Phóng viên chiến trường VN qua đời

08:06 |
Tin Associated Press, ngày 10 tháng 5, 2012

Horst Faas, nhiếp ảnh gia AP, người đưa hình ảnh của chiến tranh Việt Nam đến với thế giới, qua đời

NEW YORK - Là trưởng phòng nhiếp ảnh của hãng tin AP ở Sài Gòn trong 10 năm, bắt đầu từ 1962, nhiếp ảnh gia Horst Faas không những chỉ làm phóng sự chiến trường bằng ống kính mà ông còn tuyển dụng và đào tạo tài năng mới người nước ngoài và người Việt Nam.

Kết quả là “Toán quân Horst” gồm các nhiếp ảnh gia trẻ, đã ra mặt trận với máy ảnh và phim do Faas cung cấp cùng với yêu cầu “ráng chụp những tấm hình đẹp.”

Horst Faas tại chiến trường Việt Nam (1967)
Nguồn ảnh: AP
Ông và các biên tập viên nhiếp ảnh đã chọn và đưa hàng loạt hình ảnh những chiến sĩ ở mặt trận và thường dân miền Nam Việt Nam phấn đấu để sống còn trong cảnh loạn lạc.

Faas, nhiếp ảnh gia chiến trường đã đoạt giải Pulitzer đã đưa ra tiêu chuẩn mới cho các phóng sự ảnh chiến tranh và trở thành một trong những phóng viên ảnh huyền thoại của thế giới trong gần nửa thế kỷ làm việc với AP, đã qua đời hôm thứ năm tại Munich, Clare Faas, con gái của ông, cho biết. Ông Faas thọ 79 tuổi.

Một người gốc Đức, bắt đầu làm với hợp tác xã thông tin của Mỹ có trụ sở tại Đức vào năm 1956, Faas chụp ảnh chiến trường, các cuộc cách mạng, Thế vận hội Olympic và các sự kiện quan trọng khác.

Tuy nhiên, ông đã được biết đến nhiều nhất khi làm việc tại Việt Nam, nơi ông bị thương nặng vào năm 1967 và đoạt được bốn giải thưởng ảnh lớn đầu tiên trong đó có hai giải Pulitzers.

“Horst là một trong những tài năng tuyệt vời của thời đại chúng ta, một nhiếp ảnh gia can đảm và biên tập viên dũng cảm đưa ra một số hình ảnh cháy bỏng nhất của thế kỷ này,” Trưởng biên tập cuả AP, bà Kathleen Carroll nói. “Ông là một đồng nghiệp kỳ diệu và cũng là một người bạn chân tình và hào phóng.”
 

Huỳnh Thành Mỹ tại chiến trường Việt Nam (1967)
Nguồn ảnh: AP
Trong số học trò hàng đầu của ông là Huỳnh Thành Mỹ, một diễn viên trở thành nhiếp ảnh gia người vào năm 1965 đã trở thành một trong bốn nhân viên AP và một trong hai người miền Nam Việt Nam trong số hơn 70 nhà báo thiệt mạng trong cuộc chiến tranh dài 15 năm.

Em của phóng viên Huỳnh Thành Mỹ, Huỳnh Công “Nick” Út, theo anh làm việc với AP và dưới sự hướng dẫn cả ông Faas đã đoạt 1 trong 6 giải Pulitzer ảnh Chiến tranh Việt Nam cho hãng AP, với tấm hình biểu tượng chụp năm 1972 khai một bé gái Việt Nam bị bỏng nặng đang chạy trốn cuộc đánh bom napalm.

Faas là một người lên kế hoạch tuyệt vời, có thể giựt tít báo bằng những dự đoán “không chỉ những gì vừa xảy ra nhưng còn những gì sắp xảy đến sau đó,” một trong những đồng nghiệp của ông nhận xét.

(Từ trái) Richard Pyle, cựu Trưởng phòng AP Saigon, Horst Faas, và “Nick” Út (Paris, 2011)
Nguồn ảnh: Michel Euler/AP
 Faas nổi tiếng là ông xếp khắt khe, và cầu toàn cũng đã miễn cưỡng nhận là mình giàu lòng nhân ái khi giúp đỡ những đồng nghiệp kém may mắn hay khi những công tác giúp ích khác. Ông đọc nhiều về lịch sử và văn hóa châu Á, và có một bộ sưu tập ấn tượng đồ sứ nhà Minh, đồ đồng và những vật quý khác.

“Horst Faas là một người vĩ đại trong thế giới của hình ảnh báo chí với với sự cam kết đặc biệt để kể lại những câu chuyện khó khăn rất độc đáo và đáng chú ý,” ông Santiago Lyon, Phó Chủ tịch và Giám đốc nhiếp ảnh của AP nói.

Ông Lyon cho biết: “Ông Faas là một tài năng đặc biệt về chụp ảnh và chỉnh sửa ảnh chụp của của người khác và ngay cả trong các hoàn cảnh ác nghiệt nhất ông tìm cách sống tròn vẹn. Rất nhiều đồng nghiệp sẽ tiếc thương ông, đặc biệt là nhóm nhiếp ảnh gia đã cùng ông ghi lại hình ảnh chiến tranh Việt Nam.”

Trong những năm cuối đời Faas đem kỹ năng đào tạo của mình vào một loạt các hội nghị quốc tế chuyên đề Báo Ảnh.

Faas cũng đã giúp tổ chức các cuộc họp mặt của đoàn phóng viên báo chí Sài Gòn thời chiến, và ngã bệnh khi đang tham dự một một cuộc họp mặt tại Hà Nội ngày 04 Tháng Năm 2005.

Ông đã phải nhập viện ở Bangkok và sau đó ở Đức, ở đó các bác sĩ xác định nguyên nhân của tình trạng tê liệt vĩnh viễn từ thắt lưng trở xuống và sự xuất huyết cột sống vì một loại thuốc tim làm loãng máu.

Mặc dù phải ngồi xe lăn, ông tiếp tục tham dự các cuộc triển lãm hình ảnh và các sinh hoạt chuyên nghiệp khác, phần lớn ở châu Âu, và hợp tác xuất bản hai cuốn sách bằng tiếng Pháp - về sự nghiệp riêng của mình và của Henri Huet, cựu đồng nghiệp AP tại Việt Nam. Faas cũng đã thực hiện hai chuyến đi mệt nhọc đến Hoa Kỳ, trong năm 2006 và 2008.

Sức khỏe của ông xấu đi vào cuối năm 2008. Faas phải nhập viện trong tháng hai để điều trị bệnh ngoài da, ông cũng phải qua phẫu thuật dạ dày.

Chiến trường Việt Nam (1966)
Nguồn ảnh: Horst Faas/AP
 Phóng sự ảnh về chiến tranh Việt Nam đã đoạt giải thưởng Robert Capa của Câu lạc bộ Báo chí Hải ngoại và giải Pulitzer đầu tiên vào năm 1965. Khi nhận giải tại New York, ông nói sứ mệnh của mình là để “ghi lại những khổ đau, cảm xúc và sự hy sinh của cả người Mỹ và người Việt Nam ... tại miền đất xa xôi thẫm máu này.”

To lớn nhưng nhanh nhẹn, Faas đã ra mặt trận rất nhiều lần và vào ngày 6 Tháng Mười Hai năm 1967, đã bị thương ở chân do một quả phóng lựu tại Bù Đốp, ở Cao Nguyên của miền Nam Việt Nam. Ông có thể đã mất máu cho tới chết nếu không được hai binh sĩ cứu thương quân đội Mỹ băng bó kịp. Gặp lại ông Faas hai mươi năm sau, những người lính cứu thương nhớ lại sự kiện và nói, “Trông ông lúc đó đã xám ngắt tôi nghĩ rằng ông không sống được.”

Phải đi nạng và bị giới hạn trong phòng làm việc, Faas là không thể làm phóng sự về các cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968, nhưng ông đã điều hành phóng viên ảnh AP hoạt động như một tướng lãnh chỉ huy quân đội chống lại kẻ thù. Nhiếp ảnh gia AP Eddie Adams đã trở về với tấm hình nổi tiếng nhất của cuộc chiến, hình Giám đốc Cảnh sát Quốc gia Việt Nam bắn một cán binh Việt cộng bị bắt trên đường phố Sài Gòn.

“Thường thì chúng tôi phải vào sâu trong chiến trường nhưng đây là một trường hợp mà cuộc chiến đã đến ngay bên cạnh chúng tôi,” ông Faas nhớ lại.

Ông thường cùng với phóng viên AP cũng đoạt giải Pulitzer, Peter Arnett, để phát hành các bài báo có tác động mạnh và độc quyền, chẳng hạn như câu chuyện năm 1969 của Đại đội A, một đơn vị đã ngần ngại trước lệnh tiến công chống địch. Ông Faas đã chứng kiến sự kiện “từ chối chiến đấu” trong khi đi đến nơi một trực thăng đã rơi làm thiệt mạng 7 binh sĩ Mỹ và phóng viên ảnh AP Oliver E. Noonan.

Sinh ra ở Berlin vào ngày 28 Tháng Tư 1933, Faas lớn lên trong chiến tranh thế giới thứ II và như tất cả thanh niên nước Đức, ông đã bị buộc phải tham gia tổ chức Thanh niên Hitler. Nhiều năm sau, ông đã viết, những cuộc oanh kích của phe Đồng minh và “cảnh tượng hấp dẫn của đạn phòng không bay trên bầu trời” là một phần của đời sống thường ngày, và cũng như đã bị bắt buộc phải đứng nghiêm lắng nghe thông báo về cha hay anh của bạn cùng lớp đã chết cho fuehrer (lãnh tụ) và Tổ quốc.”

Khi chiến tranh kết thúc năm 1945, gia đình ông Faas chạy về phía bắc để tránh đoàn quân Nga đang tiến vào Berlin và hai năm sau đó đã thoát đến Munich ở Tây Đức.

Trong thời gian chiếm đóng của Đồng minh sau Đệ nhị Thế chiến, 15 tuổi, Horst đã trở thành tay trống cho một ban nhạc jazz của những người lính Mỹ da đen tại Munich. Mới đây, khi được hỏi ông đã học trống ở đâu, ông nói, “Không biết thế nào, tôi cứ đánh trống thôi.”

Năm 1960, ở tuổi 27 và đã là nhiếp ảnh gia cho AP bốn năm, Faas bắt đầu sự nghiệp phóng viên chiến trường tại Congo, sau đó là Algeria. Năm 1962, ông được chỉ định công tác tại chiến trường ngày càng căng thẳng ở Việt Nam, nơi ông đã đến cùng một ngày như Peter Arnett.

Faas đã một thời ở cùng một biệt thự tại Sài Gòn với phóng viên của tờ New York Times là David Halberstam, người nói về Faas, “Tôi không nghĩ rằng có bất cứ ai ở lại [Việt Nam] lâu hơn, đi vào chốn hiểm nguy nhiều hơn hay hết lòng với công tác và đòng nghiệp hơn ông Faas. Tôi nghĩ về ông không như một thiên tài.”

Faas rời Sài Gòn vào năm 1970 để trở thành nhiếp ảnh gia lưu động, văn phòng ở Singapore, của AP tại châu Á, công tác trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Ông hợp tác với Peter Arnett [người New Zeland] đi một vòng nước Mỹ làm phóng sự dưới mắt nhìn của người nước ngoài; năm 1972 Faas tường trình về Thế vận hội tại Munich, tại đó ông đã chụp ảnh một tên khủng bố Palestine đeo mặt nạ trên ban công của tòa nhà nơi các lực sĩ Israel đang bị bắt làm con tin, chỉ vài giờ trước khi họ bị giết hại tại sân bay.

Cùng năm đó, ông đã đoạt được giải thưởng Pulitzer lần thứ nhì, cùng với Michel Laurent, bằng loạt ảnh về sự tra tấn và hành quyết ở Bangladesh. Laurent sau này trở thành nhà báo thiệt mạng sau cùng trong chiến tranh Việt Nam, 48 giờ trước khi Sài Gòn thất thủ, vào ngày 30 Tháng Tư 1975, trong khi làm việc cho Hãng Báo Ảnh Gamma của Pháp.

Năm 1976, Faas chuyển đến làm việc tại London như biên tập viên ảnh hàng đầu của AP tại châu Âu, cho đến khi ông nghỉ hưu vào năm 2004.

Ông là đồng biên tập “Requiem,” (Lễ cầu siêu) một cuốn sách năm 1997 viết về các nhiếp ảnh gia hai bên chết trận trong chiến tranh Việt Nam, và là đồng tác giả cuốn “Lost Over Laos,” (Mất tích tại Lào) một cuốn sách năm 2003 về 4 nhiếp ảnh gia bị bắn rơi ở Lào năm 1971 và cuộc đi tìm nơi máy bay rớt 27 năm sau đó.

Ông Faas qua đời để lại vợ là bà Ursula, và con gái của ông.

© DCVOnline






Đọc tiếp…

Trịnh Kim Tiến sẽ tự mình tranh tụng trong phiên tòa phúc thẩm

06:19 |
Sáng ngày Thứ Hai 14 tháng 5 năm 2012 vụ án Phúc thẩm về cái chết của ông Trịnh Xuân Tùng sẽ được xét xử tại Hà Nội; nhưng một ngày trước khi vụ án bắt đầu vợ và con gái của nạn nhân là cô Trịnh Kim Tiến vẫn chưa nhận được giấy mời tham dự phiên tòa.
Tòa tối cao Hà Nội - số 262 Đội Cấn, Ba Đình Hà Nội. Photo: RFA
Mặc Lâm tìm hiểu thêm câu chuyện qua trao đổi với cô Trịnh Kim Tiến sau đây.

Vẫn chưa nhận được giấy mời

Vụ án trung tá công an Nguyễn Văn Ninh cố ý đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng vào tháng 3 năm 2011 đã được tòa án Nhân Dân Thành phố Hà Nội xử phiên sơ thẩm vào ngày 13 tháng 1 năm 2012 với bản án 4 năm tù giam cho bị cáo đã gây bất bình cho dư luận nói chung và cho gia đình nạn nhân nói riêng. Cô Trịnh Kim Tiến, con của nạn nhân cho chúng tôi biết về kết quả của phiên tòa sơ thẩm và phản ứng của gia đình cô:

“Trong phiên tòa sơ thẩm với bản án 4 năm tù giam về làm chết người trong khi thi hành công vụ là một bản án chà đạp lên công lý. Bản án ấy cũng bỏ lọt tội phạm và bản ấy gây bức xúc cho gia đình con nên con không chấp nhận, vì vậy gia đình con đã đồng loạt kháng cáo, yêu cầu hủy bản án và xem xét điều tra lại vụ án.”

Sau khi phiên sơ thẩm kết thúc, gia đình ông Trịnh Xuân Tùng đã làm đơn phúc thẩm bản án và phiên phúc thẩm sẽ được mở ra vào sáng ngày Thứ Hai 14 tháng 5 theo như giấy triệu tập mẹ của nạn nhân. Thế nhưng vợ và hai con gái của ông Trịnh Xuân Tùng lại không được tòa triêu tập tham dự phiên phúc thẩm này.

“Phiên tòa sắp tới tòa đã gửi giấy triệu tập cho chỉ một mình bà nội con đúng 8 giờ ngày Thứ Hai 14 tháng 5 đến tòa án Phúc thẩm Tòa tối cao Hà Nội số 262 Đội Cấn, Ba Đình Hà Nội. Cho đến ngày hôm nay thì chỉ có bà nội con năm nay đã 90 tuổi và rất già yếu là nhận được giấy, còn mẹ và chị em con không nhận được giấy triệu tập nào của tòa án cả.”

Tự tay giành công lý

Ông Tùng bị công an đánh gãy cổ, chết
Khi được hỏi trong phiên phúc thẩm gia đình có tiếp tục mời những luật sư đã tham gia trong phiên sơ thẩm hay có sự thay đổi nào không, cô Trịnh Kim Tiến cho biết:

“Con sẽ trực tiếp đứng ra tranh tụng và không mời luật sự trong phiên xử Phúc thẩm này. Nếu phiên tòa này không cho phép con cũng như mẹ và em gái con vào thì đây là một phiên tòa vô nhân tính vì họ đã tước đoạt một cách bất hợp pháp cái quyền con người của những người liên quan đến vụ án.

Đó là quyền cơ bản nhất của thân nhân người bị hại. Cho dù họ không cho con vào phiên tòa thì con vẫn cùng với toàn thể gia đình đứng trước phiên tòa đó và hy vọng là họ sẽ cho vào, nếu không con cũng sẽ đứng đó cho tới khi phiên tòa kết thúc. Con sẽ đi đến cùng đòi lại cái quyền tham gia tố tụng của con.”

Việc con không mời luật sư mà tự ý đứng ra tranh tụng có lẽ nhiều người cho rằng rất khó khăn nhưng con cảm thấy công lý phải được tự mình giành lấy và trong quá trình vừa qua con đã đủ trưởng thành để có thể tham gia tố tụng trong phiên tòa.
Trịnh Kim Tiến
Một cô gái còn quá trẻ chấp nhận thử thách trong một phiên tòa Phúc thẩm vốn rất quan trọng là một động thái khá can đảm nếu không muốn nói là dũng cảm. Cô Trịnh Kim Tiến biết rất rõ hệ thống luật pháp của Việt Nam khi tham dự vào phiên sơ thẩm trước đây. Vì vậy khi chấp nhận một mình đóng thay vai trò luật sư tranh đấu cho cái chết của cha mình là một điều mà nhiều người cho là quá sức của một cô gái trong lứa tuổi đôi mươi.

Tuy nhiên nếu biết được những diễn tiến trong phiên sơ thẩm thì sự ngạc nhiên sẽ không còn vì vai trò luật sư không giúp gì được cho một bản án công bằng. Cô Trịnh Kim Tiến kể về phiên tòa ấy như sau:

“Khi con mời luật sư trong phiên tòa sơ thẩm thì những luận cứ luận điểm của luật sư đã không được xem xét đến nên con nghĩ đấu tranh bằng bản thân mình cũng là cuộc đấu tranh dành cho công lý. Khi mình càng nỗ lực thì mới biết giá trị của công lý đến đâu. Việc con không mời luật sư mà tự ý đứng ra tranh tụng có lẽ nhiều người cho rằng rất khó khăn nhưng con cảm thấy công lý phải được tự mình giành lấy và trong quá trình vừa qua con đã đủ trưởng thành để có thể tham gia tố tụng trong phiên tòa.”

Cố tình bỏ sót nhân chứng

Nhân chứng trong những vụ án giết người là một nhân tố quan trọng nhất để kết án bị cáo, tuy nhiên trong vụ án ông Trịnh Xuân Tùng thì yếu tố nhân chứng đã không được tòa xem xét đầy đủ, nếu không muốn nói là cố tình bỏ sót. Có tất cả ba nhân chứng chính và hàng chục nhân chứng phụ tại hiện trường lúc xảy ra vụ án đã không được tòa triệu tập đầy đủ.
Gia đình ông Trịnh Xuân Tùng khóc tức tưởi trên đường đến tòa.
Chỉ có hai nhân chứng Phạm Quang Hùng, người lái xe ôm chở ông Tùng và ông Bạch Chí Cường là người chứng kiến ngay từ đầu việc dân phòng và trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh ông Tùng đến bất tỉnh và chết sau đó là được tòa triệu tập trong phiên sơ thẩm, nhưng trong phiên phúc thẩm thì ông Bạch Chí Cường không được tòa triệu tập, cô Tiến cho biết việc này như sau:

“Đúng là trong giờ phút này thì chỉ có ông Phạm Quang Hùng là người xe ôm chở cha con là nhận được giấy triệu tập của phiên tòa còn hai nhân chứng khác là ông Bạch Chí Cường và ông Nguyễn Đức Minh vẫn chưa nhận được bất cứ giấy triệu tập nào.

Ông Bạch Chí Cường là người trực tiếp tại tòa chỉ chứng rằng ngoài việc ông Nguyễn Văn Ninh khống chế bố con ông Ninh còn dùng cặp da đánh vào đầu bố con. Ngoài ra ông Bạch Chí Cường còn chỉ chứng những người dân phòng có tham gia vào đánh đập bố con. Nếu như trong phiên tòa này ông không có mặt thì những gì ông đã chỉ chứng tại phiên tòa sơ thẩm vẫn là một bằng chứng sống cho công lý bởi vì sự thật không thể bị che đậy.”

Đúng là trong giờ phút này thì chỉ có ông Phạm Quang Hùng là người xe ôm chở cha con là nhận được giấy triệu tập của phiên tòa còn hai nhân chứng khác là ông Bạch Chí Cường và ông Nguyễn Đức Minh vẫn chưa nhận được bất cứ giấy triệu tập nào.
Trịnh Kim Tiến
Vai trò quan trọng của nhân chứng Nguyễn Đức Minh có liên quan đến rất nhiều cán bộ và khía cạnh đạo đức của người thi hành công vụ. Nhân chứng Nguyễn Đức Minh chứng kiến việc nạn nhân Trịnh Xuân Tùng đã bị bạc đãi, cư xử vô nhân đạo dẫn đến cái chết do hành vi của những nhân viên trực ban tại phường Thịnh Liệt Hà Nội. Những cán bộ này đã không cho phép gia đình nạn nhân đem đi cấp cứu khi thấy sức khỏe ông đã bị đe dọa nghiêm trọng. Luật sư có đủ căn cứ để cáo buộc những người này đã tiếp tay giết người bằng thái độ ngạo mạn, mất nhân tính và coi thường pháp luật.

“Ông Nguyễn Đức Minh là nhân chứng mà trong phiên sơ thẩm con đã đề đạt và yêu cầu triệu tập. Trong quá trình điều tra con cũng đã yêu cầu các cơ quan điều tra triệu tập ông Minh làm việc vì ông là người làm chứng cho thái độ vô trách nhiệm của trực ban phường Thịnh Liệt ngày hôm đó vì đã giam giữ trái pháp luật bố con hơn 6 tiếng đồng hồ. Không cho bố con được đi cấp cứu, thậm chí không cho người nhà con được chăm sóc và cho bố con ăn uống.

Đến phiên tòa Phúc thẩm này con vẫn yêu cầu tòa án triệu tập ông Nguyễn Đức Minh làm rõ trách nhiệm những người trực ban tại phường Thịnh liệt ngày hôm đó."

Theo cô Trịnh Kim Tiến thì cô sẽ theo đuổi đến cùng phiên tòa này để tìm công lý đích thực cho cái chết của cha cô kể cả xin hoãn lại phiên tòa nếu nhân chứng không được triệu tập đầy đủ.

“Nếu hai nhân chứng này không có mặt tại phiên tòa thì con sẽ yêu cầu hoãn lại phiên tòa, nhưng hoãn hay không là quyền của tòa án. Trong phiên sơ thẩm không chỉ vắng mặt người nhân chứng này mà còn vắng mặt những nhân chứng khách quan khác như những người xe ôm hay những người bán hàng nước tại đó. Họ không được triêu tập để đối chất công khai tại tòa cho nên con không biết là những người đó có bị mớm cung hay ép cung hay không, vì vậy nếu nhân chứng không có mặt tại tòa thì con sẽ xin hoãn lại như phiên sơ thẩm.”

Khủng bố qua điện thoại

Trước phiên tòa phúc thẩm Kim Tiến tuy không gặp bất cứ khó khăn nào từ phía chính quyền nhưng thay vào đó là những tin nhắn, những cú điện thoại đen tới tấp gây phiền nhiễu cho cô theo như lời kể sau đây:
Cô Trịnh Kim Tiến - Hoa hậu không cần vương miện của đoàn biểu tình. 
“Trước mắt chưa có vấn đề gì gây khó khăn nhưng con bị khủng bố qua điện thoại, khủng bố về tinh thần qua tin nhắn thì con có gặp. Còn ai khủng bố thì con không biết. Họ xúc phạm đến danh dự của con qua tin nhắn, qua điện thoại thậm chí họ còn xúc phạm vong linh của bố con bằng những lời lẽ hết sức thô tục. Họ còn đăng tên và số điện thoại của con trên trang rao vặt. Họ để những người không có văn hóa làm phiền con cả ngày lẫn đêm qua điện thoại và gây cho con sự hoảng loạn tinh thần.”

Họ xúc phạm đến danh dự của con qua tin nhắn, qua điện thoại thậm chí họ còn xúc phạm vong linh của bố con bằng những lời lẽ hết sức thô tục.
Trịnh Kim Tiến
Trong nhiều năm qua, các vụ giết người bên trong đồn công an liên tiếp xảy ra nhưng chưa có một vụ nào được xét xử rốt ráo mà không sót người, sót tội. Vụ của ông Trịnh Xuân Tùng sở dĩ được xét xử nhanh chóng vì cần xoa dịu sự giận dữ của dư luận qua đám tang khổng lồ mà người dân Hà Nội tham gia.

Tuy nhiên bản án quá nhẹ và những kẻ liên đới trách nhiệm không bị mang ra trước vành móng ngựa đang là câu hỏi về tính công bằng của các tòa án Việt Nam vẫn đang tiếp tục tỏ ra thách thức công lý và dư luận quần chúng.

© Mặc Lâm, biên tập viên RFA


Đọc tiếp…

Lê Hiền Đức: Tôi trực tiếp quan sát vụ công an đánh dân

05:50 |
Những clip về việc công an đánh đập hai nhà báo của VOV ngày 24/4/2012 không có gì phải nghi ngờ. Khi hai nhà báo bị đánh, tôi đang đứng ở một vị trí trên cao, nhìn rất rõ ràng từ đầu đến cuối, phân biệt được công an, người đeo băng đỏ hay xã hội đen. Chúng trèo, nhảy qua tường vào khu nghĩa trang liệt sĩ túm lấy một thanh niên đang mặc áo trắng đánh túi bụi. Tôi còn nhìn rất rõ kẻ bám vào tường bên kia để với sang đập vào đầu anh thanh niên áo trắng. Hắn đội mũ sắt, màu tím sẫm, khác với những mũ sắt có màu xanh cứt ngựa.

Tôi đã đứng nhìn trực tiếp cảnh này.
Chúng túm vào đánh hội đồng người mặc áo trắng hung hãn như một lũ khát máu, lâu mới được đánh đồng loại.

Uất nghẹn và căm phẫn vô cùng, tôi xăm xăm từ tầng cao chạy xuống định xông ra giằng lấy người thanh niên vô tội đó mà nói rằng: "Hãy đánh tôi đây này. Tôi sẵn sàng thế mạng cho người thanh niên kia bởi họ còn trẻ, họ còn cống hiến được nhiều cho đất nước, cho nhân dân. Còn tôi già rồi, tôi sẵn sàng chết thay cho anh ấy".

Thấy tôi quyết liệt quá, các bà, các chị và các cháu thanh niên ôm chặt lất tôi. Họ muốn bảo vệ tôi, không cho tôi ra nơi nguy hiểm. Không ra được, tôi ngồi khóc vì tôi không bảo vệ được dân tôi.

Những gì tôi xem trong đoạn clip hoàn toàn khớp với những gì tôi nhìn thấy hôm ấy, Thế mà khi báo cảo thủ tướng trong hội nghị trực tuyến, ông Nguyễn Khắc Hào, phó chủ tịch thường trực tỉnh Hưng Yên dám nói là video này là do bọn phản động làm giả để vu không, bôi nhọ chính quyền.

Xin hỏi ông Hào: "Ông có nhìn thấy cảnh tượng đau lòng đó không? Khi ấy, ông ngồi ở xó xỉnh nào mà dám nói sai sự thật như thế?

Còn tôi, một người đã dành cả cuộc đời cống hiến cho nhân dân, cho Tổ quốc, cho đất nước, cho cách mạng, tôi không thể nào nói khác sự thật được

Sau khi ông báo cáo láo với thủ tướng, tôi có gọi điện nói chuyện trực tiếp với ông Nguyễn Khắc Hào thì ông ấy trả lời tôi rằng: “Bác ơi, con chỉ là phát ngôn thôi, con nói đúng là ý của bí thư, chủ tịch và lãnh đạo tỉnh nói chung”.

Việc công an đánh đập dã man hai nhà báo là đã rõ ràng. Vấn đề là chính quyền Hưng Yên có muốn xử lý đến nơi đến chốn không hay thôi. Nhưng nếu họ vẫn áp dụng bài bản quen thuộc như làm nửa vời hay đợi thời gian cho chìm xuống là cách làm có hại hơn cả cho sự tồn vong của chế độ.

Nguồn: Lê Hiền Đức Blog.



Đọc tiếp…

Lữ Phương bảo vệ Mác, chống độc tài toàn trị

03:50 |
Trong bài viết “Ông Võ Văn Kiệt và tôi”, Lữ Phương đã kể ông từng nói với Võ Văn Kiệt rằng:
Lữ Phương, nguồn ảnh: BauxiteVN
“Anh Sáu biết tại sao tôi quan tâm đến chủ nghĩa Mác như vậy không? Đó là do tôi nghe lời ông Đồng và ông Duẩn, hai ông này luôn khuyên nhủ cán bộ phải học tập chủ nghĩa Mác vì không hiểu chủ nghĩa Mác thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nghe lời hai ông đó, tôi đã quay mặt vào tường trong suốt 10 năm để tìm hiểu; anh có biết sau đó tôi đã kết luận như thế nào không?”. Ông nhướng mắt lên và hỏi: “Sao?” Tôi nhớ đã trả lời ông một cách tỉnh queo câu sau đây: Tôi nói hai cha nội đó chẳng biết Mác là con mẹ gì hết!. Không tưởng tượng được! Sau khi nghe câu nói báng bổ đó của tôi, ông đã cười phá lên, thoải mái như chưa bao giờ thoải mái đến như vậy! Không biết có đúng hay không, nhưng cái bí mật về chủ nghĩa Mác-Lenin mà ông không khi nào nói đến mỗi khi gặp tôi, dường như đã bộc lộ qua những tiếng cười của ông hôm đó”.
Trao đổi với bbcvietnamese.com hôm 26 tháng 02 vừa rồi, trong chuyên đề về trí thức, ông còn “vơ đũa cả nắm”: "Tôi thấy, Chủ nghĩa Mác chẳng dính dấp gì đến thực tại Việt Nam cả. Thứ nhất, những người nhân danh chủ nghĩa Mác để họ quản lý, lãnh đạo xã hội, họ cho rằng “tiến lên chủ nghĩa xã hội”, nói một cách văn vẻ, thì họ ngộ nhận, họ hiểu lầm, họ không hiểu gì cả … họ lợi dụng, họ bóp méo hoàn toàn chủ nghĩa Mác, không dính dấp gì ở đây, nó là một chủ nghĩa Lenin, Stalin hóa, và nó là của Mao Trạch Đông. Cho nên những người nhân danh cái này để gọi là lãnh đạo Việt Nam, thì hoàn toàn không có cơ sở thực tế”.

Theo Lữ Phương:
“Chủ nghĩa Mác là một học thuyết có tham vọng đặt ra và giải quyết được mọi vấn đề của thời đại một cách hiện thực, triệt để, nhưng do bản thân chỉ là một thứ triết học chứa đựng không ít những suy lý tư biện cho nên những giải pháp kết tụ trong cuộc cách mạng gọi là vô sản là hoàn toàn bất khả thi, và tính chất bất khả thi này đã nằm ngay trong bản thân khái niệm giai cấp vô sản của Mác: giai cấp vô sản không phải là giai cấp công nhân thực tế mà chỉ là một khái niệm triết học trong hệ thống triết học của Mác mà thôi. Chính vì cứ nhất quyết coi những kết luận về chủ nghĩa xã hội của Mác là “khoa học”, đặc biệt coi chủ trương “chuyên chính vô sản” của ông là cái cốt tuỷ cần phải nắm vững để đấu tranh xây dựng xã hội mới, cho nên các chế độ gọi là “chủ nghĩa xã hội hiện thực” nhân danh Mác đã đi vào con đường bế tắc: không có phát triển trong dân chủ và nhân đạo mà chỉ có trì trệ, bất lực trong chuyên chế và độc đoán mà thôi. Vấn đề đặt ra về mặt thực hành, theo tôi, do đó không phải là “vận dụng” chủ nghĩa Mác như một khoa học – nhất là cột Mác vào Lênin tạo thành một thứ chủ nghĩa Mác-Lênin – mà là hãy đối xử với chủ nghĩa Mác như một thứ triết học, được đối xử như vậy thì những các mặt tích cực lẫn tiêu cực trong lập luận của Mác cũng đều bổ ích cho đời sống. Trung tâm vấn đề ở đây là sự phân biệt cổ điển giữa triết học và khoa học, giữa tư tưởng suy lý và tư tưởng thực tiễn” (1).
Ông tìm thấy những yếu tố rất đáng trân trọng của Mác:
“Hệ thống triết học của Mác, mặc dù tư biện, nhưng chứa đựng nhiều yếu tố tích cực: gợi ra cho những người nghiên cứu những định hướng mang tính phát hiện, nhắc nhở người ta phải chú ý đến những nhân tố hiện thực đã tạo nên lịch sử (như ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật, những lợi ích vật chất, những mâu thuẫn giai cấp trong lòng một dân tộc...), những điều mà có lúc giới nghiên cứu đã không quan tâm đúng mức. Riêng khái niệm lao động bị tha hoá của Mác thì đã biến thành nguồn cảm hứng bất tận cho những xu huớng phê phán đến tận nền móng chẳng những đối với các hình thức tồn tại của xã hội hiện đại mà còn có thể đặt cơ sở để hình thành một thứ triết học chống tha hoá đối với cuộc sống nói chung của con người” (2).
“Sự đóng góp của Mác vào đời sống tư tưởng của nhân loại là điều không thể phủ nhận được, sự đóng góp ấy bao giờ cũng đứng bên ngoài hình thức chính trị hoá triết học kiểu Lênin, và do đó chủ nghĩa Mác của Mác cần phải tiếp tục được thanh lọc khỏi những “vấy bẩn” của chủ nghĩa Lênin. Chủ nghĩa Lênin đó, thực chất chỉ là một thứ chủ nghĩa Mác bị xét lại theo phương hướng xuyên tạc triệt để nhất trong lịch sử triết học Mác: nhân danh cho một thứ ý thức hệ gọi là “khoa học”, nó đã tạo ra mô hình nhà nước toàn trị ý thức hệ đưa đời sống tinh thần xã hội trở về thời kỳ Trung cổ. Đích thực, không thể có một “phản ánh luận mácxít-lêninnít” nghiêm chỉnh theo tinh thần học thuyết Mác (2).
“Triết học của Mác chứa đầy tham vọng giải phóng trần gian. Từ sự mâu thuẫn giữa tư bản và công nhân, giữa chủ và thợ trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào thế kỷ 19 ở phương Tây, Mác đã khái quát thành những mâu thuẫn xâu xé lịch sử loài người từ khởi thuỷ cho đến ngày nay: mâu thuẫn giữa những người nghèo và người giàu, giữa những người bị áp bức và đi áp bức, giữa dã man lạc hậu và văn minh tiến bộ, giữa ý thức hư huyễn và ý thức chân thực... – từ những mâu thuẫn ấy đưa ra triết lý về lao động và lao động bị tha hoá để giải quyết một lần cho xong tất cả. Dấu ấn của tinh thần lạc quan của thế kỷ 18, 19 đã biểu hiện trong học thuyết Mác khá rõ rệt: đó là niềm tin mạnh mẽ về sự tất thắng của Lý trí, Khoa học và Tiến bộ trong việc tạo dựng tương lai. Để thể hiện niềm tin đó, và với ý hướng muốn thoát khỏi phương pháp tư biện trong các triết học duy tâm, Mác đã kêu gọi người ta trở về với cái hiện thực thời ông đang sống và dấn thân thay đổi nó” (3).
Song, thật đáng tiếc, không chỉ Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông lần lượt bóp méo Mác ngày càng tệ hại cho những mục đích chính trị của họ, mà ngay cả Angghen cũng từng làm xuy xuyển Mác:
“Sự lý giải của Angghen về mối quan hệ giữa ý thức xã hội với tồn tại xã hội cũng không tránh khỏi sự thiếu nhất quán đối với triết học Mác. Phân biệt sự khác nhau giữa tự nhiên và xã hội, Angghen cho rằng nếu quy luật của tự nhiên hoàn toàn bị sự vô ý thức và mù quáng chi phối thì trong xã hội ngược lại không có gì xảy ra “lại không có ý định tự giác, không có mục đích mong muốn". Tuy vậy, theo Angghen thì những ý định tự giác, có ý thức đó vẫn chỉ là những cảm nhận trực tiếp của những cá nhân riêng lẻ thôi; những mong muốn ấy “ít khi nào thực hiện được” khi người ta sống trong xã hội, và chính trong những hoạt động này đã hình thành ra cái mà Angghen gọi là những “hợp lực” biểu hiện cho một thứ “ý chí trung bình chung”, căn cứ vào đó, ông giả định về sự tồn tại của một thứ động lực khách quan, tập thể, độc lập với ý thức của những cá nhân, có nguồn gốc sâu thẳm trong cuộc sống vật chất của xã hội. Như vậy, chấp nhận sự phân biệt ý thức cá nhân với ý thức xã hội như Mác, nhưng Angghen đã biến cái ý thức xã hội mà Mác coi là cái tồn tại được ý thức thành một thực thể không khác gì với cái mà những nhà xã hội học thực chứng thường gọi là tâm lý quần chúng, hoặc tâm lý cộng đồng” (2).
Những suy tưởng của Ăngghen về lao động tha hoá, ý thức huyễn hoặc … cũng hoàn toàn khác biệt với những khái niệm cực kỳ quan trọng này trong học thuyết của Mác.

Không giống Mác, phản ánh luận trong triết học của Angghen đã đảo ngược lại biện chứng pháp của Hegel. Trong khi Mác đảo ngược cái Tinh thần tuyệt đối của Hegel thành thực tiễn lao động, coi đó là điểm xuất phát của triết học, thì Angghen lại dành cho thực tiễn lao động một ý nghĩa khác mà ông gọi là vật chất.

Càng oan uổng cho Mác hơn khi trong tay Lênin chủ nghĩa Mác đã bị bóp méo thảm hại nhằm huy động cho cuộc Cách mạng Tháng Mười.

Với những nhận xét sau, Lữ Phương cho rằng Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng phản mácxít hoàn toàn.
“1 – Do không được bất cứ cuộc cách mạng vô sản nào ở những nước phương Tây nổ ra để yểm trợ, cuộc cách mạng Tháng Mười Nga không hề có được tính phổ quát, trái lại nó chỉ là một cuộc cách mạng địa phương, cục bộ, xuất hiện từ cái thế giới ngoại vi của chủ nghĩa tư bản: cái quốc tế do Lênin sáng tạo ra chỉ là sự tập hợp của đa số những quốc gia nghèo khổ, chậm phát triển.2 – Khái niệm chuyên chính vô sản trong lý luận của Mác mà Lênin bao giờ cũng nhắc nhở rằng đó chính là hòn đá tảng của chủ nghĩa Mác và cho rằng ai mà rời bỏ khái niệm ấy cũng là xa rời chủ nghĩa Mác trong thực chỉ là sự chuyên chính của những người tự cho mình là nắm được khoa học về sự phát triển của lịch sử, và như vậy là sự chuyên chính của môt lập trường, một thế giới quan do một thiểu số trí thức tạo ra. Thiếu hẳn thực chất mácxít (dù không tưởng), nội dung của khái niệm chuyên chính vô sản đó chỉ đơn thuần là sự chuyên chính của một ý thức hệ tự cho mình là vô sản – sự chuyên chính của một đảng phi mácxít.
3 – Cái mô hình xã hội được gọi là “chủ nghĩa xã hội” nhân danh Mác để xây dựng cũng đã rơi vào sự suy thoái như thế. Không thể tiến thẳng lên cái không thể tiến lên được, Lênin đã đề xuất những chiếc cầu trung gian mang tính chất lùi bước mà ông gọi là chủ “nghĩa tư bản nhà nước”, qua đó tìm động lực xây dựng cơ sở vật chất để chuyển hoá xã hội lên một hình thái xã hội-kinh tế cao hơn. Nhưng cũng do cái viễn cảnh ấy của hình thái kinh tế-xã hội cao hơn là không tưởng cho nên cái nấc thang mượn đường ấy mãi mãi chỉ là cái nấc thang nằm nguyên một chỗ” (4).
Mô hình XHCN hiện thực do Lênin xác lập cũng rất phản Mác.

Trong mô hình XHCN của Mác chế độ tư hữu bị xoá bỏ, tất cả tư liệu sản xuất được xã hội hóa, trở thành tài sản chung của mọi người. Xã hội tồn tại trong một nền kinh tế không còn thị trường, không còn hàng hoá, với một thể chế chính trị do giai cấp vô sản chiếm đại đa số dân cư làm chủ bằng một nhà nước kiều mới do mình trực tiếp tạo ra. (Tất nhiên, đây là một mô hình không tưởng).

Trong mô hình XHCN hiện thực, chủ nghĩa tư bản vẫn còn tồn tại nhưng là một thứ chủ nghĩa tư bản nhà nước độc quyền phi thị trường, phi hàng hoá mà Lenin đã mượn từ sự suy lý tư biện của Angghen.

Theo Lữ Phương:
“Sự tha hóa trong chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu lêninnít, do không còn phải thông qua những định chế trung gian đặt nền trên phương thức sản xuất hàng hóa như trong chủ nghĩa tư bản cổ điển, nên đã trở thành sự tha hóa của con người trực tiếp với những ý tưởng của mình. Nói cách khác, nếu trong chủ nghĩa tư bản cổ điển, con người đánh mất bản thân trong hàng hóa và những cơ chế xã hội xây dựng trên trao đổi hàng hóa thì trong chủ nghĩa tư bản nhà nước lêninnít, con người đã đánh mất bản thân chính trong những ý tưởng giải phóng con người khỏi nền sản xuất hàng hóa. Và đó cũng là tình trạng con người đánh mất bản thân trong những ý tưởng được coi là đi giải phóng con người. Lý thuyết mácxít về giải phóng lao động ở đây đã bị đảo ngược: nó trở thành một thứ ý thức hệ không phải chỉ để những người tổ chức sản xuất huyễn hoặc những người lao động mà cũng còn là cái để chính những người lao động đưa mình vào một “mai sau” mờ mịt. Nó tạo ra cái ảo ảnh đã được lý tưởng hóa về một hiện thực trần trụi, nghèo nàn, làm cho con người tưởng rằng qua đó có thể tìm thấy hạnh phúc thật sự. Sự tha hóa tinh thần ấy không khác gì sự tha hóa mang tính chất tôn giáo mà Mác đã tố cáo. Nhưng đó không phải là thứ tôn giáo siêu việt hứa hẹn cho con người một đời sau tuyệt đối mà chỉ là một tổ chức chính trị trần tục, tầm thường được tôn lên thành cái tuyệt đối đó” (4).
Đối với số phận dân tộc Việt Nam, điều khốn khổ tệ hại là, chủ nghĩa Mác đã thấm vào đầu Nguyễn Ái Quốc - người sau này trở thành lãnh tụ ĐCSVN - lại thông qua thần tượng Lênin:
“Đọc những gì ông viết về lý luận mà ông gọi là “chủ nghĩa Mác-Lênin”, chúng ta thấy dường như sự hiểu biết của ông về Mác có phần không được nghiêm chỉnh lắm: tinh thần dân chủ không tưởng của Mác, biểu hiện rõ nhất trong lý luận về sự chế ngự của xã hội công dân đối với nhà nước là chuyện ông hoàn toàn không biết đến. Điều lôi cuốn ông có lẽ chỉ là mấy chữ “thế giới đại đồng” giông giống với cái khái niệm “tứ hải giai huynh đệ” trong Nho giáo vậy thôi. Sự hấp dẫn của Lênin đối với ông, ngoài tính cương nghị, nhạy bén, thực tế của một lĩnh tụ chính trị, có lẽ còn là cái tinh thần “khai sáng” của những bậc hiền nhân đối với đám dân đen thô lậu, ngu dốt, khốn khổ. Cung cách “nôm na” trong cách nói, cách ứng xử của ông, việc ông rất thích chú ý đến những chuyện “tương cà mắm muối” cho nhân dân có lẽ cũng là do kết quả của việc ông đã “Đông phương hoá” cái tinh thần từ trên trông xuống đó của Lênin. Thứ “chủ nghĩa tập thể” mà ông hay nói đến để răn dạy cán bộ, nhân danh Mác, thật ra không phải xuất phát từ cái ý hướng giải phóng con người khỏi chủ nghĩa cá nhân tha hoá trong xã hội tư sản, mà chỉ là một thứ tinh thần kỷ luật cách mạng của Lênin (suốt đời hy sinh vì đảng) cộng với một “cái chúng ta” vô ngã, phi cá tính nào đó tiềm ẩn trong các thứ lý luận phương Đông cổ xuý cho những thứ trật tự bất biến về xã hội và tự nhiên” (5).“Chủ nghĩa Lênin mà ông mới chỉ nghe qua vào tháng 7 năm 1920, đã bắt đầu cố định thành thứ chủ nghĩa Lênin được giảng giải theo cách của Stalin rồi. Đường lối cách mạng vô sản phương Đông do Lênin hình thành, dần dà sau đó cũng đã được cụ thể hoá thành chính sách của Stalin coi Liên bang xô viết là trung tâm cách mạng thế giới, coi chủ nghĩa xã hội thực hiện ở Liên xô là hình mẫu cho các nước phải theo, khẳng định mạnh mẽ trong thực tế dần dần chiều hướng “gió Đông quyết định gió Tây”, manh nha từ năm 1920 trong Quốc tế III, từ đó hình thành ra “phe” xã hội chủ nghĩa như một thứ chủ nghĩa cộng sản mang tính cục bộ,“địa phương” khác hẳn với Mác, và trong chừng mực nào đó với cả Lênin nữa. Tất cả những chuyển biến trong bản thân cái gọi là cuộc cách mạng vô sản mácxít cũng đã quyết định hoàn toàn con đường phát triển của cách mạng Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Một mặt, nếu nó đã đưa Việt Nam tham gia vào những cơn sóng gió không ngừng ngả nghiêng vì những cuộc thanh toán nội bộ một cách ác liệt trong Quốc tế III thì mặt khác cũng lại gắn chặt số phận đất nước ngày càng sâu vào đó như một định mệnh không thể gỡ ra được” (5).
Không hề có chủ nghĩa Mác ở Việt Nam:
“Chủ nghĩa Mác ở Việt Nam khởi đầu là chủ nghĩa Lênin, sau đó đã trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin đã được “Đông phương hoá” lần lượt theo kiểu Stalin rồi sau đó là Mao Trạch Đông: đó là một thứ chủ nghĩa Mác đã bị biến dạng, xa lạ hoàn toàn với nguồn gốc xã hội và văn hoá của nó.Chủ nghĩa yêu nước truyền thống mà Đảng cộng sản Việt Nam muốn nương theo để đưa dân tộc Việt Nam vào “chủ nghĩa xã hội”, qua sự thử thách của thời gian, với chính mục tiêu của Mác, như vậy là đã hoàn toàn thất bại” (5).Du nhập tư tưởng Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông vào Việt Nam, không chỉ làm kiệt quệ Miền Bắc mà “Khi được bê nguyên xi vào áp dụng ở miền Nam Việt Nam sau khi thắng lợi hoàn toàn, cái mô hình đó lập tức đã phát huy ngay sức mạnh tàn phá của nó đối với tất cả những thành quả mà miền Nam đã đạt được trong suốt quá trình công nghiệp hóa (dù còn ở bước đầu) và hiện đại hóa. Chỉ còn vài năm, bắt đầu là “tiếp quản” rồi sau đó là “cải tạo” tư sản ở thành phố, “hợp tác hóa” ở nông thôn, đời sống người dân đã bị đẩy lùi lại tình trạng trước đó khoảng vài ba chục năm, khốn khổ như chưa bao giờ đã xảy ra, dưới chế độ phong kiến, thực dân. Nền sản xuất hàng hóa mở rộng đã bị phá vụn thành những khu vực nhỏ bé, chiếm lĩnh bởi những cái gọi là “ngành” hay “lãnh thổ”; bất cứ cơ quan nào hay địa phương nào (kể cả xã, ấp) cũng có thể lập ra các hàng rào, trạm gác để chặn xe cộ lại xét hỏi, tịch thu, đánh thuế; còn nếu có gì gọi được là sản xuất thì cũng chỉ là những phong trào vận động ồ ạt người ta đi “lao động xã hội chủ nghĩa” (đắp mương, làm thủy lợi...) hoặc rủ nhau đi ra khỏi thành phố xin đất để làm rẫy kiểu “tự túc” như thời kháng chiến trong rừng, tốn không biết bao xăng nhớt, thì giờ mà kết quả chẳng đi đến đâu (6).
“Sự chiến thắng của Đảng cộng sản là một sự kiện động trời với nước Mỹ và ngoạn mục với thế giới. Nhưng với Việt Nam, sự chiến thắng ấy chỉ đem lại cho tuyệt đại đa số những người dân bình thường điều mà họ đã mòn mỏi mơ ước từ lâu: đất nước được hoà bình. Và hơn nữa, phục hồi lại toàn vẹn chủ quyền trong thống nhất, từ đó tạo điều kiện cho những giấc mơ mới sinh thành. Nhưng chưa kịp định hình thì những giấc mơ này đã tan vỡ ngay lập tức. Đảng cộng sản khai thác được sức mạnh của dân tộc để chống ngoại xâm, nhưng ý thức hệ cộng sản đem vào xây dựng lại hoàn toàn đi ngược những điều đơn giản: chữa lành những vết thương chiến tranh, tạo dựng lại cuộc sống yên ấm cho nhân dân. Tất cả những sai lầm từ miền Bắc mệnh danh “xã hội chủ nghĩa” sau khi thắng Pháp nay đã được lập lại nguyên vẹn ở miền Nam sau khi thắng Mỹ: cũng trả thù những người khác chiến tuyến, khắc nghiệt với những người khác ý kiến, cũng đấu tranh giai cấp bằng cải tạo ở thành thi, hợp tác hoá ở nông thôn, gây ra đói nghèo, khổ sở, khiến bao người bỏ nước ra đi… trong khi đó thì ồn ào phất cờ “tiểu bá” tạo cớ cho người anh em “đại bá” đưa xe tăng và đại pháo tràn sang biên giới nhen lại chiến tranh. “Thắng trong chiến tranh nhưng bại trong hoà bình”, đã có hơn một tác giả phương Tây từng ủng hộ Việt Nam trước đây nhận xét như vậy sau khi Việt Nam thống nhất không lâu” (7).
Vì đâu nên nông nỗi này? Phải chăng mọi việc chỉ bắt đầu từ Đại hội Tours, năm 1920, khi Nguyễn Ái Quốc chuyển hướng từ chủ trương “Ỷ Pháp cầu tiến bộ” và “Ỷ Pháp tự trị” của Phan Châu Trinh sang con đường cách mạng cực đoan của Đệ tam Quốc tế. Hay, từ cái đêm bất hạnh, Nguyễn Ái Quốc bật khóc trước những trang viết của Lênin rồi quyết định từ giã môi trường hoạt động khuynh tả ở nước Pháp dân chủ để sang Nga tiếp nhận mô thức chuyên chế kiểu phương Đông vào năm 1923.

Thực tế, cũng chẳng ra Lênin, dù đu dây, lúc ngả vào lòng Liên Xô, lúc nằm gọn trong vòng tay Trung Quốc, ĐCSVN cuối cùng vẫn thực hiện một thứ “chủ nghĩa Stalin mang đặc điểm Trung quốc” - đó là chủ nghĩa Mao – một hệ tư tưởng tệ hại nhất trong những hệ tư tưởng gọi là “xã hội chủ nghĩa” phản Mác nhưng vẫn nhân danh Mác!

Vì sai một ly (giữa Nguyễn Ái Quốc với Phan Châu Trinh) nên đã phải đi một dặm. Một dặm quá dài, đầy máu lửa, tan tác quê hương, đầm đìa nước mắt, ĐCSVN không thể không sửa sai (họ gọi là “Đổi mới”). Nhưng:
“Những cái gọi là “đổi mới” lý luận về chủ nghĩa xã hội ra đới dưới sự bảo trợ của đảng và nhà nước hiện nay ở Việt Nam, theo tôi, chỉ là sự xoay sở một cách vô cùng hỗn loạn để đối phó với tình thế khó khăn ấy: nó chỉ lay hoay trong sự chắp vá tìm ra cách nói, cách trình bày như thế nào trước công luận để biện minh cho sự từ bỏ trên thực tế những nguyên lý mácxít về chủ nghĩa xã hội nhưng cuối cùng vẫn duy trì được sự độc tài của đảng chứ không phải là cái gì khác. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là tình trạng ấy sẽ kéo dài được bao lâu, và kéo dài bằng cách nào khi mà, ngoài sự trấn áp, hù doạ quen thuộc, đảng đã không còn trong tay sự dự trữ tinh thần nào khác ngoài những thủ đoạn nói dối, mị dân? Sự tan rã về tư tưởng trong hàng ngũ đảng hiện nay là điều đã trở thành hiển nhiên không còn có thể nghi ngờ chút nào. Đảng đang tìm cách “tự diễn biến”, tự thay hình đổi dạng cũng là điều không thể nghi ngờ chút nào. Những băn khoăn của tôi không phải ở chỗ đó mà là xét xem sự biến chất của đảng theo chiều hướng đó có mang lại được ích lợi thật sự cho sự phát triển của dân tộc hay không mà thôi. Tôi cho rằng mọi việc ngày càng chìm sâu vào tình trạng bế tắc, thực dụng hoàn toàn không có lối thoát về lý luận. Có lẽ sự mơ mộng của tôi, nếu có, thì chỉ xuất phát từ tình trạng ấy: mong muốn sự hoá thân của đảng diễn ra một cách “tử tế” hơn, sự đổi mới của đảng diễn ra một cách toàn diện hơn, dân chủ hơn, có ý thức hơn, chứ không ứng biến nửa vời và phản văn hoá như nó đang diễn ra hiện nay” (1).
“Thực chất của cái xã hội “đổi mới” ra đời “dưới sự lãnh đạo” của Đảng cộng sản hiện nay ở Trung Quốc và cả Việt Nam chính là cái thực thể mà học thuyết Mác đã phủ định từ nền móng, không có tên gọi nào khác hơn là chủ nghĩa tư bản, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội mácxít, nên mới khen cái cái chế độ “XHCN” đã xoay chiều đó là “vì tinh thần nhân đạo, vì lợi ích cách mạng” một cách xun xoe hể hả! …. Một người xa quê hương 30 năm, nay trở về thăm nhà chắc hẳn sẽ có dịp thấy tận mắt điều đó đang diễn ra như thế nào. Rõ ràng là “chủ nghĩa tư bản” đã được phục hồi. Với tất cả những nô nức hứa hẹn thăng tiến cuộc sống xen lẫn với nghèo đói, ma tuý, mại dâm, tội ác, tham nhũng… ồn ào, chụp giật, rừng rú, vui buồn đủ thứ nhưng đó vẫn là “chủ nghĩa tư bản” chứ chẳng phải là cái gì khác ” (8).
Muốn ĐCSVN đổi mới thực sự, đổi mới đúng hướng thì phải “Diễn biến Hòa bình” họ và làm cho họ “tự diễn biến”. “Phong trào Dân chủ” có nhiệm vụ đảm trách sứ mệnh thiêng liêng đó. Tiếc rằng khi được hỏi về phong trào này Lữ Phương đã cho biết:
.“ …tìm hiểu hiện tượng hàng loạt những tổ chức ra đời cùng tính chất với “Khối 8406” anh vừa hỏi: Cứ viết bài chửi Mác, chửi Hồ Chí Minh tới bến, càng dữ dằn, bạt mạng thì càng được xưng tụng là “chiến sĩ dân chủ”. Chỉ với một số người cùng với mấy cái PC nặn ra một tuyên ngôn kêu gọi đa nguyên, đa đảng gửi lên mạng toàn cầu là đã có thể khai sinh cho một số tổ chức mệnh danh dân chủ (cũng với bao nhiêu nhân sự đó), nếu có làm gì tiếp thì ngoài việc ra hết tuyên bố này đến tuyên bố khác kết án cộng sản, là chờ dịp viết thư (đăng lên mạng) kêu gọi những ông này bà nọ trong chính giới Mỹ dạy cho những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam một số bài học dân chủ và nhân quyền, kể cả những bài học thực thi bằng biện pháp ngoại giao và kinh tế! (9).
“Tình hình mới khởi đầu nhưng dường như không hứa hẹn điều gì đáng phấn chấn ngoài sự ồn ào trên các website đấu đá ở hải ngoại. Mọi việc diễn ra cho chúng ta thấy cái thiếu hoàn toàn cho điều đáng mong ước mà anh nói chính là cái gọi là “văn hoá dân chủ”. Dân chủ vì phục hận, trả thù, dân chủ thực hiện bằng chửi bới bạt mạng, cho mình là người duy nhất nắm chân lý, dân chủ vì đô la, kèn cựa nhau để tìm chỗ dựa của bên ngoài… thì như có người đã nói đó chỉ là thứ dân chủ ... “chợ búa” thôi. Chưa tìm cách ngồi lại với nhau để thanh toán cho nhau cái thứ “văn hoá dân chủ” ấy như Hà Sĩ Phu đã ám chỉ thì người ta chưa thể bàn gì đến việc tập hợp lực lượng, huống chi là chuyện thống nhất tổ chức” (9)

Theo Lữ Phương, dù đã quá muộn, lẽ ra sau 1975, ít nhất ĐCSVN đã phải thực hiện những điều tiên quyết sau đây:
“- Từ bỏ ý định “phất cờ”, “chính sách đóng cửa, tự lực cánh sinh theo lối cũ”.- “Từ bỏ những phương pháp cách mạng và bạo lực”.
- “Từ bỏ khái niệm nhà nước giai cấp”.
- “Thể hiện chuyên chính bằng hiến pháp và pháp luật”.
- “Thực hiện tam quyền phân lập”, “xây dựng nhà nước pháp quyền”, “nền móng để giải quyết vấn đề đa nguyên, đa đảng”.
- Ðảng cộng sản “phải giao toàn bộ quyền lực cho nhà nước, trở về xã hội công dân, tự đặt mình trong pháp luật, bình đẳng với mọi tổ chức chính trị xã hội khác, từ đó khẳng định lại năng lực và phẩm chất của mình”” (10)
Rút trong cuốn “ĐÊM DÀY LẤP LÁNH”

Nguyễn Thanh Giang

Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Điện thoại: (04) 35 534 370
_________________________

Ghi chú:

(1) Lữ Phương - Trả lời báo “Diễn Đàn”, Paris, tháng 7- 1995
(2) Lữ Phương – Phản ánh luận Macxit-Leninit
(3) Lữ Phương - Vấn đề Lao động trong học thuyết Mác
(4) Lữ Phương - Chủ nghĩa xã hội mácxít & chủ nghĩa xã hội hiện thực
(5) Lữ Phương - Từ Chủ Nghĩa Yêu Nước đến Chủ Nghĩa Xã Hội
(6) Lữ Phương - Việt Nam “Đổi Mới”: 1979-1986
(7) Lữ Phương - Chiến Tranh Việt Nam: Chủ quyền Quốc gia, Xung Đột Ý thức hệ và Hoà giải Dân tộc
(8) Lữ Phương - Những Kẻ Không Được Lên Thiên Đường!
(9) Đoàn Giao Thủy - Về vấn đề Dân chủ hoá ở Việt Nam
(10) Lữ Phương - Chủ nghĩa Xã hội Việt Nam: di sản và đổi mới

Đọc tiếp…

Bi kịch, đau xót nhìn từ Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản

03:32 |

Mới hơn 4 tháng đầu năm 2012 ở Việt Nam đã xảy ra ba vụ cưỡng đoạt đất có đổ máu: Tiên Lãng (Hải Phòng): 05/01/2012, Văn Giang (Hưng Yên): 24/04/2012 và Vụ Bản (Nam Định): 09/05/2012.

Đất là một trong những tài nguyên hiếm, nguồn lực cơ bản cần cho sự sinh tồn, phát triển của con người. Đối với Việt Nam, nước có mật độ dân số đứng vào nhóm chật chội trên thế giới[i], thì đất lại càng hiếm và quí giá hơn nữa.

Theo kinh tế học, có hai cách cơ bản để việc phân bổ các nguồn lực hiếm trong xã hội được công bằng, đó là thông qua: thị trường và nhà nước.

Cách phân bổ của thị trường có thể tóm gọn qua cụm từ đầy tính gợi hình của Adam Smith: “bàn tay vô hình” (invisible hand). Bàn tay phân bổ vô hình chính là sự tương tác, tự điều phối, cân chỉnh của vô số những dự định, ước muốn vô cùng đa dạng, luôn biến đổi, không thể biết hết, và không một lực lượng nào có thể kiểm soát được hết của con người trong thị trường, gọi là quan hệ cung-cầu, trên hai nguyên tắc có tính nền tảng là sự tự nguyện (không cưỡng ép) và cùng hưởng lợi (hai bên cùng thấy có lợi). Bình thường, khi một giao dịch về đất trên thị trường được thực hiện cũng đồng nghĩa với việc cả bên bán (giao) và bên mua (nhận) đều hài lòng vì đều đã thu được lợi ích (hoặc ít ra là họ tự nghĩ rằng đã thu được lợi ích) qua giao dịch trên cơ sở quyết định cuối cùng là của chính họ. Nhưng bản chất của con người là bất định và bất toàn nên sự phân bổ của thị trường sẽ có những khiếm khuyết như lừa đảo, cưỡng ép, nhầm lẫn, bất lực v.v.

Chính những khiếm khuyết đó của thị trường mới làm cho cách phân bổ thông qua nhà nước trở nên cần thiết và quan trọng. Nhưng vai trò quan trọng đó của nhà nước không có nghĩa, như đã từng bị hiểu lầm, rằng nhà nước phải thay thế hoàn toàn thị trường hay phải can thiệp vào tất cả các phân bổ (giao dịch) của thị trường. Bởi nhà nước cũng là những con người cụ thể, nếu lại được hoàn toàn quyết định cho các giao dịch thì cũng sẽ lại phạm vào những khiếm khuyết của thị trường. Nói cách khác sự phân bổ của nhà nước đối với các nguồn lực hiếm trong xã hội để đảm bảo tính công bằng thì phải và chỉ là để trám sửa (bổ khuyết và sửa chữa) các khiếm khuyết của thị trường: giữ cho mọi giao dịch được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, minh bạch. Nhà nước phải sẵn sàng đứng giữa, chứ không phải đứng trên, các bên có xung đột trong một phân bổ (giao dịch) của thị trường, để lắng nghe các bên, tìm hiểu và cuối cùng là phán xét không thiên vị. Nghĩa là để có thể có được vai trò “trám sửa” đó, nhà nước (dù hiểu theo nghĩa nào) phải ít nhất là một nhà nước không bị khống chế bởi (hoặc không phải của) một cá nhân, một đảng phái hay một nhóm người nào trong xã hội – thị trường.

Việt Nam hiện nay, ngoài yếu tố đất chật người đông, vẫn thuộc những nước đang phát triển, nghĩa là các tiềm năng, nhu cầu và sự gia tăng về kinh doanh còn rất lớn do đó điều chắc chắn là các giao dịch, phân bổ về “đất” (một trong bốn thành tố cơ bản của nguồn lực cần cho kinh doanh: đất, vốn (tiền), nhân công và tinh thần kinh doanh) sẽ còn gia tăng rất mạnh. Và đương nhiên các giao dịch, phân bổ bất thường, bất công về đất trên thị trường cũng sẽ gia tăng và cần phải có tác động, điều chỉnh của nhà nước để lập lại công bằng. Nhưng đáng tiếc, cả về mặt lý thuyết lẫn thực tế, nhà nước ở Việt Nam hiện nay chỉ là một cơ quan cấp dưới của một đảng chính trị hiện tồn hợp pháp duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam – một nhóm người chỉ chiếm khoảng 03% dân số hoặc chiếm ít hơn nữa nếu chỉ tính 14 người trong Bộ Chính trị. Một hệ thống quyền lực nhà nước từ trung ương tới địa phương và ở mọi ngành quyền lực, từ lập pháp, hành pháp hay tư pháp cho tới cả hệ thống báo chí (“quyền lực thứ tư”) đều chỉ do một tổ chức (đảng) lãnh đạo, bổ nhiệm hay đề cử thì đương nhiên hệ thống nhà nước đó sẽ không thể có vị thế độc lập hay trung gian (dù chỉ là tương đối) trên thị trường-xã hội được. Chưa kể các thành viên, những con người luôn có những ham muốn tự nhiên về kinh tế, của hệ thống nhà nước đó lại rất có thể chính là một chủ thể trong các giao dịch, phân bổ đất trên thị trường. Do đó, một điều tất yếu là chừng nào Nhà nước Việt Nam hiện nay còn là của một nhóm người (không do toàn dân lựa chọn và bầu ra) và kinh tế còn phát triển thì những giao dịch, phân bổ bất công về đất (và nhiều nguồn lực quí hiếm khác như rừng, biển, đảo, kể cả chủ quyền quốc gia v.v.) sẽ còn tiếp diễn, gia tăng và không thể có cơ chế hữu hiệu để lập lại công bằng. Và xấu hơn nữa là nhà nước hiện nay đương nhiên sẽ nghiêng về phía, hoặc đồng thời là, những chủ thể có sức thao túng về kinh tế hay chính trị (suy cho cùng cũng là kinh tế) trên thị trường, không kể là nội tộc hay ngoại bang.

Trở lại ba vụ cưỡng đoạt đất có đổ máu ở trên, diễn tiến trong cả ba vụ đó đều cho thấy rất rõ ràng Nhà nước Việt Nam đã không chỉ không giữ vai trò độc lập (đứng giữa) cho các bên trong tranh cãi về đất mà còn dùng vũ lực để buộc một bên (những người nông dân) phải từ bỏ quyền sử dụng đất hợp pháp cho phía bên kia (các thành phần kinh doanh đang cần đất). Thực tế này một lần nữa chứng minh rằng một đảng, bất kể với tên gọi và danh nghĩa gì, khi đã trở thành một tổ chức siêu quyền lực nằm trên hệ thống nhà nước thì việc sử dụng cái quyền lực nhà nước đó vào việc gì ( kể cả để huy động toàn dân chống đế quốc hay cấm toàn dân chống ngoại xâm; để cấm hoàn toàn tư nhân kinh doanh hay tha hồ thao túng, câu kết với giới kinh doanh, v.v.) là hoàn toàn tùy thuộc vào việc đảng đó thấy lợi hay hại cho quyền lực của nó mà thôi. Việc cướp đất cho người này để cấp cho người kia trong những ngày qua chỉ là một trong vô vàn những ý định tự quyết của cái đảng độc quyền đó. Ngay cả lương tâm, nhân phẩm, quyền con người và lòng yêu nước cũng còn bị trấn áp, khinh rẻ, bác bỏ thì còn thứ gì cái đảng đó không dám chiếm đoạt? Cái bi kịch dở khóc dở cười của hai phóng viên chính thống trong vụ Văn Giang vừa qua cũng chỉ là hệ quả nhỏ của cái logic tất yếu trong cướp đoạt. Không bao giờ có kẻ cướp nào lại để cho người khác chứng kiến, ghi lại cảnh cướp đoạt của chúng.

Đương nhiên trong kỷ nguyên thông tin Internet hiện nay, ngoại trừ những kẻ được lợi lộc từ kẻ cướp hoặc có đầu óc không bình thường, không ai lại lên tiếng ủng hộ sự “cướp đoạt”.

Tuy nhiên, sự phản đối cướp đoạt dù căm phẫn, thống thiết đến mấy, cũng khó có thể hơn được mũi tiêm giảm đau cho con bệnh đang đau ruột thừa, nếu cứ mãi tránh né cái nguyên nhân gốc rễ của sự cướp đoạt. Những an ủi, động viên nạn nhân bị cướp đất của ngày hôm nay nếu lại góp thêm phần củng cố cho niềm tin yêu, sự kính trọng vào một đảng, một lãnh tụ đã từng gây ra bao cái chết oan khiên cho nông dân và đã nhón trọn những quyền, những tự do ít ỏi trong tay người dân sang hết tay đảng, thì cũng chẳng khác nhiều việc nói với cả dân làng đang nháo nhác tìm công lý rằng cứ yên tâm vì mọi chuyện đã có mẹ con Lý Thông lo rồi.

Đương nhiên sẽ là hoang tưởng nếu cho rằng phương thuốc cho những căn bệnh của đất nước có thể dễ dàng tìm thấy ngay trong một lần hay có thể đến chỉ từ một lối nghĩ, một cách làm. Nhưng nếu cứ nhất định không chịu tìm, không chịu thừa nhận nguyên nhân gốc của căn bệnh thì ước mong chữa trị bệnh cũng chỉ là một hoang tưởng hoặc một sự lừa dối mà thôi.

Việc tìm ra nguyên nhân sâu xa của bệnh tật, bất kể của con người hay xã hội, luôn phải là việc, là trách nhiệm hàng đầu của giới có học. Vậy khi giới “tinh hoa” của một xã hội đầy bệnh tật lại lảng tránh, lại không chịu nói thẳng ra cái nguyên nhân sâu xa của tình trạng bệnh hoạn của xã hội thì tầng lớp ít học, những nạn nhân chân lấm tay bùn của xã hội còn biết trông cậy vào ai? Nhưng chính đó lại là một bi kịch, một oái ăm của mọi xã hội bệnh hoạn kiểu toàn trị: sự bệnh hoạn xã hội không chỉ “trùm” lên giới có học mà còn “ăn” cả giới “tinh hoa”. Họ vừa là nạn nhân lại vừa là thủ phạm của xã hội bệnh hoạn. Nhưng đó chưa hẳn đã là bi kịch chua chát nhất. Có bi kịch nào chua chát hơn người phải sống mòn trong chiếc lồng kiên cố lại vẫn nhìn kẻ đã tạo ra chiếc lồng với đôi mắt trìu mến và biết ơn vô hạn?

Nếu thật lắng tâm chúng ta có thể nghe thấy trong không gian thăm thẳm vẫn vẳng lên đâu đó những tiếng kêu, tiếng than da diết, não nề. Nhưng khó có thể biết được đó là những tiếng ai oán của ai, của người nông dân mới bị cướp đất hôm qua ở Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản hay của những nhà nông chịu khó, giỏi giang của dân tộc đã bị cướp đất, bị nhục mạ, bị cướp cả mạng sống cách đây hơn nửa thế kỷ, hay của ai khác nữa? Nhưng cái rất đau xót lại là nhiều người trong số họ đến chết vẫn tin, vẫn ngưỡng mộ, tôn kính cái tổ chức, cái con người đã dựng ra cái nhà nước chỉ biết phục vụ cho một đảng, “chỉ biết còn Đảng còn mình” – nguyên nhân gốc của những thống khổ, những băng hoại hết sức nan giải từ hơn 60 năm qua. Người nông dân, kẻ ít học, có mấy ai không nghe, không tin vào lời của những người, những tên tuổi có những bằng cấp, những danh vị, học vị luôn gợi ra sự uyên thâm, lỗi lạc như giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu, nhà sử học…Thế mà rút cục những lời đó (nếu) lại không phải là sự thật hoặc chỉ là một nửa sự thật, thì còn đau xót nào lớn hơn?

© Phạm Hồng Sơn
© 2012 pro&contra

[i] Mật độ dân số của Việt Nam được xếp hạng 46/239 (Theo Contries of the World) hoặc 52/242 (Theo Wikipedia)

Đọc tiếp…

Nhà nước pháp quyền qua lăng kính Văn Giang

03:26 |
(NCTG) Cả một hệ thống các văn bản pháp luật đồ sộ và phức tạp, từ luật đất đai, đến các nghị định của Chính phủ và thông tư của các cơ quan bộ, ngành,… được người dân Văn Giang viện dẫn để chứng minh cho những quyền lợi mà đáng ra họ phải được hưởng. Sau 8 năm theo đuổi khiếu kiện, họ đã thành… những chuyên gia về luật đất đai từ lúc nào không hay. Song có một văn bản họ chưa bao giờ nhắc tới…
Quang cảnh Văn Giang trong buổi sáng xảy ra vụ cưỡng chế - Nguồn: Internet.
“Người dân Văn Giang chúng tôi chỉ muốn tuân thủ pháp luật, muốn chính quyền và chủ đầu tư thực hiện đúng pháp luật chứ không mong muốn gì hơn”.

Đây là điều được ông Nguyễn Văn Bính (70 tuổi, xóm 3 xã Xuân Quan – Văn Giang) cũng như rất nhiều nông dân khác khẳng định, liên quan đến vụ cưỡng chế thu hồi đất ngày 24-4-2012 tại địa bàn này. Trong khi các nhà nghiên cứu lý luận và các luật gia đang cố công phân tích bản chất của nhà nước pháp quyền trên những tạp chí chuyên ngành uy tín, trong khi nhà nước đang ra sức tuyên truyền về tinh thần thượng tôn pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân, thì bất kỳ ai cũng có thể tìm thấy tinh thần cốt lõi đó của nền pháp quyền trong lời nói và hành động của những người nông dân Văn Giang này trong gần 8 năm qua.

Cả một hệ thống các văn bản pháp luật đồ sộ và phức tạp, từ luật đất đai, đến các nghị định của Chính phủ và thông tư của các cơ quan bộ, ngành,… được người dân Văn Giang viện dẫn để chứng minh cho những quyền lợi mà đáng ra họ phải được hưởng.

Ông Lê Thạch Bàn (xóm 4, xã Xuân Quan) cho rằng: “Trên văn bản, tỉnh Hưng Yên quy định đây là đô thị loại IV. Theo khung giá đất nhà nước ban hành (kèm theo Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ), giá cao nhất cho đô thị loại IV là 13.350.000 đ/m2, thấp nhất là 50.000 đ/m2, bình quân là 6,7 triệu đồng/m2. Nhà nước chỉ đóng vai trò là trọng tài giúp chúng tôi thương lượng với nhau một mức giá thuận mua vừa bán nào đấy, chứ sao lại đem lực lượng hùng hậu như vậy cưỡng chế chúng tôi phải nhận có 135.000 đ/m2 như vậy?”.

Mặc dù viện dẫn rất nhiều văn bản như vậy, có một văn bản họ chưa bao giờ đề cập tới, đó là Hiến pháp.

Dự án Ecopark phục vụ an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia?

Năm 2004, dự án khu đô thị thương mại và du lịch Văn Giang (sau này được biết đến với tên gọi là khu đô thị sinh thái Ecopark) được giao cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Việt Hưng (Vihajico) làm chủ đầu tư. Quyết định thu hồi đất cũng được ban hành ngày 30-6 cùng năm và để thực hiện quyết định này, 3.900 hộ dân của 3 xã Cửu Cao, Xuân Quan và Phụng Công sẽ gần như không còn đất sản xuất nông nghiệp – vốn là sinh kế duy nhất của họ từ nhiều thế hệ qua. Với mức giá đền bù chỉ ở mức 135.000 đ/m2, mỗi hộ dân có 5 nhân khẩu và 2.5 sào ruộng ở đây có thể nhận về số tiền hơn 120 triệu đồng. Số tiền này đủ để duy trì cuộc sống của 5 con người trong vòng 1 năm, trước khi họ rơi vào thế bần cùng. Quyết định thu hồi đất trở thành cái án nặng nề cắt đứt nguồn sống của họ. Hiến pháp – đạo luật gốc – là căn cứ cao nhất để xem xét tính chất pháp lý của quyết định này.
Những hình ảnh hãi hùng của cuộc cưỡng chế - Nguồn: Internet
Ở Việt Nam, đại đa số người dân chưa có thói quen viện dẫn đến Hiến pháp để xác định tính chất pháp lý của một vấn đề. Với tư cách là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, Hiến pháp chi phối mọi nội dung và thể thức của toàn bộ hệ thống pháp luật. Người dân vẫn chỉ quan tâm đến tính hợp pháp (hiểu theo nghĩa là tính phù hợp với văn bản luật), chứ chưa có nhiều khái niệm về tính hợp hiến của vấn đề.

Vốn dĩ, điều 23 Hiến pháp 1992 quy định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định”.

Như vậy, với tư cách là chủ sở hữu quyền sử dụng đất, các hộ nông dân ở Văn Giang chỉ bị nhà nước trưng mua, trưng dụng quyền sử dụng đất đã được giao, cho các mục đích quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, theo giá thị trường. Trong khi đó, Ecopark là một dự án đầu tư xây dựng khu đô thị của Vihajico – vốn là một công ty cổ phần, thuộc sở hữu tư nhân và hoạt động vì mục đích lợi nhuận của các cổ đông góp vốn. Bằng bất cứ cách nào, người ta cũng không thể gán cho những tòa biệt thự, những hồ bơi của Ecopark vào một mục đích nào trong 3 mục đích được minh định tại điều 23 của Hiến pháp kể trên.

Giả định Ecopark thỏa mãn điều kiện về mục đích trưng mua, trưng dụng, thì cái giá 135.000 đ/m2 có được coi là giá thị trường? Sẽ cần đến những tổ chức định giá độc lập hoặc những quy trình thẩm định nghiêm túc để định đoạt đâu là giá thị trường của những thửa đất nằm sát địa phận Hà Nội này. Nhưng đối với những người nông dân trồng cây cảnh ở Văn Giang, giá trị của đất nằm ở con số hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng/sào mà họ thu được mỗi năm và nuôi sống gia đình họ từ năm này qua năm khác. Còn đối với chủ đầu tư, họ cũng sẽ thu được hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu nhưng không phải tính trên đơn vị “sào”, mà là mét vuông, một khi các căn hộ, các lô đất ở đây được rao bán.

Luật gia Lê Hiếu Đằng, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Dân chủ pháp luật, UBTƯMTTQ Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch MTTQ TP. HCM cho rằng: “Xét về mặt Hiến pháp cũng như về Luật đất đai 1993 (*) thì việc thu hồi đất ở Văn Giang là không đúng. Bởi vì Hiến pháp và Luật đất đai 1993 xác định chỉ những công trình an ninh, quốc phòng hoặc phúc lợi chung thì nhà nước mới đứng ra cùng với nhân dân trao đổi, bàn bạc đi đến phương án giải tỏa, còn đối với các công trình kinh tế thì nhà đầu tư phải trực tiếp thương lượng với dân theo giá thị trường chứ nhà nước không thể đứng ra thay mặt cho nhà đầu tư thu hồi, giải tỏa với giá rẻ mạt như vậy được”.

Rõ ràng, nếu chúng ta có một cơ chế bảo hiến hiệu quả, UBND tỉnh Hưng Yên sẽ gặp rắc rối lớn với Tòa án Hiến pháp khi cưỡng chế thu hồi đất của nông dân Văn Giang với mức giá bị cho là rẻ mạt và giao cho chủ đầu tư kinh doanh.

Dấu hiệu vi hiến của một đạo luật quan trọng

Việc thu hồi đất ở Văn Giang nêu trên chỉ là dấu hiệu vi hiến của một hành vi, nhưng sâu xa hơn là dấu hiệu vi hiến của một đạo luật quan trọng.

Để đi tìm một mục đích phù hợp cho việc thu hồi đất bàn giao cho chủ đầu tư dự án, người ta viện dẫn đến Luật đất đai 2003, vốn quy định tại điều 38 rằng: “Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: 1. Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;…”. Rất dễ để thuyết phục bất kỳ ai rằng các dự án như Ecopark là nhằm mục đích phát triển kinh tế.

Như vậy, so với quy định tại điều 23 Hiến pháp, khái niệm “trưng mua”, “trưng dụng” đã bị thay thế bởi khái niệm “thu hồi” và xuất hiện thêm 2 mục đích thu hồi không có trong Hiến pháp là “lợi ích công cộng” và “phát triển kinh tế”.

Trước đó, Luật đất đai năm 1993 cũng quy định tại điều 27 rằng: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”.

Như vậy, cùng một nội dung hiến định tại điều 23 của Hiến pháp, Luật đất đai 1993 bổ sung mục đích “lợi ích công cộng”, đến Luật năm 2003 tiếp tục bổ sung thêm mục đích “phát triển kinh tế”. Nhờ mục đích “phát triển kinh tế” này và sự nhập nhèm trong cách giải thích luật, nhà nước đã tạo ra một cơ chế bảo vệ cho quá trình dịch chuyển một cách không tự nguyện quyền sử dụng đất đai từ tay người nông dân vào tay các nhà đầu tư, quá trình mà đúng ra phải là thỏa thuận dân sự thuần túy giữa hai chủ thể. Dễ dàng nhận thấy ai là người phải chịu thiệt từ cơ chế này.
Nông dân Văn Giang tìm cách trở lại khu vực đã bị cưỡng chế và tiếp tục canh tác. Ảnh: Minh Quang (“Tuổi Trẻ”)
Trong các phát biểu của mình, PGS-TS. Nguyễn Đăng Dung (Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội) cũng cho rằng: “Việc luật đất đai quy định thêm các trường hợp được phép thu hồi đất như “lợi ích công cộng”, “phát triển kinh tế” đã được tôi và các đồng nghiệp đánh giá rất nhiều lần là vi hiến. Tuy nhiên, ở nước ta chưa có Tòa án Hiến pháp, nên chưa có cơ chế nào để phán quyết tính vô hiệu của các quy định này”.

Trước năm 1958, nước Pháp cũng rơi vào tình trạng luật ban hành ra có những nội dung trái Hiến pháp nhưng không có một cơ quan có chức năng bảo hiến nào để bác bỏ các đạo luật này. Trong khi đó, các cơ quan hành chính lại rất nhuần nhuyễn trong việc đảm bảo tính hợp pháp trong các quyết định hành chính của mình. Khi luật ban hành ra đã vi phạm Hiến pháp, thì mọi biện pháp thực thi luật đều không có giá trị. Đó là lý do ngày nay nước Pháp có một cơ chế bảo hiến đủ mạnh để tuyên vô hiệu đối với bất kỳ đạo luật vi hiến nào. Một quốc gia không xây dựng được cơ chế bảo vệ Hiến pháp của mình, khó có thể nói là họ đang xây dựng nhà nước pháp quyền.

© Trịnh Hữu Long
Theo Nhịp Cầu Thế Giới Online

Ghi chú:

(*) Quyết định thu hồi đất cho dự án Ecopark được ban hành vào ngày cuối cùng khi Luật đất đai 1993 còn hiệu lực.




Đọc tiếp…

Có một “nền chuyên chính của lương tâm”

03:20 |

Cụm từ trên tôi được nghe lần đầu là từ nhà văn Thép Mới vào cuối năm 1990. Hôm đó, tôi đang dong xe đạp qua nhà ông ở đường Nguyễn Đình Chiểu TP HCM, bỗng nghe có tiếng gọi giật lại: “Thằng LPK, mày vào đây tao bảo!”. Khi đã uống xong một tuần trà, ông giảng cho tôi rằng, ở Liên Xô, người ta đang thay thế nền chuyên chính vô sản bằng “nền chuyên chính của lương tâm”.

Thì ra nhà văn Thép Mới, với tư cách là Phó Tổng biên tập báo Nhân dân lúc đó, vừa đi quan sát công cuộc cải tổ ở LX về, ông bức xúc muốn kể lại những điều mắt thấy tai nghe ở nước bạn vĩ đại này và suy nghĩ về thời cuộc của ông cho bọn làm báo “đàn em” chúng tôi nghe.

Đọc những lời giận dữ của nhiều trí thức, văn nghệ sỹ về vụ đàn áp dã man của chính quyền tỉnh Hưng Yên, có sự hỗ trợ của nhà nước Trung ương đối với những người nông dân tay không, chỉ thắc mắc về giá đền bù đất đai không hợp lý; xem danh sách những người ký tên vào Tuyên bố về vụ đàn áp ở Văn Giang của trang mạng Bauxite, thấy đa phần những người nghề nghiệp, cuộc sống không hề liên quan gì đến ruộng đất, tôi càng thấm thía rằng, ở đâu cũng có một nền chuyên chính của lương tâm đang hiện diện như nhà văn Thép Mới đã bảo tôi hơn 20 năm trước. Một ông “quan” cách mạng đã về hưu như ông Lê Hiếu Đằng, chắc chắn đang có một căn nhà đầy đủ tiện nghi giữa thành phố HCM, vậy mà ông không sao ngủ được khi nghĩ đến cảnh hàng ngàn công an trang bị đến tận răng “ào ào như sôi” xông vào đánh đập bắt bớ những người nông dân tay không để giành lấy mảnh ruộng cơm áo của họ, để trao cho những kẻ giàu có biết xoay xở, đút lót kẻ có quyền, để họ ra lệnh thu hồi đất!

Lịch sử bốn ngàn năm nước ta, kể cả thời thực dân Pháp, thời đế quốc Mỹ chiếm đóng Miền Nam trước kia cũng không có cuộc cướp đất nào quy mô, tàn bạo và đểu cáng như thế. Chính vì thế mà nền chuyên chính của lương tâm đã khiến ông Lê Hiếu Đằng phải bật dậy cầm bút viết thư gửi ra Hà Nội. Tâm trạng của ông Đằng cũng là tâm trạng của nhiều trí thức Sài Gòn.

Đọc lá thư của ông Đằng gửi cho giáo sư Huệ Chi ở Hà Nội tôi không cầm được nước mắt. Ông còn chép lại những bài thơ dài của thời ông vào sinh ra tử và hy vọng có một ngày cuộc sống có được công bằng lẽ phải như ở Miền Bắc XHCN! Cám ơn ông Lê Hiếu Đằng đã cho tôi hay rằng, sau bao nhiêu đắng cay, buồn tủi, nhục nhã mà tôi đã trải qua, tưởng như không còn gì nữa để mà vui buồn: hóa ra tôi vẫn còn nước mắt! Có một nền chuyên chính của lương tâm vẫn âm ỉ cháy trong lòng mỗi người Việt Nam thật sao?

Không phải chỉ có ở Văn Giang Hưng yên, dân oan đang đi trên mọi nẻo đường của đất nước này để kêu oan!

Viết đến đây tôi bỗng nhớ đến cố thủ tướng Võ Văn Kiệt. Trong một buổi tối đẹp trời cuối năm, tại căn nhà sang trọng ở 16 Tú Xương TP HCM, ông tâm sự: Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, chính sách ruộng đất là cái bùa hộ mệnh của cách mạng. Vậy mà cay đắng thay, sau cuộc chiến tương tàn, đất nước thống nhất gần 40 năm mà khẩu hiệu “người cày có ruộng” chỉ là điều không có thật. Thậm chí nông dân còn bị cướp ruộng. Nhà thơ Tố Hữu từng viết khi Đảng mới ra đời:

“Như đứa trẻ sinh nằm trên cỏ
Không quê hương sương gió tơi bời”

Vậy mà khi có chính quyền rồi, thì ruộng đất bỗng thành sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý! Vậy nhà nước do Đảng lãnh đạo là ai mà lại có quyền quản lý cả dải đất 4000 năm do cha ông khai phá bằng xương máu để lại cho cháu con. Và cực kỳ nguy hại khi quyền quản lý, thu hồi ruộng đất ấy lại được giao cho các địa phương, tức là giao cho các ông quan xã, quan huyện, quan tỉnh có quyền thu hồi. Mỗi nhiệm kỳ làm quan, các ông quan đó đều nhanh chóng vẽ ra các dự án, hoặc giao bán đất dưới chiêu bài kêu gọi đầu tư để nhanh chóng kiếm những món lời khủng trong các dự án thu hồi đất. Các vị ấy thu lời khủng một cách dễ dàng vì đây là một chế độ toàn trị. Một ông quan huyện có trong tay cả công an và quân đội. Cơ quan tư pháp, báo chí chỉ là vật trang sức của các ông. Vì thế, ông chánh văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên đã ra lệnh cấm báo chí đến nơi cưỡng chế đất ở Văn Giang ngày 24/4/2012 vừa qua. Vì thế bên cạnh một biển dân oan đang đi khiếu kiện, đói khát, rách rưới, ăn bờ nằm bụi, bị xua đuổi đánh đập bất kỳ lúc nào… thì trên 63 tỉnh thành ở cả nước, tỉnh nào, thành phố nào cũng mọc lên những khu phố mới của các quan. Ở đó, không phải là vi-la biệt thự nữa, mà là các lâu đài nguy nga không kém gì các lâu đài các lãnh chúa phong kiến Châu Âu thời trung cổ! Chỉ có điều là, vốn xuất thân là các bần cố nông vô học, văn hóa lùn… nên sự phô trương khoe mã của các vị quan đã hạ cánh an toàn đó, khi xây lâu đài cho mình thì nó chẳng giống ai. Tây không ra Tây, Tàu không ra Tàu, cột kèo chỗ này thì Gô-tích, chỗ kia thì phong cách đình chùa, xanh đỏ tím vàng y hệt một sân khấu chèo tuồng, cải lương cấp huyện! Các bạn đọc vĩ đại của tôi ơi! Các bạn không tin ư? Các bạn chỉ đi ra khỏi Hà Nội 50 cây số thôi, xuống đến khu phố quan ở TP Hải Dương là thấy liền! Nền kiến trúc nước ta phải gánh chịu đại họa từ những khu phố quan này.

Còn nhân danh công nghiệp hóa đất nước để thu hồi đất làm khu công nghiệp ư? Trước hết phải định nghĩa công nghiệp là gì? Thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, công nghiệp là cơ khí, chế tạo máy, luyện kim, là công nghệ năng lượng. Thời hậu công nghiệp là hiện đại hóa, tự động hóa. Thời nay là công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghệ na-nô… Mấy cái “khu công nghiệp” khâu giày dép, may quần áo, làm bột ngọt, đóng vỏ tàu như Vinashin … chỉ là thứ thiên hạ đến đây để thuê mặt bằng rộng, thải ra nhiều cặn bã, thuê nhân công rẻ mạt mà thôi! Nhưng các quan tỉnh, quan huyện rất thích giải phóng mặt bằng thật rộng để dễ bề ăn đất, ăn cát. Vậy thôi. Một vị bí thư tỉnh ủy thế hệ chống Mỹ ở Đồng bằng sông Cửu Long có tâm sự với tôi: “Ở tỉnh chúng tôi tìm 300 cán bộ tuyên huấn thì dễ ợt, nhưng kiếm 30 tay làm đốc công, quản lý phân xưởng thì kiếm không ra. Vậy mà hô hào công nghiệp hóa nỗi gì! Trước hết phải có con người cho công nghiệp đã!”. Một vị chủ tịch khác cũng ở Đồng bằng sông Cửu Long than phiền với tôi: “Tỉnh tôi làm lúa có hạng ở Đồng bằng sông Cửu Long, có thừa tiền, thừa gạch ngói xây trường học, muốn xây 700 căn phòng học để xóa nạn học ca ba nhưng không kiếm đâu ra thợ xây. Dân chúng tôi chỉ quen làm nông nghiệp thuần trồng lúa và nuôi cá thôi!”.

Với cái văn hóa quanh năm đi chùa ở Miền Bắc, đi đâu cũng phải bấm giờ lành mới khởi hành…, quanh năm đi đám giỗ ở Miền Nam… thì tuyên bố đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại là câu chuyện “Thần thoại Hy Lạp” ở thế kỷ 21. Chỉ Hô-me sống lại mới làm được bản anh hùng ca đó mà thôi!

Trong cuộc tấn công cưỡng chế thu hồi đất ngày 24/4 vừa qua, bà con đã chửi các chiến sỹ công an: “Sao chúng mầy ngu thế, lại chĩa súng vào ông bà cha mẹ mình mà không quay súng về phía bọn tham nhũng”. Bà Lê Hiền Đức có mặt ở đó cũng nói: “Đừng chĩa súng vào nhân dân, hãy quay súng về phía những kẻ tham nhũng…”. Có chiến sĩ trẻ đã khóc! Thật ra, không hề có những thế lực thù địch nào cả. Chỉ có những luồng khí quyển đang lưu hành trong xã hội, có một nền chuyên chính của lương tâm đang âm ỉ cháy trong lòng những chiến sỹ công an đang cầm súng bị bắt buộc chĩa về phía nhân dân. Những giọt nước mắt của người chiến sỹ trẻ kia là một minh chứng. Và, có cả những giọt nước mắt cay đắng đang chảy ngược vào trong của những người đang cầm súng chĩa vào nhân dân theo lệnh mà những kẻ đang say vàng, say đô-la không nhìn thấy được. Không bao giờ dối trá và bạo lực có thể thống trị lâu dài. Đó là quy luật thép của lịch sử. Nếu không thì chế độ cuả Tần Thủy Hoàng, chế độ của Hít- le đã còn đến hôm nay.

Những người đang cầm quyền phải cảm ơn những đảng viên trung kiên như Lê Hiếu Đằng, như Lê Hiền Đức… đã thẳng thắn báo cho họ những hiểm họa khôn lường nếu vẫn khư khư ôm lấy cái luật: Đất đai là sở hữu toàn dân, giao cho các ông quan địa phương quản lý thu hồi!

Khi chủ nghĩa xã hội với nguyên lý công hữu hóa toàn bộ các tư liệu sản xuất… đã bị nhân loại ném vào sọt rác của lịch sử, phải quay về với kinh tế thị trường, nhưng ruộng đất, thứ tài sản thiêng liêng nhất với bất kỳ dân tộc nào trên hành tinh này lại giao cho những quan tham ở địa phương với tư duy “nhiệm kỳ vơ vét”, quản lý và thu hồi bằng bạo lực man rợ thì bất ổn và sụp đổ là không thể tránh khỏi, là tất yếu.

Chỉ có những công trình quân sự, những dự án mang tầm chiến lược của đất nước thì chính phủ nước đó mới dám thu hồi đất theo một bộ luật riêng. Tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay đang cư xử với đất đai của đất nước họ như vậy, trừ mấy quốc gia độc tài toàn trị.

Chẳng lẽ lá “bùa hộ mệnh” của chính quyền hôm nay không phải là chính sách ruộng đất với nông dân, tầng lớp đông đảo nhất mà là dùi cui và súng đạn hay sao?! Với lá bùa dùi cui và súng đạn ấy, đất nước đi về đâu…

Viết đến đây tôi bỗng nhớ tới hai câu thơ rất ấn tượng của Chế Lan Viên trong thời chống Mỹ:

“Không gì cứu được loài bán nước
Không cứt nào cứu được bọ hung”!

Hãy trả đất cho dân. Hãy sửa đổi luật đất đai.

Hãy trả đất cho những người yêu đất nhất

Để lương tâm đất nước được xanh tươi

Trả đất

Trả đất

Trả đất cho những người yêu đất nhất

Để luống cày đón nhận những bình minh…

TP HCM 5/2012.


Tùy bút của Lê Phú Khải
Theo Bauxite Việt Nam


Đọc tiếp…

Hành trình sụp đổ của cộng sản Việt Nam

03:18 |
Dân nghèo đói sẽ vùng lên với ý chí "không còn gì để mất". Tầng lớp cầm quyền chia rẽ, xâu xé nhau nên không còn toàn tâm toàn ý thống nhất cùng nhau diệt dân nữa. Lại thêm không còn sự hà hơi tiếp sức từ bên ngoài (Tàu lo cho mình chưa xong thì còn hơi sức đâu lo cho người khác), sẽ làm cho chế độ này lung lay đến độ chỉ cần lực lượng nào biết chớp thời cơ lãnh đạo dân chúng ẩy nhẹ cái là nó sụp tương tự như ngày 19/8/1945.


1. Cắn xé nhau vì lợi:

1.1 Khởi đầu là bòn rút ngân sách

1.2 Ngân sách cạn rồi thì bán tài nguyên

1.3 Tài nguyên cạn rồi thì cướp của dân

1.4 Dân không còn gì để cướp nữa thì (cộng sản) sẽ xoay sang cướp lẫn của nhau

* * *
2. Chia rẽ nhau vì quyền:

2.1 Hiện nay, tiếng là một nước độc lâp nhưng thực tế, nhìn chung, đảng viên cộng sản Việt Nam nào muốn có quyền lực đều phải luồn cúi cộng sản Tàu. Cho nên, dù trong nội bộ có lục đục thì coi như vẫn có cộng sản Tàu nắm chịch, tạm có thể yên.

2.2 Tàu yếu đi hoặc chủ tâm nện Việt Nam như là bước đầu của sự bành trướng để hòng bước lên ngôi bá chủ hoàn cầu thì (cộng sản Việt) sẽ thi nhau đi tìm chỗ dựa mới. Năm bè bẩy mối không ai phục ai.

2.3 Các nước lớn xung đột nhau thì VN như một thế giới thu nhỏ, các phe phái cũng xung đột nhau. Đấy là lúc có thể gọi là "quần dương tranh hùng".

* * *
3. Nạn đói hoành hành khắp cả nước bởi nạn "chảy máu gạo":

3.1 Dân số ngày càng tăng trong khi đất đai sản xuất lúa ngày càng thu hẹp vì:

- Nước mặn xâm lấn vùng ven biển các vựa lúa

- Tình trạng hoang mạc hóa diễn ra khắp cả nước do biến đổi khí hậu và do phá rừng, khai thác tài nguyên bừa bãi.

- Bờ xôi ruộng mật liên tục bị chuyển đổi thành nhà máy, sân gôn, khu đô thị.

3.2 Chính sách quản lý kém, người sản xuất lúa không có lợi hoặc rất ít lợi, dẫn đến chuyển cây trồng khác cây lương thực hoặc bỏ hoang đồng ruộng chuyển làm nghề khác.

3.3 Do biến đổi khí hậu, dẫn đến hạn hán sâu bệnh (ví dụ rầy nâu) hoành hành không những ở Việt Nam mà còn ở khắp các nước xung quanh. Nhu cầu lương thực tăng đột biến. Việc xuất khẩu gạo ở Việt Nam cũng tăng đột biến, giá lương thực tăng cao.

3.4 Phía nam Việt Nam là Indonesia với hơn hai trăm triệu dân, phía đông là Philipin với mấy chục triệu dân. Đặc biệt, phía bắc Việt Nam là Trung Quốc với hơn một tỷ dân. Khi xảy ra mất mùa, những nước này sẽ hút gạo của Việt Nam khiến giá gạo tăng siêu cao.

3.5 Vì lợi nhuận, gạo sẽ được gom lại bằng mọi cách và xuất đi bằng mọi cách, mặc kệ dân nghèo chết đói vì không có tiền mua. Các gia đình công chức nhỏ, người về hưu lương thấp, công an tép riu, bộ đội quèn cũng chịu chung số phận.

* * *

Dân nghèo đói sẽ vùng lên với ý chí "không còn gì để mất". Tầng lớp cầm quyền chia rẽ, xâu xé nhau nên không còn toàn tâm toàn ý thống nhất cùng nhau diệt dân nữa. Lại thêm không còn sự hà hơi tiếp sức từ bên ngoài (Tàu lo cho mình chưa xong thì còn hơi sức đâu lo cho người khác), sẽ làm cho chế độ này lung lay đến độ chỉ cần lực lượng nào biết chớp thời cơ lãnh đạo dân chúng ẩy nhẹ cái là nó sụp tương tự như ngày 19/8/1945.

* * *

Bây giờ, không phải tầng lớp cộng sản cầm quyền không nhìn ra vấn đề nhưng phần vì lợi ích cá nhân, phần vì lợi ích nhóm đã thao túng khắp trong đảng và nhà nước nên họ bất lực. Chứng cớ rõ nhất của sự bất lực là sau vụ Tiên Lãng lại vẫn xảy cưỡng chế đất trồng lúa ở Văn Giang và mới đây là ở Vụ Bản.

Lẽ ra, trước tương lai đen tối như đã phân tích ở trên, phải ra ngay luật "cấm xâm phạm và chuyển đổi đất nông nghiệp". Nhưng thực tế, họp hành chán rồi mà chỉ đưa ra được cái qui định "muốn chuyển đổi đất lúa sang đất khác thì phải có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền". Hỡi ơi! Chỉ cần tiền đấm mõm là "cơ quan có thẩm quyền" sẽ đồng ý ngay, khó gì đâu!

Bệnh nan y đã biết nhưng không chữa được vì toàn đảng và toàn quân TA không có (hay không còn) dũng khí, chế độ này chỉ còn tồn tại tính bằng năm bằng tháng chứ không còn đủ phúc tính bằng chục năm nữa.

© Lưu Trần Sinh
_____________________________

Ghi thêm: Từ một nước xu
Đọc tiếp…

Tin Việt Nam : Dân oan mất đất mất nhà

03:01 |

Tin Việt Nam : Dân oan mất đất mất nhà càng ngày càng đông và càng trở nên một thách thức cho quyền lực chính trị của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Ngày 2/5/2012, Nguyễn Tấn Dũng mở hội nghị xác nhận việc cưỡng chế đất đai tạo ra những điểm “nóng” dễ dẫn đến những “bất ổn chính trị”. Đến ngày 7-5-2012, Nguyễn Phú Trọng phải cho mở Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 5. ông Trọng yêu cầu khi bàn về vấn đề đất đai phải theo hướng “giữ vững ổn định chính trị”.

Tại miền Bắc sự kiện Văn Giang cạnh Hà Nội chưa xong thì lại đến Vụ Bản, Nam Định. Ở miền Nam luôn xẩy ra tình trạng dân oan các tỉnh miền Tây lên Sài Gòn khiếu kiện, đòi trả lại nhà đất và đòi công lý bị công an ngăn chặn bắt bớ và đánh đập. Một số bị chặn lại không cho đến những cơ quan mà dân oan có thể đến để khiếu kiện. Lực lượng công an và bảo vệ luôn trực sẵn để bắt họ về địa phương, thậm chí bắt ngay tại bến xe Sài Gòn.

Đây là hình ảnh được ghi vào ngày 9/5/2012, hai dân oan này đã vượt qua khỏi sự rượt đuổi công an giăng biểu ngữ trước Văn phòng Chính phủ số 2 Bis đừng Lê Duẩn. Sau đó họ lại phải gấp lại biểu ngữ nếu không công an đến cướp biểu ngữ và bắt họ.


Biểu ngữ cầm tay của họ tố cáo :”Chủ tịch Quận 5, ông Nguyễn Thành Tài, giả mạo hồ sơ nhà, tước đọat tài sản của dân, đề nghị lãnh đạo chống tham nhũng xử lý theo luật tố cáo. Tiên Lãng tước đọat tài sản của dân. Thành Phố Hồ chí Minh tước đọat tài sản và giết người”


Đọc tiếp…