hà Đông+Dương Nội (và rất nhiều nơi khác không thể kể ra hết) phải bị lên án mạnh mẽ vì chủ trương đảng hữu hóa ruộng đất, vì hành động tước đoạt sinh kế và đàn áp bản thân các nông dân, vì phương sách dùng lực lượng trị an để cưỡng bức dân lành, vì chủ trương lừa mị nhân dân và dối gạt công luận bằng chính miệng lưỡi của mình hay bằng dàn truyền thông công cụ.

2- Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, trong chương trình sửa đổi Hiến pháp đang tiến hành, phải xóa bỏ điều 17 và 18 cũng như sửa đổi tận gốc Luật đất đai 2003, để trả lại cho toàn dân quyền tư hữu ruộng đất vốn có từ xưa, ngõ hầu người dân sở hữu thực sự và trọn vẹn mảnh đất nơi mình sinh sống và lập nghiệp, nhất là vì nhiều xáo trộn và xung đột xã hội sẽ có nguy cơ diễn ra khi sắp đến hạn thời 20 năm thuê điền thổ mà Luật đất đai 1993 đã tùy tiện áp đặt.

3- Nhà nước CHXHCN Việt Nam phải trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho các dân oan đã bị tù vì đòi quyền sống về đất đai, vì bảo vệ ruộng vườn nhà cửa của họ, như 7 dân oan Bến Tre bị xử ngày 30-5-2011, 11 dân oan Lục Ngạn, Bắc Giang bị xử ngày 08-03-2012, 4 thành viên gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng bị cầm tù từ 05-01-2012 và chờ ngày ra tòa vì bị vu tội “sát nhân và chống lại người thi hành công vụ”, như các nông dân ở Văn Giang và Vụ Bản đang bị giam giữ.

4- Nhà nước CHXHCN Việt Nam phải chấm dứt sách nhiễu cuộc sống, cấm cản hành nghề hay trả lại tự do cho những công dân từng bênh vực dân oan như các nhà báo Lê Thanh Tùng, Tạ Phong Tần… các luật sư Lê Trần Luật, Lê Thị Công Nhân, Huỳnh Văn Đông, Cù Huy Hà Vũ…, phải chấm dứt gây rối công việc của những chức sắc tôn giáo đã và đang dấn thân bảo vệ những cá nhân, cộng đồng hoặc tổ chức mất đất đai nhà cửa.

5- Viện Kiểm sát, Thanh tra nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân Việt Nam, các tòa án địa phương phải tái xem xét và giải quyết hợp lý hợp tình hàng triệu đơn khiếu nại của dân oan ba miền bị mất đất đai nhà cửa, từ nông dân, thị dân đến giáo dân và các dòng họ. Không được đá qua đá lại, đẩy lên đẩy xuống, làm cuộc sống người dân điêu đứng, khổ sở, tuyệt vọng.

6- Công an, quân đội và những lực lượng hỗ trợ, vốn từ nhân dân mà ra và được nhân dân nuôi sống, phải ngưng làm công cụ bạo lực mù quáng cho các “đại gia”, các “nhóm lợi ích”, các “tư bản đỏ” để trấn áp và tước đoạt dân lành. Trước mắt, phải xin lỗi và bồi thường cho các nạn nhân mà mình đã đàn áp trong các vụ cưỡng đoạt đất đai.

7- Đồng bào nông dân xin hãy đoàn kết với nhau một cách rộng rãi và chặt chẽ, với sự hỗ trợ của mọi tầng lớp nhân dân (các lãnh đạo tôn giáo, các trí thức nhân sĩ, các chuyên viên truyền thông, các mạnh thường quân hào hiệp…) để làm thành những lực lượng đông đảo xuống đường hay xuống đồng đòi lại quyền tư hữu đất đai hay bảo vệ các phương kế sinh nhai cần thiết và chính đáng trong tinh thần bất bạo động.

8- Các chính phủ năm châu và các tổ chức quốc tế xin hãy luôn gắn điều kiện quyền tư hữu đất đai, quyền sinh sống của con người vào các dự án viện trợ giúp Việt Nam phát triển kinh tế, từ xây dựng các cơ sở hạ tầng đến xây dựng các khu dân sinh, các công trình văn hóa, các nhà máy xí nghiệp.

9- Các cá nhân và tập thể trong lẫn ngoài nước, người Việt lẫn người ngoại quốc, xin hãy đồng loạt tẩy chay những dự án khu đô thị sang trọng hay khu du lịch cao cấp xây dựng trên bất công và bạo lực kiểu Thủ Thiêm (Sài Gòn), Hòa Xuân (Cồn Dầu) hay Ecopark (Văn Giang)…

Nhân dịp này, Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền chúng tôi xin hoan nghênh các nhà trí thức ở mạng Bauxite Việt Nam đã vận động được hàng ngàn người phản đối việc cưỡng chế giải tỏa đất đai Văn Giang bằng vũ lực. Chúng tôi cũng xin hoan nghênh và ủng hộ bà con Văn Giang đã và đang tìm cách chiếm lại ruộng đất của mình khỏi tay bọn cướp.

Cuối cùng, chúng tôi nguyện cầu Thiên Chúa ban cho mọi người dân Việt Nam, nhất là các nông dân, sớm được trả lại quyền tư hữu đất đai là một trong những điều kiện làm nên phẩm giá và tự do cho con người, làm nên công lý và hòa bình cho xã hội, làm nên phát triển và thịnh vượng cho đất nước, qua nỗ lực đoàn kết rộng rãi và kiên trì đấu tranh của công dân đất Việt và gốc Việt cho nhân quyền này và mọi nhân quyền cơ bản khác tại Việt Nam.

Tuyên bố tại Việt Nam ngày 15 tháng 05 năm 2012

Đại diện Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền

- Linh mục Têphanô Chân Tín, Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn
- Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tổng Giáo phận Huế.
- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh

với sự hiệp thông của Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, đang bị cầm tù tại Nam Hà.



-----------------------
Bài viết do tác giả gửi - BBT.VANGANH biên tập và minh họa...
-----------------------


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Đâu rồi tuổi thần tiên của bé?


Lời Tác Giả: Chỉ còn vài ngày nữa là cháu nội tôi học xong lớp 1. Vì chương trình cải cách giáo dục “quá tải” nên một năm qua cả nhà tôi đã phải cùng cháu đánh vật với cả hai môn Tiếng Việt 1 và Toán 1 của cháu. Ở một số nước, tuổi lớp 1 đến trường vừa học, vừa chơi. Học xong, sách vở để tại lớp không được mang về nên ở nhà các cháu lại được vui chơi thoải mái. Còn ở ta, do phải “đi tắt đón đầu”, phấn đấu để “chỉ 20 năm nữa là phải đuổi kịp và vượt các nước phát triển về mặt giáo dục” nên con trẻ của chúng ta mới phải mang ba lô sách vở về nhà, học ngày học đêm, học thêm vào chủ nhật và học hè cả hai tháng nghỉ hè nữa! Các cháu không được chơi theo yêu cầu của lứa tuổi nên tất yếu sẽ hạn chế sự phát triển trí thông minh sáng tạo của trẻ. Mặt khác, lại phải học vẹt một chương trình học quá sức nên nhiều cháu còn bị mụ đi, dẫn đến sợ học, ghét học. Có lẽ các con trẻ của chúng ta đang là nạn nhân của một căn bệnh nan y của người lớn, đó là BỆNH VĨ CUỒNG. 

