05/17/12 - VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Nông dân Văn Giang kêu cứu

Đăng bởi Biên tập viên vào Thứ năm, ngày 17 tháng năm năm 2012

Đại diện một số người dân tại ba xã Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, vào ngày 16 tháng 5 lại có tường trình và thư kêu cứu liên quan đến cuộc sống của họ.

Mất đất, mất việc làm

Khu đất huyện Văn Giang - Hưng Yên sau ngày cưỡng chế
Tờ trình và kêu cứu do 9 người dân đại diện tại ba địa phương vừa nêu có ghi họ tên theo thứ tự ABC với số chứng minh nhân dân và điện thoại cụ thể gửi cho các cấp cao nhất của Đảng và chính phủ từ trung ương đến địa phương và các cơ quan ngôn luận.

Ông Lê Văn Dũng, một đại diện người dân mất đất tại xã Xuân Quan cho biết lý do tiếp tục gửi tờ trình và kêu cứu đến các cơ quan chức năng như vừa nêu:

"Bây giờ chúng tôi bị mất hết đất, không có công ăn việc làm, đói kém xảy ra nên chúng tôi phải kêu cứu thôi. Chính vì tài sản của chúng tôi bị mất, không có công ăn việc làm nên phải kêu cứu. Chúng tôi trông đợi kỳ họp sắp tới đây. Theo như phát biểu của các lãnh đạo Nhà Nước chúng tôi thấy nhiều cái cũng mừng. Đặc biệt có quan tâm đến đất đai. Ông Nguyễn Phú Trọng có nói đến chuyện đất đai. Sở hữu của toàn dân là của chúng tôi còn Nhà nước chỉ đại diện chúng tôi quản lý chứ không thể sử dụng đất có sổ đỏ của chúng tôi."

Tờ trình và kêu cứu của người dân tại ba xã Xuân Quan, Phụng Công và Cửu Cao gồm ba phần. Phần thứ nhất đề nghị xem xét thẩm quyền, tính pháp lý, hiệu lực thi hành của các văn bản có liên quan đến dự án. Đối với tính pháp lý của những văn bản liên quan dự án thu hồi đất của người dân tại ba xã thuộc huyện Văn Giang để thực hiện dự án Khu đô thị Sinh thái Ecopark, vừa qua vào ngày 5 tháng 5, người dân cũng đã có đơn tố giác có dấu hiệu làm giả tài liệu của chính phủ.

Trong tờ trình vào ngày 16 tháng 5, đại diện của dân chúng ba xã Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao nêu rõ là kể từ năm 2009 họ đã tiến hành gửi đơn hay trực tiếp đến các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương để trình bày vụ việc, thế nhưng không có cơ quan nào thụ lý và giải quyết đơn khiếu nại và tố cáo của người dân về dự án Ecopark. Điều này được ông Lê Văn Dũng nhắc lại:

"Đơn từ gửi nhiều rồi nhưng vừa qua người ta cưỡng chế chúng tôi mất hết tài sản nên phải kêu. Chúng tôi thất vọng vì bao nhiêu năm không được Nhà Nước giải quyết. Từ năm 2009 chúng tôi đã gửi đơn cho Quốc Hội và chính phủ nhưng chưa có cơ quan nào thụ lý, giải quyết cho chúng tôi; tự nhiên họ lại ra cưỡng chế."

Đơn từ gửi nhiều rồi nhưng vừa qua người ta cưỡng chế chúng tôi mất hết tài sản nên phải kêu. Chúng tôi thất vọng vì bao nhiêu năm không được Nhà Nước giải quyết.
Ô. Lê Văn Dũng, xã Xuân Quan
Tại cuộc họp trực tuyến giữa thủ tướng chính phủ với đại diện các tình thành trong cả nước về tình hình đất đai, người đại diện của tỉnh Hưng Yên là phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Khắc Hào đã báo cáo với thủ tướng về vụ việc cưỡng chế hồi ngày 24 tháng 4 năm 2012 tại xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, nhằm thu hồi đất giao đợt hai cho dự án Ecopark. Trong báo cáo với thủ tướng, ông Nguyễn Khắc Hào cho rằng người dân địa phương có móc nối với các phần tử chống đối trong và ngoài nước để chống lại đoàn cưỡng chế.

Trong tường trình và kêu cứu đưa ra hôm ngày 16 tháng 5, đại diện dân ba xã khẳng định cáo buộc đó là sai. Thế rồi một số video clip quay lại cảnh cưỡng chế cũng bị chính quyền địa phương cho là ngụy tạo, thì người dân khẳng định họ không hề dàn dựng ra những video clip đó. Tường trình và kêu cứu tiếp tục chỉ ra những văn bản luật và dưới luật vi phạm.

Một số vấn đề khác cũng được nêu ra như chuyện chính quyền địa phương sách nhiễu người dân do không chịu nhận tiền bồi thường. Đại diện người dân ba xã bị thu hồi đất để làm dự án Ecopark mà không được bồi thường thỏa đáng cũng đặt câu hỏi về tính hợp lý của việc mở đường liên tỉnh Hà Nội- Hưng Yên với những bất hợp lý mà người dân nêu ra cho thấy mục tiêu cuối cùng là nhằm thu hồi đất ‘bơ xôi, ruộng mật’ đang nuôi sống họ một cách vô tội vạ mà thôi.

Tiếp tục mưu sinh

Ông Lê Văn Dũng cho biết mới nhất vào ngày 14 tháng 5 vừa qua, một số người dân huyện Văn Giang có đất đai bị thu hồi đã đến ủy ban nhân dân huyện để gửi đơn tiếp tục khiếu nại:

 "Hôm kia chúng tôi xuống gửi đơn khiếu nại việc cưỡng chế vào ngày 24 tháng tư vừa rồi, quyết định của bà chủ tịch huyện. Nói chung cơ quan tiếp dân họ có nhận đơn và có phiếu nhận cho bà con đầy đủ, đàng hoàng."

Trước những diễn tiến của tình hình thu hồi đất đai tại huyện Văn Giang, và những phát biểu gần đây của các cấp chính quyền tỉnh như của ông phó chủ tịch Nguyễn Khắc Hào, ông chánh văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh Bùi Huy Thanh. Vào chiều ngày 16 tháng 5, chúng tôi gọi điện đến cho ông Bùi Huy Thanh, để nghe tiếng nói từ phía chính quyền, nhưng máy của ông Thanh reo chừng một phút sau đó tắt không liên lạc được.
Người dân Xuân Quan, Văn Giang trở lại canh tác trên đất đã bị cưỡng chế. Photo courtesy of sgtt.vn
Vì thất nghiệp xảy ra nên bà con mang cây cối ra để có sinh hoạt thôi. Chứ còn người ta cứ lấy nữa thì mình phải chịu.
Ô. Lê Văn Dũng, xã Xuân Quan
Về phía người dân, mong muốn của họ là được tiếp tục sản xuất trên đất đai mà họ được nhà nước cấp sổ đỏ để sinh sống. Dù bị cưỡng chế bằng vũ lực hồi ngày 24 tháng 4, đến ngày 9 tháng 5 vừa qua, dân chúng đã mang tre ra rào lại khu đất của họ và tiếp tục trồng cây cảnh để sinh sống. Ông Lê Văn Dũng cho biết phải làm thế mặc dù có thể họ lại gặp khó từ phía chính quyền địa phương:  

"Vì thất nghiệp xảy ra nên bà con mang cây cối ra để có sinh hoạt thôi. Chứ còn người ta cứ lấy nữa thì mình phải chịu."
 
Trong thời gian qua nhiều trí thức và dân chúng từ nhiều nơi trên thế giới đã bày tỏ ý kiến của họ về vụ việc cưỡng chế đất đai của người dân tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Mạng bauxite Vietnam ra một tuyên bố về việc cưỡng chế giải tỏa đất đai Văn Giang bằng vũ lực từ hồi đầu tháng 5. Đến nay đã có hơn 3200 chữ ký ủng hộ cho tuyên bố này. Một trong những yêu cầu của tuyên bố là yêu cầu xem xét lại toàn bộ dự án Ecopark nhằm điều chỉnh những bất hợp lý và bất hợp tình của dự án theo hướng ưu tiên lợi ích thực sự của Nhà Nước và của người nông dân có đất bị thu hồi.

Xin được nhắc lại Dự án Khu đô thị sinh thái Ecopark rộng đến 500 héc ta do Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Việt Hưng làm chủ đầu tư. Tổng vốn ước tính trên 8 tỷ 200 triệu đô la Mỹ.

© Gia Minh, biên tập viên RFA


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Đâu là chiếc đũa thần chống tham nhũng?


Lương không bao giờ là chiếc đũa thần chống tham nhũng bởi một lẽ rất đơn giản: Không ai vì nghèo mà tham nhũng cả!

Ban chỉ đạo TƯ về PCTN sẽ trực thuộc Bộ Chính trị, do trực tiếp Tổng bí thư làm Trưởng ban. Tái lập Ban Nội chính TƯ, cơ quan thường trực của BCĐ. Không thành lập BCĐ tỉnh, thành phố mà tỉnh ủy, thành ủy sẽ trực tiếp lãnh đạo công tác phòng, chống tham nhũng. Đây là những quyết định quan trọng vừa được quyết định tại Hội nghị lần thứ 5 BCH TƯ Đảng vừa bế mạc sau 9 ngày họp.

Hội nghị TƯ 5 đã dũng cảm nhìn nhận vào sự thật: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội”. Nhưng đây là những sự thật lặp đi lặp lại, kéo dài năm này qua năm khác.

Có quá nhiều nguyên nhân, nhấn mạnh là những nguyên nhân cũ rích. “Chưa quyết tâm lãnh đạo và gương mẫu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; “Những bất cập về thể chế, trong việc ban hành, thực thi luật pháp, cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế – xã hội; Những “sơ hở, bất cập, thiếu công khai, minh bạch, tình trạng “xin – cho”; “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…

Nguyên phó tổng Thanh tra Chính phủ ông Vũ Phạm Quyết Thắng nói trên Tuổi trẻ rằng mô hình Ban chỉ đạo hiện nay vẫn còn mang tính chất hành chính trong hoạt động. Dường như “tính chất hành chính” chỉ là một cách nói. Bởi sự nghiêm trọng và phổ biến của tham nhũng cho thấy nguyên nhân quan trọng nhất là sự bất lực của bộ máy phòng chống tham nhũng.

Vì vậy, sự độc lập tương đối khi BCĐ trực thuộc Bộ Chính trị và việc BCĐ ở địa phương tách khỏi cơ quan hành chính có vẻ là “chìa khóa” nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng. Thực ra, việc tách BCĐ ra khỏi hành pháp thực ra đã được Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh đề xuất tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ QH tháng 10-2011. Tổng Thanh tra dẫn ý kiến đề xuất của 40-50% số địa phương” cho rằng chống tham nhũng nên “tách hẳn với hoạt động quản lý, điều hành…”. Bởi nếu vừa hoạt động, điều hành, vừa chống tham nhũng từ chính các hoạt động, điều hành có khác gì “vừa đá bóng, vừa thổi còi”!

Tuy nhiên, sự độc lập không phải là tất cả, như TBT Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Không phải cứ lập BCĐ là xoay chuyển ngay được tình hình như “một chiếc đũa thần”.

Vậy thì đâu là “chiếc đũa thần” cho công tác phòng chống tham nhũng?

Nhiều người đã nói đến liều thuốc “Lương đủ sống”. Chính Hội nghị TƯ lần này cũng đã nhấn mạnh phải “tạo bước đột phá trong việc tạo nguồn, bảo đảm cho cải cách tiền lương” bởi “chi tiền lương là chi cho đầu tư phát triển, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ và minh bạch hóa các quan hệ xã hội”. Tuy nhiên, lương không bao giờ là chiếc đũa thần chống tham nhũng bởi một lẽ rất đơn giản: Không ai vì nghèo mà tham nhũng cả.

Còn nhớ năm ngoái, khi một quan chức ở Cần Thơ tổ chức đám cưới cho con với dòng chức danh Phó BCĐ tham nhũng ghi to đoành trong thiệp cưới, có tờ báo dẫn lời “tân khách” là một doanh nghiệp nói rằng: Không thân thiết với gia đình ông này lắm, nhưng thấy dưới tên cán bộ ghi chức danh quá to nên “cả nể” đi dự tiệc. Còn ông Phó Ban, giải trình về đám cưới hơn trăm ô tô đậu kín sân, khách mời ngồi kín sảnh 90 bàn, và về dòng chức danh trên thiệp cưới đã đổ phắt cho “con cháu ở nhà” tổ chức in thiệp đã để luôn tên và chức danh của ông còn ông chỉ “in chức danh ở một số thiệp gửi mời cán bộ”.

Phó chánh văn phòng Thường trực Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng Phạm Anh Tuấn có lần đã nói đại ý: Cái nguy hiểm nhất là xã hội bình thường hóa, chung sống hòa bình với tham nhũng. Ông đòi hỏi: Ngay trong nội bộ các cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng phải biết dị ứng với cái đó.

Chiếc đũa thần, nếu có, không phải là Ban chỉ đạo nằm ở đâu, có độc lập hay không, cũng khó có thể đòi hỏi “lương tâm và trách nhiệm” của những người có quyền chức, phải là thái độ xã hội, phải bắt đầu bằng sự quyết liệt của cơ quan phòng chống tham nhũng và phải từ một cơ chế cần có để người dân có thể giám sát.

© Đào Tuấn
    Theo blog Đào Tuấn


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Từ Marx đến Văn Giang


Không có gì bất biến. Học thuyết Marx hay bất kỳ tư tưởng, học thuyết nào cũng phải thay chuyển. Nếu không nó sẽ thành vật cản cho sự phát triển và hóa... phản động. Tranh luận, nhìn xét lại một số điểm của học thuyết Marx là điều cần thiết. Bài viết của một trí thức Việt hải ngoại- tiến sĩ Phạm Ngọc Cương đụng chạm đến một số điểm vốn được xem là “nhạy cảm”, nhưng là một phản biện khoa học tích cực, và đặc biệt thú vị khi tác giả dùng để liên tưởng, dẫn giải đến câu chuyện thời sự Văn Giang. Nếu ai đó muốn phản bác hãy tranh luận bằng những luận cứ, diễn giải khoa học, khách quan, xin chớ vội vã qui chụp hồ đồ. Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phải đồng nhất với góc nhìn và quan điểm của website Một góc nhìn khác- TDN.

1- Nô lệ tư tưởng:

Thực tế là thước đo kiểm chứng chân lý. Theo qui chiếu này, chủ nghĩa Marx có rất nhiều luận điểm nghe thì nhân bản và tiến bộ, nhưng áp dụng vào cuộc sống lại thành đi ngược lại trào lưu tiến hóa thành... phản động!

Marx minh định rõ ràng và chính xác rằng hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc. Và nếu hiểu “lịch sử tất cả các xã hội từ trước đến nay là lịch sử của đấu tranh giai cấp”(1) là chỉ hiểu theo bề mặt của vấn đề. Phải hiểu là lịch sử của loài người từ thuở khai sinh lập địa đến nay là lịch sử của phát triển phương thức sản xuất mới là hiểu đúng gốc của vấn đề.

Karl Marx thấy nguồn gốc của bất công xã hội là do việc phương tiện sản xuất bị tập trung vào tay một số ít người vì vậy cần công hữu hóa để tạo sự bình đẳng tiếp cận và quá trình này sẽ tạo ra một quan hệ sản xuất mới. Khi mỗi người đều có sự tiếp cận bình đẳng với công cụ lao động, và “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người”(2) thì xã hội sẽ dân chủ và ưu việt hơn vạn lần dân chủ tư sản và điều đó sẽ dẫn đến một hiệu quả lao động vượt trội so với chủ nghĩa tư bản. Có ai ngờ công hữu hóa ở những thể chế độc tài lại (...) tập trung của cải vào tay một số kẻ nhân danh vì dân, vì nước vì sự phát triển... và gây nỗi sợ hãi, phẫn uất cho quần chúng khi quyền về sự tiếp cận công bằng với tư liệu sản xuất thành đặc quyền của thiểu số ban phát điều kiện sống cho quảng đại.

Cũng theo Marx, tư bản sẽ không tự nguyện từ bỏ tài sản của mình vậy cần phải có bạo lực cách mạng của quần chúng để lật đổ nó, và vô sản một nước chưa đủ lực làm việc này nên cần hợp lực, vô sản tất cả các nước cần đoàn kết lại. Cần giành được chính quyền để quốc hữu hóa tư liệu sản xuất, và cũng vì thế cần duy trì chuyên chính vô sản để trấn áp và ổn định cái công hữu ấy. Thực tế là bạo lực luôn nuôi dưỡng bạo lực và hận thù, chứ không phải là động lực chính để khôi phục, tái thiết và phát triển bài bản.

Nhiều quốc gia đã phải trả giá đắt cho việc coi nhẹ sức sản suất mà coi quá nặng việc thiết lập quan hệ sản xuất không tưởng mới. Ngay từ năm 1921 tức là sau cách mạng tháng Mười có 4 năm, Lê Nin của nước Nga đã phải ra chính sách kinh tế mới (NEP). Năm 1966 ông Kim Ngọc ở Vĩnh Phú đã đề ra tư tưởng khoán hộ. Từ năm 1977 Đặng Tiểu Bình ở Trung Quốc đã quyết liệt với đường hướng mèo đen hay mèo trắng không quan trọng miễn là nó bắt được chuột. Tất cả đều là sự tháo chạy tỉnh táo về kinh tế ra khỏi chủ nghĩa Marx.

Thực hiện mô hình của Marx, vô hình chung xã hội tự đánh mất động lực phát triển của sức sản xuất bằng cách triệt tiêu tận gốc rễ sức sáng tạo cá nhân trên cơ sở quyền tư hữu. Marx mới hiểu có máy móc... là công cụ lao động và đất cát, tài nguyên ... là tư liệu sản xuất. Marx đã không nhìn ra trên cơ sở có sự bảo hộ luật pháp về quyền tư hữu và tự do, trí tuệ con người mới vừa chính là công cụ lao động sắc bén nhất vừa là tư liệu sản xuất phong phú nhất để làm thăng hoa mọi giá trị của cuộc sống con người. Theo lăng kính Marx thì làm sao hiểu được các cậu thanh niên trẻ gần như tay trắng về tư liệu và công cụ sản xuất (theo kiểu hiểu của Marx) bắt đầu chỉ bằng khối óc của mình trong thời gian ngắn kỷ lục lập ra các đế chế công nghệ và tài chính hùng mạnh như Microsoft, Google, Facebook, Apple... từ giành giật đất đai như giành giật tư liệu xản xuất chính, cuộc chiến giữa các quốc gia tân tiến và công ty văn minh giờ là cuộc chiến giành người, dành ưu thế về chất xám và thị trường.

Từ khởi đầu bản Tuyên ngôn cộng sản khi Marx cùng Engel viết vào năm 1848, các ông dùng từ “bóng ma” để chỉ một trào lưu tư tưởng và chính trị cộng sản đang lên. Thực tế học thuyết của các ông quả là cơn ác mộng, là bóng ma thật cho quảng đại dân chúng nơi chính quyền luôn xào nấu món ăn tư tưởng này. Là người cả đời thất bại trong việc mưu sinh cho bản thân và gia đình, nhà kinh tế học Marx có ngờ đâu những kẻ hậu sinh khoác hờ chiếc áo tư tưởng của ông lại là những thế lực vô cùng hữu sản đang thỏa sức bóc lột và tước đoạt dữ dội quần chúng lao khổ.

Việt Nam chưa bao giờ là một cái nôi tư tưởng triết học của nhân loại. Nhưng cũng không vì thế mà chúng ta phải quá thất vọng vì không mấy dân tộc có truyền thống tư tưởng triết học. Tuy nhiên kém cái gì thì ta phải trả giá đắt cho cái đó. Thất bại lớn nhất của chúng ta trong chuyện này là luôn không đủ tầm vóc để đánh giá và nhìn nhận các hệ tư tưởng đồng thời đủ bản lĩnh tránh xa các cám dỗ tư tưởng hoang đường. Một cách ý thức hay vô thức, luôn là nô lệ cho các hệ tư tưởng ngoại lai (...) Trường hợp tốt nhất là du nhập được ít nhiều tinh túy, tệ nhất là bê nguyên cái giáo điều của họ về. Khi xưng tụng là nguyện tuyệt đối trung thành thì cũng đồng thời tự xác nhận thân phận nô lệ. Về chuyện này tôi thấy cách hành xử của Hồ Chí Minh là đúng khi ông không dấu dốt, tự nhận là không có tư tưởng gì cả (...) Khi nói chuyện với nhiều quan chức Việt đương nhiệm, tôi thấy họ vẫn luôn dẫn Marx coi đó như chân lý, kinh điển, hoặc thích qui chiếu kinh nghiệm cải cách của Trung Quốc. (...) Đấy chính là thân phận nô lệ tư tưởng.


2- Phô diễn bạo lực?

Trong cương lĩnh chính trị 2/1930 tại Hương Cảng, đảng CS Việt Nam tuyên bố sẽ làm cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất. Việt Nam tự do (phản đế - dân tộc) và người cầy có ruộng (phản phong - dân chủ). Phải nói đó là một cương lĩnh chính trị sáng suốt. Ở đây nếu có sai thì chỉ sai về phương cách thực hiện, khi lạm dụng bạo lực cách mạng và công cụ chuyên chính không chỉ với thù ngoài mà cả với anh em trong nhà. Một đất nước cả 72 năm bí bích và luôn thất bại trong phương án tìm kiếm độc lập (từ năm 1858 Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng tới năm 1930 thành lập ĐCS) thì hướng dùng bạo lực để giải bài toán dân tộc là có thể hiểu được. Truyền thống quật khởi và khát khao dân tộc tự chủ luôn là một nhu cầu từ tâm khảm mỗi người dân Việt. Tuy thế đảng Cộng sản còn hiểu rõ rằng lòng yêu nước dẫu cao vậy vẫn chỉ như một loại dầu gió, chưa đủ đô chiến thắng sức mạnh bạo lực của nhà nước đô hộ. Chỉ có lời hứa cấp ruộng cho hơn 95% dân chúng sống nhờ ruộng mới có thể tạo ra một quần chúng hừng hực làm cách mạng. Tự thân của khẩu hiệu này đã đánh trúng vào gốc tư hữu tiềm ẩn trong mỗi con người nói chung và nông dân Việt nói riêng. Chỉ tiếc rằng Việt Minh- một tổ chức đã biết cách làm thành công tuần lễ vàng, hũ cơm kháng chiến, chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm lại không biết cách làm cải cách ruộng đất theo hướng văn minh là vận động, áp thuế, ra chính sách điều chỉnh là chính, mà lại đi tiến hành theo phương án phô diễn bạo lực (...)

Khi cần hô hào quần chúng lao khổ, cương lĩnh đảng là “không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông”(4). Nhưng hôm nay, lịch sử đã sang trang, bà đỡ của nền đại công nghiệp ở Việt Nam đã đến và chuẩn bị hành nghề: phương thức sản xuất công nghiệp mới đang hình thành. Xây cao ốc bán, cho thuê nhà xưởng đều có giá hơn canh tác lúa gạo. Mâu thuẫn xã hội một lần nữa chỉ là bề nổi của sự thay đổi phương thức sản xuất. Khi bữa cỗ tích lũy tư bản đỏ cần được soạn lên mâm thì người nông dân phải thành vật tế thần nghiệt ngã cũng là lẽ thường. Là sản phẩm nối dài và tất yếu của cách làm kinh tế XHCN: cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, đổi tiền, (....)... năm xưa nay là cưỡng chế giải tỏa ... (...) Âu cũng là điều dễ hiểu! (...) Cách làm thời công nghiệp hóa vẫn trên cơ sở bổn cũ soạn lại. Đó là soán đoạt và ép buộc chứ không phải thuyết phục, hợp tác và chia sẻ lợi nhuận...Vì thế mới xuất hiện cảnh tượng những người dân phải chít khăn tang kéo nhau ra đồng giữ đất (...)

3- Thế kỷ thiếu anh hùng?

Rất nhiều lần tôi thấy trên báo chí, nghị quyết nọ kia của nhà nước và đảng nói về sự chống phá của các thế lực thù địch, cảnh giác nọ, cảnh báo kia. Ở hải ngoại thì các sinh họat cộng đồng luôn nói về sự phá hoại của các tổ chức cộng sản nằm vùng. Thật đau lòng khi thấy người Việt còn cắn xé nhau và khi làm việc yếu kém thì đổ vấy tội cho nhau. Chỉ biết rằng ba triệu người ở nước ngoài đó cũng chả có tư chất gì đặc biệt hơn so với họ hàng nơi quê nhà, đã không thể cầm theo mảnh đất nào của Tổ quốc khi ra đi để chia lô hay ăn tiền giải tỏa, không bán đi giọt dầu, cục than hay gram bôxít nào của đất nước, cũng không tận dụng được sức nhân công rẻ mạt nào của hơn 80 triệu bà con nơi quê nhà mà vẫn có tổng thu nhập cao hơn tổng GDP ở quốc nội. Và mỗi năm vẫn tích cóp gửi về quê hương cả 8-10% thu nhập của mình. Hiểu, giải thích hiện tượng này thế nào cho đúng? Người Việt chưa có khả năng tự tổ chức cho mình một mô hình phát triển kinh tế, quản lý xã hội hiệu quả?! Thực tế là chính phủ Việt sau nhiều chục năm vẫn chưa biết cách giải phóng hết tiềm năng con người Việt.

Yếu tố đầu tiên và duy nhất vẫn là yếu tố con người. Bao nhiêu năm nay tôi thấy có rất nhiều đánh giá khác nhau về sự thất trận của miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến nửa sau của thế kỷ trước. Nguyên nhân hàng đầu phải nói rõ mà lại ít được nói đến nhất là phía miền Nam đã không tập hợp dưới cờ của mình được nhiều tướng tài như phía miền Bắc. Ở hải ngoại, các bài phân tích về Hồ Chí Minh thật nhiều, nhưng về mặt chính trị cả hơn thế kỷ nay ở Việt Nam chưa có con người thứ hai có tầm vóc như vậy (...)

Năm 1991 khi Liên bang Xô Viết đang tan ra từng mảng, nói chuyện với các viện sỹ hàn lâm lỗi lạc của họ tôi có hỏi là họ đánh giá thế nào về Lê Nin và Stalin. Họ nói là đánh giá một di sản chính trị cần phải dựa vào cái hệ thống mà nhân vật ấy nhào nặn ra và để lại cho hậu thế. Về mặt này Stalin thành công hơn Lê Nin nhiều. Tuy nhiên một hệ thống chính trị tốn bao xương máu mà sụp đổ sau có 70 năm chứng tỏ cái viễn kiến chính trị của những người sinh đẻ ra nó là quá kém.

Kích cỡ vĩ đại của một vĩ nhân không phải bao giờ cũng tỷ lệ thuận với kết quả phụng sự dân tộc của họ. Về sự nghiệp cá nhân Phiden Castro thật vĩ đại, nhưng nếu nước Cuba không có một lãnh đạo cá tính mạnh và bảo thủ như ông thì sự đói nghèo và tụt hậu chắc đã sớm rời xa thiên đường du lịch này rồi.

Putin vĩ đại! Ông hãm được cái bánh xe nước Nga khỏi lao dốc, siết lại được một số đinh ốc sắp long của nó, và lái nó lùi dần khỏi bờ vực nguy hiểm. Cùng tiếp quản một đất nước đổ nát, có thể đánh giá Putin kém Đặng Tiểu Bình ở chỗ là ông chỉ thấy yên tâm khi phải nằm được ở đỉnh cao thực quyền hiến định. Nhưng cũng có thể thấy đến nay ông hơn Đặng nhiều điểm. Ông tiếp quản quyền lực từ khi còn khá trẻ. Luôn biết dành dù chỉ một con đường thật nhỏ cho hiến pháp và pháp luật. Chưa lần nào gây tội lớn để xấu muôn đời với dân như vụ đàn áp Thiên An Môn. Chưa lần nào phải dùng chiến tranh để tỏ “lòng trung” với thế lực quốc tế nào như việc Đặng dạy Việt Nam “một bài học” năm 1979. (...) Còn Việt Nam? Đành than thở theo kiểu nhà thơ Chế Lan Viên “ôi thương thay những thế kỷ thiếu anh hùng”!

4- Trăn trở:

Nhà nước được xây dựng để bảo vệ giai cấp thống trị hay để quản lý tốt xã hội?

Khi cả ngàn cảnh sát được huy động đến huyện Văn Giang để cưỡng chế thu hồi đất của dân, tôi không hiểu nếu cần làm việc đó ở Canada - một đất nước chỉ có 2 cảnh sát trên 1000 dân - thì chính quyền Canada phải huy động cảnh sát của bao nhiêu thành phố và thị trấn nhỏ? (...)

Thật choáng khi dân chúng Bắc Triều đang đói ăn vàng mắt mà cậu út Kim Jong Un làm lễ tưởng niệm cho người cha Kim Jong Il tại quảng trường mang tên người ông Kim Nhật Thành điều tới 70.000 quân. Để so sánh Canada là nước lớn thứ hai thế giới về lãnh thổ (9.984.670km2), to gấp hơn 82,8 lần Bắc Triều (120.540km2), có bờ biển dài 202.080km, biên giới trên bộ là 8.890km, đang có tranh chấp lãnh thổ với cả Mỹ, Nga, Đan Mạch, đôi khi còn gửi quân ra ngoài thực hiện dăm ba cái nghị quyết của Liên hợp quốc (ví dụ nghị quyết cấm bay ở Libya tốn của Canada 347 triệu đô la) mà toàn bộ quốc phòng từ tướng đến quân chỉ có vẻn vẹn 68 ngàn người. Gom toàn bộ lính kỹ thuật, lính chiến..., sỹ quan quân đội Canada không đủ sỹ số làm một lễ tưởng niệm như tay chơi Bắc Hàn phô diễn.

Cả ngàn cảnh sát tập trung trấn áp dân ở Văn Giang hay cả 70 ngàn quân lính tụ tập ở quảng trường Bắc Hàn biểu thị sự kém cỏi của chính phủ trong công nghệ trị quốc. (...) Chính phủ văn minh và nhân bản cần phô diễn và tự hào theo kiểu khác. Chính quyền Canada mới thông báo là năm 2012 đóng cửa 3 nhà tù. Vì các nhà tù liên bang hiện có tổng 15 ngàn giường và vẫn còn nhiều giường trống. Vì tỷ lệ tội phạm giảm và những nhà tù cũ không đủ tiêu chuẩn là mỗi tù nhân phải có phòng riêng. Các công ty độc lập luôn làm các trắc nghiệm xã hội. Gần đây thành phố Vaughan (một thành phố vệ tinh của đại đô thị Toronto) đăng tải ý dân. 98% cư dân đánh giá là chất lượng cuộc sống ở đây tốt. 83% dân chúng cho rằng dịch vụ dân chúng nhận được tương xứng với đồng thuế mà họ đóng. 82% dân chúng hài lòng với sự chi dùng của chính quyền thành phố. Vậy mà dù chỉ cần mắc một lỗi nhỏ trước ngày bầu bán không rõ chính quyền đương nhiệm có qua nổi sự khắt khe của dân chúng để đắc cử nhiệm kỳ tới không?

Cuối cùng đất nước ta tuy ở hàng chót cũng đang xếp hàng vào vòng quay công nghiệp hóa. Để tránh tai nạn và văng ra ngoài dù muốn hay không phải hiểu luật chơi. Ở cuộc chơi này căng thẳng nhất là sự thừa mứa việc cung ứng sản phẩm. Một Trung Quốc sản xuất dư thừa toàn bộ hàng trung và thấp cấp cho cả thế giới tiêu dùng. Nếu mất tiêu một nước Trung Quốc thì có Ấn Độ thế chỗ ngay. Nếu không có Ấn thì vài nước nhỏ như Srilanka, Bangladesh, Cambodia và Indonesia cho chạy hết công suất, hàng hóa vẫn đầy ứ mọi hang cùng ngõ hẻm của thế giới. Công nghiệp ô tô hôm nay thì có công suất gấp 3 đến 4 lần khả năng tiêu thụ. Thiếu toàn bộ nền công nghiệp xe hơi của bất kỳ nước nào dù Mỹ, Nhật hay Trung Quốc thì xe hơi xứ khác vẫn cứ lấp đầy khoảng trống và thị trường không vì thế mà căng thẳng thiếu xe.

Tiếp đó cần hài hòa nhu cầu phát triển và nhu cầu tiêu thụ. Nhu cầu có công việc để bảo đảm cuộc sống và nhu cầu thụ hưởng cuộc sống. Để không thành nô lệ và kẻ làm công muôn đời cho nước ngoài, cách duy nhất là phải đưa xã hội Việt giàu có lên, biến xã hội đó thành một xã hội chăm lao động, tích cực tích lũy và tiêu thụ hợp lý. Muốn bứt phá được vậy thì phải phát huy sức sáng tạo tối đa của mỗi trí tuệ Việt. Chìa khóa để khai thông cách cửa đó là xác lập quyền tư hữu. Thật ngớ ngẩn và phi chính trị khi luật sở hữu trí tuệ - nơi bảo hộ quyền cho thiểu số thông thái - được thông qua từ năm 2005 mà đến giờ còn không thông qua quyền tư hữu đất đai cho quảng đại dân thường. Sự bình đẳng về hành lang pháp lý là sự bảo đảm an toàn và tối đa nhất cho sự tự do tỏa sáng của mỗi cá nhân.

Có những nền tảng đạo đức, phong cách sống cùng lý tưởng có thể đúng trong quá khứ mà lại sai trong hiện tại. Trung thành với một người (vua, chúa, chủ) hoặc một dòng họ, một tôn giáo hoặc một hệ tư tưởng, một đảng phái, một xí nghiệp đều là lỗi thời, con người tự do là con người chỉ trung thành với quyền làm người cho ra con người dù được viết thường hay viết hoa mà tạo hóa đã ban phát. Chân lý đã được khẳng định tới hai lần trong cả hai bản tuyên ngôn độc lập Mỹ và Việt:

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".(5)

PNC, Toronto tháng 4/2012

© TS. Phạm Ngọc Cương
Theo blog Trương Duy Nhất

(Bài viết đã được biên tập cắt bỏ một số đoạn. Mong được sự cảm thông của tác giả- TDN)

- (1), (2) Tuyên ngôn đảng Cộng Sản -1848 Friedrich Engels & Karl Marx
- (3) - Cương lĩnh chính trị 2/1930
- (4) - Bình Ngô Đại cáo- Nguyễn Trãi.
- (5) - Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ



* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Tại sao người ta hành xử tàn ác?

Mãi đến hôm nay, tôi mới có thì giờ nhìn qua những clip video được lưu truyền trên mạng về vụ “cưỡng chế” đất ở Văn Giang. Tôi thật sự sốc trước cảnh nhân viên công lực vây đánh hai phóng viên của đài VOV. Càng sốc hơn khi thấy đoạn phim quay chậm cho thấy công an đấm đá một người phụ nữ chẳng có gì để tránh những đòn hành hung hội đồng. Thật không thể tưởng tượng nổi tại sao người ta lại hành xử một cách bạo động và có thể nói là ác ôn với người dân như thế. Nhưng sự việc làm tôi nhớ đến một thí nghiệm tâm lí đã tròn 40 năm …

Công An đánh dân oan như thời Trung cổ
Những cảnh đánh đấm trong những clip phim được lưu truyền trên mạng chỉ có thể nói là dã man. Đúng như một blogger (JB Nguyễn Hữu Vinh) mô tả, “đánh dân như chớp, đánh tàn bạo, đánh như đòn thù. Chắc ngày xưa lính Mĩ các chú cũng không đánh được sướng như bây giờ.” Đánh cho sướng! Tức là hành động sadistic rồi. Thật là một nhận xét ấn tượng! Và, có lẽ cũng chính xác.

Nhưng trước một sự việc, có lẽ chúng ta cần đặt câu hỏi tại sao: tại sao những nhân viên công lực này tỏ ra tàn ác như thế? Tôi nghĩ những người cầm dùi cui, súng, hay hung khí nói chung trong tay cũng là những con người bình thường. Bình thường hiểu theo nghĩa cũng có gia đình, có cha, có mẹ, có anh chị em. Một số người chắc cũng có vợ con. Họ nghĩ gì nếu đồng nghiệp của họ ra tay đánh người thân của họ? Chắc chắn họ sẽ giận dữ và không chừng đòi trả thù. Nếu thế thì họ cũng chỉ là những con người có tình cảm, nhận thức được cái đúng, và biết căm ghét cái sai, cái ác. Vậy thì tại sao chính họ lại hành xử với người đồng hương mình như là những kẻ thù, và ra tay đánh đập một cách không nương tay, đánh để sướng tay?
Tôi nghĩ câu trả lời có lẽ nằm trong kết quả của một thí nghiệm tâm lí rất nổi tiếng vào năm 1971. Đó là thí nghiệm nhà tù Stanford (Stanford Prison Experiment). Kết quả thí nghiệm này có thể giải thích tại sao các quản giáo Mĩ hành xử một cách độc ác với các tù nhân ở trại giam Abu Ghraib. Và, theo tôi, kết quả cũng có thể giải thích tại sao những người công an tham gia cưởng chế đất đai ở Văn Giang hành xử tàn bạo với người dân.

Phương pháp và diễn tiến của thí nghiệm nhà tù Stanford có thể đọc ở đây. Một cách ngắn gọn, Giáo sư Philip Zimbardo (lúc đó là một giáo sư trẻ) tuyển chọn 24 sinh viên, và chia thành 2 nhóm một cách ngẫu nhiên: nhóm 1 gồm 12 người được giao nhiệm vụ quản giáo, và nhóm còn lại đóng vai tù nhân. Một nhà tù giả được thiết kế phía ở tầng trệt của khoa tâm lí thuộc Đại học Stanford. Quản giáo được trao toàn quyền, muốn làm gì thì làm, nhưng không được huấn luyện cách hành xử. Còn tù nhân, khi vào nhà tù, bị quản giáo khám xét, “bắt rận”, thậm chí bắt cởi truồng.

Nhưng thí nghiệm phải ngưng trước thời hạn vì những hành xử tàn bạo của quản giáo và rối loạn tâm thần của tù nhân. Thời gian thí nghiệm dự kiến là 2 tuần, nhưng đến ngày thứ 6 thì phải ngưng. Thật ra, chỉ sau một ngày rưỡi, một tù nhân có triệu chứng rối loạn cảm tính, như la khóc, tỏ ra mất bình tĩnh, và suy nghĩ bất bình thường. Tất cả tù nhân đều tỏ ra ngoan ngoãn tuân theo lệnh của quản giáo. Trong khi đó, các quản giáo càng ngày càng tỏ ra hung dữ, tàn ác, và có hành động sadistic (tức tỏ ra thích thú với những đòn tra tấn tàn ác). Đến ngày thứ năm thì gia đình của các tình nguyện viên đặt vấn đề với Gs Zimbardo, và luật sư cũng doạ sẽ kiện ra toà, thì công trình nghiên cứu phải ngưng. Phần lớn những đối tượng tham gia nghiên cứu, quản giáo cũng như tù nhân, đều tỏ ra có vấn đề về tâm lí và tâm thần sau khi tham gia thí nghiệm.

Kết quả nghiên cứu này cho thấy người thường có thể trở nên ác ôn vì môi trường chứ không phải vì bẩm sinh. Con người có xu hướng tuân thủ, ngay cả sẵn sàng tuân thủ làm những việc ác ôn. Các nhà nghiên cứu diễn giải kết quả nghiên cứu rằng người bình thường có thể trở nên những kẻ ác ôn nếu được trang bị bằng một ý thức hệ hay giáo điều nào đó. Họ kết luận rằng tình huống và môi trường là nguyên nhân làm cho người tốt trở nên người ác. Kết quả nghiên cứu này không bao giờ được công bố trên một tập san khoa học nào cả, vì nhiều người chỉ ra rằng nghiên cứu có vấn đề về y đức. Không tập san nào dám công bố kết quả nếu nghiên cứu không đáp ứng những tiêu chuẩn về y đức.

Sau công trình nghiên cứu lịch sử (và có thể nói là khá “tai tiếng”) trên, Gs Zimbardo nổi tiếng trong giới tâm lí học như là người tiên phong trong việc giải thích những biến chuyển trong hành động của con người. Có người gọi ông là “evil scientist”, vì đã tạo ra một thí nghiệm để “chứng minh” rằng con người bình thường có thể trở nên ác ôn, và cái ác có thể thắng cái thiện nếu được trang bị bằng một ý thức hệ. Sau này, ông còn được Quốc hội Mĩ mời để điều trần về những bạo loạn trong nhà tù. Những hành động tàn ác với tù nhân ở nhà tù Abu Ghraib cũng có thể giải thích qua kết quả thí nghiệm của Zimbardo.

Quay lại sự việc các nhân viên công lực hành xử tàn ác với người dân ở Văn Giang, tôi nghĩ cũng có thể giải thích qua kết quả thí nghiệm tâm lí của Gs Zimbardo. Những người công an này cũng như bất cứ ai trong chúng ta (tức cũng biết phải trái, nhận thức được cái đúng cái sai), nhưng theo Zimbardo, vì ở trong môi trường giáo điều và được trang bị bằng ý thức hệ địch – ta, nên họ nhìn người dân mất đất như là những kẻ thù, và tự họ biến thành những người ác ôn mà có lẽ chính họ cũng không nhận ra ngay lúc vung tay hành hung người khác. Nói cách khác, những người công an này bị “phơi nhiễm” (exposed) bởi những giáo điều độc hại nào đó, nên cái ác thắng thế cái thiện và dẫn đến những hành động mà chúng ta thấy trong các clip video mang tính lịch sử.

Trong những năm cuối đời, Zimbardo cố gắng làm một thí nghiệm khác có ý nghĩa tích cực hơn. Ông muốn biến người bình thường thành những anh hùng. Ông lập ra dự án có tên là Heoric Imagination Project (HIP), với khung khái niệm rằng anh hùng không phải là những người phi thường; họ chỉ là những người bình thường nhưng làm việc phi thường, họ bước ra khỏi cái bình thường để làm điều có ích cho xã hội. Ông lập một lớp học để dạy những đức tính anh hùng (hay chủ nghĩa anh hùng – heroism) cho học sinh. Trong lớp học này, ông muốn dạy học sinh tách ra khỏi những đám đông hành xử ác ôn. Tôi nghĩ hành động anh hùng đó có thể tìm thấy ngay ở người lính thầy thuốc của trại giam Thanh Hà khi anh tuyên bố “Hãy để cho anh đưa Bùi Minh Hằng về nhà một cách an toàn rồi anh sẽ cởi bỏ bộ quân phục đang mặc” (xem "Văn giang khôn nguôi"). Có lẽ một dự án HIP cũng cần thiết cho giới công an và các quản giáo của các trại giam trên toàn quốc.

© Nguyễn Văn Tuấn
    Theo blog Nguyễn Văn Tuấn


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

ĐCSVN càng bế tắc sau Hội nghị TW 5

Kết thúc hội nghị TƯ 5, ĐCSVN đã tái khẳng định đất đai là sở hữu của ...họ, cũng như không có dấu hiệu họ chấp nhận chia sẻ quyền lực cho bất kỳ ai (1).
Tranh biếm họa: Babui/DCVOnline
Ông Nguyễn Lân Dũng - có thể gọi theo khái niệm của Nhà văn Phạm Thị Hoài - một nhân vật type "Đối lập trung thành" cho đài BBC biết:
Không phải một đảng là thiếu dân chủ,” ông giải thích tại sao không cần sửa điều 4, “Dân yêu cầu một đảng cũng được nhưng đảng đó phải trong sạch và làm đúng với quyền lợi của người dân,” ông nói
“Khi mà đảng viên đều là những người tốt và đảng có đường lối đúng thì một đảng chẳng có hại gì.”.
“Nhiều đảng có khi cũng phức tạp. Trước kia cũng có Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ rồi nhưng sau nhận thấy chẳng cần thiết phải có nhiều đảng,” ông nói thêm.

Chỉ riêng cái gọi là "không phải một đảng là thiếu dân chủ" đã tố cáo ngay tính chất phi dân chủ, bất chấp đó là Nguyễn Lân Dũng:

- Giáo sư tiến sĩ
- Nhà giáo nhân dân
- Đại biểu Quốc hội khóa XII
- Ủy viên UBTWMTTQVN
- UV UB Đối ngoại của Quốc hội
- Phó Chủ tịch Hội liên lạc người VN ở nước ngoài
- Chuyên gia cao cấp Viện VSV&CNSH ĐHQG HN
- Chủ tịch Hội các ngành Sinh học Việt Nam

Với 8 "danh vị" kể trên, đủ để xếp hạng ông Nguyễn Lân Dũng vào thành phần "trí thức", không những thế có thể gọi ông là "trí thức cao cấp" (nhất định không phải là "trí thức sơ cấp" hay "trí thức trung cấp" - theo cách phân loại trình độ lý luận "sơ cấp chính trị", "trung cấp chính trị", "cao cấp chính trị" mà ĐCSVN vẫn đang "cho" những người làm công ăn lương trong bộ máy "đi học" hiện nay).

Theo Wikipedia cho biết (thêm)(2):
Ông Nguyễn Lân Dũng là con Giáo sư Nguyễn Lân và là con rể của Giáo sư Nguyễn Văn Huyên và có các anh em đều là giảng viên của các trường đại học lớn và đều là những nhà khoa học xuất sắc, nổi tiếng của Việt Nam.

Hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa: Chức vị, danh tước, dòng dõi cao cỡ nào đi chăng nữa, cũng chưa chắc thoát khỏi tư tưởng độc tài, hay một cái gì đó được gọi là chân thật (đặc tính quan trọng của người làm khoa học) để nói về tác hại nghiêm trọng của độc tài đối với Tổ quốc?
***
Cũng có vẻ như, họ - ĐCSVN - đang tiếp tục "dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của...tiền tệ"(*) qua cái hội nghị TƯ 5 vừa rồi, thay vì cái "trí tuệ" lai căng, duy tâm, siêu hình, mị dân đã vãng tuồng!

Vẫn như một thiếu niên hoang đàng và lì lợm - ĐCSVN, với loại mộng ảo "khi mà đảng viên đều là những người tốt..." (!). Chỉ duy cái thứ gọi là "đảng viên NHƯNG mà tốt" đã đủ để hiểu sự khinh bỉ tận cùng dành cho những kẻ còn dám "vỗ ngực"... Người ta cũng không quên một viên tướng công an cao cấp, nổi tiếng, đã nghỉ hưu có tên Phạm Chuyên, đã cay đắng thốt lên: Bây giờ người dân chỉ gọi công an bằng "THẰNG" (3) hay blogger Trương Duy Nhất cũng đã nói: "Có những đảng viên phải gọi bằng thằng" là vậy.
***
Trở lại câu chuyện "Hội nghị trung ương 5", có hai điểm đáng chú ý:

- Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng được giao về cho Bộ chính trị.
- Tái sinh lại "ban Nội chính trung ương".

Đó như là một chỉ dấu thất bại cho ông Nguyễn Tấn Dũng, sau bao nhiêu việc làm lộng hành, trâng tráo, có thể làm "ngứa mắt" và hết chịu nổi từ các "đồng chí của ông ta", ví như: đưa cả 3 đứa con vào chính trường, thương trường một cách..."hoành tráng", cùng những hành động lộng quyền với nhiều phát biểu lộng ngôn. Ông Dũng và "đồng chí ông ta" đã bỏ mặc "những tấm biển chỉ đường của trí tuệ" trong mưa gió tơi bời, thế nên, hậu bối của Marx, của Lenin, của Hồ Chí Minh đang mờ mịt, quýnh quáng - khó "sáng mắt sáng lòng" để cùng "dắt tay nhau đi". Thay vào đó là "biển chỉ đường tiền tệ" đang soi lối cho họ. Lý luận Marx, Lenin, Mao hay Hồ chẳng qua chỉ là con bài "Tiến Lên" cho các đồng chí sát phạt lẫn nhau. Họ đang mất đoàn kết nghiêm trọng, cũng bởi tiền. Tiền, dưới mọi hình thức. Chắc chắn.

Việc khẳng định lại (một cách dứt khoát) việc không có chuyện "tam quyền phân lập", rằng "ĐCSVN vẫn lãnh đạo tuyệt đối" đất nước, không cho thấy ĐCSVN mạnh hơn, ngược lại họ đang yếu. Rất yếu. Bởi khi càng yếu, càng đuối thì người ta càng cố bám thật chặt "những tấm biển chỉ đường của trí tuệ".

Tội nghiệp! Bộ chính trị ĐCSVN tựa như những pháp sư...non tay ấn, tham lam và hợm hĩnh, khi giũ ống tay áo xua bầy âm binh bay ra để chỉ huy, hòng khống chế toàn bộ thiên hạ làm theo ý mình. Ác nghiệt thay, các pháp sư kém cỏi này lại cứ mỗi người một phách, lạc nhịp, cũng bởi vì có quá nhiều "biển chỉ đường tiền tệ", nên mạnh ai nấy đều "TỰ DO" chọn con đường đi riêng "của mình"... sao cho kiếm càng nhiều, càng nhanh càng tốt.

Bầy âm binh do những "pháp sư" lỡ xua ra rồi, giờ chúng đang "hô mưa gọi gió" theo ý chúng, bất chấp các "pháp sư" cố làm phép "thu hồi". Quá muộn! Những âm binh dù lớn, dù nhỏ, dù đội lốt trai, gái, hay già, trẻ đang "đội mồ sống dậy" đầy đường, khắp phố từ Sài Gòn, Hà Nội cho đến Đà Nẵng, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Cần Thơ, Daklak, Gia Lai v.v...để củng cố sức mạnh của chúng chống lại các "pháp sư" đang ra sức "triệu hồi"!

...Và các "pháp sư" đang lạc lối, đang bối rối làm sao thu phép trở lại trước lũ âm binh dưới trướng ngày càng hung tợn và kết bè mạnh mẽ đó. Các "pháp sư" cang sai lầm nghiêm trọng khi sử dụng "phép thần thông" "đất đai là sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện và thống nhất quản lý". Trễ tràng! Bởi bầy âm binh đã không còn có thể khống chế được. Điều đáng tiếc, các pháp sư đang tự huyễn hoặc những "phép thần thông" còn hiệu nghiệm!
***
Hậu "trung ương 5" là gì? Nhất định sẽ có sự đổi ngôi. Nhất định sẽ có sự xáo trộn lớn. Dư luận đang dồn mắt vào:

- Ai sẽ làm "trưởng ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng"?

- Ai sẽ làm "trưởng ban nội chính trung ương"?

Có lẽ (sẽ) là?:

- Trương Tấn Sang - Chủ tịch nước - kiêm trưởng ban CĐPCTN.

- Tô Huy Rứa - Trưởng ban Tổ chức TWĐ kiêm trưởng ban Nội chính.

Tuy vậy, chưa xong đâu. Ông Nguyễn Tấn Dũng phen này có cơ "ngã ngựa giữa đàng". Kéo theo sau, bầy âm binh của "pháp sư non tay ấn này" sẽ dần rơi rụng tiếp nối bởi những bầy âm binh của các pháp sư khác.

Hãy cùng nhớ lại vụ việc bà Đặng Thị Hoàng Yến bị soi xét về tư cách đại biểu Quốc hội, những tưởng "tiêu tới nơi", nhưng với phát biểu của ông Nguyễn Phú Trọng "Chưa thể bác tư cách đại biểu của bà Đặng Thị Hoàng Yến. Cơ quan chức năng vẫn phải làm tiếp để sáng tỏ hết mọi vấn đề chứ không phải Quốc hội bỏ qua vấn đề nào” – Tổng Bí thư nhấn mạnh." (4), cùng việc mất chức "trưởng ban CĐPCTN", xem ra "pháp sư" Dũng cùng bầy âm binh đang thua.

Rồi các pháp sư "thẻ đỏ tim đen" này sẽ cứ căng, cứ kéo trên đống tiền đó, trên đống quyền đó. Cho đến một hôm - còn tệ hơn kéo co - các "pháp sư" sẽ đồng loạt ngã sóng soài, bởi chính lực căng kéo của họ cùng với nhiều âm binh loạn đả.

Bầy pháp sư và âm binh đang đánh nhau chí tử. Khi chúng ngã sóng soài, đó là lúc người Việt Nam xông lên... Ngày ấy đang rất gần, bời lực căng kéo đang rất mạnh! Cũng bởi từ tác động mà nhiều vị "thức giả" đang nghĩ tới: Hiến Pháp (mới) & Luật đất đai (mới).

Một số người trong họ có niềm tin (Hiến pháp & Luật đất đai) sẽ tốt đẹp hơn. "Dân ngoài luồng" thì không tin điều đó. Bởi khi nghĩ đến nguyên tắc "bất hồi tố", "hồi tố" cho Luật đất đai mới. Vấn đề chắc chắn bế tắc, khi hội nghị TƯ 5 đã xác định "không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai".

Một số người tự hỏi: Rồi "hậu không thừa nhận" này sẽ có hậu quả ra sao, bởi ít nhất hai mươi năm qua, hàng ngàn nông dân vẫn đang kêu gào đòi đất, thậm chí với vành khăn sô quấn trên đầu để tỏ rõ quyết tâm "sống chết gì cũng phải giữ đất". Câu trả lời vẫn bỏ ngỏ với cái gọi là "không thừa nhận..." này???!!!
***
Mâu thuẫn tiếp tục nổi lên dữ dội không phải bởi điều 4 Hiến pháp, không phải Luật đất đai (mới) sẽ "tốt hơn", mà bởi nguyên tắc "hồi tố" chính đáng của những nông dân mất đất trên hai mươi năm qua sẽ giải quyết ra sao? (**). Làm sao xổ toẹt những vụ mất đất đang nóng hổi: Tiên Lãng, Văn Giang, Nam Định, Dương Nội, Nhà thờ Thái Hà v.v...? Đó phải chăng là thành tố "giúp sức" cho ĐCSVN căng kéo nhiều hơn trước áp lực buộc giải quyết? Và họ sẽ ngã sóng soài trên chính cái nguyên tắc "hồi tố" chính đáng, quan trọng này?

© Nguyễn Ngọc Già
    Theo dân Luận
_______________
  • http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/05/120515_plenum5_concluded.shtml (1)
  • http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_L%C3%A2n_D%C5%A9ng (2)
  • (*) Chân thành xin lỗi TS. Nguyễn Xuân Tụ khi nhại ý bài viết nổi tiếng: "Dắt tay nhau, đi dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ".
  • http://danluan.org/node/11789 (3)
  • http://www.baomoi.com/Tiep-tuc-lam-ro-tu-cach-dai-bieu-cua-ba-Dang-Thi-Hoang-Yen/121/7464437.epi (4)
  • (**) Quan điểm "không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai" chỉ còn "giá trị" để "ăn cướp" đối với cơ sở Tôn giáo và người dân trong nước. Đa số những người vượt biển, bỏ lại nhà cửa vào những năm sau 1975, "quan điểm ăn cướp" này không còn giá trị.



* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Thùy Linh - Hệ lụy


Hy Lạp lâm vào khủng hoảng có thể dẫn đến vỡ nợ vào đầu năm 2010 mà nguyên nhân chủ yếu là do…“lừa đảo” và “bệnh thành tích”. Những năm trước khi thành lập Eurozone vào năm 1999, các nước ở châu Âu cố gắng giảm thâm hụt ngân sách xuống dưới 3% ngân sách để gia nhập vào khối này. Theo các báo chỉ ra thì Hy Lạp thâm hụt nghiêm trọng nhưng lại báo cáo láo với châu Âu về con số thâm hụt của mình, cụ thể là: 2,5% vào năm 1998 và dự báo sẽ còn 1,9% vào năm 1999. Nhưng 3-2000 theo một tiêu chuẩn kế toán mới cho thấy thâm hụt thực sự của Hy Lạp năm 1998 là 3,2% và năm 2004 trong một báo cáo khác lại chỉ ra con số thâm hụt của Hy Lạp vào năm 1998 là 4,3%.

Dưới áp lực của châu Âu, Hy Lạp công bố là 3,2% bởi trước đó đã tính các trợ cấp thuế ước tính của châu Âu vào nguồn thu chính phủ. Bốn tháng sau đó, Hy Lạp thừa nhận đã bỏ qua một số khoản chi tiêu quân sự, tính cao lên giá trị thặng dư an sinh xã hội cùng lãi suất thấp đi, nên con số thực phải là 4,6%. Và 3-2005, Hy Lạp “thành thật” thông báo thâm hụt năm 2003 là 5,2%. Trong lần “thành thật” cuối cùng vào cuối năm đó, đã tăng lên mức 5,7%. Sau 18 tháng, số liệu thâm hụt năm 2003 tăng từ 2,6 tỉ lên 8,8 tỉ euro. Châu Âu sau nhiều lần tranh cãi, cuối cùng 5-2010, EU và Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF thông qua khoản trợ trị giá 120 tỉ euro (tương đương 160 tỉ đô la Mỹ) trong ba năm tới nhằm giúp Hy Lạp vượt qua khủng hoảng nợ. Với mức vay nợ như trên, Hy Lạp đang phải đối mặt với khoản nợ đến hạn phải thanh toán 8,5 tỉ euro (tương đương 11,3 tỉ đô la Mỹ) trái phiếu chính phủ vào ngày 19-5-2010. Hầu hết các khoản nợ của Hy Lạp là ngắn hạn, trong đó, số nợ phải trả trong năm 2010 là 16% tổng nợ. Mà Hy Lạp chỉ là quốc gia nhỏ ở Nam Âu, với dân số khoảng 11 triệu người, có thu nhập bình quân đầu người khoảng 17.440 đô la Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp trung bình là 10,2%.

Còn Việt Nam thì sao?

Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế thì “nợ công của Việt Nam hiện nay đang ở mức 54,3% GDP với tốc độ tăng trưởng nợ hàng năm trên 15%. Với tốc độ này, nợ công của Việt Nam sẽ vượt 100% GDP, một con số đáng báo động đối với một nền kinh tế nhỏ đang phát triển và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ”. Và, “theo The Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm 2001 mới là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh số nợ công xấp xỉ 144 USD. Nhưng tính đến hết năm 2010, nợ công đã tăng lên 55,2 tỷ USD, tương đương 54,3% GDP và hiện tại, Việt Nam được xếp vào nhóm nước có mức nợ công trên trung bình. Như vậy, trong vòng 10 năm từ 2001 đến nay, quy mô nợ công đã tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15% mỗi năm”. Và, “năm 2011, dự kiến trả nợ 86.000 tỉ đồng, chiếm 12,5% tổng thu NSNN. Năm 2012 sẽ phải trả 100.000 tỉ đồng, chiếm 13,5% tổng thu NSNN, một con số không hề nhỏ trong quy mô khiêm tốn của NSNN hiện nay. Trong khi nợ công của Thái Lan 44,1% GDP và dự trữ ngoại hối là 176 tỉ USD; Indonesia, Malaysia nợ công 26,9% GDP, Philippines là 47,3%”. Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ cho biết thêm: tính đến 31/12/2010, tỷ lệ nợ Chính phủ là 45,7% GDP, nợ nước ngoài là 42,2%, nợ công là 57,3%. Trong kế hoạch trình Quốc hội, ước tính đến 31/12/2011, nợ công là 54,6%, đến 31/12/2012 là 58,4% GDP. Chỉ số này được tính trên cơ sở dự kiến kịch bản tăng trưởng 6%, nếu như kịch bản tăng trưởng đạt được mức 6,5% tỷ lệ nợ công thấp hơn đáng kể. Nhưng mấy tháng vừa qua tăng trưởng của Việt Nam đâu như chỉ hơn 4%? Còn theo đại biểu quốc hội Trần Du Lịch, nợ nước ngoài của Việt Nam hiện tương đương 50 tỉ USD, lớn gấp 3 lần so với dự trữ ngoại hối (khoảng 14-15 tỉ USD). Nếu tiếp tục với tốc độ này thì chỉ trong vòng 5 năm nữa, đến năm 2016, nợ công của Việt Nam sẽ vượt quá 100% GDP như hai nước thành viên EU mới lâm vào khủng hoảng nợ công gần đây là Hy Lạp (133,6%), Ailen (129,2%).

Giả sử con số này là chính xác thì bức tranh đã không mấy sáng sủa. Nếu rơi vào căn bệnh “thành tích” và “nói dối không ngượng miệng” như Hy Lạp, cộng với tính không minh bạch vốn có thì thực tế phải là thế nào? Không biết trong số nợ công này đã tính số tiền 4,5 tỷ đô la mà Vinashin nợ chưa? Các quả đấm thép dưới sự điều hành của Chính phủ (EVN, Than-khoáng sản, Ngân hàng…) gần đây bị bóc trần một phần sự thật là thua lỗ và nợ đầm đìa liệu có được đưa vào con số nợ trên chưa? Nếu kể đến bức tranh ảm đảm của khủng hoảng kinh tế chưa hề có dấu hiệu giảm chứ đừng nói là chấm dứt thì là thế nào? Sự phá sản hàng loạt các doanh nghiệp và đình trệ sản xuất sẽ đưa nền kinh thế VN đến bờ vực thảm hoạ chưa? Liệu Việt Nam có giống như Hy Lạp về nguy cơ vỡ nợ không?

Mình vốn không phải dân kinh tế nên đọc các con số này phải kiên nhẫn lắm mới không nổi cáu. Và nói dài dòng như trên để ngẫm nghĩ một điều khác…

Khi Hy Lạp chìa tay ra đề nghị các nước châu Âu cứu quốc gia họ thì giới tài chính hàng đầu châu Âu nhóm họp, thuyết phục lẫn nhau để đưa ra gói tài trợ 160 tỷ đô la trong vòng 3 năm với yêu cầu Hy Lạp “thắt lưng buộc bụng”. Nhưng Hy Lạp đáp lại nghĩa cử của châu Âu thế nào? Giữa tháng 5-2012 này, chính phủ Hy Lạp vẫn chưa thành lập được chính phủ vì bất đồng từ yêu cầu của châu Âu, tức là “thắt lưng buộc bụng” cho chi tiêu. Nhà lãnh đạo Alexis Tsipras của Liên minh các lực lượng cực tả (Syriza), về thứ hai trong cuộc bầu cử sớm tại Hy Lạp mới đây, khẳng định sẽ không tham gia bất kỳ chính phủ nào có ý định thực thi các điều khoản trong thỏa thuận cứu trợ tài chính quốc tế với Athens vì cho rằng thỏa thuận đó "quá nghiệt ngã" và đi ngược lại với ý nguyện của cử tri đã bỏ phiếu ủng hộ cho đảng này. Trong khi đó, các chủ nợ quốc tế khác cảnh báo Hy Lạp nước này buộc phải thực hiện các cam kết về cắt giảm chi tiêu, nếu không sẽ phải đối mặt với nguy cơ ra khỏi Eurozone. Hy Lạp đã tránh được việc rút khỏi Eurozone hai lần trong hai năm qua khi họ thương thảo được một thỏa thuận giải cứu về tài chính giá trị nhiều tỉ USD với EU và IMF để giúp cho Hy Lạp tránh vỡ nợ. Đổi lại Hy Lạp bị buộc phải áp dụng các biện pháp thắt lưng buộc bụng khắc khổ đã gây ra tình trạng chống đối lan rộng trong xã hội. Dân Hy Lạp quen sung sướng giờ bắt chịu khổ nên nhất định không chịu. Lòng yêu nước của cư dân ở cái nôi văn minh nhân loại này không thể so sánh với dân Nhật. Vậy mà chính phủ họ đến giờ vẫn nhẫn nại thuyết phục…Bộ trưởng Tài chính Đức Wolfgang Schäuble tuyên bố khu vực đồng tiền chung Châu Âu (Eurozone) sẽ có thể đương đầu nếu Hy Lạp rút khỏi liên minh tiền tệ này. Bộ trưởng Schäuble nói: "Chúng tôi muốn Hy Lạp vẫn nằm trong Eurozone. Song nước này cũng phải muốn như vậy và sẽ hoàn tất các bổn phận của mình. Chúng tôi không thể ép bất cứ ai. Châu Âu không dễ dàng chìm như vậy”. Eurozone đứng vững nếu Hy Lạp ra đi. Nguy cơ Hy Lạp bị “đuổi” ra khỏi Eurozone là nhãn tiền để châu Âu thoát khỏi gánh nặng của kẻ chỉ biết ngửa tay nhận tiền của người khác mà vẫn không biết trân quí lời khuyên của thiên hạ.

Lại nói đến Việt Nam…

Hy Lạp được các nước châu Âu chìa tay giúp đỡ khi bĩ cực để thấy khối Asean dửng dưng với Philipine và Việt Nam phải đơn độc chống đỡ Trung Quốc cho thấy tinh thần “đoàn kết các nước Asean” thê thảm đến mức nào?:

“Đáng tiếc là là sự thiếu tương trợ đó có vẻ như đã là một cung cách bất thành văn của các nước ASEAN trong tranh chấp Biển Đông. Ngược dòng thời gian trong khoảng một năm vừa qua, chúng ta có thể thấy khi TQ giam cầm các ngư dân VN đánh cá tại vùng Hoàng Sa, không có nước ASEAN nào lên tiếng để ủng hộ một cách giải quyết công bằng. Khi TQ gây sức ép lên các hoạt động dầu khí của Philippines trong khu vực bãi Cỏ Rong, không hề có nước ASEAN nào lên tiếng ủng hộ Philippines. Khi TQ gây áp lực lên tập đoàn dầu khí Ấn Độ ONGC Videsh nhằm khiến họ rút khỏi Lô 127 và 128, nằm giáp bờ biển đất liền Việt Nam, không có nước ASEAN nào lên tiếng ủng hộ Việt Nam. Khi tàu hải giám và các tàu đánh cá của TQ phá hoại thiết bị địa chấn của các tàu khảo sát Việt Nam, không có nước ASEAN nào lên tiếng ủng hộ Việt Nam. Khi tàu TQ dọa đâm vào tàu khảo sát cho Philippines tại bãi Cỏ Rong tháng 3/2011, không có nước ASEAN nào lên tiếng ủng hộ Philippines”. (Dương Danh Huy – Không còn ai để lên tiếng bênh vực cho tôi”- VNN).

EU và ASEAN có hai giá trị nhân văn khác nhau? Có quan điểm tiếp cận quốc tế khác nhau? Có cung cách tham gia và điều hành vào một tổ chức quốc tế với mục đích, quyền lợi khác nhau? Thật sự thất vọng về Asean…

Nhưng nói đi thì phải ngẫm lại mình.

Để được người khác hết lòng với mình thì không thể kêu gọi suông hay trông chờ lòng “từ thiện đoàn kết” vô điều kiện từ người ngoài trong khi không những không làm gì tốt cho thiên hạ mà còn toàn nghĩ xấu cho họ. Những cụm từ tưởng như vô thưởng, vô phạt: “bị các thế lực thù địch bên ngoài lôi kéo”; “kẻ thù bên ngoài chống phá”; “phản động bên ngoài”…sẽ thấm dần vào cung cách hành xử của các nước dành cho VN. Không ai muốn nhận làm bạn một kẻ luôn coi họ là kẻ thù hay có ác ý. Không ai muốn quan hệ làm ăn, bảo vệ một kẻ trí thấp, ít tiền nhưng hãnh tiến vì có “bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí cách mạng kiên định và tầm nhìn chiến lược sáng suốt” và “phải khẳng định chế độ dân chủ ở nước ta là dân chủ xã hội chủ nghĩa” để cãi chày cãi cối với thang giá trị phổ quát về dân chủ, nhân quyền của nhân loại. Các cơ hội không chờ đợi. Người muốn đến kết bạn cũng không thể kiên nhẫn vô điều kiện. Nếu cứ tiếp tục sản xuất các Nghị quyết TW để thay cho Hiến pháp, Pháp luật miễn sao duy tu và giữ được càng lâu ý thức hệ cho quyền lợi của từng cá nhân và nhóm lợi ích như bây giờ thì cái ngày sắp sụp đổ như Hy Lạp đang đến gần…

Ngày đó thì sao?

Lịêu VN có thể kêu gọi Asean giải cứu như Hy Lạp kêu gọi châu Âu cứu trợ?

Liệu Asean có chìa tay cho VN như Eurozone chìa tay cho Hy Lạp?

Có kêu gọi được “ý thức hệ” in tiền để trả giúp món nợ nần chồng chất kia?
Khi lâm nguy, Việt Nam kêu gọi ai giúp đỡ như Hy Lạp?

Thật đáng buồn một đất nước (chính thể) không thể gọi tên một bạn bè gần gũi thân thiết nhất, tin tưởng nhất, có thể chìa tay ra với nhau trong cơn hoạn nạn. Nhưng lại có rất nhiều kẻ thù cả hữu hình lẫn vô hình, dù chỉ bằng tên gọi…

Và đáng sợ hơn, có thể, chính quyền đang tự tạo ra kẻ thù của mình từ chính dân tộc, nhân dân họ bắt đầu bằng các Nghị quyết TW…

© Thùy Linh
    Theo blog Thùy Linh




* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Thế giới 100 năm tới có gì lạ?


Thế kỷ XXI mới bắt đầu được 10 năm mà đã có bao nhiêu đại gia nói hoặc viết sách dự đoán về các sự việc lớn sẽ xảy ra trên thế giới trong 100 năm tới.

Cách đây ít lâu Vietnamnet đăng loạt bài giới thiệu sách Giấc mơ Trung Quốc [1], tác giả sách là Lưu Minh Phúc khẳng định trong thế kỷ XXI Trung Quốc sẽ soán ngôi bá chủ thế giới của Mỹ. Mạng này cũng từng có bài giới thiệu cuốn Thế giới vừa nóng, vừa phẳng lại vừa chật chội [2] của Thomas Friedman, một cây bút 3 lần đoạt giải Pulitzer, đưa ra các dự báo đáng sợ về môi trường sống của loài người.
Mới đây Vietnamnet lại có bài viết về cuốn 100 năm tới của George Friedman [3], người sáng lập và là Chủ tịch Công ty Dự báo chiến lược STRATFOR, một think-tank phi chính phủ hàng đầu thế giới từng dự báo chính xác một số sự kiện chiến lược. Friedman là người gốc Do Thái ở Hungary theo gia đình di cư sang Mỹ khi mới 3 tuổi. Người ta thường nói dân Do Thái có trực giác nhạy bén, giỏi khái quát, giàu tưởng tượng, ít sa đà vào các chi tiết dễ gây lạc hướng, dám nghĩ tới những chuyện “trời ơi đất hỡi”.

Trên thế giới luôn có nhiều nhà dự báo tương lai, kể cả các nhà chiêm tinh. Không ít người đã dự báo về ngày tận thế của nhân loại. Kịch bản phim Năm 2012 được dựng trên cơ sở các dự đoán của nền văn minh Maya, một dân tộc giỏi thiên văn, khoa học, mấy nghìn năm trước đã tính toán chính xác một năm có 365,2420 ngày (nếu coi một năm có 365 ngày thì cứ 4 năm lại phải bù thêm 1 ngày, và sau vài trăm năm lại bớt đi một ngày...). Nền văn minh ấy để lại 2500 chữ khắc trên một bậc đá kim tự tháp hiện còn, cho biết lịch pháp Maya sẽ chấm dứt vào ngày đông chí 21/12/2012. Người ta suy ra đó sẽ là ngày tận thế của Trái Đất, gây ra bởi các tác động của thiên nhiên.

Trên báo The Australian hôm 21/06/2010, nhà khoa học tiến hóa Frank Fenner 95 tuổi nói nhân loại đã quá trễ trong việc tự cứu mình khỏi thảm họa diệt vong trong khoảng một thế kỷ tới, gây ra bởi nạn thiếu lương thực (do người đông quá và hiệu ứng nhà kính) và nạn tiêu xài hoang phí.

Nói chung ít người quan tâm tới các dự đoán quá xa xôi; nhưng khi đó là dự đoán của những bộ óc thông thái thì chớ nên bỏ qua, nhất là các dự đoán liên quan tới tương lai đất nước mình. Thí dụ Thomas Friedman nói về vấn đề nước biển dâng cao trong thế kỷ này, có lẽ người Việt Nam cần quan tâm ngay từ bây giờ nếu không muốn mất trắng hai vựa lúa nuôi sống cả dân tộc, bởi lẽ việc xây đập ngăn biển kiểu Hà Lan cần làm dần dần từ hàng dăm chục năm trước khi nước biển dâng cao (tuy nó không tốn nhiều tiền và xi măng như dự án đường sắt cao tốc xuyên Việt!).

100 năm tới của George Friedman chỉ dự báo những vấn đề chiến lược, không đi vào chi tiết. Dự báo của ông khác tới mức ngạc nhiên với dự báo của nhiều người, nhưng không ai vội bác bỏ, vì họ biết ông là chủ nhân kho tàng đầy ắp thông tin chiến lược của STRATFOR. Cách dự báo độc đáo ấy khiến cuốn sách trở nên rất hấp dẫn.

Điều ngạc nhiên thứ nhất: dự báo về nước Mỹ

Friedman dự báo trong thế kỷ XXI nước Mỹ vẫn dẫn đầu thế giới, thậm chí ông nói bây giờ nước Mỹ hãy còn là đứa trẻ (?), thập niên 50 thế kỷ này mới trở thành siêu cường đích thực và thập niên 60 mới là thời đại vàng của Mỹ.

Dự báo ấy khác với quan điểm của Zbigniew Brzezinski, Henry Kissinger, Stephen Brooks, William Wohlforth hoặc của Martin Jacques (trong cuốn Khi Trung Quốc thống trị thế giới [4]), cũng như nhiều dự báo rất xấu về kinh tế Mỹ trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay. Nó giội gáo nước lạnh lên những cái đầu phát sốt sau khi đọc sách của Lưu Minh Phúc cho rằng trong thế kỷ XXI Trung Quốc sẽ thay Mỹ lãnh đạo thế giới.

Dự báo của Friedman dựa trên quan điểm sự thực lịch sử và tình trạng địa-chính trị quyết định tất cả. Friedman nhận định: nước Mỹ đã xây dựng được một nền văn hóa và chế độ chính trị tiên tiến nhất thế giới.

Sự thực là văn hóa Mỹ đang giữ vai trò dẫn đầu thế giới, có sức lan tỏa và chiếm lĩnh mạnh mẽ. Nhạc pop, vũ điệu rock and roll cũng như fastfood và CocaCola... được giới trẻ khắp nơi ưa chuộng. Hollywood thống trị điện ảnh 5 châu. Truyền thông Mỹ dẫn đầu truyền thông thế giới. Văn hóa chính trị-tư tưởng của Mỹ rất phát triển, họ luôn có nhiều nhà tư tưởng, nhà chính trị học hàng đầu. KHKT và giáo dục đại học thì khỏi phải nói.

Tư tưởng dân chủ bình đẳng sinh ra ở châu Âu nhưng nảy mầm và thành cây lá sum sê trên đất Mỹ - khi châu Âu còn dưới ách phong kiến. Nền văn hóa lâu đời của Châu Âu đã sản sinh ra một đẳng cấp "Quí Tộc" cha truyền con nối, tự cho mình cái quyền độc quyền lãnh đạo xã hội. Về thực chất thứ văn hóa Châu Âu ấy đã đè nén và kìm chế con người, buộc con người phải nằm trong các khuôn phép giáo điều tự nguyện biến mình thành nô lệ. Vào thời những năm đầu của thế kỷ 16, 17 phần lớn những người di cư sang Mỹ đều là những kẻ, dưới quan điểm của giới "Quí Tộc", là những kẻ bất mãn bị xã hội ruồng bỏ, những người vô gia cư bị coi là hạ đẳng, và các phần tử bị coi là tội phạm hay phản động. Những con người này đến vùng đất mới châu Mỹ, họ đoạn tuyệt hoàn toàn với quá khứ. Văn hóa của họ, tức nguyên lý sâu xa nhất chi phối suy nghĩ của con người, chỉ đơn giản là "tự lo", và cái nguyên lý ấy phát triển thành triết lý về "tự do" kiểu Mỹ sau này. Phạm trù tự do của Mỹ được xây dựng dựa trên nguyên lý tự do hành động, chính vì thế thượng tầng kiến trúc của xã hội Mỹ đã phải đối diện với một phạm trù mới về quản trị nhân sự -- khi mà những yếu tố khống chế con người như: tôn giáo, ý thức hệ, truyền thống,... đã không còn. Phạm trù mới này đã nẩy nở thành hệ thống nhà nước pháp quyền và văn hóa quản trị tri thức - một hệ thống khái niệm về quản lý lao động tách rời nhân sự.

Hiến pháp Mỹ 1787 là bộ hiến pháp thành văn đầu tiên của giai cấp tư sản trong lịch sử thế giới. Nó dựa trên cơ sở tư tưởng dân chủ tư sản, đầu tiên dựng nên một quốc gia có đặc trưng là chế độ cộng hòa, chế độ liên bang, chế độ Tổng thống, chế độ tam quyền phân lập, chính phủ dân bầu, chế độ nhiệm kỳ của người lãnh đạo. Cơ chế ấy bảo đảm dân chủ hóa trình tự ra quyết sách, tránh được sự lạm dụng chức quyền. Tuy chưa sang Mỹ nhưng Marx từng hết lời ca ngợi nước này. Trong bài “Hình thái ý thức của nước Đức”, Marx viết: “Thí dụ hoàn thiện nhất về quốc gia hiện đại là Bắc Mỹ.” Trong “Siêu hình học chính trị kinh tế học”, Marx gọi nước Mỹ là “quốc gia tiến bộ nhanh nhất tại Bắc Mỹ” [5]. Sức sống của mô hình chính quyền Mỹ thể hiện ở chỗ từ ngày lập quốc (1776) đến nay nước này chưa hề có đảo chính hoặc cách mạng lật đổ chính phủ. Rất ít nước lớn nào có nền chính trị ổn định, được lòng dân lâu như vậy.

Dù từng phạm không ít sai lầm nhưng nước Mỹ đã đứng vững và chiến thắng trong hai cuộc thế chiến và chiến tranh lạnh, vượt qua các cuộc khủng hoảng kinh tế vô cùng trầm trọng. Được như vậy trước hết là do cơ chế chính trị phát huy được vai trò làm chủ của toàn dân, họ phát hiện và bầu lên được những người lãnh đạo khôn ngoan phù hợp với xu thế từng thời đại. Nhờ thế chỉ sau 150 năm dựng nước, Mỹ đã trở thành siêu cường bá chủ thế giới.

Trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, các số liệu về tỷ lệ thất nghiệp, nợ nhà nước và thâm hụt ngoại thương đem lại cảm giác kinh tế Mỹ chắc chắn sẽ sụp đổ. Thế nhưng giờ đây họ vẫn sống đàng hoàng bằng núi tiền các nước khác tự nguyện cho vay. Châu Âu mới là kẻ chịu thiệt với đồng Euro có nguy cơ đổ sập. Cơ chế chính trị Mỹ có khả năng tự sửa đổi cho thích hợp hoàn cảnh, như chính sách Kinh tế mới của Tổng thống Roosevelt, hoặc luật cải tổ tài chính Tổng thống Obama vừa trình Quốc hội đã và sẽ có thể đưa nước Mỹ thoát khỏi khủng hoảng.

Trên lĩnh vực kinh tế, người Mỹ cũng dẫn đầu thế giới đưa ra nhiều sáng kiến vĩ đại. Thời gian 1863-1869 họ đã xây dựng xong tuyến đường sắt Thái Bình Dương 3000 km xuyên suốt Đông Tây, vừa góp phần quan trọng thống nhất đất nước, vừa giúp nhanh chóng phát triển kinh tế. Công trình này được đài BBC đánh giá là một trong 7 kỳ tích của lịch sử công nghiệp hóa thế giới và được dân Mỹ coi là biểu tượng thống nhất quốc gia (thời gian 1861-1865 Mỹ có nội chiến, đất nước chia rẽ sâu sắc). 30 năm sau, nước Nga mới bắt đầu làm đường sắt xuyên Siberia.

Thập niên 50 họ có sáng kiến xây dựng mạng xa lộ cao tốc nối tất cả các bang, các thành phố, khiến cho đất nước này trở nên vô cùng năng động, người dân tha hồ phóng xe đi khắp nơi tìm việc làm, khai thác tài nguyên.

Thập niên 90 họ đầu tiên đề xuất và triển khai xa lộ cao tốc thông tin (gồm hệ thống thông tin số và mạng thông tin internet), dẫn đầu thế giới tiến sang kỷ nguyên thông tin, nhờ đó nguồn tri thức tăng gấp bội, bảo đảm công nghệ cao phát triển như vũ bão.

Hai mạng xa lộ nói trên đã đem lại cho nước Mỹ sức mạnh bá chủ thế giới trong 50 năm qua.

Giờ đây George Friedman dự báo trong thế kỷ XXI Mỹ sẽ hoàn tất xây dựng xa lộ cao tốc năng lượng, năm 2080 nhà máy điện trên vũ trụ sẽ bắt đầu phát điện về cho trái đất sử dụng.

Nước Mỹ có ưu thế tốt nhất thế giới về địa lý. Đất rộng và màu mỡ, giàu tài nguyên, có nhiều con sông lớn thông thương được và những hồ nước ngọt khổng lồ. Hai đại dương quan trọng nhất bao bọc hai bên. Ngày nay tiêu điểm cạnh tranh địa chính trị toàn cầu đã chuyển từ đại lục Âu Á sang giành giật quyền kiểm soát biển, mà về mặt này Mỹ có ưu thế vô địch, đã và đang kiểm soát toàn bộ các đường hàng hải, vì thế họ sẽ tiếp tục kiểm soát nền kinh tế toàn cầu.

Friedman viết: trong 10-20 năm đầu thế kỷ XXI, Mỹ sẽ gặp những thách thức nghiêm trọng, nhưng không nước nào có thể thay thế vị trí số 1 của Mỹ; thế giới vẫn lấy nước Mỹ làm trung tâm.

Mỹ tập hợp nguồn tài nguyên của Bắc Mỹ, kiểm soát các đại dương và vũ trụ, triển khai sức mạnh ở bất cứ nơi nào.

Mỹ tiến ra thế giới như năm xưa Anh Quốc tiến ra châu Âu. Cả hai nước này đều dựa vào kiểm soát biển để bảo vệ lợi ích của họ và hiểu rằng cách tốt nhất để tiếp tục kiểm soát biển là ngăn cản các nước khác xây dựng hải quân. Mục tiêu đầu tiên của Mỹ là ngăn cản sự xuất hiện một cường quốc có thể bá chủ lục địa Âu Á và bán đảo châu Âu.

Với sự tan rã của Liên Xô, sự hạn chế của Trung Quốc, sự chia rẽ của châu Âu, hiện nay nước Mỹ không gặp mối đe dọa nào. Cho nên Mỹ đang chuyển sang mục tiêu thứ hai là ngăn cản sự xuất hiện quốc gia bá quyền khu vực có thể trong một thời kỳ lâu dài lớn mạnh trở thành thành mối nguy hiểm với họ. Mỹ lập quan hệ tốt với Ba Lan và Thổ Nhĩ Kỳ nhằm ngăn chặn Nga vươn ra thế giới và giữ Trung Đông ổn định. Vòng cung bao vây Trung Quốc từ Alaska, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Đông Nam Á đã hoàn tất. Mỹ khuyến khích sự bất ổn tại Trung Quốc bằng cách bán vũ khí cho Đài Loan, nêu vấn đề nhân quyền ở Tân Cương, Tây Tạng.

Điều ngạc nhiên thứ hai: dự báo về Trung Quốc và châu Âu

George Friedman không đánh giá cao vai trò của Trung Quốc và châu Âu trong thế kỷ XXI.

Lâu nay thế giới đã quen nói tới việc Trung Quốc năm 2030 sẽ vượt Mỹ về kinh tế, trở thành đối thủ lớn nhất thách thức Mỹ về mọi mặt, thế kỷ XXI sẽ không còn là của Mỹ mà là của Trung Quốc - quốc gia quán quân thế giới (từ của Lưu Minh Phúc).

Friedman cho rằng về địa lý, Trung Quốc của người Hán được bao bọc bởi 4 quốc gia đệm (buffer states) là Mãn Châu, Nội Mông Cổ, Tân Cương và Tây Tạng. Không có 4 cái đệm ấy, biên giới Trung Quốc sẽ lùi vào trong và trở nên dễ bị tấn công. Với 4 cái đệm này, Trung Quốc được an toàn, song chỉ còn là một hòn đảo cô đơn bị các lục địa bao quanh; núi rừng, dãy Himalaya, các đồng có Trung Á, và miền đất hoang Siberia bọc kín Trung Quốc về mọi hướng, trừ hướng biển.

Phần lớn dân Trung Quốc sống ở vùng trải dài vài nghìn dặm dọc ven biển Thái Bình Dương. Người đông nhưng thiều nguồn nước ngọt. Hầu hết khu công nghiệp nằm trong vùng vài trăm dặm dọc bờ biển. Theo số liệu của Trung Quốc, khoảng 65 triệu hộ dân có thu nhập trên 20000 USD/năm; 165 triệu hộ có thu nhập từ 2000 đến 20000 USD; hầu hết số nói trên sống trong vùng 100 dặm dọc bờ biển. 400 triệu hộ thu nhập từ 1000 đến 2000 USD, trong khi 670 triệu hộ thu nhập dưới 1000 USD. Trung Quốc là mảnh đất của nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo, nguyên nhân gây ra bất ổn nội bộ nước này. Đây là nguồn gốc khiến Trung Quốc khó trở thành cường quốc thế giới. Để đuổi kịp Mỹ về GDP, Trung Quốc cần tăng gấp ba quy mô nền kinh tế (nếu Mỹ đứng im). Kinh tế dựa vào xuất khẩu là một nhược điểm chí tử. Nếu kinh tế Mỹ suy thoái thì Trung Quốc cũng suy thoái theo. Gần đây người Trung Quốc nói nhiều về chuyện Mỹ là con nợ của họ, song trong khi kêu con nợ tiêu hoang thì chủ nợ lại cứ cho con nợ vay tiếp. Nhiều quân sư Trung Quốc hiến kế chính phủ họ bán tháo công trái Mỹ và gây sức ép về quân sự ... nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục mua công trái Mỹ, dù có đại biểu Quốc hội đã đề nghị chia đều lượng ngoại tệ dự trữ cho toàn dân.

George Friedman nói Trung Quốc còn yếu kém về quân sự. Quân đội họ chỉ là lực lượng bảo vệ an ninh trong nước. Khả năng triển khai sức mạnh bị hạn chế bởi các rào cản thiên nhiên. Hải quân họ chủ yếu đang trong giai đoạn chuẩn bị [6] và chẳng thể đe dọa nghiêm trọng Mỹ (tuy báo mạng Trung Quốc thường xuyên khoe nước này lúc nào cũng có 2 tàu ngầm nằm sát Mỹ). Để giải quyết các vấn đề ấy Trung Quốc cần gần hết 1 thế kỷ.

Friedman nhận định: Ý tưởng châu Âu trở thành một quốc gia đa dân tộc với hệ thống quyết sách kinh tế thực sự hợp nhất và lực lượng quân sự toàn cầu được chỉ huy thống nhất cũng xa vời như giấc mơ Trung Quốc trở thành cường quốc toàn cầu. Quả thật, nợ công của Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đang đe dọa đồng Euro sụp đổ. Số công ty châu Âu phá sản trong khủng hoảng kinh tế nhiều hơn công ty Mỹ tuy khủng hoảng xảy ra trước tiên ở Mỹ.

Nước Nga sau khi từ bỏ mô hình công nghiệp hóa của Liên Xô cũ đã chuyển sang sống dựa vào xuất khẩu năng lượng, do đó cơ sở công nghiệp càng suy yếu.

Điều ngạc nhiên thứ ba: dự báo về các cường quốc trong tương lai

Trong khi hiện nay dư luận nói nhiều về khối BRIC thì Friedman cho rằng các cường quốc nổi lên trong tương lai sẽ là Nhật, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico (đối thủ của Mỹ) và Ba Lan (đồng minh của Mỹ).

Nhật đã là một siêu cường với nền kinh tế thứ hai thế giới, có sự phân phối thu nhập quốc dân và cấu trúc xã hội ổn định nhiều so với Trung Quốc. Nhật có lực lượng hải quân lớn nhất châu Á và lục quân lớn hơn Anh Quốc, dù chỉ là lực lượng phòng vệ chứ chưa phải là quân đội chính quy.

Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay là nền kinh tế lớn thứ 17 trên thế giới và lớn nhất trong các nước Hồi giáo. Lực lượng quân đội của họ mạnh nhất trong khu vực và cũng có thể là mạnh nhất châu Âu, trừ Anh. Thổ Nhĩ Kỳ có ảnh hưởng bao trùm vùng Caucasus, vùng Balkans, vùng Trung Á và thế giới A Rập. Nếu nước Nga suy yếu thì Thổ Nhĩ Kỳ sẽ nổi lên như một cường quốc chính trong vùng, kể cả vùng Đông Địa Trung Hải. Nước này là một cường quốc hải quân được thừa nhận. Chính sách đối ngoại của họ tuân theo chủ nghĩa thực dụng truyền thống.

Ba Lan có nền kinh tế thứ 18 thế giới, lớn nhất trong các nước vệ tinh của Liên Xô cũ và lớn thứ 8 châu Âu. Ba Lan là một tài sản chiến lược quan trọng đối với Mỹ. Trong cuộc cạnh tranh mới nổi lên giữa Mỹ và Nga, Ba Lan đại diện ranh giới địa lý giữa châu Âu với Nga và nền tảng địa lý của bất kỳ nỗ lực nào bảo vệ vùng Baltics. Quan hệ Mỹ-Ba Lan trở nên rất quan trọng vì nước này có ý nghĩa chiến lược giúp Mỹ bao vây các quốc gia bá quyền trên đại lục Âu Á.

Hai trong ba cường quốc nói trên sẽ là cường quốc biển. Rõ ràng Nhật sẽ là nước quan trọng nhất.

Điều ngạc nhiên (và thú vị) thứ tư: dự báo về chiến tranh thế giới lần thứ ba

Về chiến lược, Mỹ coi bất kỳ cường quốc biển nào cũng là mối đe dọa với họ. Hình ảnh một liên minh Nhật-Thổ xem ra có vẻ lạ lùng, song thực ra không lạ gì hơn liên minh Nhật-Đức năm 1939. Cả hai nước này đều chịu sức ép ghê gớm phải trở thành cường quốc.

Không gian vũ trụ là nơi thể hiện sức mạnh quân sự Mỹ. Bất cứ cường quốc nào muốn thách thức Mỹ thì phải tiêu diệt căn cứ quân sự Mỹ trên vũ trụ. Như vậy tới giữa thế kỷ này Mỹ phải có cách bảo vệ các căn cứ đó. Nếu Mỹ trở nên câm điếc đui mù thì một liên minh Nhật-Thổ sẽ buộc Mỹ phải nhượng bộ.

Nhật-Thổ sẽ bất ngờ tấn công các căn cứ ấy. Khó tưởng tượng Mỹ sẽ thua trong cuộc chiến này. Nhưng chiến tranh sẽ không đẫm máu như các cuộc chiến xưa kia, vì trên vũ trụ không thể chứa hàng triệu lính.

George Friedman hư cấu chuyện đại chiến thế giới lần thứ III sẽ nổ ra vào 5 giờ chiều ngày 24/11/2050. tức ngày Lễ Tạ Ơn: liên quân Nhật-Thổ Nhĩ Kỳ bất ngờ tấn công các căn cứ quân sự vũ trụ của Mỹ, lặp lại kịch bản Nhật đánh úp Trân Châu Cảng 7h55 sáng Chủ nhật 7/12/1941. Sau đó Nhật-Thổ sẽ đàm phán ngay với Mỹ. Lợi dụng đàm phán, Mỹ củng cố lực lượng, 72 giờ sau, Mỹ chỉ cần dùng 2 tiếng đồng hồ để diệt hết lực lượng quan trắc của đối phương, tức các vệ tinh. Máy bay Mỹ sẽ triệt hạ toàn bộ các bệ phóng vệ tinh của đối phương và giành chiến thắng

Do đâu George Friedman dự báo sẽ có chiến tranh thế giới lần thứ ba?

Lịch sử cho thấy nước Mỹ xưa nay hưởng lợi nhiều từ chiến tranh. Nội chiến (Civil War) 1861-1865 đem lại sự thống nhất nước Mỹ. Sau hai cuộc Thế chiến, Mỹ thành siêu cường. Sau chiến tranh lạnh, thành siêu cường duy nhất. Cho nên Mỹ luôn luôn chuẩn bị chiến tranh, Quốc hội cho phép bộ máy quân sự ngốn tiền khủng khiếp để đưa KHKT quân sự luôn tiến trước, sau đó chuyển thành KHKT dân sự. Hầu hết công nghệ Mỹ đều phát triển theo cách như vậy. Điện thoại di động, tên lửa, vệ tinh, internet, hệ thống GPS v.v.. trước tiên do quân đội nghiên cứu-triển khai, sau đó chuyển sang phục vụ dân sự rất có kết quả. Quân sự kéo kinh tế đi lên, đó là mô hình kinh tế Mỹ.

Bởi vậy, một cuộc chiến tranh thế giới mới sẽ chỉ có lợi cho Mỹ. Thời kỳ hòa bình kể từ 8/1945 đến nay đã quá dài, khó có thể kéo dài nữa. Thế giới không ngừng xuất hiện các cường quốc mới và họ đòi công nhận vị trí của họ. Và thế là chiến tranh nổ ra.

Một dự báo ngạc nhiên nữa: trong 100 năm tới Mexico láng giềng sẽ là đối thủ lớn nhất của Mỹ! Nước này hiện có hơn 100 triệu dân với nền kinh tế 1000 tỷ USD, thứ 15 thế giới, giàu nhất Mỹ La tinh (năm 2006). Nhiều dân Mexico đang trốn sang Mỹ, ma túy cũng tuồn từ đây sang Mỹ, rồi tiền bán ma túy chuyển từ Mỹ về nơi xuất phát. Mexico sẽ giàu mạnh với một bộ phận dân sống ở vùng Tây Nam nước Mỹ, vùng đất họ cho là của mình. Hiện tượng tăng nhanh dân Mỹ gốc Mexico tai vùng ven bờ vịnh Mexico (hiện chiếm từ 1/5 tới 1/3 số dân trong vùng) cũng như tại California và Texas đang làm chính phủ Mỹ lo lắng. George Friedman dự báo năm 2100 Mexico sẽ gây chiến tranh biên giới với Mỹ.

Chẳng ai sống nổi 100 năm để xem dự báo nào sai hay đúng. Dự báo của George Friedman cũng có thể sai. Song cái có giá trị nhất trong sách 100 năm tới là ở chỗ tư duy dự báo rất sáng tạo, mạnh dạn, khác các phương pháp truyền thống.

George Friedman không tin rằng lịch sử đầy rẫy những sự việc ngẫu nhiên mà cái gì cũng có quy luật, xuất phát từ khoa học địa-chính trị (geopolitics) mà STRATFOR tôn sùng, tức nguyên lý môi trường thiên nhiên, tình trạng địa lý quyết định tất cả. Vào mạng stratfor.com bạn sẽ thấy hầu như tất cả các bài đều phân tích theo nguyên lý đó. [Thí dụ Geopolitical Weekly (ngày 29/6) có bài The 30 Year War in Afghanistan; ngày 28/6 có bài The Geopolitics of 2010 World Cup Countries. Đến Cúp bóng đá thế giới cũng được phân tích theo địa-chính trị học, thật thú vị!]

Địa-chính trị học có ảnh hưởng sâu sắc tới không ít nhà chính trị học, thí dụ học thuyết Clash of Civilization của Samuel Huntington, và bây giờ nó chỉ đạo tư duy dự báo chiến lược của George Friedman. Tính chính xác của tư duy ấy ra sao, chắc thế hệ sau mới đánh giá được./.

© Nguyễn Hải Hoành
    Theo VitInfo
_____________________

Ghi chú:

[1] tuanvietnam.net/2010-03-10
[2] Lời cảnh tỉnh nước Mỹ từ "cha đẻ" của Thế giới phẳng (Hot, Flat and Crowded - How We Need a Green Revolution).
[3] www.tuanvietnam.net/2010-06-23-mot-tram-nam-toi
[4] When China Rules the World: The Rise of the Middle Kingdom and the End of the Western World, 2009, Martin Jacques, người Anh.
[5] Trích dẫn theo China’s Dream
[6] Nguyên văn: Its navy exists mostly on paper


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều