2 người dân Bắc Giang bị bắt tại phòng tiếp dân tỉnh

12:41 |
Đã có một vụ xô xát xảy ra giữa công an tỉnh Bắc Giang và người dân tại văn phòng tiếp dân của tỉnh vào sáng ngày 15 tháng 5 khiến 2 người bị bắt giam.

Vào khoảng 9 giờ sáng ngày 15 tháng 5, đã xảy ra một vụ xô xát giữa công an và bảo vệ với người dân ngoài văn phòng tiếp dân của tỉnh Bắc Giang khiến một phụ nữ bị thương phải đi cấp cứu và 2 phụ nữ khác bị bắt giam.
Người dân Bắc Giang tập trung khiếu kiện đất đai tại 46 Tràng Thi, Hà Nội hôm 11/4/2012.
Bà Phạm Thị Sửu, một người dân có mặt tại vụ xô xát cho chúng tôi biết:


"Hôm nay là ngày tiếp dân của tỉnh Bắc Giang, hôm nay công an mượn quyền mượn thế bắt người, đã bắt giữ 2 người rồi, đi giam rồi. Có một người bị lôi kéo từ chỗ tiếp dân xuống, quăng xuống nền nhà nên người ta bị ngất, cho đi viện rồi."

Ngày 15 hàng tháng là ngày tiếp dân định kỳ của lãnh đạo tỉnh Bắc Giang. Theo lịch, ngay từ khoảng 8 giờ sáng, đã có khoảng gần 100 người dân từ nhiều huyện thuộc tỉnh Bắc Giang tập trung về văn phòng tiếp dân của tỉnh để chờ được giải quyết các khiếu kiện, thắc mắc.

Lãnh đạo tỉnh Bắc Giang đã bắt đầu tiếp dân từ khoảng 8 giờ sáng nhưng nhiều người dân đã không được gặp lãnh đạo tỉnh trong buổi sáng ngày hôm nay, mặc dù họ đã có giấy hẹn. Bà Phạm Thị Sửu cho biết:

"5, 6 tháng trời hôm nay người ta mới được tiếp. Tiêu chuẩn sáng nay người ta được tiếp mà cuối cùng lại không tiếp nên người ta mới bức xúc. Người ta bức xúc quá thì người ta gầm gào lên, nó dùng sức mạnh để lôi những người đó vào công an để nhốt."

Chúng tôi liên hệ qua điện thoại với ông Hưng, một trong những cán bộ có mặt tại buổi tiếp dân của tỉnh Bắc Giang vào sáng 15 tháng 5 và được ông cho biết:

"Tôi có gặp dân, nếu nói là không tiếp dân thì không phải, các đại biểu đều tiếp dân cả." 

Ông Hưng cho biết ông có nghe thấy tiếng ồn ào của người dân nhưng không biết gì về vụ bắt giữ.
Đây không phải là lần đầu tiên những người dân tỉnh Bắc Giang bị bắt khi đến gặp các lãnh đạo tỉnh để đề nghị giải quyết khiếu nại. Vào ngày 27 tháng 11 năm 2011 bà Phạm Thị Sửu và 4 người phụ nữ khác đã bị bắt tại trụ sở ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang khi họ đến để yêu cầu chủ tịch tỉnh giải quyết đơn khiếu nại về đất đai. Bà Phạm Thị Sửu cho biết:

"Cũng giống như tình trạng vào 27 tháng 11 năm ngoái. Theo lệnh của Trung ương về gặp chủ tịch tỉnh ở ủy ban thì bị bắt với 4 chị em ở trong cổng ủy ban. Họ quy tội tụ tập đông người, bắt giam một ngày một đêm."

Bà Phạm Thị Sửu có mặt tại phòng tiếp dân của tỉnh Bắc Giang vào sáng ngày 15 tháng 5 để đề nghị lãnh đạo tỉnh giải quyết vụ khiếu kiện đất đai của bà với một cá nhân khác trong xã. Phần đông những người dân có mặt tại phòng tiếp dân trong buổi sáng cùng ngày đều liên quan đến các khiếu kiện về đất đai.

Việt Hà, phóng viên RFA
Đọc tiếp…

Điều trần về Việt Nam tại Uỷ hội nhân quyền Hạ viện Mỹ

12:06 |
Sáng thứ ba 15 tháng 5 tại toà nhà Cannon của Quốc hội Liên Bang Hoa Kỳ đã diễn ra buổi điều trần do Uỷ hội nhân quyền Tom Lantos của Hạ viện tổ chức, với mục đích để Uỷ hội tham khảo ý kiến bộ ngoại giao Hoa Kỳ và một số nhân vật người gốc Việt hoạt động cho tự do nhân quyền ở Việt Nam.
Dân biểu Frank R.Wolf, đồng chủ tịch TLHRC. RFA photo


Sau đó Uỷ hội sẽ có những đề nghị đệ nạp Hạ viện và Thượng Viện Liên bang để có biện pháp bảo vệ nhân quyền, tự do tôn giáo cho người Việt Nam, đồng thời thúc đẩy hành pháp có hành động về vấn đề này.

Chủ  toạ buổi điều trần, cũng là đồng chủ tịch Uỷ Hội nhân quyền Tom Lantos của Hạ viện Liên bang Hoa Kỳ, dân biểu Frank Wolf, tuyên bố rằng những quyền lợi chung về an ninh và kinh tế đã khiến Hoa Kỳ và Việt Nam củng cố nền bang giao trên nhiều lãnh vực, nhưng cùng lúc, chính quyền Việt Nam càng gia tăng đàn áp tôn giáo và nhân quyền ở trong nước.

Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ Michael H. Posner
Hà Nội dùng những luật lệ mơ hồ đề đàn áp những người tranh đấu cho dân chủ và tôn giáo, đàn áp những luật gia bênh vực nhân quyền và những nhà báo công dân.

Uỷ hội mở cuộc điều trần hôm nay nhằm thu thập ý kiến từ nhữngviên chức, tổ chức có liên quan đến vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo, tự do phát biểu ở Việt Nam, để trình bày với Quốc hội và tìm biện pháp sau này.

Nhân chứng thuyết trình viên thứ nhất là Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ về dân chủ, nhân quyền và lao động, ông Michael Posner.

Đàn áp tôn giáo, kiểm soát báo chí 

Phụ tá Ngoại trưởng Posner tuyên bố nhân quyền tại Việt Nam đang bị suy thoái trầm trọng, gây quan ngại không ít cho chính phủ Hoa Kỳ. Ông đề cập đến những vấn đề gây khổ nhọc cho người dân Việt, gồm những hành động của Hà Nội như:

- Tiếp tục bắt giữ và giam nhốt nhiều người chỉ vì họ thực thi quyền tự do tôn giáo, tự do phát  biểu, như linh mục Nguyễn Văn Lý ,blogger Điếu cày Nguyễn Văn Hải, luật sư Lê Công Định. Bộ ngoại giao yêu cầu Việt Nam lập tức trả tự do cho những tu sĩ và nhà báo công dân đang gặp cảnh tương tự.

 Tiếp tục hạn chế quyền tự do thông tin, tăng cường kiểm duyệt, ban hành những luật lệ quy định bó buộc nội dung các trang web và blog, khép chặt và kiểm soát các hoạt động internet,

- Sách nhiễu GHPGVNTN cũng như nhiều tín đồ Phật giáo Hoà hảo, Cao Đài không quy phục Giáo hội Nhà nước. Việc đăng ký của các giáo hội Tin Lành đã suy kém nhiều từ mấy năm nay. Nhà nước Việt Nam hứa đẩy mạnh việc đó, nhưng không làm; Nhà nước hứa cho dịch Kinh Thánh sang tiếng H’Mong, cũng không làm.

Phụ tá Ngoại trưởng Michael Posner cho biết bộ ngoại giao và toà đại sứ Mỹ tại Hà Nội thường xuyên nói chuyện và làm việc với chính quyền Hà Nội về những vấn đề này, có mở đối thoại về nhân quyền với Hà Nội .
Dân biểu chủ toạ hỏi kết quả cụ thể những việc làm đó, ông Posner cho biết bộ ngoại giao vẫn tiếp tục nêu những vấn đề ấy với Hà Nội, đã nói rõ với Hà Nội là Hoa Kỳ không thể hài lòng với tình trạng tự do nhân quyền như vậy.

Dân biểu Frank Wolf hỏi phụ tá ngoại trưởng Posner đánh giá tình trang nhân quyền ở Việt Nam ra sao, hạng A,B,C, hay D, ông Michael  Posner nói tình trạng đó phải đánh giá là KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC.

Dân biểu đồng Chủ tịch Uỷ Hội nhân quyền Tom Lantos của Hạ viện Liên bang Hoa Kỳ, chủ toạ buổi điều trần, hỏi nếu ông đề nghị toà đại sứ Mỹ tại Việt Nam mời một số người bất đồng chính kiến và thân nhân của những nhà dân chủ đang bị giam cầm đến một buổi tiếp tân tại toà Đại sứ nhân ngày lễ quốc khánh Hoa Kỳ  mùng 4 tháng 7 này, thì toà đại sứ có làm được không.

Ông Posner trả lời sẽ nói chuyện với đại sứ David Shear và toà đại sứ sẽ làm được việc đó.

Việt kiều bị gán tội khủng bố 

 Ngô Mai Hương, vợ của TS Nguyễn Quốc Quân
Phần điều trần tiếp theo là của bà Nguyễn Mai Hương,vợ tiến sĩ Nguyễn quốc Quân, người vừa bị bắt giam hôm 17 tháng tư khi trở về Việt Nam.

Bà cho biết ông Quân nói với bà là phải về Việt Nam để tìm hiểu và chia sẻ hoàn cảnh của những người bị giam nhốt vì thực hiện quyền tự do bày tỏ  ý kiến, nhưng đã bị bắt ngay khi xuống phi trường.

Ông gọi cho bà lần cuối là từ phi trường ngày hôm ấy, sau đó ông bị giam nhốt, bị gán tội khủng bố. Laptop của ông bị nói là chứa tài liệu phản động, nhưng thực ra trong đó chỉ là những bài vở giảng dạy của ông về vấn đề lãnh đạo.

Bà cho biết toà lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn đã giúp đỡ rất tích cực trong việc tiếp xúc với ông Quân, nhưng khi bà gởi nhờ đưa quần áo cho ông thay đổi thì nhân viên toà lãnh sự được trả lời là phải chờ kỳ thăm hàng tháng sắp tới vào cuối tháng 5 này.

Dân biểu Frank Wolf hỏi bà Mai Hương có ai ở bộ ngoại giao tiếp xúc với bà ở Mỹ không, bà trả lời không.  Dân biểu Wolf quay sang hỏi Phụ tá Ngoại trưởng Posner, ông Posner nói bộ ngoại giao sẽ tiếp xúc với bà Mai Hương ngay chiều nay.

Bà Mai Hương thình cầu hành pháp và lập pháp Mỹ cũng can thiệp cho những trường hợp như của ông Nguyễn Xuân Nghĩa, luât gia Cù Huy Hà Vũ, cùng những trường hợp tương tự.

Đàn áp bằng bạo lực

Nhà hoạt động nhân quyền và tôn giáo Võ Văn Ái, người sáng lập và là Giám đốc cơ sở Quê Mẹ, tổ chức hoạt động cho dân chủ tại Việt Nam, trình bày trước Uỷ hội về tình trạng đàn áp nhân quyền, tự do tư tưởng và tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Ông nói GHPGVNTN bị cấm đoán tuyệt đối, Đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ bị quản chế ngặt nghèo vô thời hạn dù Ngài chỉ hoạt động ôn hoà cho quyền tự do tôn giáo.

Linh mục Nguyễn Văn Lý bị đưa vào trại giam trở lại. 177 tù nhân chính trị đang bị tù tội, Việt Nam luôn luôn nói với quốc tế là không có tù chính trị, nhưng tại trại tù Xuân Lộc tù nhân chính trị mặc áo tù có hai chữ C.T., tức là chính trị, để phân biệt với thường phạm.

Nhiều người hoạt động chính trị ôn hoà bị án nặng nề, trong đó phải kể tới doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức , luật sư Cù Huy Hà Vũ, các blogger của Công giáo bị ghép tội lật đổ, 16 tín đồ Hoà Hảo, các ông Đỗ Văn Thái, Nguyễn Hữu Cầu, ông Nguyễn Hữu Cầu đã viết 500 lá thư nói là ông vô  tội, nhưng không hề có trả lời, hiện đang rất suy yếu, mắt đã gần mù. Tù nhân ở Việt Nam phải bỏ tiền túi mua thực phẩm cho đủ sống.

Ông Võ Văn Ái cũng đề cập tới những vụ cưỡng chế đất đai, đuổi nhà đuổi đất  ở Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản.

Chính quyền đã sử dụng bạo lực tối đa. Việt Nam dùng những cuộc đối thoại nhân quyền với Hoa Kỳ để che đạy hay tìm thêm thời gian cho việc đàn áp nhân quyền. Ông đề nghị Quốc hội Mỹ đồng tình đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC.

LS Đỗ Phủ và ông Võ Văn Ái
Luật sư Đỗ Phủ của cơ sở truyền thông SBTN ở Hoa Kỳ điều trần về vấn đề chính quyền Hà Nội đàn áp giới truyền thông độc lập trong nước, cả những  hoạt  động trên những mạng giao tế xã hội như facebook, tweeter cũng bị cấm đoán.

Chính quyền kiểm soát chặt chẽ trên 550 tờ báo ngày và tạp chí, được coi la báo chí lề phải, trong khi đàn áp các blogger và các nhà báo công dân.

Ông nhắc đến chiến dịch 150 ngàn chữ ký nạp lên toà Bạch Ốc để đòi hỏi nhân quyền cho Việt Nam.
Ông kể trường hợp của nhạc sĩ Việt Khang đã bị bắt giam chỉ vì sáng tác nhạc kêu gọi lực lượng công an thể hiện lòng nhân ái với đồng bào Việt Nam của họ. Hà Nội còn kiểm soát mọi liên lạc internet, kể cả liên lạc điện thoại, buộc người sử dụng phải tiết lộ căn cước khi mua thẻ sim và chỉ được dùng một số thẻ nhất định.

Luật sư Đỗ Phủ cũng yêu cầu chính quyền Hoa Kỳ nói chuyện với Việt Nam để huỷ bỏ luật lệ Việt Nam buộc những công dân Hoa Kỳ   phải làm nghĩa vụ của công dân Việt Nam khi về nước,  hay cả ở ngoại quốc, ví dụ như làm nghĩa vụ quân sự, vì Hà Nội vẫn đương nhiên coi người Việt hải ngoại như vẫn là công dân Việt Nam.

Ông Đỗ Phủ cho rằng công khai hoá vấn đề nhân quyền tại Việt Nam như Tổng thống Obama nhắc đến ông Điếu Cày trong ngày báo chí thế giới vừa qua là điều rất tốt.

Tuy nhiên LS Đỗ Phủ cũng cho rằng hành pháp Hoa Kỳ cả hai nhiệm kỳ vừa qua đều không đủ mạnh mẽ khi bảo vệ cho tự do và nhân quyền tại Việt Nam. Ông ca ngợi việc toà đại sứ sẽ mời những thân nhân và những người tranh đấu ở Việt Nam đến vào dịp 4 tháng 7 này.

2 triệu chữ ký, điện thoại

Dân biểu Frank Wolf hỏi bà Mai Hương có muốn đi thăm chồng, và SBTN/TV có sẵn sàng làm phóng sự về buổi tiếp tân tại toà đại sứ Mỹ ở Hà Nội với gia đình những người tranh đấu đang bị giam nhốt hay không, Bà Mai Hương và ông Đỗ Phủ đều trả lời đó là điều mong muốn của họ.

Dân biểu Frank Wolf nói ông sẽ tìm cách để nhân viên toà đại sứ đón bà Mai Hương ở phi trường và lo cho việc bà được thăm chồng, là Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân.

Vị dân biểu cũng nói với luật sư Đỗ Phủ, ông sẽ can thiệp để SBTN tường trình truyền hình cuộc tiếp tân tại toà đại sứ Mỹ ở Hà Nội vào ngày quốc khánh Hoa Kỳ mùng 4 tháng 7 sắp tới.

Dân biểu Wolf cũng nói với LS Đỗ Phủ là ông sẽ nói chuyện với công ty Google để công ty này trao đổi với ông Đỗ Phủ về công việc của  Google tại Việt Nam.

TS Robert George, Uỷ viên USCIRS
Tiến sĩ Robert George, Uỷ viên của Uỷ hội Hoa Kỳ về tự do tôn giáo toàn thế giới, điều trần sau cùng. Ông mạnh mẽ lên án tình trạng xâm phạm nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam, mạnh mẽ đề nghị Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC, là điều có lợi cho cả chính quyền lẫn người dân Việt Nam.

Ông nói khi Việt Nam ở danh sách này từ năm 2004 đến 2006, Việt Nam đã tỏ ra tiến bộ nhiều về tự do tôn giáo, nhưng vừa ra khỏi danh sách là lại vi phạm tiếp tục.

Dân biểu Frank Wolf hỏi LS Đỗ Phủ hiện có bao nhiêu người Việt ở Hoa Kỳ. Được trả lời là 2 triệu người, dân biểu Wolf hỏi liệu có quy tụ đủ 2 triệu chữ ký, 2 triệu cú điện thoại cho nghị sĩ, dân biểu Quốc hội để yêu cầu đưa Việt Nam vào danh sách CPC hay không,  LS Đỗ Phủ nói có thể được, và sẽ cố gắng thực hiện.

Quan điểm của USCIRF

Sau buổi điều trần, chúng tôi phỏng vấn tiến sĩ Scott Flipse,Uỷ viên Uỷ hội Hoa Kỳ về tự do tôn giáo trên thế giới.
TS Scott Flipse, Uỷ viên USCIRS- Ảnh RFA
Mời quý vị nghe trong phần âm thanh, và đón xem toàn bộ phóng sự truyền hình rút gọn buổi điều trần về tự do tôn giáo và nhân quyền tại Uỷ ban nhân quyền hạ viện Hoa Kỳ

© Việt-Long, RFA


Đọc tiếp…

Bà Tạ Phong Tần xin được ban "Phép xức dầu"

11:42 |
Vụ việc ba blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, AnhbaSaigon Phan Thanh Hải và Công Lý & Sự Thật Tạ Phong Tần đang khiến dư luận quan tâm.

Lý do là vào sáng ngày 4 tháng 5 có quyết định của Tòa án nói sẽ đưa cả ba ra xét xử vào ngày 15 tháng 5; tuy nhiên đến chiều thì các luật sư được thông báo sẽ hoãn.
Từ trái qua: Anh Ba Saigon, Blogger Điếu Cày, bà Tạ Phong Tần.
Tình trạng đáng báo động

Một trong ba người là bà Tạ Phong Tần, blogger Công Lý & Sự Thật vào thời điểm đó được luật sư bào chữa cho hay tuyệt thực tại trại giam đã 35 ngày và sức khỏe rất yếu. Bà này muốn được các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, nơi bà được rửa tội vào Đạo Công giáo, đến làm các bí tích cuối cùng cho bà. Linh mục An tôn Lê Ngọc Thanh đã gửi thư đến cho cơ quan chức năng để được vào trại theo yêu cầu của bà Tạ Phong Tần.
Đến nay yêu cầu đó được đáp ứng ra sao, Gia Minh hỏi chuyện linh mục An tôn Lê Ngọc Thanh và được ông cho biết như sau:


LM An tôn Lê Ngọc Thanh: Luật sư của chị Tạ Phong Tần đến báo cho chúng tôi biết là tình trạng sức khỏe của chị rất yếu bởi vì đến thời điểm đó đã qua 35 ngày tuyệt thực - còn đến lúc này chúng tôi không có thông tin, không biết chị còn tuyệt thực hay không; nếu còn thì đã trên 40 ngày, gần 50 ngày rồi nên tình trạng rất đáng báo động.

Nguyện vọng xin xức dầu mà chính chị Tạ Phong Tần nói với luật sư là một bí tích rất quan trọng đối với người Công Giáo. Tất cả các linh mục dù bận đến cách mấy khi có yêu cầu đó phải đáp ứng yêu cầu cho giáo dân. Do đó tất cả các cha Nhà Dòng chúng tôi, trong đó Cha Tín và tôi đứng làm đơn, đều sẵn sàng vào trại tạm giam để làm bí tích xức dầu cho chị Tạ Phong Tần.

Gia Minh: Dòng Chúa Cứu Thế đã có đơn, và đơn đó được phản hồi chưa?

LM An tôn Lê Ngọc Thanh: Từ ngày gửi đơn là 6/5 đến nay chúng tôi chưa nhận được bất kỳ thông tin gì. Trong đơn chúng tôi có để số điện thoại để có thể thông tin miệng cho chúng tôi; không nhất thiết phải có văn bản cho phép, vì đây là việc cần phải làm ngay; nhưng đến nay chúng tôi không nhận được bất cứ tin tức gì.

Chưa từng có tiền lệ

Bà Tạ Phong Tần
Gia Minh: Đây là sự việc chưa có tiền lệ, vậy Nhà Dòng có hy vọng gì không?

LM An tôn Lê Ngọc Thanh: Tôi nghĩ đây là một nhu cầu chính đáng của công dân.Thậm chí nếu chị Tạ Phong Tần đã ra tòa và có án thì vấn đề tự do tôn giáo vẫn được bảo hộ cho những người tù nhân theo Công ước của Hội Chữ Thập Đỏ và Trăng Lưỡi Liềm Đỏ Quốc tế. Tôi nghĩ, từ trước đến giờ không có người nào nêu ra như một nhu cầu cần thiết; nhưng bây giờ có người nêu ra như nhu cầu cần thiết, theo tôi nghĩ cần phải đáp ứng thôi. Không có tiền lệ vẫn phải thực hiện thôi.

Gia Minh: Từ năm 1975 đến nay ở miền Nam và trước đây ở miền Bắc, linh mục có biết là giới tu sĩ có được vào trại giam để thực hiện thiên chức của họ theo yêu cầu của tù nhân không?

LM An tôn Lê Ngọc Thanh: Suốt 37 năm qua về mặt chính danh để tu sĩ đến tại nhà giam, nhà tù để làm nhiệm vụ của họ thì không có; nhưng trong thực tế vào thời kỳ cải tạo, thì giữa các linh mục và giáo dân cũng như giữa các linh mục và tù cải tạo khát khao học giáo lý trong các trại cải tạo đã cùng nhau học giáo lý, cùng nhau rửa tội, cùng nhau cử hành các nghi thức phụng vụ, cùng nhau xức dầu bệnh nhân, và ban Phép Mình Thánh Chúa là phổ biến. Tuy nhiên đó là việc làm ‘chùng lén’ với nhau, không làm công khai. Nhưng chính phủ phải xem lại chính sách khi để người ta phải thực hành những hoạt động tôn giáo một cách ‘chùng lén’ như vậy; khi mà chính phủ nói ‘nhất quán’ về vấn đề tự do tôn giáo. Chính phủ phải giải quyết chuyện đó chứ.

Nguyện vọng xin xức dầu mà chính chị Tạ Phong Tần nói với luật sư là một bí tích rất quan trọng đối với người Công Giáo. Tất cả các linh mục dù bận đến cách mấy khi có yêu cầu đó phải đáp ứng yêu cầu cho giáo dân.
LM An tôn Lê Ngọc Thanh
Gia Minh: Đối với những cáo buộc đối với blogger Tạ Phong Tần và qua những việc làm thực tế của bà, thì linh mục có nhận xét thế nào?

LM An tôn Lê Ngọc Thanh: Tôi thấy những cáo buộc đó hết sức vô lý. Thứ nhất, Câu Lạc Bộ Nhà báo Tự do là một danh nghĩa gọi với nhau chứ không phải là một tổ chức. CLB này không có điều lệ, không có ban điều hành, không có quĩ nên không thể coi đó là một tổ chức được. Từ đó không thể cáo buộc chị Tạ Phong Tần cũng như anh Điếu Cày, AnhbaSaigon là những người trong một tổ chức tuyên truyền, chống phá Nhà Nước.

Qua theo dõi tôi biết đây chỉ là một danh xưng như một nhóm bạn mà thôi chứ không phải một tổ chức xã hội gì cả. Không biết sau này nhóm có thành tổ chức hay không, chứ đến thời điểm nay nó chưa phải tổ chức. Tôi hỏi đi hỏi lại rất nhiều người, và cũng từng hỏi chị Tần và chị nói với tôi rằng ai mà nói là người điều hành của CLB Nhà báo Tự Do đó là người nói láo. Lý do chưa hề bao giờ có bầu bán hay bất cứ hình thức mang tính tổ chức của CLB Nhà báo Tự do đó cả. Nên tôi nghĩ kết án họ là những người tuyên truyền chống Nhà nước có tổ chức như vậy là hoàn toàn sai. Tôi hoàn toàn ủng hộ quan điểm của anh Điếu Cày và Chị Tần cho rằng họ vô tội nếu nói về tội đó.

Vì sao đình hoãn phiên tòa?

Gia Minh: Còn những bài viết mà họ đưa lên mạng?

LM An tôn Lê Ngọc Thanh: Tôi nghĩ phải coi lại cách đánh giá. Một mặt ‘mình’ nói xã hội cần phải lên tiếng để phản biện, giúp đóng góp xây dựng đất nước; tôi nghĩ đó là bằng chứng rõ nét sự tham gia của dân vào tiến trình xã hội hóa. Tôi nghĩ không có gì là phản động cả. Có nhiều khi ‘mình’ nghĩ rằng đất nước này là ưu tiên của mình, chứ không phải của toàn dân, bị lấn quyền gì đó thì ‘mình’ mới thấy bị xúc phạm.

Còn đây là đất nước Việt Nam, của toàn dân Việt Nam, ‘mình’ là một người lãnh đạo trong một giai đoạn nhất định, thì đó là điều ‘mình’ phải nghe tiếng dân, chứ tại sao xem đó là điều phản động. Có thể có những cách nói không khôn khéo, không khôn ngoan làm cho mình khó nghe. Điều quan trọng phải xem đó có phải là sự thật hay không. Nếu đó là sự thật thì phải đón nhận chứ.

Gia Minh: Đối với việc đưa ra quyết định xử ba blogger vào ngày 15 tháng 5, sau đó hoãn lại thì linh mục nhận định ra sao?

Tôi có cảm giác ‘rất cá nhân’, một cơ sở trực giác chứ không phải là lý luận gì, ‘họ’ còn dây dưa việc này nhiều lần nữa để tạo dư luận kéo dư luận vào việc đó. Còn vì sao thì tôi không biết rõ.
LM An Tôn Lê Ngọc Thanh
Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh: Tôi có nghe một vài người bàn về chuyện đó. Họ nói không chắc chắn lắm, tôi cũng nói lại theo tinh thần không chắc chắn lắm, chỉ để lấy thông tin mà suy nghĩ: ‘họ’ nói việc đưa ra rồi rút lại đó là do lỗi của bộ phận hành chánh. Tức văn bản đã ký xong nhưng chưa có quyền phát hành; nhưng bộ phận hành chánh phát hành sớm nên phải thu hồi lại.

Còn có tin nói là luật sư của chị Tạ Phong Tần khi gặp chị thì chị hỏi là đã nhận được ‘bản’ đó chưa. Điều đó chứng tỏ lệnh xử vào ngày 15 tháng 5 đã không được thông báo đến cho ‘tù nhân’ ; nên lý giải là do lỗi của người làm hành chính là không đúng lắm. Mà có lẽ đằng sau đó là có can thiệp gì quan trọng hơn, nên họ phải dừng lại. Tôi có cảm giác ‘rất cá nhân’, một cơ sở trực giác chứ không phải là lý luận gì, ‘họ’ còn dây dưa việc này nhiều lần nữa để tạo dư luận kéo dư luận vào việc đó. Còn vì sao thì tôi không biết rõ.

Gia Minh: Cám ơn linh mục An tôn Lê Ngọc Thanh.

© Gia Minh, biên tập viên RFA
Đọc tiếp…

Ðảng CSVN quyết bám giữ độc quyền lãnh đạo

11:23 |

Chuyển 'Ban chỉ đạo chống tham nhũng' về Bộ Chính Trị

HÀ NỘI (NV) - Ðảng Cộng Sản Việt Nam sẽ vẫn giữ quyền lãnh đạo tuyệt đối và duy nhất, đồng thời đất đai tuy nói là “sở hữu của toàn dân” nhưng vẫn do nhà nước quản lý.
Các đảng viên dự đại hội đảng CSVN lần thứ 11 hồi tháng 1, 2012. Dù bàn việc sửa Hiến Pháp, nhưng đảng CSVN quyết giữ độc quyền lãnh đạo. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Ðó là hai trong nhiều quyết định được đưa ra khi bàn về việc sửa đổi bản Hiến Pháp 1992 tại Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung Ương lần thứ 5 vừa bế mạc ở Hà Nội hôm 15 Tháng Năm, sau 9 ngày họp kín.

Việc đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục độc quyền lãnh đạo đất nước và không chấp nhận chế độ chính trị dân chủ đa đảng và đa nguyên thể hiện rất rõ trong Ðiều 4 của bản Hiến Pháp. Ðiều này vốn không có gì mới mẻ, nó được đã được đảng cộng sản nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần dù bị nhiều người chỉ trích và yêu cầu bãi bỏ.

Bản “Hiến Pháp năm 1992” được ban hành cách đây 20 năm, trong bối cảnh ngay sau khi hàng loạt các chế độ cộng sản trên thế giới sụp đổ và đảng CSVN muốn quyết bám giữ vai trò lãnh đạo. Dù ông Nguyễn Phú Trọng nay tái khẳng định nền kinh tế Việt Nam là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” nhưng với đảng CSVN “bỏ Ðiều 4 Hiến Pháp là tự sát.”

Trong bài diễn văn bề mạc hội nghị, ông Nguyễn Phú Trọng một lần nữa khẳng định lại: “Ðảng Cộng Sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” và rằng, “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” nhưng “do Ðảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo.”

Ðất đai tại Việt Nam trong nhiều năm qua trở thành vấn đề nóng bỏng trong xã hội Việt Nam với hàng loạt vụ đàn áp cưỡng chế gây bất bình trong dư luận như vụ Tiên Lãng, vụ Văn Giang và gần đây là ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Ðịnh. Rất nhiều chuyên gia, nhiều tiếng nói của giới trí thức đòi hỏi tư nhân hóa quyền sở hữu. Tuy nhiên Hội Nghị Trung Ương 5 vẫn lập lại luận điệu cũ, khi “tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.”

Và rằng, “Quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân.”

* Bộ Chính Trị trực tiếp chống tham nhũng

Một quyết định đáng chú ý trong hội nghị lần này là việc “thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính Trị.”

Ban này hiện nay gần như nằm dưới quyền điều hành của chính phủ với trưởng ban là Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, phó trưởng ban là Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Nhưng từ khi thành lập đến nay dường như rất ít vụ tham nhũng cấp trung ương bị phanh phui. Các quy định như đảng viên cao cấp phải công khai tài sản cũng hoàn toàn thất bại.

Ngoài việc Bộ Chính Trị trực tiếp điều hành “Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng,” Hội nghị trung ương 5 còn cho lập lập lại Ban Nội Chính Trung Ương.

Ban này sẽ “vừa thực hiện chức năng một ban đảng, đồng thời là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.”

Theo Người Việt



Đọc tiếp…

Mười Năm Săn Bắt Osama bin Laden

09:02 |
Trong 10 năm trốn tránh, Bin Laden sống hầu hết trên vùng đồi núi gần ranh giới hai nước Afghanistan và Pakistan. Lúc đầu còn trong lãnh thổ Afgahnistan, về sau, y phải trốn trên lãnh thỗ Pakistan kể từ năm 2002.

 Trong cuộc hành quân Neptune’s Spear, 5 người trong dinh cơ của Bin Laden bị giết chết: Bin Laden, tên cận vệ Kuwaiti, cùng bà vợ của y, bà vợ ba của Bin Laden tên là Amal, và người em trai của tên cận vệ tên là Khalid. Hai bà vợ khác của Bin Laden bị thương.

Peter Bergen là ký giả tây phương đầu tiên được vào xem căn biệt thự nơi Osama bin Laden cư ngụ ở tỉnh Abbotttabad,Pakistan. Ông nghiên cứu hơn 6,000 tài liệu của tình báo Mỹ, và Pakistan để viết nên cuốn sách: “Manhunt: The Ten-Year Search for Bin Laden from 9/11 to Abbottabad.”- “Cuộc săn bắt con mồi: Quá trình 10 năm lùng bắt Bin Laden từ vụ khủng bố 9/11 đến tỉnh Abbottabad.”. Chúng tôi xin trích dịch bài tóm lược cuốn sách trên báo TIME ngày 7 tháng Năm 2012.


Sáng sớm ngày 2 tháng Năm, năm 2011, căn nhà nơi Osama Bin Laden cư ngụ đột nhiên sáng rực lên, kèm theo là những tiếng nổ kinh hồn. Cô bé Maryam, 20 tuổi, con gái của Bin Laden chạy vội lên phòng ngủ của cha ở trên tầng lầu cao nhất để hỏi xem chuyện gì đang xảy ra. Hắn chỉ vắn tắt nói với con gái: “Đi xuống dưới nhà, vào  phòng  ngủ đi con. Đừng bật đèn lên con nhé.”.

Hắn không cần phải dặn dò đứa con gái, vô ích. Một người nào đó đã thận trọng cúp điện cả khu vực trong xóm. Do đó, toán biệt kích Ngưởi Nhái của Hải Quân Hoa Kỳ có thể xông vào tấn công chớp nhóang căn biệt thự của bin Laden ở tỉnh Abbottabad, nước Pakistan. Đêm hôm đó lại là một đêm không có trăng, một điều kiện thuận lợi cho hoạt động của toán biệt kích.  Thực ra, chỉ thị của Bin Laden nói với bà vợ trẻ Amal, mới là lời nói sau cùng của hắn.

Năm mươi sáu giờ trước đó, bên đầu bên kia của trái đất, Tổng Thống Hoa Kỳ đã lấy quyết định quan trọng sau nhiều tháng cân nhắc, thảo luận kỹ càng đủ mọi góc cạnh của vấn đề. Ông nói với Cố Vấn An Ninh Quốc Gia: “Ít’s a go”, “Hãy cho làm theo kế hoạch đề nghi đi.”. Từ nước Afghanistan ở kế bên, một tiểu đội gồm những chiến sĩ cảm tử tinh nhuệ được đưa lên trực thăng, bay thật nhanh và thấp, xuyên qua các rặng núi trùng điệp, trước khi hạ cánh bao vây căn biệt thự để giữ an toàn trong lúc ra tay hành động. Họ dùng thuốc nổ phá tung cổng sắt khoá chặt. Rồi ba người lính biệt kích xông thẳng lên trên lầu.

Cuộc chiến đấu tốn nhiều xương máu của Bin Laden chống lại Hoa Kỳ và đồng minh sắp đến hồi kết thúc. Cuộc sống và cái chết của Bin Laden ở tỉnh Abbottabad được ký giả Peter Bergen mô tả lại trên trang sách cho thấy những nghịch lý trong cuộc sống của tên lãnh tụ khủng bố kỳ lạ này. Ông Peter Bergen đã phỏng vấn nhiều viên chức Hoa Kỳ, các điều tra viên Pakistan, và nghiên cứu nhiều bài viết của Bin Laden chưa hề được công bố. Ông là ký giả Tây phương duy nhất có may mắn được vào xem xét tường tận căn biệt thự của Bin Laden trước khi toà nhà này bị chính phủ Pakistan cho kéo sập, san thành bình điạ.

Tầng lầu thứ ba xây thêm ngoài giấy phép qui định

CĂN BIỆT THỰ LÀ MỘT NƠI LÝ TƯỞNG để nghỉ hưu thoải mái, và kín đáo. Nằm soai soải trên sườn đồi là những căn nhà xinh xắn, bao quanh bằng những ngọn núi nhỏ, tỉnh Abbottabad giống như một thành phố ở Thụy sĩ, nằm phía bắc nước Pakistan, với số dân khoảng nửa triệu người, trên triển đồi ở cao độ 4,000 feet, ngay dưới chân  dẫy núi Hy Mã Lạp Sơn. Với ưu điểm về khí hậu mát mẻ về mùa hè, và hầu như không có tội phạm xảy ra. Vì thế, tỉnh Abbottabad trở thành điạ điểm nghỉ mát được ưa thích của nhiều gia đình công chức, và sĩ quan cao cấp. Mùa nghỉ hè bắt đầu từ tháng Sáu, nhiểu gia đình muốn trốn cái nắng như thiêu đốt của vùng đồng bằng Pakistan lên đây để nghỉ mát. Thành phố còn có những sân đánh cù (golf) đẹp nhất Pakistan. Khí hậu ở đây trong lành, êm ả, dễ chịu hơn so với những thành phố bụi bậm, náo nhiệt khác của Pakistan.

Chính cái điạ điểm khí hậu trong lành, yên tĩnh của tỉnh Abbottabad khiến cho Bin Laden đã chọn nơi này làm chốn dung thân sau gần nửa thập niên trốn tránh ở  nhiều nơi khác, kể từ sau thắng lợi của y là vụ khủng bố 9/11. Mãi cho đến mùa Xuân năm 2011, tên thủ lãnh khủng bố vẫn còn sống ở khu xóm Bilai Town gần căn biệt thự hiện nay. Giữa những căn biêt thự có cổng ra vào sơn mầu trắng có cửa hàng bán rau, hoa qủa. Quang cảnh điạ hình ỏ đây thật là êm đềm, tươi mát, một nơi để sống dễ chịu.Bắt từ năm 2005, căn biệt thự dành cho Bin Laden ở được xây lên từ một bãi đất trống. Trong lúc xây căn biệt thự này, tầng lầu thứ ba được cất thêm không có trong hoạ đồ xin giấy phép. Có lẽ đây là một thông lệ vẫn hay dùng để ăn gian bớt tiển thuế thổ trạch. Ngoài ra, còn một lý do thầm kín khác, là người ta muốn giữ bí mật vể tẩng lầu thứ ba này. Vâng, đó là tầng lầu chỉ dành riêng cho Bin Laden và Amal, cô vợ trẻ nhất người Yemen, được Bin Laden sủng ái.

Tầng thứ ba này hơi khác những lầu khác. Chỉ có một bề tường là có cửa sổ, ba bề tường kia không có cửa sổ. Và những cửa sổ đó dùng loại kính đục, ở ngoài không thể nhìn vào bên trong được. Trong năm cửa sổ, có bốn cái ở cao hơn tầm mắt người ngoài đường. Một khoảng sân thượng nhỏ được nới ra ngoài, kế đến là bức tuờng cao 7 feet (hơn 2 mét) để ngăn cản tầm nhìn của người ngoài đường, dù cho người đó cao cỡ Bin Laden. Hắn ta cao tới 6 feet 4inch, tức hơn 1m 85. Quần áo y thường mặc hàng ngày là chiếc áo thụng dài màu nhạt, khoác thêm một tấm áo vest mầu đậm, và đội chiếc mũ mỏng ôm sát đầu, dùng để cầu kinh. Trong suốt năm năm sống tại đây,  Bin Laden ít khi ra khỏi tầng ba và tầng hai của căn biệt thự. Khi bước ra ngoài, thường là y chỉ đi tản bộ trong mảnh vườn sau nhà. Mảnh vườn này là nơi trồng rau, và nuôi gà, cung cấp thức ăn tươi cho gia đình. Một tấm bạt bằng nhựa rẻ tiền được dùng để che chở cho người đi bộ trong vườn không bị vệ tinh dò thám của Mỹ từ trên trời trông thấy.

Một người vốn quen sống ngoài trời như Bin Laden, chắc phài cảm thấy tù túng với cuộc sống như vậy. Nhưng bù lại, điạ điểm này có nhiều vị thế tốt để che chở cho y. Trước hết là hắn có thể thoát khỏi sự theo dõi bằng máy bay gián điệp của Mỹ. Lúc sau này, rất nhiều phụ tá thân tín của Bin Laden đã bị máy bay gián điệp (drone) của Mỹ tiêu diệt. Bọn chúng là thành phần ưu tú, chủ chốt của tổ chức al-Qaeda. Chúng vẫn sống lẩn trốn trong các bộ lạc ở vùng rừng núi cao, cách nước Pakistan khoảng 200 dậm về phía tây. Ngoài ra, sống trong căn biệt thự này, Bin Laden được sống chung với ba bà vợ, và một đám đông con cháu của y.

Bin Laden có nhiều vợ, trẻ nhất là cô Amal 29 tuổi, và già nhất là bà Khairiah, 62 tuổi. Bà già này mới tái xuất hiện chung với Bin Laden lúc gần đây. Bà tỏ ra sung sướng được đoàn tụ với Bin Laden. Hắn lấy bà vào năm 1985, lúc hắn mới 28 tuổi, và bà ta 35 tuổi. Trước khi lập gia đình, bà Khairiah là một người sống tự lập. Bà có nghề chuyên môn. Bà là giáo viên dạy trẻ câm điếc. Ngoài ra, bà còn có bằng Tiến sĩ, và bà ấy thường hay  khoe với mọi người về  gốc gác khá giả của gia đình bà. Nghe đâu bà thuộc  dòng dõi của ngài Tiên tri Muhammad.

Sau khi chế độ Taliban ở Afghanistan  bị lật đổ vào năm 2001, bà Khairiah phải rời khỏi Afghanistan sang sống ở bên Iran cùng với những đứa con bà có với Bin Laden. Trong nhiều năm, bà và những đưá con đem theo phải  sống trong  hoàn cảnh bị giam lỏng ở thủ đô Teheran. Đến mùa hè nóng như thiêu đốt của năm 2010, bà Khairiah đã tìm cách thoát khỏi Teheran, và đi đến tỉnh Bắc Waziristan, một bộ lạc trên vùng núi Pakistan, cách thủ đô Teheran 1,500 dậm về phía đông. Chuyến đi này thật là gian khổ, bà phải vượt qua nhiều rặng núi hiểm trở, và những vùng sa mạc nóng nhất thế giới. Cuối cùng bà về được  Abbottabad để sống gần với chồng.

Một bà vợ lớn tuổi khác của Bin Laden, cùng sống chung trong căn biệt thự này là bà Siham bin Abdul bin Husayn. Bà Siham 54 tuổi, có bằng Tiến sĩ văn phạm Koran. Bà từng sống chung với Bin Laden ở Sudan hồi thập niên 1990. Là một thi sĩ, và có tài về văn chương, bà thường phụ trách việc sửa chữa những bài viết của Bin Laden.

Trước khi xảy ra vụ khủng bố 9/11, Bin Laden lấy thêm một cô vợ trẻ tên là Amal. Khi lấy cô ta, Bin Laden đã 43 tuổi, và cô là một thiếu nữ 17 tuổi. Sự cách biệt tuổi tác 26 năm không làm cho đôi vợ chồng sống kém hạnh phúc. Amal có với Bin Laden năm đưá con, trong đó có hai đưá đang sống với hai vợ chồng trong biệt thự ở Abbottabad.

Có lẽ cuộc sống đa thê với ba bà vợ là nguồn an ủi duy nhất cho Bin Laden. Hắn thành thật tin rằng sống đa thê, đẻ nhiều con là một trách nhiệm tôn giáo hắn phải làm. Trong những câu chuyện với đám bạn đàn ông thân, hắn thường đem lời dậy của Đấng Tiên Tri Muhammad nói: “Nên  lấy vợ và đẻ nhiều con, làm như thế, bạn sẽ làm tăng  dân số theo Hồi Giáo.”. Hắn còn nói đuà với một số bạn bè khác: “Tôi không hiểu sao người ta có thể lấy một vợ. Phải lấy bốn vợ mình mới sống trọn vẹn cái thú làm chú rể của thằng đàn ông.”. (Hình như đây là câu nói đuà duy nhất của Bin Laden, hắn ít khi nào nói bông đuà diễu cợt). Muốn có đời sống tình dục cương cường như một chú rể mới cưới vợ, Bin Laden dùng loại nước cốt thảo mộc Avena - một loại thuốc cường dương tương tự như Viagra, lấy từ yến mạch (wild oats). Người ta tìm thấy loại nước cốt Avena trong biệt thự của Bin Laden.

Cuộc sống trong cơ ngơi của Bin Laden không mấy gì xa hoa, sang trọng, nếu không nói là đơn sơ, nghèo nàn. Nhưng đối với cô Amal, cuộc sống ở đây quá tốt, tốt gấp vạn lần so với hồi cô còn ở trong ngôi làng nghèo khó, miền quê nước Yemen. Muốn lấy thịt để ăn, cả gia đình Bin Laden gồm hơn một chục nhân mạng ăn thịt hai con dê một tuần. Người ta làm thịt dê ngay trong vườn sau của dinh cơ. Sữa thì lấy từ mấy con bò nuôi trong chuồng, ngoài sân sau. Khoảng hơn 100 con gà được nuôi để lấy trứng. Mật ong  và rau qủa cũng lấy từ căn vườn trồng trọt tự túc để ăn dần. Thỉnh thoảng, họ mới mua đồ hộp ở tiệm tạm hoá  gần nhà, như dầu olive hiệu Sasso, và luá mạch hiệu Quaker Oats.

Bên trong biệt thự, phòng ốc chỉ sơn một mầu nhạt trơ trụi, và không một bức tranh nào được treo trên tường theo đúng tinh thần tôn giáo chính thống của Bin Laden. Không có máy lạnh để dùng vào mùa hè. Mùa đông chỉ có cái lò sưởi thô sơ chạy bằng hơi gas . Mùa hè ở đây nóng lắm, nhiệt độ thường là trên 100 độ F. Muà đông có tuyết. Trang bị cho căn nhà của Bin Laden hết sức thô sơ, do đó, chi phí về gas điện rất ít, chỉ tốn khoảng chừng $50 đô la mỗi tháng. Giường ngủ trong nhà đóng bằng loại gỗ ván rẻ tiến, giống như loại giường cho người ở tạm, hơn là sống lâu dài tại đây.

Với cô vợ trẻ nhẫn nhịn, và bà vợ gìa nghiêm khắc, tôn ty trật tự trong gia đình  do bà vợ cả Khairiah chỉ huy. Ít khi có chuyện cãi vã giữa nhửng bà vợ của Bin Laden. Tất cả các bà vợ đều chấp nhận tình trạng đa thê của ông chồng, họ tin rằng Thượng Đế đã sắp xếp như vậy. Mỗi bà vợ có một khoảng không gian, phần hộ riêng để sống, có nhà bếp riêng để nấu ăn. Khói của nhà bếp được thải ra ngoài bằng ống sắt thô sơ. Tầng lầu ba dành riêng cho một mình cô Amal ở với Bin Laden. Trong lúc hai tầng dưới dành cho hai bà vợ già.

Ngoài ra, còn phải kể đến người cận vệ thân tín, đóng vai trò giao liên của Bin Laden cũng sống trong  dinh cơ này. Tên của người vệ sĩ là Abu Ahmed al-Kuwaiti (thường được gọi tắt là Kuwaiti). Người giao liên sống với em trai, và vợ con của họ trong căn nhà nhỏ ở phía trước, rất thiếu thốn. Mỗi tháng Bin Laden chu cấp cho Kuwaiti và em trai y một số tiền là 12,000 rupees, khoảng hơn $100 đô la. Điều này cho thấy tiền bạc trong ngân qũi của tổ chức al-Qaeda đã cạn kiệt lắm rồi.

Căn nhà phía trước dành cho Kuwaiti và gia đình y ở nhỏ xíu và sơ sài lắm. Một bức tường cao hơn hai thước ngăn căn nhà nhỏ với căn biệt thự của Bin Laden. Bà Mariam, vợ cùa Kuwaiti ít khi bước vào nhà của Bin Laden, trừ phi phải vào trong để dọn dẹp, chùi rửa căn biệt thự cho gia đình Bin Laden.  Có một lần duy nhất bà Mariam trông thoáng thấy người đàn ông lạ, nói tiếng Ả rập sống trong căn biệt thự. Chồng của bà Mariam đã dặn bà từ lâu là có một người lạ sống ở đó, và cấm bà không được nói với bất cứ một ai về người lạ này. Bin Laden đã phải sống lén lút, dấu  kín tông tích của mình ngay cả đối với những người sống trong dinh cơ của y.

Trên tầng lầu cao nhất, Bin Laden sống qua ngày với cô vợ trẻ Amal. Trần nhà phòng ngủ của hắn có vẻ hơi thấp so với dáng người cao quá khổ của Bin Laden. Một  phòng tắm nhỏ xíu đặt ở góc phòng ngủ, lát gạch màu xanh lá cây trên tường, nhưng dưới nền không được lát gạch. Bàn cầu đi vệ sinh rất thô sơ, loại ngồi bệt sát xuống đất, bằng hai bàn chân. Mỗi khi đi vệ sinh là phân trôi tuột xuống cái lỗ nhỏ. Phòng tắm được che bằng miếng nhựa plastic rẻ tiền. Trong phòng tắm, Bin Laden thường xuyên phải dùng thuốc nhuộm tóc “Just for Men” để nhuộm bộ râu bạc trắng của y, giúp y trông còn tráng kiện trẻ trung. Hắn ở lứa tuẩn trên sáu mươi, râu bạc, trông già yếu lắm.  Kế bên phòng ngủ là một nhà bếp nhỏ, kích thước chỉ bằng một phòng treo quần áo. Bước qua một hành lang nhỏ là phòng đọc sách của Bin Laden. Nơi đây hắn bầy những cuốn sách trên kệ sách làm bằng gỗ thô sơ, và hắn dùng phần lớn thời giở để ngồi trước computer làm việc. Hắn hay soạn thaỏ những bản chỉ thị dài lê thê để người giao liên đem giao cho các phụ tá thân tín.

Hắn không ngở rằng nhiều văn thư, chỉ thị hắn viết ra lại lọt vào tay CIA. Một văn thư Bin Laden khuyên các nhóm tham gia cuộc thánh chiến chớ nên dùng một bí danh để ám chỉ al-Qeada. Ngày 7 tháng Tám, hắn viết cho một tay lãnh tụ hung tợn của nhóm phiến quân ở Somalia, tên là al-Shabab, không nên tự nhận mình là thành viên trong al-Qaeda. Bởi vì làm như thế sẽ không nhận được sự giúp đỡ về tài chánh của nhiểu người Ả rập giầu có, lại còn lôi cuốn sự chú ý của kẻ thù.

Tháng 10 năm 2010, Bin Laden viết một văn thư dài 48 trang gửi cho các phụ tá ngoài chiến trường. Theo hắn, sau khi duyệt xét, và thăm dò dư luận về tình hình chiến đấu của phong trào thánh chiến Hồi Giáo, hắn nhận thấy năm 2010 là năm gây nhiều thất bại lớn cho Mỹ ở Afghanistan, và đó là xu hướng tốt, sẽ khiến cho Mỹ ngày càng lún sâu thêm vào tình trạng ngân sách thâm thủng. Nhưng đồng thời Bin Laden cũng bầy tỏ mối lo ngại là vùng an toàn khu Waziristan của al-Qaeda, một bộ lạc nhỏ thuộc lãnh thổ Pakistan lúc gần đây bị máy bay gián điệp drone của Mỹ ném bom dữ dội. Bin Laden viết rõ: “Tôi nghe nói là máy bay của giặc Mỹ làm cho nhiều anh em chúng ta phải bỏ chạy tứ tán.”.

Bin Laden cũng bầy tỏ mối lo ngại về đứa con trai 20 tuổi của y tên là Hamza. Trong năm 2010, thằng bé phải bỏ chạy, trốn tránh từ bộ lạc này sang bộ lạc khác. Hắn viết rõ: “Các đồng chí phải nhắn tin cho cháu Hamza biết ý kiến của tôi là cháu nên ra khỏi vùng Waziristan…… Nó chỉ nên ra đi khi biết chắc trên trời không có mây dầy đặc, ám chỉ có máy bay theo dõi..”. Trong lúc lớn tiếng kêu gọi đám thanh niên trẻ tham gia vào cuộc thánh chiến, thì hắn lại viết thư riêng nhắn con trai của mình nên trốn đi, đến ẩn mình trong nước Qatar, một vương quốc Ả Rập nhỏ bé.

Bin Laden cũng viết thư nhắc nhở các phụ tá của y “liên lạc với nhau bẳng thư viết tay, không nên dùng điện thoại, hay Internet. Vì thế, nhiều khi hắn phải đợi chờ cả hai hay ba tháng mới nhận được thư hồi âm của các cộng sự viên. Điều này làm cho việc điều hành tổ chức al-Qaeda không còn hữu hiệu nữa.

Bin Laden luôn luôn tìm cách phác họa kế hoạch hành động để gây sự chú ý của giới truyền thông. Hắn ra chỉ thị cho đàn em trong tổ chức: “Nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày tấn công 9/11 sắp tới. Đây là một ngày rất quan trọng, chúng ta nên bắt đầu chuẩn bị làm việc gì để đánh dấu ngày quan trọng này. Các đồng chí hãy gửi về cho tôi những đề nghị cụ thể.”. Hắn đề nghị đồng chí của hắn nên tiếp xúc với hệ thống truyển hình Jareera bộ phận nói tiếng Anh, cũng như bộ phận nói tiếng Ả Rập. Ngoài ra, hắn cũng muốn được tung tin trên đài truyền hình Mỹ. Hắn viết: “Chúng ta cũng nên tiếp xúc với một hê thống truyển hình Mỹ, thân thiết với chúng ta, và không có thành kiến, ví dụ như hệ thống CBS.” .

Cho đến phút cuối, Bin Laden vẫn cố gắng tìm cách phóng ra một cuộc tấn công qui mô vào Hoa Kỳ. Hắn hối thúc một tay đàn em: “Thật là hay nếu đồng chí có thể  chỉ định một người anh em đủ khả năng thực hiện một chiến dịch lớn đánh vào Hoa Kỳ. Hay nhất là đồng chí chọn ra vài anh em, không quá 10 người, rồi gửi họ đến  nước sinh quán của họ để học lái máy bay. Không nên cho họ biết về nhau liên quan đến lớp huấn luyện lái máy bay.

Đáng sợ nhất là chính Bin Laden đã phiền trách tên Faisal Shahzad, một người gốc Pakistan, theo Taliban, mang quốc tịch Mỹ. Tên này lãnh công tác làm nổ tung chiếc xe SUV ở Time Square, New York, vào ngày 1 tháng 5 năm 2010 . Tên khủng bố về sau ân hận đã phản bội lời thề khi xin vào quốc tịch. Y nói: “người Hồi Giáo không nên phản bội lời thề mình khi đã hứa, và ký tên vào thỏa ước.”. Lời than của hắn khiến cho việc tuyển công dân Mỹ đi làm công tác khủng bố là điều đáng tiếc.  Vì vậy, mọi cố gắng tấn công vào Hoa Kỳ, hay các nước Tây phương trở nên khó khăn hơn. Đã thế, chính tay phụ tá số một của Bin Laden, tên Ayman al-Zawahiri còn viết thư phản bác ý kiến của Bin Laden. Y nói Bin Laden cần phải nhận thức tình hình sát thực tế hơn. Tấn công lính Mỹ ở Afghanistan dễ hơn là tấn công thường dân trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

Thực vậy, kể từ mùa xuân năm ngoái, Bin Laden và đồng bọn không thể tung ra một cuộc tấn công khủng bố nào thành công tại các nước Tây phương. Lần sau cùng xảy ra vào ngày 7 tháng 7 năm 2005, chúng đặt bom phá hoại hệ thống giao thông ở Luân đôn. Dĩ nhiên, kể từ sau thắng lợi ngày 11 tháng 9 năm 2001, tổ chức al-Qaeda chưa làm thêm được một cuộc tấn công nào thành công ở Hoa Kỳ cả.

Tung ra cuộc hành quân Neptune’s Spear – Mũi Giáo Hải Vương.

HỒI 1 GIỜ TRƯA, GIỜ MIỀN ĐÔNG Hoa Kỳ ngày 1 tháng Năm cũng là lúc màn đêm bao phủ miền đông Pakistan, cách Hoa Kỳ 7,000 dậm, toàn bộ Nội Các Chiến Tranh của tổng thống Obama ngồi tập trung trong phòng “Situation Room”, Phòng Theo Dõi Tình Hình Chiến Trường. Toán cố vấn an ninh quốc gia của Bạch Cung sắp sẵn những thiết bị truyền thông để liên lạc trực tiếp với Phó Đề Đốc Hải quân  William McRaven, Tư lệnh Bộ Chỉ Huy Hành Quân Đặc Biệt (JSOC). Lúc bấy giở, ông tướng Hải Quân này đang ở thành phố Jalalabad, miền đông Afghanistan. Phòng Situation Room cũng có đường dây riêng liên lạc trực tiếp với ông Leon Panetta, Giám đốc CIA, và  trung tâm hành quân của Ngũ Giác Đài. Ở đây, có một toán gồm 30 sĩ quan trực sẵn, chờ lệnh ứng chiến nếu tình hình trở nên gay cấn. Khoảng 2 giờ trưa, tổng thống Obama bước vào phòng Situation Room dự phiên họp sau cùng với nhóm cố vấn an ninh quốc gia, trong lúc cuộc hành quân Neptune’s Spear vừa mới bắt đầu. Lúc 2 giờ 05, ông Panetta thuyết trình, nói sơ qua về những nét tổng quát của cuộc hành quân.

Khi đó là 11 giờ tối ở tỉnh Abbottabad, và gia đình Bin Laden đang chuẩn bị đi ngủ. Nước Pakistan và Afghanistan cách nhau gần một múi giờ, và mới chỉ là 10 giờ 30 ở  Jalalabad, 23 chiến sĩ Biệt Kích SEAL, cùng với một thông dịch viên chuẩn bị leo lên hai chiếc trực thăng Black Hawk. Mỗi chiến sĩ biệt kích mang theo trong người một tấm thẻ nhỏ, trên đó có hình của Bin Laden và những người trong gia đình y, hiện đang sống trong căn nhà biệt kích sẽ đổ bộ vào. Đặc biệt trong cuộc hành quân này, còn có một con quân khuyển tinh khôn tên là Cairo. Nó được trang bị, ăn mặc giống hệt các chiến sĩ biệt kích SEAL.

Nửa giờ sau, khoảng 11 giờ điạ phương, hai trực thăng Black Hawk lên đường rời khỏi phi trường Jalalabad, đi về hướng đông đến vùng biên giới Pakistan. Họ chỉ mất khoảng 15 phút là đến nơi. Hai trực thăng loại MH-60’s được ngụy trang để tránh sự kiểm soát của đài radar ở  Pakistan. Các đài radar ở khu vực này chỉ hoạt động trong tình trạng thời bình, không mấy khắt khe, khác với các đài radar bên phía biên giới chung với Ấn Độ. Trước đây, hai nước Ấn Độ và Pakistan từng có chiến tranh với nhau. Loại trực thăng MH-60s được sơn bẳng mầu thạch nhũ tuyệt đẹp để thoát được sự khám phá của Pakistan. Maý bay MH-60s khi bay tỏa nhiệt rất ít. Đuôi của nó được thiết kế đặc biệt để phát ra tiếng động rất nhỏ, và khó bị radar phát hiện. Hơn thế nữa, hai máy bay này được bay thật thấp, thấp đến mức nguy hiểm, và phải bay thật nhanh, chỉ cách mặt đất chừng hơn một thước. Chúng bay xuyên qua các tùm cây, ôm sát theo lòng sông, và thung lũng chạy dài dưới chân rặng núi Hindu Kish. Nhờ thế hệ thống radar khó có thể khám phá ra được. Ngay sau khi vuợt qua vùng biên giới, máy bay bung lên thật cao để bay về phía bắc tỉnh Peshawar trước mắt hàng triệu người dân ở dưới đất. Tổng cộng thời giờ bay vượt biên giới để đến mục tiêu là một tiếng rưỡi, với khoảng cách 150 dậm.

Phòng “Situation Room” là một phòng họp khá lớn, có khả năng chứa được hơn một chục chuyên viên cao cấp trong Bạch Cung vào họp, chưa kể vài chiếc ghế dài kê ở sát tường dành những chuyên viên khác ngồi dựa lưng vào tường theo dõi phiên họp. Tường của phòng hội được lát bằng gỗ mầu đậm, đánh vẹc ni bóng láng. Ngay kế bên phòng Situation Room có một căn phòng nhỏ để chưá dụng cụ liên lạc truyền tin, các băng video thu hình. Trong phòng dụng cụ này chì có một cái bàn cỡ nhỏ. Ngồi tại bàn này là Trung tướng Không quân Marshall “Brad” Webb, Phó tư lệnh cuộc hành quân hỗn hợp. Trong bộ quân phục Không Quân cáu cạnh, mầu xanh đậm, trên ngực áo gắn đầy huy chương, tướng Webb đang theo dõi từng giây diễn biến cuộc hành quân với chiếc computer laptop. Ngồi kế bên ông còn có một sĩ quan tùy viên phụ giúp ông trong việc liên lạc với bộ chỉ huy cuộc hành quân. Trên màn hình TV kê giữa phòng, người ta thấy  xuất hiện những hình ảnh mờ mờ diễn tiến cuộc hành quân. Những hình ảnh này được một máy bay gián điệp Stealth, kiểu RQ-170, hình con dơi, bay cao hai dậm trên không phận tỉnh Abbottabad  thu hình gửi về.

Ông Michael Leiters, Giám đốc Cục Phản Gián bước vào phòng nhỏ này để xem qua hình ảnh do máy bay gián điệp gủi về. Sau đó, tất cả thành viên trong nội các chiến tranh cùng chăm chú theo dõi những hình vừa gừi về. Ông Leiters kể lại: “Từ từ, chúng tôi nhận được hình gửi về. Ai nấy đều gật đầu, chăm chú nhìn vào từng tấm hình gửi về. Phó tổng thống Joe Biden lẻn vào trước, sau đó, Bộ trưởng quốc phòng Gates và Bộ trưởng Ngoại Giao Hillary Clinton cũng len vào đòi xem. Căn phòng nhỏ xíu bỗng dưng chật chội vì đông người. Kế đến, tổng thống Obama cũng đòi vào xem. Ông nói: “Chờ tôi một chút. Phải cho tôi xem với.”. Ông ngồi xuống cái ghế cạnh trung tướng Webb. (Chính tấm hình nổi tiếng chụp ông Obama và các nhân vật cao cấp trong chính phủ đang theo dõi cuộc hành quân bắt Bin Laden là ở căn phòng nhỏ bên cạnh, không phải phòng Situation Room) .

Đoàn trực thăng Black Hawk từ hướng tây bắc, đưa toán biệt kích SEALs đến tỉnh Abbottabad. Khi những chiếc trực thăng này đến mục tiêu, kế hoạch hành quân được chuẩn bị rất kỷ bắt đầu mở màn. Chiếc trực thăng đầu tiên hạ cánh xuống khoảng sân lớn nhất của biệt thự (main courtyard), bỗng dưng bị mất thăng bằng, rơi nhanh xuống đất. Sức nặng quá tải của dụng cụ đem theo, cùng với sự thay đổi nhiệt độ quá nóng của tỉnh Abbottabad khiến cho khả năng vận hành của máy bay bị trục trặc, tiếng chuyên môn về hiện tượng này gọi là tình trạng rơi nhanh cấp kỳ. Khi toán biệt kích SEALs thực tập cho cuộc hành quân trên sân tập ở Hoa Kỳ, những tấm tường để thực tập được cột lại với nhau bằng giây xích. Nhưng đến lúc chạm vào thực tế, bức tường ngoài đời làm bằng xi măng, khiến cho cánh quạt trên nóc trực thăng có thêm năng lượng, làm cho máy bay dễ chao đảo.  Đuôi máy bay trực thăng quất vào bức tường bao quanh khu biệt thự, khiến cho cái rotor ở phần đuôi gẫy rời khỏi máy bay. Lúc đó người phi công không còn có thể điều khiển chiếc trực thăng được nữa. Với kinh nghiệm trong các lần thao dượt, người phi công này đã khéo léo cấm đầu máy bay xuống đất của khu vườn, tránh cho máy bay không bị nổ tung. Nhờ sự lanh trí của người phi công, tất cả các biệt kích trên trực thăng bị rơi nhảy ra ngoài an toàn, để tiếp tục thi hành công tác.

Ông Obama lặng người đi khi thấy chiếc trực thăng bị rơi. Hình ảnh do máy bay gián điệp gửi đến lần sau cho thấy rõ cái chong chóng ở đuôi trực thăng đã hoàn toàn ngưng quay. Chiếc trực thăng thứ hai trờ tới, nó bay thẳng lên nóc nhà, bỏ vài biệt kích SEAL đáp xuống mái nhà bằng dây thừng, và bay đi mất. Trong thái độ trầm tĩnh của dân Texas, phó đề đốc McRaven nói với ông Panetta, với giọng nói đều đều, không một chút xúc động, hay lo âu,: “Bây giờ chúng tôi sẽ sửa chữa sơ suất trong công tác. Như ông Giám đốc vừa trông thấy, chúng ta có một trực thăng bị rơi trong sân của căn nhà. Người của chúng tôi đã chuẩn bị  cho tình huống xấu này, và họ sẽ giải quyết vấn đề đó ngay.”. Trong vòng vài giây, phó Đề đốc McRaven trưng bầy cho thấy tóan biệt kích đã hủy diệt gọn gàng chiếc trực thăng bị rơi vì trục trặc kỷ thuật.

Ba người lính biệt kích SEAL chạy băng ngang qua một sân cỏ nhỏ, và mở tung cửa vào khu dinh cơ của Bin Laden. Lối này dẫn họ đến căn nhà nhỏ, gọi là guest house, tức căn nhà để tay cận vệ ở, canh giữ an ninh cho Bin Laden. Tại đây họ trông thấy một garage đậu xe, với chiếc xe “jeep” tên cận vệ Kuwaiti. Kế đến là căn nhà nhỏ một tầng nơi Kuwaiti sống với gia đình y. Tên Kuwaiti vừa ló đầu ra khỏi cánh cổng sắt của căn nhà để nhìn xem chuyện gì xảy ra. Y lập tức bị một lính biệt kích SEAL bắn vào cằm hai phát, chết ngay tức khắc. Họ cũng bắn trọng thương người vợ của y. Bà ta bị trúng đạn ở bả vai bên phải. Loại súng hãm thanh họ dùng chỉ gây tiếng động rất nhỏ. (sau này, biệt kích tìm thấy khẩu súng AK-47 của tên cận vệ Kuwaiti ở cạnh giường ngủ của y. Hình như khẩu súng này chưa bao giờ được dùng đến, vì trong báng súng không có băng đạn.).

Khi người phi công chiếc trực thăng Black Hawk thứ hai trông thấy chiếc đầu bị rơi, anh ta vội đổi số cần lái của máy bay,cho bay lên mái nhà, đúng theo Kế hoạch A. Anh thả biệt kích SEAL từ mái nhà xuống lầu ba bằng dây thừng. Họ bất ngờ xông vào phòng ngủ của Bin Laden, trong lúc hắn còn đang ngủ. Sang đến kế hoạch B là cứ để cho chiếc trực thăng bị rơi ở ngoài sân. Bốn biệt kích phóng ra ngoài bảo vệ an ninh toàn khu vực. Tám biệt kích còn lại nhảy ra khỏi trực thăng thứ hai. Họ gài chất nổ để phá tung cánh cổng sắt của căn  biệt thự. Vừa phá xong cửa sắt, họ gặp phải bức tường gạch cản lối. Vài giây sau, các đồng đội trong chiếc trực thăng bị rơi dẫn họ vào trong biệt thự bằng cửa chính, giúp họ không mất thì giờ phá tung bức tường gạch.

Trong căn phòng ngủ ở tầng lầu cao nhất, Bin Laden trở thành nạn nhân của  những sắp xếp do y làm. Bức tường có ít cửa sổ để ngăn người ngoài không trông thấy y. Bây giờ, chính vì ít cửa sổ, nên y không thể biết những gỉ đang xảy ra ở bên ngoài. Đang mặc bộ quần áo ngủ mầu nắng nhạt, với cái quần dài lỏng lẻo, tên lãnh tụ của tổ chức khủng bố al-Qaeda ngồi lặng yên trong bóng tối đến 15 phút không biết phải làm gì. Rõ rệt là y đang lâm vào tình trạng tê liệt, bất động, trong lúc biệt kích Mỹ đang ào ạt xông vào nơi tá túc cuối cùng của đời y. Trên trời không trăng sao, lại bi cúp điện toàn khu vực. Bóng đen của màn đêm càng làm cho Bin Laden rối trí thêm. Trong bộ quần áo y mặc, có khâu sẵn vài trăm đô la Euro, hai số điện thoại. Một số để gọi về số một số cell phone ở Pakistan, và một số khác để gọi về trung tâm điện thoại cho vùng bộ lạc trên cao nguyên Pakistan. Đó là tất cả những gì có thể giúp Bin Laden liên lạc với bên ngoài để chạy trốn. Những thứ đó không còn giúp ích được gì cho y trong lúc này.

Ba chiến sĩ biệt kích đi từ căn nhà một tầng nơi tên cận vệ  Kuwaiti cư ngụ, băng qua một sân cỏ, và đến một khoảng sân lớn trước khi đi vào căn nhà chính. Vừa  bước vào tầng dưới, Biệt kích Mỹ gặp một phòng ngủ bên tay trái, và họ bắn liền, hạ sát tên Abra, em trai của Kuwaiti, đồng thời cũng bắn chết luôn vợ của người này tên là Bushra.

Chiến sĩ biệt kích không biết hoạ đồ bố trí trong nhà của BinLaden. Khi họ di chuyển sâu hơn, họ mới khám phá ra nhà bếp, và hai phòng chứa đồ đạc khá lớn. Gần phía sau căn nhà, có một nơi trông giống như hầm trú ẩn, rồi có một cầu thang hiện ra. Ngăn cản lối đi lên tầng lầu trên là một cái cồng bằng sắt, được khoá chặt cứng. Cảm từ quân bèn phá tung cái cổng sắt bằng loại hoá chất họ mang theo. Khi chạy lên lầu hai, biệt kích SEALs đụng đầu với đứa con trai của Bin Laden, tên là Khalid, 23 tuổi. Họ bắn chết thằng nhỏ ngay tại cầu thang.

Trên kệ ván trong phòng ngủ của Bin Laden có một khẩu AK-47 và một súng lục tự động loại Makarov. Đó là hai vật bất ly thân của hắn. Nhưng vào lúc này, không hiểu vì sao Bin Laden không với tay lấy súng để tự vệ. Thay vào đó, y lại tự tay mở cửa cánh cổng sắt để ló đầu ra  ngoài nhìn xem chuyện gì đang xảy ra ở dưới nhà, gây ồn ào như vậy. Cánh cửa sắt này chỉ mở dễ dàng từ trong mở ra. Ngay lập tức, hắn bị biệt kích SEAL nhận diện, và họ nhảy vội mấy bậc thang lên tầng lầu của y. Lui bước vào bên trong, Bin Laden đã phạm một lỗi lầm chết người: y quên không đóng cổng, khoá cửa , khiến cho biệt kích SEALs chạy thẳng vào hành lang, và bước ngay vào phòng ngủ của hắn.

Nghe có tiếng động, và thấy có người lạ chạy vào phòng, cô Amal vợ của Bin Laden, thét lên bằng tiếng Ả Rập, sau đó, cô ta lăn mình ngã xuống nền nhà trước mặt ông chồng. Người biệt kích SEAL đầu tiên bước vào phòng vội vàng xô cô ta sang một bên, vì sợ rằng cô mặc áo vest mang bom tự sát. Sau đó, Amal bị một biệt kích khác bắn một phát vào tấm khăn quàng cổ, cô ta gục ngã, bất tỉnh trên tấm nệm giường cô ngủ chung với Bin Laden. Về phần Bin Laden, hắn chưa kịp có một hành động kháng cự nào, thì hắn đã bị bắn xối sả bằng những phát đạn đôi (double tap), bắn vào ngực và mắt trái của hắn. Hình ảnh Bin Laden gục ngã chết hết sức hãi hùng : óc của hắn phọt lên đến trần nhà, con ngươi mắt hắn bị bắn văng ra khỏi hốc mắt. Nền nhà gần giường ngủ của hắn thấm ướt đầy máu của Bin Laden.

Có lẽ, Bin Laden lúc về già là một con người đã an phận với số kiếp, và quá mệt mỏi với hơn mười năm trốn chạy. Hắn không chuẩn bị một kế hoạch đào thoát.  Căn nhà hắn ở cũng không có con đường bí mật nào để thoát thân cả. Có lẽ hắn hy vọng nếu bị phát giác, ít ra hắn sẽ nhận được vài dấu hiệu cảnh báo trước. Nhưng sự cảnh báo đó không bao giờ xảy ra. Hay cũng có lẽ hắn tin rằng nếu như xảy ra đánh nhau, thì ít ra một hai bà vợ, hay con cháu của hắn cũng bị giết trước khi đến lượt hắn.

Với những lời tuyên bố huênh hoang, hắn tin rằng ít ra  hắn cũng có thể xách súng xuống bắn nhau với kẻ thù, và tên cận vệ cũng phụ lực để chống lại khi bị Mỹ phát hiện. Nhưng thực tế xảy ra cho thấy cuối cùng Bin Laden bị giết chết một cách tầm thường, như một kẻ cùng đường chứ không phải là một anh hùng, hay một thánh tử vì đạo. Bin Laden đã chết giữa những bà vợ, và con cháu. Nhà của y bị phá tan hoang, cửa kính vỡ nát. Rải rác đầy nhà là những mảnh vụn kính vỡ, đồ chơi trẻ con vỡ nát, hộp đựng thưốc bay tứ tán. Điều đó chứng minh cho thấy biệt kích Mỹ SEAL đã đường hoàng tấn công, và tàn phá nơi ẩn náu sau cùng của Bin Laden. Ngày 25 tháng Hai vừa qua, nhà chức trách Pakistan đã gửi xe ủi đất đến san bằng thành bình điạ căn nhà nơi Bin Laden sống  gần sáu năm ở tình Abbottabad.

Nguyễn Minh Tâm dịch theo báo TIME ngày 7/5/2012
Đọc tiếp…

Mỹ đưa tàu ngầm tấn công đến Philippines

07:46 |
Tàu ngầm  tấn công cao tốc SSN North Carolina của Hải quân Mỹ đã cập cảng Subic Freeport của Philippines nằm gần bãi đá ngầm Scarborough nơi diễn ra cuộc đối đầu giữa các tàu của Philippines và Trung cộng.

SSN North Carolina, tàu ngầm tấn công cao tốc có khả năng tàng hình và được trang bị kỹ thuật tối tân nhất thế giới hiện nay.
Tàu ngầm  tấn công cao tốc SSN North Carolina của Hải quân Mỹ
Phát ngôn viên Hải quân Philippines, Trung tá Omar Tonsay, tiết lộ nguồn tin trên ngày 15/5.

Trung tá Omar Tonsay
Theo ông Tonsay, chiếc tàu ngầm lớp Virginia  tối tân này cập cảng Subic Freeport hôm 13/5 trong sứ mệnh bổ sung lực lượng cho quân đội Mỹ tại Philippines và "không liên can gì” đến cuộc đối đầu căng thẳng kéo dài hơn một tháng qua giữa Philippines và Trung cộng liên quan đến vấn đề chủ quyền đối với bãi đã cạn hình móng ngựa không có người ở mà Philippines gọi là Scarborough, Trung cộng gọi là Hoàng Nham.

Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ cho biết, với chiều dài 350 feet và trọng lượng hơn 7.800 tấn khi lặn, USS North Carolina là một trong những tàu ngầm có khả năng tàng hình cao nhất và được trang bị kỹ thuật tân tiến nhất trên thế giới.


Việc tàu USS North Carolina tới cảng Subic Freeport của Philippines sẽ giúp nâng cao khả năng thực hiện đầy đủ các sứ mệnh của tàu ngầm như tác chiến chống tàu ngầm, chống hạm;  tấn công và chiến tranh đặc biệt cho các lực lượng tác chiến đặc nhiệm; và  hoạt động tình báo, theo dõi, trinh sát.

Nguồn tin trên được đưa một ngày sau khi Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain hối thúc Washington ủng hộ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong cuộc đối đầu với Trung cộng ở Biển Đông.

Phát biểu tại một cuộc hội thảo của Viện Nghiên cứu các vấn đề chiến lược và quốc tế (CSIS) ở Washington, nhà lập pháp hàng đầu của Mỹ cho rằng Mỹ cần  bảo đảm  rằng Trung cộng không thể “tự tung, tự tác” ở Biển Đông và “muốn làm gì thì làm” trong khi các nước nhỏ hơn phải chịu tổn hại.

Theo ông McCain, Mỹ cần phải ủng hộ các nước đối tác trong khối ASEAN để họ có thể  thành hình  một mặt trận thống nhất và  qua đường lối đa phương để giải quyết tình hình tranh chấp tại Biển Đông một cách hòa bình.
Thượng Nghị sĩ John McCain phát biểu tại cuộc hội thảo của Viện Nghiên cứu các vấn đề chiến lược và quốc tế (CSIS) ở Washington, ngày 14/5/2012
Lâu nay, Trung cộng nhất mực đòi tiến hành các cuộc đàm phán song phương với các nước tuyên bố có chủ quyền biển đảo ở Biển Đông nhằm dễ bề đạt được mục đích riêng của mình.

Trung cộng tuyên bố có chủ quyền đối 90% diện tích ở Biển Đông, trong khi thực chất nước này chỉ kiểm soát khoảng 10%. Thời gian gần đây, Trung cộng không ngừng đẩy mạnh các hoạt động tại các vùng biển tranh chấp, trong đó có cả việc quấy nhiễu, đe dọa tàu thuyền của các nước khác đang hoạt động hợp pháp trên Biển Đông.

© Đức Vũ

Theo AFP, Kyodo
Đọc tiếp…

Không nên bận tâm nhiều với chủ nghĩa Mác

06:27 |
Tôi nhận được bài viết của ông Nguyễn Thanh Giang về việc ông Lữ Phương bảo vệ chủ nghĩa Mác do một bạn trẻ gửi đến. Sau khi xem lại bài viết trên ở trang Dân Luận, tôi có đôi điều nói lại với bạn trẻ nói trên và một số bạn khác quan tâm.

Câu trả lời ngắn gọn nhất của tôi là: Các bạn không nên bận tâm nhiều với chủ nghĩa Mác làm gì cho mất thì giờ. Bây giờ thì giờ là vàng bạc. Ai đó thích bảo vệ chủ nghĩa Mác thì...kệ họ. Các bạn nên để thì giờ vào những việc khác hữu ích hơn. Chủ nghĩa Mác cùng với hệ quả trực tiếp của nó là chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị nhân dân các nước Đông Âu ném vào sọt rác của lịch sử. Cái gì đã bị ném đi thì không thể trở lại được nữa đâu, ai đó muốn tô vẽ cho một lý luận vứt đi thì chỉ mất uy tín.

Có bạn phân vân: Nếu chủ nghĩa Mác là sai lầm thì tại sao lại sống dai bao nhiêu năm như vậy? Câu trả lời cũng dễ: Chủ nghĩa ấy tồn tại nhờ khẩu súng. Bạn thử nghĩ xem, nếu năm 1917 cách mạng tháng Mười không thành công, chính quyền Xô - viết không dùng súng để bảo vệ thì liệu chủ nghĩa Mác có được vị trí nào trong lịch sử tư tưởng nhân loại? Thì cũng như nhiều trào lưu tư tưởng khác ở châu Âu, chỉ một số nhà nghiên cứu làm luận văn gì đó đến thư viện tra cứu, bàn luận trên giấy, in thành sách để...cất đi, hoặc hơn nữa là tặng bạn bè. Chỉ thế thôi. Có bạn đọc thấy nhiều "nhà khoa học đáng kính" bảo vệ chủ nghĩa Mác nên còn do dự. Đó là quyền tự do tư tưởng của mỗi người, chúng ta không bàn.

Trước hết chúng ta cần xác định: chủ nghĩa Mác có phải là chủ nghĩa Lênin không? Như ông Lữ Phương thì coi chủ nghĩa Lênin không phải là chủ nghĩa Mác. Để làm rõ điều này cần xem xét những tiền đề cơ bản của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin có trùng nhau không? Theo chương trình chính thức trong trường đại học mà các bạn đang học, chủ nghĩa Mác-Lênin gồm 3 bộ phận cấu thành: Triết học Mác - Lênin, Kinh tế Chính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa Xã hội Khoa học.

Hãy nói đến triết học Mác. Các trào lưu triết học được chia làm 2 nhóm lớn: duy tâm và duy vật. Theo các giáo trình chính thống, vấn đề cơ bản của triết học là xét xem ý thức và vật chất, cái nào có trước? Nếu coi ý thức là cái có trước thì thuộc duy tâm, còn nếu coi vật chất là cái có trước thì thuộc duy vật. Triết học Mác thừa nhận vật chất là cái có trước, vật chất quyết định ý thức, do đó là triết học duy vật. Ông Stalin nói: Mác hay trích dẫn Hêghen, nhưng triết học Mác ngược lại với Hêghen. Mác kế thừa toàn bộ triết học Hêghen nhưng lại đảo ngược vai trò giữa ý thức và vật chất. Hêghen coi ý thức là cái có trước (do đó triết học Hêghen là duy tâm), còn Mác coi vật chất là cái có trước. Ở đây chúng ta thấy Mác không có gì "mới" so với Hêghen, các phạm trù, quy luật của triết học Hêghen được Mác kế thừa toàn bộ, có chăng chỉ là đảo lại vai trò ý thức và vật chất. Nếu các bạn vận dụng triết học Mác để xem xét vấn đề thì cứ yên tâm đi, bạn chưa phải là nhà mác-xít đâu, thực chất vẫn là Hêghen đấy. Lênin đã kế thừa nguyên vẹn triết học duy vật của Mác, do đó, về mặt triết học, chủ nghĩa Lênin chính là chủ nghĩa Mác.

Nói về kinh tế chính trị, các bạn đều đã được học tinh thần cơ bản của bộ Tư bản. Mác đã phân tích chủ nghĩa tư bản (theo cách gọi của ông), trong đó đưa ra khái niệm tư bản bất biến, tư bản khả biến, giá trị thặng dư (c+v+m). Điều làm cho chủ nghĩa Mác khác hẳn với các lý luận khác là ở chỗ: Mác khẳng định nhà tư bản bóc lột lao động làm thuê. Lý luận của Mác như sau: Hãy giả sử có nhà tư sản luôn luôn mua được rẻ, thế thì ông ta chỉ lợi khi là người mua, và thiệt thòi khi là người bán, tóm lại không lợi gì. Lại giả sử có nhà tư sản luôn luôn bán đắt, thì ông ta được lợi khi là người bán, nhưng thiệt thòi khi là người mua, tóm lại vẫn không lợi gì. Bây giờ giả sử có nhà tư sản luôn mua được rẻ, bán đắt; thế thì chỉ nhà tư sản đó có lợi thôi, giai cấp tư sản không thể làm giầu trên lưng mình được. Vậy giá trị tăng thêm trong quá trình sản xuất ở đâu ra? Mác cho rằng đấy là giá trị do người làm thuê làm ra, bị nhà tư sản chiếm không. Toàn bộ lý luận này dựa trên tiền đề cơ bản là trao đổi ngang giá. Mới nghe qua thấy lý luận rất chặt, có lý, nhưng suy nghĩ thêm một chút thì...không ổn. Câu hỏi đặt ra là: Thế thì "công lao động" của nhà tư sản ở đâu? Lý luận của Mác không có phần này! Kể cũng lạ, Mác thừa nhận chế độ tư bản đã sản xuất ra một lượng hàng hoá khổng lồ, vượt qua tất cả số lượng hàng hoá do các chế độ trước cộng lại, vậy mà các nhà tư sản, nhân vật chính của chế độ tư bản lại không có công gì? Để mọi việc trở lại bình thường như vốn có, chỉ cần "thêm" phần công của các nhà tư sản vào lý luận trên. Ngoài phần trả công định lượng bằng tiền, còn có phần "tinh thần", hay nói khác đi, có phần "tư tưởng", phần "ý tưởng", không đo được bằng tiền. Nhưng nếu làm thế thì lại phải thừa nhận phần "tinh thần", hay gọi theo kiểu triết học là phần "ý thức" trong nguồn lực sản xuất, là điều mà Mác đã xoá bỏ ngay từ đầu khi xác định triết học cùa mình là "duy vật". Sau này Lênin kế thừa toàn bộ lý luận của Mác, vận dụng lý luận này vào việc nghiên cứu kinh tế (Xem bài "Bàn về kinh tế thị trường" của Lênin). Trong bài Bàn về kinh tế thị trường, Lênin chia thành 2 khu vực sản xuất: khu vực sản xuất ra tư liệu sản xuất và khu vực sản xuất ra tư liệu tiêu dùng. Lý luận cơ bản của bài này đã được đưa vào giáo trình dạy kinh tế chính trị trong trường đại học, các bạn đều đã biết. Theo tôi, lý luận này có 2 điểm yếu chí mạng: thứ nhất, lý luận trên không đề cập đến giá trị tinh thần có trong sản phẩm. Giá trị này biểu hiện qua thương hiệu, uy tín của nhà sản xuất.v.v...Thứ hai, lý luận trên chỉ xét khi nhà tư sản bán được hàng. Thế nếu nhà tư sản không bán được hàng thì sao? Thì toàn bộ lý luận trên chỉ còn nước...vứt đi. Các nhà kinh tế xã hội chủ nghĩa học tại các trường Đảng nghĩ rằng hễ đem bằng này tiền đầu tư sản xuất thì có bằng kia sản phẩm, lãi là bằng này, thế tức là sản xuất phát triển. Rồi họ lấy tổng số vốn + lãi chia cho số vốn và kết luận năm nay đã tăng được bấy nhiêu phần trăm. Kết quả là sản xuất ngày càng kém, thiếu hàng hoá trầm trọng. Họ quên mất hàng sản xuất ra phải bán được, yếu tố bán được phụ thuộc nhiều vào giá trị tinh thần mà trong lý luận kinh tế Mác không xét đến. Nhưng với chúng ta thì đã rõ: chủ nghĩa Lênin đã kế thừa chủ nghĩa Mác trong lĩnh vực kinh tế chính trị, có thể nói chủ nghĩa Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại mới là sự thật hiển nhiên.

Vào những năm 80 (thế kỷ XX) tôi đọc một bản tin phổ biến cho các lãnh đạo cao cấp có tin như sau: Một công ty Nhật đưa toàn bộ rô-bốt vào công đoạn sản xuất, số công nhân ở đây bị sa thải. Bản tin phê phán tính chất khắc nghiệt của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng về lý luận thì điều đó dẫn đến câu hỏi: Lý luận "bóc lột lao động làm thuê" của Mác trong trường hợp này sẽ ra sao? Tôi không tìm được câu trả lời, dành cho các bạn xét tiếp.

Bây giờ chúng ta nói đến chủ nghĩa xã hội khoa học. F.Ăngghen khẳng định Mác là thiên tài khi phát hiện ra lý luận "đấu tranh giai cấp", "đấu tranh giai cấp là đầu tầu của lịch sử". Lý luận đấu tranh giai cấp của Mác dẫn đến khái niệm "chuyên chính vô sản", được Lênin kế thừa, tuy có điểm khác biệt với Mác. Mác đã coi chế độ "cộng hoà đại nghị""chính quyền chuyên chính vô sản tốt nhất" (xem ra, Mác khá là dân chủ). Thoạt đầu, Lênin cũng đồng tình với ý kiến này. Năm 1917, cách mạng tháng Mười thành công ở Nga, Lênin tổ chức cuộc bầu cử có tính chất toàn dân, rất dân chủ. Nhưng kết quả cuộc bầu cử làm Lênin choáng váng: Những người bônsêvích chỉ chiếm tỉ lệ 13% trong chính quyền mới. Ông giận dữ huỷ bỏ kết quả bầu cử, cho bầu cử lại. Sau đó ông đưa ra lý luận: Chính quyền chuyên chính vô sản tốt nhất là chính phủ công, nông, binh mà ông gọi là "chính quyền Xô-viết". Nếu trong triết học và kinh tế chính trị Lênin không khác với Mác bao nhiêu thì trong lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học Lênin khác với Mác khá nhiều. Sự khác biệt này trong nhiều năm được coi là bổ sung phát triển chủ nghĩa Mác, nâng cao chủ nghĩa Mác lên thành chủ nghĩa Mác - Lênin. Có thể kể thêm vài khác biệt: Mác nói cách mạng vô sản chỉ xẩy ra khi giai cấp vô sản chiếm đa số trong dân cư, khi cách mạng nổ ra cùng lúc ở tất cả các nước tư bản phát triển nhất...Lênin đưa ra lý luận "liên minh công nông", từ đó ông cho rằng cách mạng có thể xẩy ra khi liên minh giai cấp công nhân và nông dân chiếm đa số, đồng thời dựa trên nhận xét chủ nghĩa tư bản phát triển không đều ông cho rằng cách mạng vô sản có thể chỉ xẩy ra ở số ít nước, thậm chí một nước duy nhất. Từ khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ toàn diện ở châu Âu mới có người đòi tách bạch chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lênin để bảo vệ Mác. Nhưng nếu xem xét lý luận chủ nghĩa Lênin trong hướng phát triển của chủ nghĩa Mác thì phải công nhận rằng: Chủ nghĩa Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác trong hoàn cảnh mới. Vào những năm 30 thế kỷ XX, Mao Trạch Đông ở Trung Quốc muốn đưa ra "tư tưởng Mao Trạch Đông", sau này các nhà nghiên cứu gọi là chủ nghĩa Mao, như là chủ nghĩa Mác áp dụng vào Trung Quốc (để song hành với chủ nghĩa Lênin là sự áp dụng chủ nghĩa Mác vào hoàn cảnh nước Nga). Có một thời kỳ dài các nhà lý luận cộng sản xem tư tưởng Mao chính là chủ nghĩa Mác-Lênin ở phương Đông. Điều đó không quá xa lạ vì Mao thừa nhận triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị Mác - Lênin, lý luận đấu tranh giai cấp của Mác - Lênin, chỉ có điều đưa cuộc đấu tranh giai cấp lên mức độ khốc liệt hơn nhiều. Phương pháp "đấu tố" của Mao là một kiểu "đấu tranh giai cấp" đấy chứ, làm sao có thể bảo hoàn toàn trái với chủ nghĩa Mác-Lênin? Đến khi Mao chống lại Đảng Cộng sản Liên Xô, nhằm giành giật vị trí lãnh đạo phong trào cộng sản quốc tế thì các "nhà mác-xít" mới chống Mao, chứ trước đó Mao vẫn là "nhà mác-xít vĩ đại" đó thôi. Năm 1951, tại đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ hai, điều lệ Đảng chẳng ghi rằng: Nhiệm vụ của đảng viên là học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, tác phong Hồ Chủ tịch là gì? Sao bây giờ lại bảo chủ nghĩa Mác không phải là chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Lênin không phải là chủ nghĩa Mao...Hoá ra các "nhà khoa học", "nhà nghiên cứu" cũng tiền hậu bất nhất y như con buôn hay sao?

Tất cả các "nhà lý luận" từ Mác, Ăngghen đến Lênin, Stalin, Mao...đều đã là quá khứ, là một phần của lịch sử rồi. Cho dù họ có gây ra bao nhiêu đau khổ cho nhân loại đi nữa thì cũng đã thành dĩ vãng. Các bạn không nên bận tâm nhiều về họ nữa, hãy tập trung ý chí vào cuộc sống hiện nay, nghĩ cách và hành động để đưa Việt Nam hoà chung vào dòng chảy chung của loài người tiến bộ, vì một tương lai cho các thế hệ mai sau.

© Trần Đức Việt, nhà báo tự do
     Theo Dân luận
Đọc tiếp…

Phân tích dự án Văn Giang

06:02 |
Chi phí, doanh thu và lãi cho người đầu tư ở Văn Giang  

Dựa vào bài báo "Văn Giang, Lịch sử một cuộc cưỡng chế" ở cuối bài, có thể tính và đưa đến các kết luận sau:

- Đây là dự án nhà nước đổi đất lấy đường, nhưng đất này lại của nông dân, không phải của nhà nước.

- Dự án tước hữu đất, đền bù với giá cao nhất là 135,000 đồng/m2,vào giai đoạn cuối cùng cho những người không chịu chấp hành lệnh tướchữu. Giá đền bù lúc đầu chỉ có 10,000 đồng/m2. Như thế tổng chi phí đềnbù cho dân ở mức cao nhất cũng chỉ là 37 triệu USD (Coi bảng 2). Nhưvậy với giá ban đầu mà nhiều người phải nhận chỉ tốn dự án dưới 3.7triệu USD. Dù là 37 triệu hay 3.7 triệu, số tiền này so sánh với lãi là dự án đem về là 1600 triệu USD như muối bỏ biển.

- Để đổi lại, dự án lấy 55ha xây 14 km đường. Nếu tính theo chi phíxây dựng cao tốc ở Mỹ là 8 triệu/km, tổng chi phí xây dựng đường là 112triệu USD.

- Giả thiết chỉ có ½ đất được xây dựng nhà để bán (250ha), chi phíxây dựng cao nhất là 6 triệu VND/m2, và đem bán với giá 20 triệu VND/m2,tổng doanh thu sẽ là 2500 triệu USD và tổng chi phí xây dựng là 750triệu USD.

- Như vậy, tổng chi phí của dự án là 900 triệu USD, tổng doanh thu là 2,500 triệu USD. Dự án có lãi 1,600 triệu USD.

- Còn một điều cuối cùng chưa tính đến, là theo bài báo, đối với đấtbị lấy 360m2 (1 sào bắc bộ) sau này sẽ được giao lại 10m2 dịch vụ. Nhưvậy tỷ lệ trao đổi là 3% doanh thu, tức là 69 triệu (cứ giả dụ chi phíxây dựng giống nhau) và giả thiết rằng người dân không phải trả gì đểđược 10m2 này.

- Tổng cộng ở mức cao nhất, người nông dân được trả 37 triệu USD đềnbù và 69 triệu đất dịch vụ, tổng cộng là 106 triệu USD so với lãi củadự án là 1500 triệu. Nói thế nhưng may ra người nông dân được ½ của 106triệu và lãi của dự án còn cao hơn nhiều nếu họ xây nhiều hơn để kiếmlợi.

- Nói tóm lại, ai cũng có thể đặt câu hỏi là lý do gì mà cả hệ thốngchính quyền và công an đem uy tín của mình nhằm bảo đảm cho thiểu số tưbản được hưởng lợi nhuận như thế? Chỉ vì 14 km đường?
Bảng 1: thông số cơ bản của dự án

Diện tích dự án  (hectare)
550
Diện tích làm đường (hectare)
55
Chiều dài đường (km)
14
Giả thiết diện tích xây dựng nhà (hectare)
250
1hectare (=m2)
10,000
1 USD (=VND)
20,000

Bảng 2: doanh thu, chi phí và lãi của dự án ECOPark


Chi phí đền bù Chi phí xây dựng (250 hectare) Chi phí xây dựng đường cao tốc Doanh thu Lãi
Bồi thường ở mức cao nhất (VND/m2) 135,000 6,000,000


Doanh thu ở mức thấp nhất (VND/m2)


20,000,000
Phí xây dựng đường ở Mỹ - Triệu USD/km

8

Tổng (tỷ đồng) 743 15,000
50,000
Tổng (triệu USD) 37 750 112 2,500 1,601
GSTS VQV
 -------------------

Văn Giang, lịch sử một cuộc cưỡng chế

Thời gian vừa qua, thông tin về cuộc cưỡng chế tại Văn Giang, Hưng Yên đã làm nóng dư luận vì tính chất phức tạp của vụ việc. Tuy nhiên, cho đến nay, nhiều thông tin về cuộc cưỡng chế cũng như về dự án Ecopark vẫn chưa thật sự rõ ràng đối với số đông công chúng, thậm chí có hiện tượng “nhiễu” thông tin. 
Trong khi nhiều người dân bị cưỡng chế một mực phản đối, chính quyền lại luôn khẳng định tính chính đáng của hoạt động này - Ảnh: Tuổi Trẻ.
Trong khi nhiều người dân bị cưỡng chế một mực phản đối, chính quyền lại luôn khẳng định tính chính đáng của hoạt động này. Sự không tường minh về thông tin có thể dẫn tới những cách hiểu và suy diễn khác nhau không cần thiết. Từ góc nhìn đó, VnEconomy muốn cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về sự việc cũng như về dự án Ecopark để bạn đọc tham khảo.

Đổi đất lấy hạ tầng

Khi vụ cưỡng chế xảy ra vào ngày 24/4 vừa qua, nhiều người đã hiểu sai rằng chính quyền Hưng Yên đứng ra giải phóng mặt bằng cho một dự án thương mại cụ thể. Trên thực tế, đây là một dự án thuộc diện đổi đất lấy hạ tầng.

Đổi đất lấy hạ tầng là một hình thức không còn được chấp nhận hiện nay, nhưng nhiều năm trước, đây từng là một chủ trương lớn mang tính thử nghiệm của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn cho các tỉnh có ngân sách hạn hẹp, chưa đủ điều kiện thực hiện các dự án xây dựng hạ tầng có tổng mức đầu tư lớn.

Tháng 6/2004, Thủ tướng Chính phủ có quyết định thu hồi và giao đất cho dự án xây dựng tuyến đường từ cầu Thanh Trì đi thị xã Hưng Yên, đoạn từ Văn Giang đến xã Dân Tiến, huyện Khoái Châu (đoạn giữa, hai đoạn hai đầu do các nhà đầu tư khác thực hiện). Với quyết định này, có khoảng 555 ha đất, chủ yếu là đất nông nghiệp, bị thu hồi, trong đó đất cho tuyến đường giao thông nói trên là 55 ha, còn lại là giao cho chủ đầu tư đã bỏ vốn làm đường. Chủ đầu tư sử dụng diện tích đất nói trên theo quy hoạch và dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Các bước tiếp theo của dự án khu đô thị thương mại và du lịch Văn Giang (Ecopark) do Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) làm chủ đầu tư từ năm 2004 đến nay về cơ bản đã theo đúng các quy định của pháp luật và nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các cơ quan Chính phủ và tỉnh Hưng Yên. Ngày 15/3/2004, dự án nhận được “Thỏa thuận về quy hoạch” từ Bộ Xây dựng thì 10 ngày sau, ngày 25/3/2004, dự án cũng đã được phê duyệt “Quy hoạch chung xây dựng khu đô thị” từ UBND tỉnh Hưng Yên. Đây cũng là dự án duy nhất trong số 920 dự án đầu tư có liên quan đến giải phóng mặt bằng tại Hưng Yên được tỉnh này cho phép áp dụng cơ chế giao đất dịch vụ để hỗ trợ người dân mất đất.

Giai đoạn 1 của dự án được triển khai trên diện tích 54 ha, bao gồm khu biệt thự đơn lập và song lập, khu căn hộ trung và cao tầng và đặc biệt là khu nhà phố, với sự kết hợp giữa mục đích thương mại và không gian sinh hoạt. Tháng 6/2010, những sản phẩm đầu tiên của giai đoạn 1 là khu căn hộ Rừng Cọ đã chính thức ra mắt thị trường.

Tiếp theo Rừng Cọ, các dự án biệt thự Vườn Tùng và Vườn Mai, cùng dự án nhà phố liền kề Phố Trúc lần lượt được ra mắt và đến nay đang trong giai đoạn hoàn thành. Giá bán tại dự án này được công bố ở mức trên dưới 20 triệu đồng/m2 chung cư và 40 triệu đồng/m2 biệt thự và liền kề. Cũng như nhiều dự án bất động sản khác, Ecopark cũng hứng chịu sự thăng trầm của thị trường khá rõ nét, đặc biệt là trong các năm 2010 và 2011.

Đến nay, dẫu chỉ đang trong giai đoạn khởi đầu, giới đầu tư bất động sản trong nước đánh giá khá cao dự án này, với quy hoạch đồng bộ, cảnh quan đẹp và giàu tính “sinh thái” là những điểm mạnh. Mới đây nhất, dự án này thậm chí đã được nhận danh hiệu “Dự án phát triển phức hợp tốt nhất Việt Nam” thuộc hệ thống giải thưởng bất động sản châu Á - Thái Bình Dương 2012.

Đối với phần hạ tầng, chủ đầu tư cũng đã hoàn tất 12,5 km đường từ Văn Giang đến xã Dân Tiến, huyện Khoái Châu và đưa vào sử dụng, hiện còn vướng hơn 2 km do chưa giải phóng xong mặt bằng, nhưng cũng đã có cam kết hoàn thành vào ngày 30/6/2012.

Đền bù như thế nào?

Thông tin về việc mỗi m2 đất giải tỏa được đền bù với mức giá 135 ngàn đồng đang khiến cho nhiều người tỏ ra bất bình, nhất là khi so sánh với giá bán sản phẩm thương mại của dự án. Nhưng trên thực tế, giá đền bù ban đầu còn thấp hơn thế.

Từ năm 2004 - 2006, việc đền bù đã được tiến hành trên cơ sở Quyết định số 107/2005/QĐ-UBND về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, theo đó các xã trong vùng dự án gồm Phụng Công, Xuân Quan và Cửu Cao thuộc khu vực 1, có giá cao nhất trong quyết định này.

Đối với việc giao đất dịch vụ, dự án áp dụng nguyên tắc như sau: 1 sào Bắc Bộ bị thu hồi sẽ được giao 10 m2 đất dịch vụ, một khẩu nông nghiệp được giao 4 m2, một suất gia đình liệt sĩ được tính 20 m2 và tổng diện tích tối thiểu giao cho một gia đình là 40 m2.

Chủ đầu tư cũng tiến hành hoạt động “hỗ trợ ổn định đời sống” cho người dân mất đất, tuy nhiên mức hỗ trợ là hết sức khiêm tốn: những hộ, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích được giao sẽ được hỗ trợ trong 3 tháng với mức tương đương 30 kg gạo/tháng theo thời giá địa phương (tức 90 kg/người). Nếu bị thu hồi từ 30% diện tích trở xuống, được hỗ trợ ở mức… 1.000 đồng/m2.

Với mức giá đền bù thấp và hỗ trợ khiêm tốn như vậy, nông dân vùng dự án đã liên tiếp phản đối và cũng từ đó, chủ đầu tư bắt đầu có những hỗ trợ thêm. Cụ thể, từ năm 2007, với lý do dự án nằm ở vùng tiếp giáp Hà Nội, chủ đầu tư đồng ý hỗ trợ thêm 26.075 đồng/m2; thực hiện thưởng tiến độ bình quân là 10 ngàn đồng/m2. Tỉnh cũng đồng ý điều chỉnh từ nguồn thu hỗ trợ ngân sách xã xây dựng cơ sở hạ tầng chuyển sang hỗ trợ trực tiếp cho người dân với mức 4.000 đồng/m2.

Đến năm 2008, thêm một “củ cà rốt” được chủ đầu tư đưa ra là thưởng tiến độ cho các gia đình tự nguyện chấp hành giải phóng mặt bằng với mức 35 ngàn đồng/m2. Với sự hỗ trợ này, mức cao nhất mà người dân mất đất nhận được mới là 135 ngàn đồng/m2 như phản ánh của báo chí.

Cũng phải nói thêm, đến năm 2011, người dân tiếp tục nhận được một đợt hỗ trợ mới là 6 triệu đồng/sào đối với các hộ dân ký biên bản bàn giao mặt bằng từ nguồn vốn của chủ đầu tư. Đồng thời, hỗ trợ ổn định đời sống tiếp với mức 1 triệu đồng/sào/năm theo cơ chế bị thu hồi 50% diện tích sẽ hỗ trợ 5 năm, 70% diện tích sẽ hỗ trợ 7 năm và 100% diện tích sẽ hỗ trợ 10 năm.

Các hộ bị thu hồi 100% đất nông nghiệp, chủ đầu tư nhận 1 lao động phổ thông vào làm việc và cam kết sẽ nhận tổng cộng 3.000 lao động để tập huấn và sử dụng ngay sau khi nhận đủ 100% diện tích.

Trong suốt quá trình giải phóng mặt bằng với khá nhiều diễn biến mới như vậy, giá đất giao dịch trên thị trường xung quanh vùng dự án liên tục tăng, cá biệt có những lô đất tăng trên 10 lần, thậm chí vài chục lần. Đó cũng chính là một tiền đề nữa cho tình trạng khiếu kiện kéo dài tại dự án này.

Khiếu kiện và an ninh

Với dự án Ecopark, Văn Giang đã trở thành điểm nóng về khiếu kiện của tỉnh Hưng Yên. Tại đây, theo báo cáo của tỉnh Hưng Yên, luôn có “một nhóm đối tượng cầm đầu, chống đối, lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của một bộ phận quần chúng nhân dân để trục lợi, gây khó khăn cho việc triển khai dự án”, điều mà theo mô tả của người dân, là “đòi hỏi lợi ích chính đáng khi mất đất”.

Với mức giá đền bù chênh lệch đáng kể so với các dự án gần đấy nhưng thuộc “đất Hà Nội”, người dân Văn Giang đã liên tục tiến hành khiếu kiện đông người tại trụ sở tiếp dân của các cơ quan Trung ương và địa phương. Quá trình khiếu kiện được tập trung vào 10 nhóm vấn đề, như cho rằng có sự sai lệch giấy tờ; đề nghị giảm diện tích dự án; tố cáo cưỡng chế trái pháp luật; thậm chí tố cáo hành vi trả thù người tố cáo…

Với việc khiếu kiện đông người kéo dài và “có tổ chức”, không ngạc nhiên khi Văn Giang nhận được sự quan tâm đặc biệt của ngành công an tỉnh Hưng Yên. Theo một báo cáo của tỉnh Hưng Yên, công an tỉnh này đã tăng cường nhiều cán bộ xuống phối hợp với công an huyện Văn Giang để “triển khai các biện pháp nghiệp vụ nắm và củng cố hồ sơ các đối tượng chủ mưu, cố tình vi phạm pháp luật”.

Lực lượng này cũng đã “thường xuyên phối hợp với công an thành phố Hà Nội để giữ gìn trật tự, an ninh”, khi một bộ phận người dân trong vùng dự án lên khiếu kiện ở các cơ quan Trung ương tại Hà Nội.

Theo Tamnhin.net
 
Đọc tiếp…