ĐÂU RỒI TUỔI THẦN TIÊN CỦA BÉ?

Nhìn cháu nội ngồi lệch vai, mắt cận
Ngày hai buổi tới trường, tuần bốn tối học thêm
Vì thương bé lòng quặn đau, căm giận
Ai trả lời cho trẻ thơ: đâu rồi tuổi thần tiên?

Đâu rồi trang cổ tích mẹ từng kể đêm đêm?
Đâu những chiều hè cùng các bạn ra sân đình tập hát
Hay thả diều cùng các anh giữa cánh đồng thơm ngát
Và đâu rồi những đêm trăng vui múa hát, ngâm thơ?

Tiếng Việt 1 hai tập dày dặn thế!
Có cả những tính từ trong thơ cụ Nguyễn Du
Sao tác giả nỡ nhét vào đầu trẻ
Những câu phức dài dòng, những tranh vẽ vu vơ?

Bài 80 còn in nguyên bốn câu thơ
Từ bài hát “Quê Hương” trẻ đã yêu đã thuộc(1)
Nhưng lại in sai nên bé không hát được
“Chiều chiều ... trên đồng”, mẹ ơi đâu “Tuổi thơ”?

Ôi đâu rồi sách Tiếng Việt ngày xưa?(2)
Thắm tình mẹ tình cha, tình quê hương đất nước
Đậm tình nghĩa thầy trò, tình anh em quyến thuộc
Nhiều câu chuyện ngụ ngôn dạy trẻ biết nghĩ suy...

Sách Toán 1 là một bản sao, chép đầu Ngô mình Sở
Bắt học thụ động giáo điều thiếu gợi mở tư duy
Chỉ hai phép tính giản đơn thôi mà trẻ con kinh sợ
Sao không dạy bé yêu Cộng, Trừ để cháu tự phát huy?

Mới lớp 1 đã đầy ba lô, cháu mang những sách gì?
Toàn những sách theo “cải cách giáo dục”
Nhằm đào tạo những “nhân tài tương lai” cho đất nước
Mắt cận, lưng gù, đập đứng, hò đi...!(3)

Thôi nói nữa lòng thêm đau chứ giải quyết được gì?
Vì “Dự án SGK” mục đích chính là “múc tiền chùa” bỏ túi
Quan trên xơi phần trên còn lại phần cấp dưới
Dù viết cuội, viết xằng đã có quan trên đỡ lo chi!

Sách năm nào cũng in mới dù chỉ vài dòng thay đổi
Bắt phụ huynh phải mua nếu muốn con được tới trường
Sách giáo khoa là độc quyền đâu cần ai trao đổi
“Cải cách giáo dục” chỉ cần tiền đâu lãng phí yêu thương!

Nền giáo dục Việt Nam đã “nâng niu” biết bao nhiêu thế hệ
Để đào tạo ra một đám quan tham chỉ biết ngửi mùi tiền?
Tiền càng nhiều càng có cơ hội để ngoi lên
Những ngai vị cao hơn, tiền lại sinh tiền gấp bội!

Còn đa phần con cháu lương dân học để khỏi tù, thoát tội
Thà mắt cận, lưng gù còn hơn nghiện cờ bạc, xì ke...
Cố kiếm lấy mảnh bằng, không kiến thức cũng được!
Để bố mẹ khỏi tủi thân cùng gia tộc, bạn bè

Ôi! Đành phải cố hết sức thôi, cháu nhỏ!
Cả nước này đau chứ đâu chỉ mình đau!
Đau thì khổ nhưng không còn con đường nào nữa
Đến trường thôi! Xin đừng hỏi: vì đâu?

Nhân ngày Quốc Tế Thiếu Nhi

© Đặng Huy Văn

-----------------------
Bài viết do tác giả gửi - BBT.VANGANH biên tập và minh họa...
-----------------------

GHI CHÚ:

(1) Bốn câu thơ của nhà thơ Đỗ Trung Quân ở bài hát Quê Hương trong sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt 1, Tập Một, Bài 80 (tái bản lần thứ 9) trang 163, in như sau:

Quê hương là con diều biếc
Chiều chiều con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông

(2) Bộ sách “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” của Nha Học Chánh Đông Dương xuất bản trước 1945, là sách Tiếng Việt cấp tiểu học gồm nhiều tập cho các học trò tương đương từ lớp 1 đến lớp 5 ngày nay. Tôi đã được đọc các cuốn sách giáo khoa này khi đang học dở lớp 2. Năm 1955-1956, gia đình tôi bị quy là địa chủ nên tôi buộc phải nghỉ học đi ở chăn trâu để mưu sinh. Vì không được đến trường nên tôi đã phải ngồi trên lưng trâu để đọc những cuốn sách đó do bố tôi để lại. Vì bài nào cũng hấp dẫn nên tôi đã thuộc rất nhiều bài học của bộ sách này và chúng đã đi vào tiềm thức của cả cuộc đời tôi.

(3) Ngạn ngữ: “đập đi, hò đứng” chỉ những kẻ ngu đần. Còn ngược lại, “đập đứng, hò đi” lại có thể là “nhân tài”, biết đâu?


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Tin Khẩn: Lm. Phan văn Lợi bị bọn CA Thừa Thiên tới nhà đòi gặp


Kính thưa Quý vị,

Nhận được tin tôi bị Công an tới hăm dọa, linh mục Nguyễn Hữu Giải tức tốc đi một chặng đường 25km (theo đường chim bay từ giáo xứ An Bằng đến giáo xứ Phủ Cam), bỏ cả bữa ăn trưa, để đến hiệp thông với tôi tại nhà (tôi đang bị quản thúc tại gia). Dưới đây là bức thư linh mục Giải gởi đến công an tỉnh Thừa Thiên Huế và hình tôi đang nhìn Lm Giải viết thư.

Xin kính báo và xin Quý vị tiếp tục cầu nguyện cho chúng tôi. Chúng tôi chân thành cảm ơn.

Lm Phê-rô Phan Văn Lợi, Huế.
Lm Nguyễn Hữu Giải
Thu goi cong an (18-05-2012)

Tin từ Huế - Hôm nay, ngày 18-05-2012, vào lúc 9g54 (giờ VN), có ba người mặc thường phục - một người lớn tuổi mặc áo màu cà phê, hai người trẻ mặc áo đen và áo trắng - tay cầm một tập hồ sơ, đến nhà Lm Phan Văn Lợi, đứng chờ phía ngoài cổng lúc đó còn đang khóa.

Khi em gái của linh mục đi chợ về, họ chặn lại và yêu cầu cô mở cổng ra để họ vào gặp Lm Lợi, nhưng cô không đồng ý. Nghe tiếng ồn ào, linh mục đi ra. Ba người kia tự xưng là công an tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết họ muốn đến để bàn với linh mục một vài vấn đề.

Linh mục nói: “Tôi không có thì giờ để gặp các anh. Lẽ ra, muốn gặp tôi, các anh phải có giấy thông báo xin gặp và nói rõ là bàn về chuyện gì, để nếu tôi đồng ý và có giờ thì tôi sẽ gặp. Còn tới đột ngột thế này thì không phải là cách làm việc đúng đắn của một cơ quan nhà nước. Vả lại, những gì cần nói thì tôi đã phát biểu công khai trên mạng, các anh đọc thì hiểu lập trường của tôi rồi. Nay có đối thoại với các anh thì chỉ là đối thoại với những người điếc, vì các anh có bao giờ muốn nghe sự thật đâu? Giữa chúng ta với nhau không cùng một quan điểm. Nếu cần thì tôi sẽ đối thoại với cấp trên cao nhất của các anh với điều kiện là các ông đó tỏ thiện chí muốn lắng nghe sự thật”.

Nhưng họ cứ nằng nặc đòi vào.

Linh mục trả lời: “Có gặp tôi cũng vô ích, tôi không nói chuyện với các anh đâu. Từ lâu tôi đã không muốn tiếp xúc và nói chuyện với công an”.

Họ nói: “Lâu nay, chúng tôi thấy ông có những lời phát biểu, bài viết và hành động biểu lộ quan điểm chống chính quyền”.

Linh mục trả lời: “Tôi không bao giờ chủ trương vô chính phủ, cũng không bao giờ chủ trương loại bỏ chính quyền, vì để điều hành đất nước luôn luôn cần thiết phải có một chính quyền. Nhưng nếu làm chính quyền mà lại phạm những sai lầm, lại gây tội ác, chẳng hạn như đàn áp các tôn giáo, cướp đất của nhân dân, đánh đập dân oan như xảy ra mới đây tại Văn Giang, tại Vụ Bản... thì lương tâm buộc tôi phải lên án, phải vạch trần những sai lầm và tội ác đó.”

Họ nói: “Nếu ông không tiếp chúng tôi thì chúng tôi sẽ có biện pháp, sẽ viết giấy mời hoặc giấy triệu tập ông lên phường, lên đồn”.

Linh mục nói: “Việc mời hay triệu tập là chuyện của các anh, còn việc đi hay không là quyền của tôi. Tôi nói trước với các anh là tôi sẽ không đi. Năm 2001, tôi đã nhận được 8 lệnh triệu tập mà tôi đâu có đi!”
Trước khi bỏ ra về, họ hăm dọa là sẽ có biện pháp xử lý.

Linh mục trả lời: “Các anh đến gặp nhân dân mà có thái độ như vậy thì… các anh cứ việc đem còng tới mà bắt. Còn tôi thì không chấp nhận đi gặp các anh đâu!  Vì các anh có muốn nghe sự thật đâu! Ai nói sự thật thì các anh chỉ biết đe dọa họ chứ đâu chịu nghe!”

Cuộc gặp chấm dứt lúc 10g00. Tiếc là cuộc gặp gỡ bất ngờ quá, linh mục đã quên không ghi âm và chụp hình.

Xin thông báo sự việc xảy ra như thế để mọi người quan tâm theo dõi xem công an Thừa Thiên sẽ đối xử với Linh mục Phan Văn Lợi thế nào trong những ngày tới.

Người viết tin: Nguyễn Chính Kết


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lời than “không đủ sống” của các vị thứ trưởng lương chỉ 10 triệu

Tăng lương cần bắt đầu từ việc giảm giá, bởi tăng lương mà không kìm được tăng giá thì lương chỉ nhiều lên chứ không mua được nhiều hơn.

Suốt tuần qua, dư luận nóng ran xung quanh chuyện lương. Tháng này được lĩnh “lương mới”. Nhưng quan trọng hơn, câu chuyện “lương đủ sống” được coi là một trong 4 vấn đề trọng tâm tại Hội nghị TƯ 5.

Dám cá là 100 công chức, thì 90 người thực sự không biết lương mình bao nhiêu. Nhưng cả 100 đều biết mức lương hiện tại là “không đủ sống”. Chuyện này đã là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Nhưng mà rồi dư luận vẫn “sốc” khi nghe lời than của nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc rằng: Lương thứ trưởng 10 triệu vẫn không đủ sống.

Một vị thứ trưởng khác, cũng của Bộ Nội vụ, đang đương nhiệm, ông Nguyễn Duy Thăng còn công bố một sự thật còn trần trụi hơn: “Tôi nhẩm tính lương của chủ tịch HĐQT một số tập đoàn tương đương 73 lần mức lương tối thiểu, trong khi lương của Tổng Bí thư chỉ khoảng 13 lần lương tối thiểu”. Thật là bất công khi lương một vị thứ trưởng cũng chỉ hơn kém chút đỉnh so với lương công nhân ngành điện. Thật là chua chát khi lương của một vị quan chức cấp cao lại không bằng lương của một ông giám đốc doanh nghiệp. Thật vô lý khi muốn phấn đấu từ mức lương khởi điểm đến bậc cao nhất, mỗi công chức phải mất 76 năm công tác trong khi người ta chỉ đủ sức và chỉ được đi làm trong 30 năm.

Nhưng những người làm công ăn lương đau khổ không phải vì sự bất công, cũng không phải vì sự chua chát. Đau khổ là bởi lương thứ trưởng còn không đủ sống thì thử hỏi công chức quèn sống bằng gì? Vả lại các vị thứ trưởng Bộ Nội vụ, với quyền “cải cách tiền lương” trong tay mà chỉ ngồi đó kêu vô lý, bảo “lương không đủ sống” thì thử hỏi giới làm công ăn lương biết trông cậy vào ai?!

Cải cách tiền lương, đảm bảo lương đủ sống đã được nói tới cách đây chẵn 10 năm, cũng bắt đầu từ kết luận của một hội nghị TƯ (Hội nghị Trung ương 8 khóa IX). Từ năm 2004, đồng lương đã được bổ sung một khoản quan trọng khi “tiền nhà” được tiền tệ hóa vào lương. Nhưng từ đó đến nay, dù lương tối thiểu đã tăng gấp 4 lần, nó vẫn “bèo” đến mức chỉ đủ cho người hưởng lương không đói. Còn “tiền nhà ư”. Đúng là giấc mơ hoang đường. Cái sự “3 cọc 3 đồng” vẫn đeo đẳng suốt từ thời bao cấp. Cho đến hôm qua, Hội nghị TƯ 5 vẫn xác nhận tình trạng: “Mức lương tối thiểu hiện nay vẫn chưa bảo đảm nhu cầu tối thiểu”.

Đây là sự thật mà bất cứ người hưởng lương nào cũng biết. Thậm chí mức lương tối thiểu mới 1.050.000 đồng/tháng, vừa được áp dụng từ đầu tháng, theo đánh giá của Bộ LĐ-TB và XH, mới bằng khoảng 78% mức sống tối thiểu.

Thế thì người hưởng lương sống bằng gì và làm gì để sống?

Nguyên Thứ trưởng Thang Văn Phúc vừa rồi đã nhắc đến “Hội chứng tước đoạt để bù đắp” khi mà lương công chức không đủ sống. “Nhiều công chức lợi dụng chức vụ của mình để nhũng nhiễu, tham ô, nhận hối lộ. Có khi vì lương thấp đã làm hỏng cả một chủ trương, chính sách đúng của nhà nước, làm hỏng cả một đội ngũ… Chẳng hạn như hiện tượng phong bao phong bì đang phổ biến trong các bệnh viện công hiện nay cũng xuất phát từ thực tế lương của các y bác sỹ quá thấp đã làm xói mòn cả y đức…”

“Giám đốc một doanh nghiệp Nhà nước nhận lương 35-40 triệu đồng, trong khi cán bộ cấp vụ trưởng chỉ hưởng lương 5,6 triệu đồng”- nguyên Thứ trưởng Thang Văn Phúc phàn nàn. Và ông cho rằng chính khoảng cách quá lớn về thu nhập cùng với tình trạng lương “không đủ sống”, chính là yếu tố làm cháy máu chất xám, không tương quan với trình độ và đóng góp, không tạo động lực, không khuyến khích và làm đảo lộn các giá trị thứ bậc của nền hành chính. Đồng lương “3 cọc 3 đồng”, khoản tiền dưới mức tối thiểu của tối thiểu trong thực tế cũng làm nản lòng những người “ăn lương”.

Hôm qua, những người làm công ăn lương vừa mừng vừa lo trước những quyết sách quyết liệt của BCH TƯ xung quanh chính sách tiền lương với quan điểm chi tiền lương là chi cho đầu tư phát triển, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ và minh bạch hóa các quan hệ xã hội. Mừng vì Trung ương yêu cầu ngay trong năm 2012 – 2013, những bất hợp lý nổi cộm sẽ phải khắc phục ngay. Chênh lệch trời biển về lương sẽ được thu hẹp. Và tất nhiên, không ai đánh thuế giấc mơ “lương đủ sống”. Nhưng không lo cũng không được bởi nói đến chuyện cải cách thế nào để “lương đủ sống”, để bớt đi những lời than vãn từ thậm chí các vị thứ trưởng, thì không thể không nói đến việc “cải cách” những người hưởng lương.

Nhớ lại tuần trước, ông Chủ tịch tỉnh Đồng Tháp rất thật thà trên Tuổi trẻ: Hiện có 30% cán bộ, công chức làm việc tốt, 30% làm việc cầm chừng và 30% có mặt chỉ để lãnh lương, nếu không có họ cũng không ảnh hưởng gì tới công việc cơ quan đó”. Đây không phải là chuyện cá biệt ở một địa phương, một đơn vị, một bộ ngành bởi con số 30% công chức “không làm gì cả” đã được đưa ra chất vấn trước Quốc hội.

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng hôm qua đã nhấn mạnh yêu cầu “Tiến hành đồng bộ cải cách tiền lương với cải cách hành chính, tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế, tái cấu trúc nền tài chính công…”.

Trúng quá, nhưng không phải là dễ để thực hiện. Bởi thực tế dù 30% làm việc cầm chừng, 30% có mặt chỉ để lãnh lương thì trong các cuộc bầu xét cuối năm, hầu hết các cơ quan đơn vị vẫn đủ “chỉ tiêu” 100% là hoàn thành nhiệm vụ. Thực tế cũng cho thấy rất hiếm có công chức bị sa thải, tinh giản với lý do “hai năm không hoàn thành nhiệm vụ” như quy định trong luật. Cái khó còn là bởi sau 4 năm thực hiện tinh giản biên chế (2007-2011) bộ máy hành chính không những không giảm mà còn lên đến 260.000 người, tăng 25% so với hồi chưa tinh giản.

Chính TƯ đã nhận định nguyên nhân của những đồng lương “3 cọc 3 đồng” là vì “Tốc độ tăng trưởng kinh tế không theo kịp sự tăng lên của các đối tượng hưởng lương và trợ cấp từ ngân sách”. Vì thế, nếu biên chế vẫn cứ tinh giản theo chiều hướng ngày càng đông thêm như hiện nay thì rõ ràng miếng bánh “tăng trưởng kinh tế” không bao giờ là đủ để đồng lương có thể “mua” được một mức sống tối thiểu.

Những người ăn lương không lo không được khi chính Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội Phạm Minh Huân có lần đã bảo: “Vấn đề lương và giá luôn là mối quan hệ biện chứng, liên tục đuổi bắt nhau và không thể tách rời nhau. Dù là vòng luẩn quẩn thì khi giá tăng lương vẫn phải tăng”. Nhưng nói thế là xúc phạm đến giá. Giá có bao giờ chạy sau lương. Bởi tăng lương bản chất là đuổi theo giá, còn giá thì lại dùng tăng lương làm nhiên liệu chạy vượt rào. Bởi cứ mỗi lần tăng lương, giá cả lại trượt băng băng vì… lương tăng và …giá tăng.

Nỗi lo này chẳng có gì là nỗi lo con bò trắng răng, bởi tăng lương cần bắt đầu từ việc giảm giá, bởi tăng lương mà không kìm được tăng giá thì lương chỉ nhiều lên chứ không mua được nhiều hơn.

Lương thế, giá vậy, thử hỏi sao lại không thông cảm cho lời than “không đủ sống”, “phải trông vào vợ con” của các vị thứ trưởng lương chỉ 10 triệu.

© Đào Tuấn
Theo blog Đào Tuấn



* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Nông dân và nông thôn là đối tượng bị đánh tàn bạo nhất trong cách mạng “xã hội chủ nghĩa” Việt Nam


Lời phát biểu bế mạc của Tổng bí thư cùng với Thông báo của BCH TƯ về Hội nghị lần thứ 5 hoàn toàn thống nhất với lời phát biểu khai mạc của người đứng đầu Đảng CSVN định hướng cho kết quả của một chương trình nghị sự được dự báo: Thận trọng trong việc sửa đổi Hiến pháp vì đây là chuyện “nhạy cảm”, không bỏ Điều 4 vì như vậy là “tự sát”, duy trì khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không tam quyền phân lập do đảng cộng sản lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện, không phục hồi chế độ tư hữu về đất đai và không có việc đòi lại đất đã bị cưỡng đoạt, xử lý trong lịch sử pháp luật ở lĩnh vực này.

Công an tấn công người dân tại Bắc Giang
Phản ứng chính sách này của đảng là tất nhiên trong chuỗi động thái phòng vệ, tự bảo vệ, chống sự rối loạn dẫn đến mất quyền lãnh đạo đất nước và các đặc quyền thực tế khác được tạo nên do quyền lãnh đạo đó. Sự khẳng định đó không chứng minh thêm gì về đổi mới tư duy, về tầm trí tuệ, về sự phát triển của văn minh chính trị, chân lý chính trị, mà chỉ là biểu hiện của sự đuối lý, của thế thua, của sự bảo thủ. Bằng mọi giá, đảng phải níu giữ quyền lãnh đạo thông qua các công cụ trấn áp bạo lực và một hệ thống luật pháp ngày càng có tính cai trị chuyên chế, ngày càng tạo ra và được tạo ra trong quan hệ bất bình đẳng giữa chính đảng nắm quyền lực, nhà nước do chính đảng đó lập nên với quảng đại nhân dân đến mức mâu thuẫn chín muồi cho một tình thế cách mạng theo tiêu chuẩn cổ điển. Cũng bằng mọi giá, đảng cố duy trì hiện trạng chính trị, có điều chỉnh ngoại vi để hoãn binh chi kế và đẩy những mâu thuẫn tiềm ẩn đó cho các thế hệ sau, trong đó con cháu của các vị chóp bu vẫn là người cầm quyền.

Biểu hiện ngoan cố chính trị đó là kết quả của một chuỗi diến biến lịch sử nắm quyền lãnh đạo không quang minh chính đại, không chính thống của đảng. Trong giai đoạn 1930 – 1945, đảng đã dùng chiêu bài đấu tranh giai cấp, chống bóc lột, bất công, vẽ ra một thiên đường hạ giới với người cày có ruộng, công nhân không bị tư bản bóc lột, mọi người tự do, xã hội dân chủ…kết hợp với chống thực dân giành độc lập để thu hút, tập hợp,tổ chức lực lượng (cách nói hoa mỹ của sự lừa phỉnh) tiến đến việc sử dụng bạo lực với sự hỗ trợ của nước ngoài để cướp chính quyền tháng 8/1945.

Từ 1945 đến 1976, suy cho cùng, đảng đã sử dụng, lợi dụng, vận dụng cuộc chiến tranh giải phóng, giành độc lập như một công cụ bạo lực để áp đặt mô hình chính trị xã hội chủ nghĩa lên một nửa, rồi cả đất nước, để xây dựng và củng cố nền chuyên chính “vô sản” với toàn bộ thiết chế quyền lực, chính quyền, kinh tế, văn hoá, tư tưởng, tôn giáo…, điều chỉnh cả đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc, điều chỉnh cả lịch sử và cưỡng chế niềm tin cũng như sự hình dung của nhân dân về mô hình đất nước trong tương lai. Tất cả sự thiết lập ấy đều được tạo ra từ mũi súng.

Chỉ riêng chuyện đất đai, nông dân, và nông thôn, qua toàn bộ tiến trình đó, đã cho thấy sự thất bại của cuộc cách mạng, nếu hiểu cuộc cách mạng đó là thành tâm, hoặc có thể là một sự phản bội, nếu nhìn cuộc cách mạng như một thứ vận động chính trị cơ hội chủ nghĩa, một kiểu lừa đảo lịch sử. Người nông dân, nông nghiệp, nông thôn là đối tượng bị đối xử tàn bạo nhất trong cách mạng. Đến thời điểm này, khi phải điều chỉnh bằng chính sách đổi mới, xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, người nông dân xem như mất sạch, và nông thôn trở thành gánh nợ bị phân biệt đối xử.

Từ năm 1930, khi khởi mào cho những câu hát ru cách mạng, có những ông lão “ngồi mơ nước Nga” (ý thơ Tố Hữu) với sự hứa hẹn của đảng về ruộng đất cho dân cày, về người cày có ruộng. Những nông dân là canh điền, tá điền, lãnh canh nộp tô cho địa chủ thời ấy mơ mộng sẽ có lúc triệt hạ hết địa chủ và giành ruộng đất trở thành sở hữu của mình.

Lời hứa đó được duy trì và điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu thu hút các lực lượng cách mạng trong suốt thời kỳ bí mật bằng cách làm mềm đi đối tượng địa chủ thông qua việc phân loại dựa trên diện tích sở hữu của họ và mức độ câu kết của họ với chính quyền thực dân, phong kiến. Nhờ đó, lời hiệu triệu về đất đai vẫn hấp dẫn với tuyệt đại đa số nông dân nghèo, không có hoặc có ít ruộng đất, đồng thời trấn an số “địa chủ” lớp dưới với hứa hẹn về chính sách tịch thu, trưng thu, trưng mua mềm dẻo tuỳ từng đối tượng.

Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tình trạng đó vẫn án binh bất động. Đến giai đoạn cuối, do sự phát triển về lực của chính quyền kháng chiến, cục diện chiến trường, và đặc biệt là sự chỉ đạo của Trung Quốc, Chính phủ Việt Minh trở lại chính sách đất đai với mức độ từ thấp đến cao để đạt mục tiêu cưỡng đoạt và cưỡng chiếm quyền sở hữu loại tài sản đặc biệt này của nhân dân. Bắt đầu là phong trào vận động giảm tô trong vùng kháng chiến với Sắc lệnh 14/7/1949; đến 12/4/1953, Chính phủ Việt Minh lại ra Sắc lệnh phát động quần chúng triệt để giảm tô để thêm một bước tiến công vào các tầng lớp địa chủ, động viên nông dân. Ngày 19/12/1953, Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra Sắc lệnh ban bố Luật Cải cách ruộng đất đã được Quốc hội khoá I thông qua trong kỳ họp thứ 3 (1-4/12/1953). Nội dung chủ yếu của Luật, được thực hiện ngay sau đó ở những vùng thuộc chính quyền kháng chiến kiểm soát thuộc khu vực đồng bằng là xử lý địa chủ; tổ chức đấu tố; tịch thu, trưng thu đất của đối tượng này và huy động nguồn công điền, nguồn đất hoang để chia cho nông dân. Phong trào này được tuyên truyền mạnh mẽ, có chụp ảnh đăng báo cảnh nông dân đi nhận đất, cắm cờ hả hê và nhờ đó, cùng với các đợt chỉnh huấn, chỉnh quân, kiểm thảo, nó có tác dụng động viên sức chiến đấu của những người lính gốc nông dân trong trận quyết đấu Điện Biên Phủ.

Trong chiêu bài phản phong, cuộc cải cách ruộng đất theo Luật 1953 thực chất là tiến hành cách mạng quan hệ sản xuất ở nông thôn, theo quan điểm marxist, trong đó trước hết là quan hệ trong chiếm hữu tư liệu sản xuất. Ở một khía cạnh khác, đây là cuộc đấu tranh giai cấp trong nội bộ nhân dân theo kịch bản dàn dựng để đủ bộ lệ cho các nước làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Á châu bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Mao. Cuộc đấu tranh đó tiếp tục diễn ra một cách khốc liệt sau 1954 ở miền bắc với nhiều sai lầm, tội ác nghiêm trọng để đảng tạm phải dừng lại, sửa sai vào năm 1956; song kết quả của cách làm sai lầm, gần như là tội ác chống lại nhân dân đó lại là cơ sở thuận lợi cho công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp bị áp đặt bởi Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua nghị quyết về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp ngày 27/5/1959 – một động thái mà Quốc hội xem như “cuộc cách mạng hoà bình”, chuẩn bị cho những qui định về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai trong Hiến pháp 1959 và đặc biệt là từ Điều 19 của Hiến pháp 1980. Bằng những bước đi này, những hình ảnh người nông dân được chia ruộng đất để làm chứng cho chính sách người cày có ruộng đã được rêu rao từ những năm 30 chỉ kéo dài được không quá 6 năm (1953 – 1959); những mảnh ruộng được chia đó chưa ấm tay người nông dân thì đã bị sung vào hợp tác xã, thuộc sở hữu tập thể, bước thứ nhất của sở hữu toàn dân.

Điều đáng ghi nhận là tất cả cách xử lý có tính lịch sử của nhà nước cộng sản Việt Nam vế đất đai từ những năm 50 của thế kỷ trước đến nay đều kế tục quan điểm xem đây là tư liệu sản xuất hoặc đối tượng lao động; nó không phải là tài sản chiếm hữu hoặc sở hữu để chế tài như các thông lệ về quyền tư hữu tài sản đã ghi trong Hiến pháp 1946. Dựa vào lý thuyết marxist về quan hệ sản xuất, nhà nước cộng sản Việt Nam xem đất đai như một hiện tượng bất bình đẳng trong chiếm hữu tư liệu sản xuất do chế độ phong kiến tạo ra; vì vậy, để làm cách mạng xây dựng chế độ mới, phải từng bước xoá bỏ triệt để hiện tượng này. Đây không phải là quá trình pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản, mà là chuyện chính trị của quá trình cách mạng; nó không thuộc phạm trù kế thừa luật pháp hình sự, dân sự; không phải là nhân quyền hay dân quyền, mà là một hiện tượng phản động của lịch sử, cách mạng có quyền xoá bỏ.

Công an tấn công nông dân tại Văn Giang
Điều này khác hẳn và tạo ra phân biệt xử lý giữa đất đai và các tài sản khác của người dân nói chung và người nông dân nói riêng. Vì vốn là tài sản lịch sử nên đất đai của người dân, kể cả địa chủ và các tầng lớp nông dân, đều được hình thành do sự đầu tư riêng (mua bán, kế thừa, chuyển nhượng; cả của tập thể họ tộc, chùa chiền, nhà thờ và cá nhân), song khi đi vào hợp tác hoá, trong khi đất đai bị quốc hữu hoá hoàn toàn , bị cải biến hoàn toàn về hình thức tồn tại thì các tài sản khác vẫn được bảo lưu trong nguồn vốn tập thể, trong hình thức liên doanh, công tư hợp doanh. Sự bất công này kéo dài cho đến khi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa bị phá sản vào những năm 80, 90; khi đó, các doanh nghiệp nhà nước, vốn là tài sản của dân, bị bán tống tháo đi với nhiều cách làm rất tiêu cực qua quá trình cổ phần hoá biến đảng viên cộng sản công, thương nghiệp thành người chủ cổ phần, tức tư nhân hoá, tư bản hoá tài sản xã hội chủ nghĩa, người nông dân vốn đã bỏ những tài sản rất thật của mình vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiếp tục bị tước đoạt. Lúc họ bỏ ra đất đai để làm cách mạng, họ đã chấp hành một chính sách cưỡng đoạt, để mua lấy sự an toàn và niềm tin về một xã hội mới. Khi mô hình xã hội mới đó phá sản, những người cộng sản tìm cách hưởng lợi khác thì người nông dân bị bỏ rơi với cách nói chẳng nghĩa tình gì: đất đai là sở hữu toàn dân, không có bất kỳ sự cứu xét nào về lịch sử chính sách đất đai, về đối tượng đất đai đã bị cách mạng xử lý. Cũng vào lúc ban đầu ấy, không có ai nói với họ về sự hài hoà lợi ích giữa nhà nước, người dân và nhà đầu tư như kiểu giải thích ngụy biện và cơ hội chủ nghĩa như bây giờ; chỉ có một lợi ích duy nhất là chủ nghĩa xã hội. Làm gì có cái gọi là nhà đầu tư vào những năm 50 ở miền bắc và những năm 70, 80 ở miền nam và cũng làm gì cần phải đặt ra sự hài hoà lợi ích về đất đai giữa nhà nước và người dân nếu nhà nước là của dân, do dân, vì dân!

Suy cho cùng, khi đã lộ cái đuôi lợi ích ra vì kinh tế thị trường, vì những tiêu cực nảy sinh tất yếu và cố tình do chính sách đất đai; khi tư liệu sản xuất của chủ nghĩa xã hội trở thành tài sản của tư bản nước ngoài, tư bản đỏ trong nước với sự hỗ trợ, chia chác của nhà nước cộng sản, mới có cách giải thích như vậy. Còn từ khởi thuỷ của cách mạng, khi quốc hữu hoá đất đai, những người cộng sản chỉ đơn giản tước đoạt toàn bộ hạ tầng kinh tế của hộ gia đình nông dân và các tầng lớp dân cư nông thôn khác, tước đoạt công cụ sinh nhai tự túc – kẻ thù của công hữu cộng sản- của dòng họ, tôn giáo, học hữu; qua đó, họ muốn triệt hạ toàn bộ thiết chế vật chất và tinh thần của xã hội cũ, xã hội phong kiến, để cho sản phẩm của xã hội mới thay thế; nhờ vậy ơn đảng, ơn nhà nước mới có gí trị. Chuyện quốc hữu hoá đất đai nói riêng, các tư liệu, phương tiện sản xuất khác nói chung của mô hình xã hội chủ nghĩa ấy không phải chỉ là vì mục tiêu kinh tế và nếu chỉ vì mục tiêu ấy thì cộng sản quả là không trí tuệ; mục đích chính là chính trị, là cải tạo xã hội. Hợp tác xã là một thiết chế quản lý con người về phương diện dạ dày, và qua dạ dày để quản lý trái tim và khối óc; ông chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp có quyền quyết định một thanh niên có được đi học đại học hay không thông qua thủ tục cắt chuyển tiêu chuẩn lương thực từ địa phương cấp xã đến trường đại học. Chủ nghĩa xã hội khi tịch thu đất đai của nông dân chính là vì vậy; cho nên sau này, khi đánh giá những sai lầm của nền kinh tế tập trung kế hoạch hoá, đảng vẫn móc vào đó một ý khen là nhờ đó mà huy động được lương thực cho chiến trường, động viên được quân lực (vì không nhập ngũ thì lấy đâu ra gạo ăn) và hạt gạo chia tư cho cả “nghĩa vụ quốc tế”. Cái mất của người nông dân là bị tước đoạt của cải để phục vụ mục tiêu phấn đấu cho công bằng, bình đẳng, tự do, dân chủ, giống như một sự góp vốn làm ăn, song khi mục tiêu của công cuộc làm ăn thất bại, cái vốn ấy không được trả lại và biến thành lợi ích của các nhóm khác, bao gồm chủ yếu nhóm cai trị. Qua cái bị mất hữu hình đó, họ đồng thời cũng bị tước đoạt những giá trị vô hình liên quan đến quyền sở hữu tư nhân tài sản, vốn rất thiêng liêng, được hình thành qua hàng nghìn năm phát triển của lịch sử dân tộc, của nhân loại. Với mỗi người nông dân Việt Nam, đất đai là núm ruột, là tình cảm của ông cha để lại, là kết quả sự cố gắng tằn tiện, “ăn mắm mút giòi” suốt đời của đôi vợ chồng nghèo dành cho con cháu, là ngôi mộ của tổ tiên, ông bà ở đó, là mối liên kết, chia sẻ trách nhiệm của các thành viên dòng họ, xứ đạo, bổn hữu của ngôi chùa, là tuổi thơ, bến nước, con đò… Khi họ mất tài sản đất đai, những cái ấy cũng sẽ mất đi. Không thể có cách nói nguỵ biện đương đại về mục tiêu kinh tế hướng đến nền sản xuất lớn trong nông nghiệp, một nền “nông nghiệp hợp lý hoá” khi quốc hữu hoá đất đai trước đây và rục rịch toa rập tích tụ đất đai hiện nay với những trích dẫn marxist cũ rích như kiểu của tác giả Đỗ Thế Tùng trên Tạp chí cộng sản . Trong khi nhiều nước có nền nông nghiệp cực kỳ hiện đại, là cường quốc của nhiều ngành nông sản nhưng vẫn duy trì chế độ tư hữu về đất đai thì không thể cả vú lấp miệng nông dân bằng luận điểm “Việc qui định ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý là phù hợp với qui luật tiến hoá và xu hướng phát triển của nông nghiệp hiện đại”, rằng “vai trò đại diện và quản lý của Nhà nước là tất yếu”.

Cùng với nông dân, nông thôn Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng, cũng bị đánh phá đến kiệt quệ, trở thành một không gian u ám, căng thẳng. Những cuộc đấu tố và xử lý địa chủ, phá phách chùa chiền đền miếu mồ mả, cuộc vận động áp đặt nông dân vào hợp tác xã, thu thuế phí, động viên thanh niên nhập ngũ, việc chia tách các thành viên gia đình và chế độ, thời gian sinh hoạt gia đình theo mô hình sản xuất hợp tác xã, thậm chí có lúc có nơi đã là công xã, mức thu nhập tối đa 1kg lúa/một ngày công, cảnh nhận giấy báo tử từ chiến trường …kéo dài suốt những năm 60, 70. Nông thôn chịu vô số thiệt thòi khác do tỉ lệ thất học, mù chữ, do trình độ dân trí bị cố tình làm chậm phát triển; cơ cấu thanh niên được vào đại học, cao đẳng thấp, không bình đẳng với đô thị; thiếu thốn, nghèo nàn trong thông tin, sinh hoạt tinh thần; chất lượng hiểu biết thấp và thói cửa quyền, cường quyền của đám cán bộ hợp tác xã, chính quyền địa phương. Tình trạng đó vẫn không khắc phục được, hoặc không được khắc phục cho đến cả thời kỳ “đổi mới”. Các chính sách với nông dân, nông thôn không đủ để khỏi phải huy động sự đóng góp của người dân với hàng vài ba chục thứ phí thu hàng năm dẫn đến đỉnh điểm mâu thuẫn ở sự kiện Thái Bình 1997. Người dân nông thôn vẫn phải cam chịu với hạ tầng kém hơn nhiều đô thị; họ phải bỏ tiền ra để tự mắc điện rồi trả tiền điện với giá cao hơn; họ cũng phải bỏ ra số tiền bằng thu nhập của gia đình trong cả năm, tương đương với hàng nghìn cổ phiếu của công ty để làm đường nông thôn nhưng không sở hữu được gì cả. Để tiếp cận với đô thị gần nhất (đi học, mua bán, giải trí…), họ cũng phải chịu hao mòn phương tiện và tiêu tốn nhiên liệu nhiều hơn.

Đối lập với vùng u ám chiếm tỉ lệ lớn diện tích đất nước đó, đô thị, trong thời gian chiến tranh cũng như hoà bình, đổi mới, luôn luôn được ưu ái, có nhiều ưu thế hơn: hạ tầng đô thị, tiện nghi đô thị, thu nhập đô thị, các điều kiện thuận lợi về học hành, đào tạo để được tuyển dụng vào tầng lớp cai trị, các điều kiện thoả mãn sự phát triển tinh thần và tiếp cận với thế giới văn minh, kể cả tiếp xúc với người, thông tin của nước ngoài. Trong khi người nông dân trực tiếp sản xuất ra lương thực, thu nhập của họ cũng chỉ 30kg lúa mỗi tháng, tương đương 15 kg gạo, người dân đô thị, với nguồn thu nhập bằng lương và các hình thức tiền mặt khác dồi dào hơn, cũng được phân phối 13 kg gạo với giá 4,1 hào/kg. Một bà già với hàng nước chè nóng ở đầu một ngõ phố Hà Nội suốt mấy chục năm, khi đổi mới, cũng công khai của tích luỹ đến mấy chục lạng vàng. Sau 1975, nhiều người hồi kết về miền nam đã khuyên con cháu rằng bất cứ giá nào cũng phải chuyển vào sống trong đô thị. Cố gắng tạo nên bình đẳng của chủ nghĩa xã hội là như vậy.

Chính sách đất đai và các chính sách kinh tế khác đã tạo ra sự đối lập, mâu thuẫn có thật, kéo dài và ngày càng gay gắt giữa nông thôn và thành thị, giữa nông dân với nhà nước, đồng thời cũng làm cho cái gọi là liên minh công nông trở thành bánh vẽ. Chỉ đơn cử, một người bạn học của người viết bài này, đang là đảng viên cộng sản, giám đốc của một công ty chế biến nông sản ở miền trung vốn là doanh nghiệp nhà nước, tức công sản; khi công ty chưa cổ phần hoá, lương tháng của anh ta tương đương giá trị nguyên liệu nông sản ấy trên 2 hecta/1 năm, trong khi bình quân diện tích/người nông dân trồng nông sản chỉ là 0,1 hecta. So sánh tiền lãi của nông dân trong 1 năm với tiền lương 1 năm của vị giám đốc, ta có tỉ lệ 1:2000. Hiện nay, công ty đã cổ phần hoá, anh ta thành chủ của 1/5 tài sản công ty; thu nhập bằng lương tháng cộng cổ tức sẽ cao hơn nhiều.

Sự thật đã và đang là như vậy. Nhưng ai cho phép nó như vậy? Đảng cộng sản đã tạo ra tất cả bằng mũi súng, thông qua cái công cụ được hợp hiến hoá là Quốc hội. Tổ chức ấy do đảng lập ra và phần lớn đại biểu là đảng viên. Khi Quốc hội biểu quyết thông qua chính sách hợp tác xã, thông qua luật đất đai, thông qua các Hiến pháp với điều khoản công nhận quyền lãnh đạo của đảng, họ không phải đại diện cho dân và thể hiện ý kiến của dân, mà là chấp hành đảng, không phải toàn bộ đảng viên, mà chỉ một nhóm nhỏ có quyền đưa đất nước và dân tộc vào cuộc thí nghiệm xã hội chủ nghĩa.

Đến bây giờ, mọi việc đã lỡ rồi, các cơ cấu đã được thiết lập và vận hành sức mạnh của nó, để chia chác quyền lực và quyền lợi, không một ai, trong bối cảnh văn hoá chính trị Việt Nam, có khả năng và sự dũng cảm thay đổi. Thay vì thừa nhận tình trạng ấy, đảng vẫn nói như đinh đóng cột rằng đất đai là sở hữu toàn dân, với một thái độ trâng tráo, ngạo mạn đến vô ơn, vô sỉ.

Hãy cứ đưa điều đó ra trưng cầu dân ý, chắc sẽ có câu trả lời chung cho việc khẳng định chủ nghĩa xã hội là con đường lựa chọn của toàn dân, về chế độ công hữu, về tính nhân dân của nhà nước Việt Nam hiện nay.

© Xích Tử
Theo dân Luận


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Thùy Linh - Nội chiến

Mình viết entry này khi đang say…

Những ngày này mình muốn say để không đọc được những dòng thông báo về blog anh bạn văn vừa bị chặn. Chỉ vì anh nói hộ cho người dân không cất được lời than.

Mình muốn say mờ mắt để khỏi thấy bức hình chụp mấy cái xe ba bánh (nghe họ tự giới thiệu là cựu chiến binh) đến một viện nghiên cứu gây gổ với một tiến sỹ giữa thanh thiên bạch nhật, giữa một quốc gia tuyên bố có nhà nước pháp quyền. Họ yêu cầu tiến sỹ này gỡ bỏ yêu cầu về ngừng xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên quê hương, yêu cầu đóng cửa blog, yêu cầu viện nghiên cứu nọ đuổi việc tiến sỹ kia…Chỉ vì anh tiến sỹ làm theo tiếng gọi của tinh thần công dân. Họ nhân danh ai? Không nhân dân nào nhờ họ làm việc đó?

Quê hương, đất nước tôi đang ở đâu giữa nhân loại này?

Nhân dân tôi đang ở đâu giữa mảnh đất mà họ gọi là Tổ quốc?

Nhân phẩm, tính mạng con người là gì giữa một nhà nước tự nhận là nhà nước pháp quyền hùng hậu?

Đã gần lắm rồi cái ngày mở mắt ra không còn phải đau khổ vì chủ quyền đất nước bị xâm hại. Vì lúc đó chủ quyền còn nữa đâu mà đau khổ? Mảnh đất hình chữ S đang khép lại giữa những gọng kìm. Bầu trời xanh đã ầm ào những máy bay nước lạ xâm phạm. Trên biển Thái Bình Dương nhiều tàu nước lạ với súng ống đầy đủ đang chĩa thẳng vào ngư dân và bờ biển quê mình. Chữ S đang quằn quại đau đớn, đơn độc. Nhưng nhiều kẻ vẫn đang chia nhỏ chữ S ấy thành nhiều mảnh để qui đổi thành tiền.

Sẽ không còn lá cờ Tổ quốc bay ở cổng nhà mỗi ngày lễ, tết? Vì có thể sẽ là lá cờ khác. Không lẽ đành cắn răng, bấm bụng ứa máu để tự nhủ, lá cờ kia sẽ là lá cờ Tổ quốc mình? Không lẽ phải học quen với bài học về lãnh thổ mới. Quên câu thơ đi vào các bài giảng thuở nào: “Quê hương ta một dải/Từ mũi Cà Mau/Đến địa đầu Móng Cái/Quê hương ta đồng ruộng phì nhiêu/Đủ bốn mùa hoa trái…”. Có thể quê hương ta sẽ có tuyết trên nóc nhà thế giới. Biết đâu cái lạnh sẽ ướp đông nỗi đau mất nước kéo dài vài ngàn năm?

Sẽ thôi đau khổ vì nước mắt đã cạn, tim thôi thổn thức, trí óc nhẵn nhão quên hẳn tiếng mẹ đẻ để học tiếng người lạ với một tâm hồn trơ lỳ, gỗ đá. Vài người cười buồn: nhân gian này đâu cũng là nhân gian, đâu có đất và nước thì sẽ là đất nước để liếm vết thương rỉ máu trên cơ thể mình.

Tất cả sẽ nát bấy trong cuộc nội chiến đang từng ngày dâng cao. Nội chiến về Tư tưởng. Nội chiến về sự tận thu, tận diệt Tiền tài, Danh lợi cho vài cá nhân. Nội chiến về Niềm tin, về Con đường, về Tính người…

Không còn cả thất vọng vì làm gì có niềm tin để làm thành một đồng trinh hai mặt dù bé nhỏ cho mua bán, đổi chác, phấn đấu, hy sinh?

Không còn cả cái Đẹp để bám víu sống và hy vọng thì con người sẽ đi về đâu? Vào rừng hoang làm thú đói gầm thét đòi mạng sống? Cái Đẹp cũng thành mơ hoang khi nhiều người dân lam lũ kiếm từng miếng ăn mỗi ngày. Cái ăn khiến con người trở nên hèn nhát, đê tiện, thấp kém, bẩn thỉu…? Vì thế mà họ đang dồn dân tộc này đến chỗ không còn có thể kiếm được miếng ăn? Cái ngày con người thành thú đói không lẽ là sự thật?

Hồ Tây về chiều ở những ngày này tuyệt đẹp, nhất là khi mặt trời sắp lặn. Sen các hồ ngan ngát dệt vào hơi thở và đệm mát cho không gian oi ả. Dường như đó là cái Đẹp cuối cùng của mảnh đất này? Sau đó là cái gì khi cuộc nội chiến này qua đi?

Cái mất cuối cùng là cái Không còn gì để mất…

Nhưng bạn ơi, dù thế nhiều người vẫn đang làm một cái gì đó…Hãy nhớ lại nhân loại đã hành động ra sao khi phát xít Đức huỷ diệt nhân loại ở thế chiến 2? Nhưng nhân loại vẫn tồn tại và phát triển. Luôn có người dấn thân vì lẽ phải. Cao hơn là vì cuộc sống phải được tiếp diễn…

Chuyện kể rằng, dàn nhạc giao hưởng của nhạc trưởng Jeane-Claude Casadeur đã đưa dàn nhạc của mình tới những nơi tăm tối nhất mà con người phải chịu đựng để khơi dậy cái Đẹp ở những con người đang tuyệt vọng, cô đơn, giúp họ nâng cao tâm hồn mình…Dàn nhạc của ông đã tới nhiều nơi, trong đó có khu phố ổ chuột với nhiều tệ nạn xã hội. Mới đầu việc làm của ông bị chê cười, đả kích, thậm chí bị coi là điên khùng. Nhưng rồi ông và đồng nghịêp đã mở được cánh cửa nghệ thuật, chính xác hơn là cánh cửa cuộc đời của nhiều đứa trẻ nghèo đói, khổ sở đến với tương lai…

Câu châm ngôn của thi sỹ Ba lan Czeslaw Milosz, người được giải Nobel nhắc nhở rằng: “Dù bạn chỉ là một hòn đá ngoài đồng/Khối đá lở có thể đổi đường đi của bạn / Theo những hòn đá lăn lên nhau”.

Còn triết gia Pháp Enmanuel Mounier viết: “Chỉ cần một hòn đá đặt đúng chỗ có thể quay chiều được dòng sông”.

Hãy đọc lời nguyện này của tu sỹ dòng Đa Minh Louis-Joseph Lebret, cũng là lời nhắn gửi cho những ai còn ưu thời mẫn thế vào thời buổi con người thu mình lại để chỉ nghĩ cho bản thân mình:

Ôi Chúa ơi, xin Chúa gửi đến cho chúng con những người điên
những người dấn thân tận cùng,
những người biết quên mình,
những người yêu thương không bằng lời,
những người dấn thân đích thực và đến cùng.

Chúng con cần những người điên, những người đam mê, những người không hợp lý,
những người dám nhảy vào chỗ bất an,
vào vết thương rộng toác của nghèo khó,
những người chấp nhận
sống quên mình trong đám đông ẩn danh
không một ước muốn dùng bậc thang để tiến thân,
chỉ dùng khả năng của mình để phục vụ.

Bước nhảy không phải để cắt với môi trường sống,
đó là bước nhảy cắt thật sâu đậm con người ích kỷ,
mà đến giờ phút này tính ích kỷ còn thống trị.

Chúng con cần những người điên ở giây phút hịên tại này,
những người đam mê một nếp sống giản đơn,
giải phóng người nghèo một cách hiệu quả,
những nghệ nhân của hoà bình,
những người không bị ô danh,
không bao giờ phản bội,
hy sinh cuộc sống riêng của mình,
chấp nhận làm bất cứ gì, đi bất cứ đâu,
tự do và vâng lời,
hồn nhiên và kiên định,
dịu dàng và vững mạnh.


Và, bạn ơi, đừng tuyệt vọng…Tôi kêu bạn nhưng thực ra tôi đang cần kêu lớn cho chính tôi, kể cả lúc đang say này…

© Thùy Linh
Theo blog Thùy Linh







* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều