05/12/12 - VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Bùng nổ chiến tranh từ bãi cạn?

Đăng bởi Biên tập viên vào Thứ bảy, ngày 12 tháng năm năm 2012

Tình trạng đối đầu trên biển giữa Philippines với Trung Quốc từ một tháng nay ở khu vực lãnh hải quanh bãi cạn Scarborough càng thêm căng thẳng, khi bộ ngoại giao Trung Quốc hôm thứ ba triệu đại biện lâm thời của sứ quán Philippines tại Bắc Kinh đến để phản đối hành động của Manila. Thông cáo của bộ ngoại giao Trung Quốc về việc này chứa đựng những lời lẽ rất cứng rắn. Hoa Kỳ tuyên bố trung lập, nhưng lại cam kết bảo vệ Philippines theo hiệp ước 1951. Scaborough sẽ nổi sóng thật chăng?
Một chiến hạm của hải quân Philippines

Dằn mặt Hoa Kỳ

Bà thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Phó Oánh tuyên bố những lời lẽ cứng rắn với đại biện Alex Chua của Philippines sau khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton hoàn tất cuộc đối thoại với Uỳ viên quốc vụ viện Đới Bỉnh Quốc tại Bắc Kinh về các vấn đề quốc tế và song phương.
Sau cuộc đối thoại, bà Clinton tuyên bố Hoa Kỳ không đứng về bên nào trong cuộc tranh chấp ở biển Đông. Nhưng sau đó bà Ngoại trưởng Mỹ lại xác nhận Hoa Kỳ sẽ thực hiện những điều cam kết trong hiệp ước an ninh chung với Philippines. Vì thế Trung Quốc có hành động cứng rắn như vậy là để xác định lập trường đồng thời tái xác định quan điểm của họ về lãnh hải “Lưỡi Bò” trên biển Đông, và tỏ ra quyết không lùi bước trước mọi phản kháng và thách đố của Philippines hay bất kỳ nước nào khác trong vấn đề này. “Nước nào khác” đó chính là Hoa Kỳ, vừa nói chuyện “đối tác” ở Bắc Kinh!
Bãi cạn Scarborough trên bản đồ thế giới- Philippine media screenshot
Hiện nay lập trường của Trung Quốc và Philippines về lãnh hải trên biển Đông đã hiện rõ sự mâu thuẫn rất căn bản vì lãnh hải Lưỡi Bò đó. Philippines không công nhận những vùng lãnh hải chồng lấn mà Trung Quốc công bố, mà coi đó là vùng đặc quyền kinh tế của mình, không cho Trung Quốc khai thác chung. Liệu các bên có cơ may tìm được giải pháp nào đó không?

Mỹ-Trung chưa thuận, Phi yên tâm

Đến nay thì chưa ai đưa ra được một giải pháp nào mà các bên tranh chấp đều đồng thuận, cho nên mới có sự đối đầu gay gắt như vậy. Về phương diện công lý và lẽ phải thì ai cũng thấy rõ thái độ bá quyền bất hợp lý của Trung Quốc ngay từ khi họ công bố lãnh hải “Lưỡi Bò”. Nhưng Bắc Kinh vì quyền lợi sinh tử về mặt chiến lược nên cứ ỷ thế làm càn.
Hai bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ -Trung Quốc họp báo tại Ngũ Giác Đài, 09-05-2012- US DoD.com photo
Hôm thứ hai bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc sang Hoa Kỳ, bàn thảo với bộ trưởng Leon Panetta nhiều vấn đề trong đó có cả việc Hoa Kỳ chuyển trọng tâm quốc phòng sang châu Á Thái Bình Dương, nhưng dường như họ né tránh thông báo nội dung và kết quả đàm phán về vấn đề tranh chấp ở  biển Đông.

Tin tức chỉ nói đến việc hai lực lượng quốc phòng hợp tác phòng ngừa chiến tranh trong không gian ảo, rồi những chuyện chán ngấy như là hợp tác cứu hộ trên biển và cứu trợ thiên tai...
Giới quốc phòng và ngoại giao hai bên hẳn nhiên đã phải bàn đến những vấn đề như Bắc hàn, Iran, Châu Phi và Philippines nữa, nhưng không ai tuyên bố một điều gì cụ thể.
Điều ấy chứng tỏ rằng họ chưa có giải pháp nếu không nói là còn mâu thuẫn gay gắt vế các vấn đề liên quan đến  biển Đông. Nhưng điều đó đồng thời có thể chứng tỏ là Hoa Kỳ đứng về phía Philippines, ví thế mới gây mâu thuẫn.

Một dấu hiệu khác bên ngoài những cuộc bàn thảo song phương đó giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ cho thấy Hoa Kỳ hẳn nhiên đã bênh vực Philippines, là hôm thứ tư bộ trưởng quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin tuyên bố rằng trong cuộc nói chuyện với ông hồi tuần trước, Hoa Kỳ đã cam kết bảo vệ Philippines chống mọi cuộc tấn công quân sự ở biển Đông. Ông nhấn mạnh rằng sự bảo vệ đó bao gồm cả các lãnh thổ hải đảo ở Thái Bình Dương, và tất nhiên cả biển Đông. Trước đó nữa thì hôm thứ sáu tuần trước bộ ngoại giao Philippines cho biết năm nay Hoa Kỳ  sẽ viện trợ quân sự gấp đôi cho Philippine

Hành động xoa dịu

Song song với những sự kiện đó, Philippines cho biết đang thương lượng với Trung Quốc tại Bắc Kinh về việc hợp tác khai thác dầu khí ở Bãi Cỏ Rong, đó là tên của Việt Nam đặt và xác định chủ quyền.

Trước hết nói về nguyên nhân thì hẳn là Philippines muốn nêu vấn đề kinh doanh ra để làm dịu bớt tình hình. Vì theo Tập đoàn Dầu khí Philex của Philippines loan báo hôm thứ ba, họ vừa bàn bạc với tập đoàn dầu khí CNOOC của Trung Quốc về khả năng đối tác trong một dự án khai thác khí tự nhiên tại khu vực tranh chấp ở Biển Đông.
Tàu chiến mới tiếp nhận của Mỹ năm 2011- Phil-Navy.mil photo
Dự án theo Philippines gọi là Sampaguita này trị giá đến hằng tỷ đô la nằm tại khu vực Bãi Cỏ Rong, nơi Philippines gọi là Reed Bank, mà hồi năm ngoái tàu hải quân Trung Quốc từng cố ý đâm vào tàu thăm dò một công ty con của tập đoàn Philex. Công tác thăm dò sau đó đã bị ngưng phần lớn.

Chủ tịch tập đoàn Philex của Philippines cho biết đã nhận được thư mời chính thức từ CNOOC và hồi tuần rồi đã đến Bắc Kinh để thảo luận. Còn việc có đem lại hy vọng không thì người ta không thấy dấu hiệu hy vọng nào cho cuộc đối đầu ở bãi cạn Scarborough mà Trung Quốc gọi là Hoàng Nham Đảo, và việc của Philex cũng không có nghĩa là Manila lùi bước ở Scarborough cũng như Bãi Cỏ Rong.

Thứ sáu này ở Manila một số người dân sự sẽ tổ chức biểu tình chống Trung Quốc.  Trung Quốc nhật báo đã doạ dẫm Philippines đừng ào tưởng mà dồn Trung Quốc đến chân tường để Bắc Kinh phải dùng võ lực.

Đáp số mẫu

Tuy hai bên đều tỏ ra cương quyết không lùi bước nhưng cả hai phía, cũng như Việt Nam hiện tại và sau này, cũng sẽ cố gắng thương lượng tìm ra giải pháp khai thác chung theo một hình thức nào đó, một tỉ lệ thu hoạch riêng nào đó để dàn xếp với nhau.

Đó là một giả thuyết mà nếu xảy ra thì đồng nghĩa với sự nhượng bộ của Philippines. Nhưng nếu có được một giải pháp nào đó thì nó có thể là một đáp số mẫu cho những bài toán liên quan đến Việt Nam và nhiều vùng tranh chấp khác sau này. Chính vì thế mà Trung Quốc và Philippines đều hết sức cân nhắc, trong khi Việt Nam phải quan tâm theo dõi.
Pháo binh Philippines bảo vệ biển đảo -Phil.DoDWeb screenshot
Phỏng vấn cựu đại tá hải quân Quách Hải Lượng của quân đội Việt Nam xã hội chủ nghĩa, từng là tuỳ viên quân sự của sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, chuyên gia về bang giao Việt Trung này cũng cho là các bên đều tỏ ra cứng rắn nhưng thực ra không bên nào muốn gây chiến, và sẽ tìm ra cách giải quyết hoà bình. Ông kêu gọi công luận”thông cảm” cho Việt Nam trong những đối sách với Trung Quốc. Nhà ngoại giao Việt Nam biện giải rằng trên bàn cờ quốc tế ai cũng phải tiến thoái nhịp nhàng, vì mục đích chiến lược lâu dài.

Mời quý vị đọc và nghe bài phỏng vấn đại tá tuỳ viên quân sự Quách Hải Lượng trên cùng trang web này.  Quý vị dùng từ khoá "quách-hải-lượng", nếu cần.

© Việt Long - RFA


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Genji - Chuyện Tình Ngàn Năm


"I think it's good to be free and to have sex with any one. Tôi nghĩ là rất tốt nếu được tự do và tư tình với bất cứ ai." Lời phát biểu đầy tính luyến ái lãng mạn này không phải là tuyên ngôn của những người theo chủ thuyết phong tình, cũng không phải là cách nói của những ai yêu cuồng sống vội, mà chính là tư duy của ni sư Jakucho Setouchi, một nữ tu Phật Giáo đã ở vào tuổi thấp thập cổ lai hy. Thật khó tưởng tượng người đã cúng dường Tam Bảo thệ phát quy y lại có những tâm tình đầy hệ lụy, đầy thất tình lục dục như ni sư Setouchi…Nếu đặt câu nói trên dưới cái nhìn hạn hẹp đầy thành kiến khắt khe, có vẻ như vị nữ tu này lòng trần chưa dứt, vẫn trầm luân trong dây oan của chữ Ái. Nào phải đâu là lụy tình chưa dứt, ni sư Setouchi muốn lấy quán tưởng thiền định, để trình bày cảm quan riêng của bà về tác phẩm văn học cổ điển lừng danh của Nhật Bản “Tale of Genji.”

Là nhà Phật Học có kiến thức uyên bác về văn chương, có biệt tài trong việc chuyển dịch ngôn ngữ cổ của Nhật Bản sang câu chữ đơn giản hiện đại, người nữ tu học giả này đã đưa dân xứ Phù Tang trở về với “Genji, Chuyện Tnh Ngàn Năm,” khi biên soạn tác phẩm này thành một bản dịch 10 tập bằng lối văn trong sáng, truyền cảm mà vẫn không làm mất đi phần lả lướt, đa tình của nguyên bản. Trên tờ Kyoto Journal, nhà báo Nicholas Donabet Kristof đã viết về “Tale of Genji” của ni sư Setouchi như sau:

“As Japanese heroes go, he is an unusual one. He never wore a tie, never got a job, and after seducing his stepmother when he was a teen-ager he had a string of affairs with women who included his own adopted daughter. But Prince Genji is a central figure in Japanese culture, and he never had a wit of trouble with the law -- perhaps in part because he never existed. He was the title character in "Tale of Genji" the nearly 1,000-year-old love story that is sometimes described as the world's first novel and is usually considered Japan's greatest literary achievement.” (*)

“Như các anh hùng khởi phát, Genji là nhân vật khác thường. Ông không đeo cà vạt, không bao giờ có công ăn việc làm, sau khi quyến rũ bà mẹ kế vào lúc hãy còn là một thiếu niên, ông dan díu với hàng chuỗi phụ nữ, trong đó có cả con gái nuôi của mình. Tuy nhiên Hoàng tử Genji là biểu tượng cốt lõi trong văn hóa Nhật Bản, và ông hề gặp bất cứ rắc rối nào với pháp luật - có lẽ một phần vì ông không bao giờ tồn tại. Ông là nhân vật chính trong cuốn “Truyện Genji,” câu chuyện tình gần 1.000 năm tuổi, cuốn sách đôi khi được mô tả như tác phẩm đầu tiên của thế giới, và là thành quả văn chương lớn lao nhất của Nhật Bản…” (*)

Dưới lăng kính của lịch sử văn học “Genji” là tác phẩm kinh điển, vì đã xuất hiện trong buổi bình minh của nhân loại. Nhân vật Genji là biểu tượng của những người đàn ông - giai cấp chủ nhân - của xã hội Nhật Bản đầu thế kỷ thứ 11. Công Nương Shikibu Murasaki - tác giả “Truyện Genji” - là sương phụ thuộc tầng lớp qúy tộc, người có trách nhiệm cai quản nội cung cho Hoàng Hậu, cũng đã từng chiếm được lòng yêu quý nơi phụ thân của Hoàng Hậu, dù bà không chủ tâm. Chính điều này thôi thúc bà sáng tạo ra nhân vật Genji, mẫu số chung của các đấng mày râu thuở ấy. Đọc “Truyện Genji,” độc giả bắt gặp nỗi buồn, niềm vui, lòng ghen tương, tính ích kỷ, sự thù hận, và đôi khi có cả âm mưu thâm độc của kẻ này đối với người kia chỉ vì một chữ Tình. Ai người trước đã qua. Ai người sau sẽ đến. Bất luận ở niên đại nào, cõi người ta cũng dư đầy đau khổ…vì tình yêu! Sao có thể không khóc được khi tình yêu bị đánh cắp, khi người tình bỏ ta đi…?!

Ni sư Setouchi đứng trên quan điểm của phụ nữ, khi bà nhận định tác phẩm “Genji” phản ánh tâm tình và khát vọng mãnh liệt muốn kình chống lại định mệnh u buồn, hoàn cảnh bất lực của phụ nữ trong bối cảnh xã hội Nhật Bản của những năm đầu thế kỷ 11. Bà khen ngợi Công Nương Murasaki đã đi trước thời đại, khi gióng hồi chuông cảnh tỉnh xã hội nói chung, giới đàn ông nói riêng, về sự ngược đãi mà xã hội và đàn ông đã áp đặt lên số phận của người phụ nữ, ngay cả trong lãnh vực tình cảm. Vì lòng ngưỡng mộ Công Nương Murasaki. Vì muốn làm cây cầu nối liền tình tự ngàn xưa của một nước Nhật trong quá khứ, với một nước Nhật tiền tiến hiện tại. Sau những giờ công phu thiền nguyện trước Phật đài, ni sư Setouchi đã để tâm huyết và thời gian còn lại vào việc chuyển dịch, san định tác phẩm “Truyện Genji,” để vừa làm sống dậy bản chất đích thực của tình yêu, vừa giúp cho xã hội Nhật tiến vào tương lai mà vẫn không quên quá khứ. Đây chính là nỗi quan ngại của ni sư Setouchi, của cư dân xứ Hoa Anh Đào trước nguy cơ quá khứ bị chôn vùi, trong những cơn biến động của trào lưu mới.

Bà Janine Beichman, giáo sư Hoa Kỳ chuyên nghiên cứu về nền văn học Nhật Bản tại Đại Học Daito Bunka, Tokyo nhận định rằng: Bản dịch tác phẩm “Truyện Genji” gồm 10 tập đã trở thành quyển sách có con số thương mại đáng kinh ngạc, nhờ chiều kích tuyệt vời của nguyên tác và nhờ danh tiếng của ni sư Setouchi.

Nếu có dịp đến Nhật Bản, ghé thăm kiểng chùa Tenda-ji thanh tịnh đầy kỳ hoa dị thảo của ni sư Jakucho Setouchi, du khách mặc nhiên nhìn thấy vị ni sư đạo hạnh, lịch lãm, uyên bác đã ủnh hộ tinh thần Về Nguồn của Nhật Bản khi chuyển dịch tác phẩm “Truyện Genji,” và khi nhận định: "Men are very free now to have girlfriends, and women to have boyfriends, and it's getting back to the way it was in Genji's time. Bây giờ đàn ông tự do có bạn gái, phụ nữ có những bạn trai, và đang trở về con đường xưa đã từng có trong thời đại Genji."

© Hoàng Nhất Phương
Theo dân Luận
______________________

(*) Trích đoạn "As Japanese heros...Japan's greatest literary achievement." từ Kyoto Journal: “The Nun's Best Seller: 1.000-Year-Old Love Story” của Nicholas Donabet Kristof. Hoàng Nhất Phương chuyển ngữ.


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lật tẩy một kịch bản - Người tính không bằng trời tính

Theo tinh thần nghị quyết 4 TW, mình “nghiêm túc kiểm điểm” thấy quá ấu trĩ khi cho rằng “một tỉnh nhỏ như Hưng Yên ở đồng bằng sông Hồng sao lại có thể huy động cả ngàn công an và cảnh sát cơ động để trấn áp dân ba xã Văn Giang đòi đất?”
Câu hỏi này đã được Phó chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên báo cáo ông Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc họp trực tuyến của Thủ tướng với đại diện 63 tỉnh thành phố về việc tiếp công dân và giải quyết khiếu kiện tố cáo đặc biệt trong lĩnh vực đất đai.
Trong báo cáo dài 10 phút về chuyện cưỡng chế ở Văn Giang, ông Hào nói “như sách” rằng Tỉnh đã làm đúng luật, đúng chủ trương xây dựng cơ sở hạ tầng để công nghiệp hóa hiện đại hóa theo đúng tinh thần nghị quyết của Đảng, rằng tỉnh đã đền bù thỏa đáng, rằng không có thương vong, nhân dân đã ổn định, rằng kẻ địch lợi dụng tuyên truyền xuyên tạc từng giờ thậm chí làm video giả, và không quên cám ơn Bộ công an đã hỗ trợ có hiệu quả.

Tất cả đã bị lật tẩy ở câu cám ơn này.

Thì ra lực lượng đội mũ sắt “đông như quân Nguyên” là cả một trung đoàn cảnh sát cơ động của Bộ Công an tăng cường giúp Hưng Yên đề phòng có chống đối bằng vũ lực trong ngày giải tỏa 24/4 vừa qua.

Và một kịch bản về vụ cưỡng chế này có thể đã diễn ra như sau:

Sau vụ Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, mấy chú Hải Phòng chủ quan nên ăn đòn. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ghi điểm khi kết luận Hải Phòng sai nhiều thứ, sai từ khâu giao đất đến khâu thu hồi đất và cưỡng chế.

Tất nhiên để cấp dưới làm sai thì ông Thủ tướng cũng có phần trách nhiệm và ông lường trước phản ứng dây chuyền của vụ “Tiếng súng Đoàn Văn Vươn” sẽ phát động chuyện khiếu kiện đông người kéo dài.

Vì thế phải làm cái gì đó ra tay. Và Văn Giang Hưng Yên được chọn.

Sau vụ Hải Phòng, không phải ngẫu nhiên tỉnh Hưng Yên quyết định cưỡng chế sau 8 năm chịu đựng sự khiếu kiện của người dân. Dự án Ecopark do chính tay ông Dũng khi đó làm Phó tướng cho ông Phan Văn Khải kí phê duyệt. Chắc chắn họ đã được bật đèn xanh từ ông Thủ tướng và cả Ban bí thư và Bộ chính trị nơi chiến hữu Lê Hồng Anh làm thường trực. Vì thế không có gì lạ khi Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang sẵn sàng cử quân đến chi viện, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đinh Thế Huynh ra chỉ lệnh cấm các báo đài đưa tin về vụ cưỡng chế này. Công tác chuẩn bị tư tưởng được làm tới cả các công thần như Lê Đức Anh, Nguyễn Quốc Thước, Đặng Hùng Võ, Nguyễn Văn Pha (Phó chủ tịch đương nhiệm Mặt trận Tổ quốc) nên các vị này cũng im như thóc hoặc đều nói hay nói phải cho phía chính quyền.

Có hai nhà báo là Trưởng phòng thời sự Ngọc Năm và phóng viên Phi Long của Đài Tiếng nói Việt Nam “vượt rào” đến đưa tin thì bị đánh hội đồng phải đi cấp cứu và khốn thay cái clip mà ông Hào Phó chủ tịch Hưng Yên nói là giả lại chính là cái clip đánh hội đồng hai nhà báo này. Không biết rồi Hội Nhà báo Việt Nam có lên tiếng không hay lại cũng im như thóc, còn ông Ngọc Năm chắc chắn là đảng viên sẽ phải kiểm điểm vì vi phạm quy định của tỉnh “yêu cầu các nhà báo không đến hiện trường để đảm bảo an toàn” như lời răn đe của viên chánh văn phòng ủy ban tỉnh.

Sự việc tưởng như bị chìm xuồng thì chiều nay VOV đã chính thức lên tiếng về việc hai nhà báo của họ được nhà Đài phân công đi lấy tin đã bị hành hung dã man. Và chính quyền Hưng Yên không có cách gì hơn là lại giữ im lặng và tìm cách xoa dịu.

Cuối cùng cuộc cưỡng chế đã thành công. Nhân dân đã thua, chính quyền “của dân - do dân - vì dân” đã thắng.

Nhiều quan chức tỉnh Hưng Yên sẽ có vài xuất đất của dự án Ecopark với giá cho không, bán đi kiếm vài chục tỉ đầu tư cho tương lai khi chuẩn bị nghỉ hưu.

Chính quyền của ông Thủ tướng Dũng thì rút ra được bài học để tiếp tục cho cưỡng chế ở các tỉnh khác mà lãnh đạo các tỉnh có dự án trắc trỏ vì dân khiếu kiện đang há miệng chờ sung rụng.

Họ còn được tiếng là đã thực hiện sáng tạo nghị quyết của Đảng về xây dựng cơ sở hạ tầng thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh có rất nhiều khó khăn. Họ hy vọng bài học “thành công” ở Văn Giang sẽ giúp cho các địa phương khác giải được bài toán khiếu kiện đất đai mà có nơi còn e dè vì sợ mất chức là mất tất cả.

Nhưng người tính không bằng trời tính.

Luật sư Trần Vũ Hải, người bảo vệ quyền lợi cho nhân dân Văn Giang trong vụ kiện chính quyền cướp đất, trong khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đã phát hiện ra một chi tiết động trời. Đó là chỉ trong 3 ngày từ 28 đến 30 tháng 6 năm 2004, Ủy ban nhân dân tinh Hưng Yên, Bộ Tài nguyên môi trường và Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kí các văn bản giao đất cho nhà đầu tư để thực hiện dự án Ecopark. Tại sao lại có một quyết định được thực hiện một cách nhanh kỉ lục như vậy? Đằng sau những con chữ được kí chớp nhoáng như vậy là những màn lobby hoành tráng của chủ đầu tư mà người đọc có thể dễ dàng đoán nhận.

Cũng theo ông Hải trong thư đề nghị ông Đặng Hùng Võ, người giữ chức Thứ trưởng phụ trách đất đai hồi đó tranh luận để xem có đúng là “Hưng Yên giao đất đúng luật” như ông Võ trả lời BBC hay không. Nhưng ông Võ đã giữ yên lặng. Lí do để các thủ tục kí giao đất được làm nhanh một cách kỉ lục như vậy được cho là để người ta né Luật đất đai mới sẽ có hiệu lực sau đó ít ngày. Nói theo cách nói dân gian là “cưới chạy tang”.

Luật sư Hải còn phát hiện việc Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kí văn bản giao đất cho Ecopark cũng trái luật vì Theo Luật tổ chức chính phủ, việc kí các quyết định giao đất để xây dựng cơ sở hạ tầng là việc của Chính phủ chứ không phải là việc của Thủ tướng. Thủ tướng hay Phó thủ tướng chỉ kí khi được nội các gồm Thủ tướng, các Phó thủ tướng, các bộ trưởng thảo luận đồng ý và ra một nghị định hay một quyết định. Trong trường hợp Văn Giang vì tốc độ kính chuyển công văn và kí nhanh đến chóng mặt thì làm gì có chuyện xin ý kiến nội các và như thế chữ kí của Phó Thủ tướng là trái luật.

Việc giao đất ở Văn Giang là trái luật và hệ quả là việc cưỡng chế thu hồi đất ngày 24/4 cũng là trái pháp luật.

Để chắc ăn, luật sư Hải có thư gửi ông Vũ Đức Đam, Bộ trưởng, chủ nhiệm văn phòng chính phủ đề nghị làm rõ tính pháp lí của chữ kí của Phó Thủ tướng Dũng. Rằng có họp nội các và có quyết định gì không mà sao không đăng công báo và không lưu trên Cổng thông tin điện tử của chính phủ. Ôi! Luật sư Hải đã làm khó cho văn phòng chính phủ mất rồi.

Trung ương đang họp và sẽ ra nghị quyết 5 về sửa đổi Hiến pháp. Chẳng có hy vọng gì về chuyện sửa đổi này vì Đảng vẫn ở trên hiến pháp và pháp luật. Chẳng có hy vọng gì các ủy viên Trung ương mà hầu hết là bí thư tỉnh ủy sẽ rút ra được bài học “mất lòng dân” trong vụ Văn Giang vì nghị quyết của Đảng và các lợi ích bản thân thu được từ các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đã dán băng kéo vào miệng họ và đóng đinh vào tư duy giáo điều của họ. Họ đã quên mục tiêu của làm cách mạng xã hôi chủ nghĩa là “người cày có ruộng” thay vào đó là quan chức có nhà cao cửa rộng. Cái đó to hơn nhiều, quan trọng hơn nhiều và át đi tiếng chửi của người dân mà có bao giờ họ tiếp xúc với dân để phải nghe.

Những người mất đất phải ra các thành phố tham gia vào đội quân thất nghiệp, thất học lang thang đầu đường xó chợ, đứng ngồi lam lũ tại các chợ lao động ở vườn hoa chờ người đến thuê làm lao động khổ sai kiếm bữa ăn hàng ngày.

Noi gương người dân Văn Giang xin bà con nông dân đừng tranh đấu nữa. Gần Hà Nội còn bị bóp chết chứ xa như Vụ Bản Nam Định và các nơi khác thì chả ai thương bà con mình đâu. Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là như thế đó. Hãy ráng chờ khi xong giai đoạn quá độ khoảng một vài trăm năm nữa khi Đảng ta xây dựng xong thế giới đại đồng hưởng theo nhu cầu, bà con sẽ có đầy đủ nhà lầu xe hơi suốt ngày ăn diện chả phải lo làm ăn gì cả. Nghĩ đến tương lai tươi sáng đó mà bỗng muốn khóc hu...hu... vì lúc đó tôi và các ủy viên Trung ương, ủy viên Bộ chính trị đều chết ngóm từ đời tám hoánh nào rồi.

Nhưng họ đã và đang chuẩn bị một thế hệ “thái tử đỏ” kế cận để thực hiện tiếp cái định hướng mà cha anh chúng mơ mộng. Song tấm gương phản diện Bạc Hy Lai đang sờ sờ ra đó.

Hồ Gươm gửi hôm Thứ Bảy, 12/05/2012

© Lương Kháu Lão
Theo blog Lương Kháu Lão





* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Những nông dân mồ côi

Quê nội mình ở Nam Định. Huyện Mỹ Lộc, xã Mỹ Tiến. Tên làng hay bắt đầu bằng chữ La. Làng mình là La Xá. Mỹ Lộc cùng với các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường nằm trong vùng đồng bằng thấp trũng. Không hiểu sao đến giờ mình vẫn nhớ hình ảnh lúc 3, 4 tuổi mặc váy trắng về thăm quê vào mùa nước. Nước ngập úng làng, úng đồng nên cả nhà phải lên thuyền nan để bơi từ quốc lộ vào làng. Mình đang ngủ dở giấc trên ô tô thì bố đánh thức dậy. Mình ngước nhìn ra thấy thuyền nan đã dậu sát bên cạnh và cánh đồng nước mênh mông nên thích thú vô cùng, tỉnh cả ngủ. Trên thuyền từ quốc lộ vào làng mình thò tay vớt nước đồng lên chơi. Nhớ như in nước ngấp nghé mạn thuyền…Không biết vì lẽ gì mình nhớ hình ảnh đó đến lúc này? Cả vệt nắng nhạt hôm đó. Nước mênh mông, váy trắng, tay té nước…Giống như phim âm bản sắc nét. Chỉ thế thôi cũng đủ chạm khắc vào kí ức mình bức tranh đồng chiêm trũng quê nội. Sau này thì hay đùa, mình là dân cầu tõm. Quả thật làng mình nhiều ao vô kể. Đi đến đâu cũng gặp ao là ao. Từ nhà này sang nhà kia men theo các bờ ao như lối nhỏ. Niềm hạnh phúc của mình mỗi khi về quê là được cầm cần câu ra bờ ao cạnh nhà bà mà bố mình gọi là dì ngồi bên gốc sung. Có khi cả ngày chỉ câu được hai, ba con cá rô ron nấu canh rau ngót hái vườn nhà mà thích như ăn đại tiệc. Rảnh hơn thì được theo ông ra trại chăn nuôi hợp tác xã xem lợn, bò, hái chuối, tắm ao…Sáng ngủ dậy bao giờ bên hiên nhà cũng có mẹt khoai luộc và ấm tích chè xanh hãm sẵn. Thời đó nghèo, ăn khoai sáng và cơm gạo mới đãi khách thủ đô vào trưa chiều mà như thể cổ tích với đám trẻ tụi mình. Chạy loăng quăng, hò hét với đám trẻ, cả chửi tục nữa rồi về nhà bà được ăn thịt gà, canh rau ngót nấu rô ron…Không thể kiếm được ngoài Hà Nội cảm xúc dạt dào đó.

Bố mình mồ côi cha mẹ từ sớm và chả còn đất hương hoả nên mỗi lần về chỉ ở nhà mấy ông bà, chú thím họ hàng bên nội, ngoại của bố. Thời ấy về quê, mình vẫn còn thấy lớp học xiêu vẹo đầu làng mà bố học lúc còn nhỏ, dưới gốc đa. Giờ cây đa đã chết, lớp học cũng đổ nát từ bao giờ…Cây hồng mà bố bảo hay trèo ăn khi đói cũng đã chết già. Đình làng đã sửa sang như mới. Bố bảo cụ kỵ gì của bố được ghi danh trên bia đá ở đình. Bố có vẻ tự hào về chuyện đó lắm. Hỏi thêm chả biết. Nhưng lòng tự hào thì không suy suyển. Mình cứ hay trêu bố về chuyện này. Nhưng giờ có tuổi mình mới hiểu…

Ngôi nhà cũ người đã đi xa...
Bố chỉ có một người em trai. Trong một entry mình có kể việc chú đi bộ đội và hy sinh. Chính xác là ngay trên cánh đồng Vụ Bản năm 1947 vào mùa nước úng. Những người bà con còn sống kể là chú cao 1,80 mét, tóc hoe, da trắng bóc, mũi lõ nên người làng gọi chú là tây lai. Sau này mộ chú chìm trong đất và nước nên không tìm được. Chả biết mộ chú có nằm trong khu vực vừa bị cưỡng chế không nhỉ? Hy vọng là không…Trong nghĩa trang xã có mộ gió của chú mà lần nào về quê cũng ra đấy thắp hương khấn vái thành tâm lắm tuy dưới lòng đất chả có gì. Lại nói về nghĩa trang xã, những người hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ thì được ghi rành mạch, còn hy sinh từ năm 1978 trở đi thì chỉ ghi vì “xây dựng và bảo vệ tổ quốc”…

Phía tây và nam của Mỹ Lộc đều tiếp giáp với Vụ Bản. Có lẽ vì thế mà mình hay nghe bố nhắc đến Vụ Bản. Lúc bố còn sống chả mấy khi để ý Vụ Bản ở đâu, thế nào? Nhưng giờ chuyện xưa cũ của bố bỗng vọt ra khỏi kí ức: nào là ngày trước tên huỵên là Thiên Bản. Huyện này có nhiều danh nhân nổi tiếng như trạng nguyên Lương Thế Vinh, nhà thơ Nguyễn Bính, nhạc sỹ Văn Cao…Kể tên những danh nhân này, bố tự hào như thể là họ hàng của bố. Gần đây thì rộ chuyện lễ bái nên Vụ Bản càng nổi tiếng với Phủ Dầy (từ mùng 1 đến 10 tháng 3 âm lịch, chính hội vào tối mùng 5); chở Viềng (đêm 7 và ngày mùng 8 tết)…Giờ bố không còn nên chả hỏi được những chuyện sống men theo trí nhớ con người, mà anh Gúc gồ danh tiếng lừng lẫy cũng chịu thua. Hoá ra Vụ Bản có từ thời Hùng Vương, huyện tên Bình Chương thuộc bộ Lục Hải. Thời Hán thuộc quận Giao Chỉ. Trước thời Lý - Trần, đất này nằm trong huyện Hiển Khánh. Thời Lý huyện Thiên Bản nằm trong phủ Ứng Phong. Đời Trần huyện Thiên Bản thuộc phủ Kiến Hưng. Năm Vĩnh Lạc thứ năm (1407), nhà Minh đổi thành huyện Yên Bản thuộc phủ Kiến Bình. Đến đời Lê Thánh Tông lại đổi thành huyện Thiên Bản. Cũng dưới thời Lê Hồng Đức, huyện Thiên Bản thuộc phủ Nghĩa Hưng. Đến thời Nguyễn, Tự Đắc năm thứ 14 (1861) đổi tên thành huyện Vụ Bản và giữ cho đến ngày nay. Huyện Vụ Bản nằm về phía bắc Nam Định, thuộc vùng đất cổ. Đất đai tương đối ổn định.

Đình làng
Dọc phía tây có các dãy núi đất lẫn đá chạy từ bắc xuống nam với sáu ngọn: núi Ngăm, núi Tiên Hương, núi Báng, núi Lê, núi Gôi và núi Hổ. Dấu vết người nguyên thuỷ tìm thấy tại các khu vực núi này minh chứng Vụ Bản là một trong những cái nôi sinh ngụ của người Việt cổ. Vụ Bản nằm kẹp giữa sông Đào và sông Sắt. Sông Đào một đầu nối với Sông Hồng, đầu kia đổ ra sông Đáy. Sông Sắt nối liền sông Châu với sông Đáy. Mảnh đất này chính là do phù sa sông Hồng và sông Đáy bồi tụ nên. Huyện Vụ Bản là vùng đất có truyền thống hiếu học, nhiều người đã đỗ đạt cao, có danh vọng, đóng góp vào kho tàng văn hoá của dân tộc. Trong suốt thời kỳ khoa cử của chế độ phong kiến Việt Nam, Vụ Bản có 16 vị đỗ Tiến sĩ, Thám hoa, Bảng nhã, Trạng nguyên…Lừng lẫy thế kia mà…
Mái tranh ơi hỡi mái tranh/Trải bao mưa nắng mà thành quê hương (Trần Đăng Khoa)
Giờ Vụ Bản đang nổi tiếng vì lẽ không ai muốn…

Vậy là sau sự kiện Tiên Lãng chưa lâu, đã có thêm hai nơi cưỡng chế khiến dư luận nổi giận là Văn Giang và Vụ Bản. Ừ, nhưng rồi tự hỏi: ai người ta quan tâm đến sự nổi giận này? Ở Tiên Lãng khi cưỡng chế chưa có đánh hội đồng, chỉ vì phẫn uất không biết kêu đâu cho thấu oan ức nên anh Vươn đã nổ súng. Tiếng súng của người nông dân dũng cảm, yêu đất đai đến mức dám hy sinh bản thân mình. Giờ không biết ngồi trong nhà lao anh Vươn có ân hận về việc này không? Hy vọng là không…Còn những người nông dân Văn Giang và Vụ Bản thì đã không dám (không thể) nổ súng thì phải ăn đòn gậy. Đây là bạo lực cách mạng? Là mâu thuẫn giai cấp? Là cách giải quyết mối quan hệ búa-liềm, nòng cốt của cách mạng như thế này sao?

Mình lo cho quê mình vì Mỹ Lộc rất gần thành phố Nam Định như Vụ Bản. Vụ Bản bị lấy đất thì Mỹ Lộc có thể trong tương lai gần? Từ thời bố mình lớn lên thì nhà mình đã không còn đất đai ở quê, chỉ duy nhất khu mộ các cụ, ông bà là nguyên cớ để con cháu dắt díu về quê thăm viếng hằng năm. Những ngôi mộ sẽ bị lật tung phơi xương trắng đồng như ở Văn Giang chăng? Không biết nữa…Đã nghe hơi kim tiền, hơi đạn cay, mùi thuốc súng đâu đây vì những cánh đồng ngút ngàn bên đường quốc lộ rất tiện giao thông. Nhà đầu tư chả mất công làm đường và có ngay hạ tầng tiện cho sản xuất, chi phí thấp nhất, lãi nhiều nhất. Và mình còn biết một điều nông dân nơi này chỉ trông vào cánh đồng, dù là chiêm trũng để kiếm ăn bao đời, ngoài ra không có nghề phụ nào khác. Quê mình bao năm vẫn nghèo nhưng không chết đói vì còn đất đai. Giờ mất đất thì thành dân đói là không thể tránh. Sẽ vài người giàu, rất giàu. Và rất nhiều nông dân nghèo, rất nghèo, bần cùng, khốn nạn…Sẽ nhiều anh Pha, chị Dậu trong nay mai. Và như thế sẽ có sự phản kháng trong tương lai gần cũng là tất yếu.

Bởi miếng ăn cũng khiến người ta có thể chối bỏ một chính thể đã bạo ngược tước đi công cụ kiếm sống của họ. Chính quyền đã biến rất nhiều nông dân thành mồ côi vì với họ đất đai là Mẹ. Giờ người Mẹ đó đã bị cưỡng chế buộc rời khỏi đứa con luôn cần sự lo toan, chăm sóc, bú mớm của Bà nên những đứa con đó thành mồ côi đói ăn, đói mặc, khéo hoá ra ăn mày hết cả. Hơn thế dùi cui, súng đạn, bạo lực đã vụt tan nát và dày xéo miền kí ức của rất nhiều người dân sống đời kiếp gắn bó với vùng quê họ. Vết thương này mới thực sự lâu lành vì nó ở sâu lắm trong tiềm thức. Quê hương, rộng hơn là tình yêu đất nước có khi chỉ bắt đầu từ kỉ niệm vào cái ngày ngồi thuyền về quê chơi mùa úng lụt như mình. Có khi chỉ từ niềm tự hào mơ hồ nhưng sâu đậm với cái tên cũng mơ hồ không kém đục trên bia đá đình làng như bố mình. Nay miền kí ức bất khả xâm phạm ấy của rất nhiều người gắn bó với ruộng đồng đã bị bắn phá tan hoang. Đã đến tới hạn của sự chịu đựng chưa nhỉ?

Ăn mày khổ lắm ai ơi!
Đói cơm, rách áo hoá ra ăn mày.

© Thùy Linh
Theo blog Thùy Linh



* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Nghị quyết trung ương 4: Sự khốn cùng của (phương pháp) cách mạng

Việc Đảng CSVN ra nghị quyết trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay”, nhìn từ một số tiên đề xuất phát, là:

1) Một việc cấp bách, cần thiết phải làm vì những nguyên nhân được nêu trong mục I của văn bản Nghị quyết.

2) Một công cụ lãnh đạo tầm chính sách nhằm đạt các kết quả kỳ vọng được nói trong phần Mục tiêu của Nghị quyết.

3) Một cách phủ dụ nhân dân để củng cố niềm tin vào Đảng, vốn đã sa sút đến mức tận cùng.

4) Một cách tạo nên tính chính danh của cuộc đấu đá nội bộ nhằm cấu trúc lại phân công quyền lực, lợi ích của các thiết chế trong hệ thống chính trị, các nhóm, các êkip đã hình thành trên nền tảng lợi ích, kể cả quyền lợi truyền thừa các vị trí lãnh đạo trong tương lai cho đường dây gia tộc, thân hữu.

Tuy nhiên, cũng từ những ngụ ý đó của việc ra Nghị quyết, đã cho thấy sự mâu thuẫn, lúng túng, khủng hoảng và khốn cùng của phương pháp lãnh đạo.

Trước hết, Nghị quyết trung ương 4, dù được giải thích như là việc thường xuyên trong công tác xây dựng đảng, song qua đó đã thừa nhận sự thất bại sau tất cả cố gắng thường xuyên của công tác này. Khi khẳng định “Từ khi thực hiện đường lối đổi mới.... đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng” (văn bản nghị quyết), “Từ trước đến nay, Đảng ta luôn luôn quan tâm đến công tác xây dựng Đảng. Đã có không ít các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về xây dựng Đảng. Các Cương lĩnh, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc đều có đề cập đến công tác xây dựng Đảng; có đại hội có báo cáo riêng về xây dựng Đảng. Chỉ tính từ Đại hội VI đến nay, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành 8 nghị quyết, Bộ Chính trị ban hành 6 nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng. Ban Bí thư khoá VII đã chỉ đạo tiến hành tổng kết 20 năm xây dựng Đảng thời kỳ 1975 - 1995; Ban Bí thư khóa IX chỉ đạo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới (1986 - 2006), trong đó có phần về xây dựng Đảng” (Phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng trong hội nghị quán triệt nghị quyết cấp trung ương), nhưng “công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém , khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm khắc phục...”. “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên... suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống...” (trích văn bản nghị quyết), đảng đã thừa nhận, như được phân tích trong phần nguyên nhân chủ quan của văn bản nghị quyết, rằng toàn bộ quá trình xây dựng, chỉnh đốn đảng từ trước đến nay đã thất bại hoàn toàn. Bởi lẽ, nếu không thất bại, những thành công, kết quả tích lũy của công tác này qua từng giai đoạn sẽ không cho phép xảy ra tình trạng yếu kém, khuyết điểm lại ngày càng nặng hơn.

Sự thất bại đó, cùng với những phân tích trong đoạn nguyên nhân chủ quan nói trên của nghị quyết, có thể khái quát chung thành những khủng hoảng về phương pháp lãnh đạo, tổ chức, xây dựng đảng và giáo dục đảng viên như sau:

1. Sự tự giác chấp hành, tu dưỡng, rèn luyện của đảng viên đối với các yêu cầu của đạo đức cách mạng, tính đảng vô sản, điều lệ, qui định, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước để tự hoàn chỉnh, hoàn thiện mình trở thành đảng viên tốt, công dân tốt, hết lòng phụng sự tổ quốc, nhân dân là không có, không đầy đủ xét trong nhân cách của từng người và tỉ lệ về lượng trong tổng số đảng viên. Con đường giáo dục theo nguyên tắc lêninít này cho chính đảng cộng sản để dẫn dắt đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản đã phá sản và trở thành ảo tưởng của một biểu hiện về văn hóa, của kỳ vọng nhân văn chủ nghĩa trong một thời kỳ lịch sử lãng mạn bi đát. Sức đề kháng cộng sản của đảng viên là không có thật; con người, trước hết là con người và cuối cùng cũng là con người. Có thể, một lúc nào đó, người con vì đảng mà đứng lên tố thằng cha của mình; song hành vi đó khó và không thể trở thành bản chất, hiểu theo nghĩa bản chất được hình hành theo thiết kế của mô hình chính trị - xã hội.

2. Các nguyên tắc sinh hoạt đảng về tự phê bình và phê bình, về tập trung dân chủ và các yêu cầu về thiết lập những mối quan hệ xã hội mới giữa đảng viên với đảng viên, giữa từng đảng viên với đảng có tính chất duy đức, duy cảm đã chịu thất bại. Công cụ để quảng canh sản phẩm con người hàng loạt, đồng phục theo “tổng hòa các mối quan hệ xã hội” mới không đạt yêu cầu.

3. Điều lệ đảng, và kể cả Qui định về những điều đảng viên không được làm – một loại văn bản vi hiến, kém văn minh, đã không có hiệu lực gì đối với việc giáo dục đảng viên và xây dựng đảng.

4. Hệ thống ủy ban kiểm tra các cấp và công tác kiểm tra của đảng không có tác dụng, không góp phần được bao nhiêu đối với yêu cầu quản lý, xử lý, giáo dục đảng viên và xây dựng đảng. Trong một số trường hợp, các hành vi tiêu cực (tham nhũng, bao che...) lại nảy sinh từ quá trình công tác kiểm tra.

5. Sự can thiệp của luật pháp vào tổ chức đảng, hoạt động của đảng và đảng viên là không được, bị hạn chế, không hiệu quả và có lúc bị cố ý vô hiệu hóa một cách lạc hậu và hình thức (chẳng hạn khai trừ đảng đối với đảng viên bị truy tố trước khi ra tòa) dẫn đến những hệ lụy rất tiêu cực. Nói cách khác, quá trình chuyển mối quan hệ giữa đảng với nhà nước và toàn bộ các thiết chế xã hội khác, xác định tọa độ của đảng về mặt luật pháp và tọa độ pháp lý của cá nhân đảng viên – công dân theo yêu cầu pháp quyền hóa các mối quan hệ xã hội không được thực hiện một cách đồng bộ, đầy đủ; cơ chế đảng trị, đức trị kiểu của đảng, đảng đứng trên luật pháp, đảng can thiệp vào luật pháp vẫn còn quá rõ và cũng là nguyên nhân tạo ra các nguyên nhân được nêu trong nghị quyết. Về thực tiễn, đã được lý thuyết hóa, pháp luật Việt Nam hiện hành không can thiệp được vào đảng viên, tổ chức đảng và các hoạt động của đảng (kể cả hoạt động kinh tế, các can thiệp của đảng vào đảng viên với tư cách là thực thể công dân, cá nhân được luật pháp bảo vệ).

Những khái quát nói trên, tựu trung, chứng minh sự phá sản trong tư duy và lý thuyết, học thuyết của đảng cộng sản về con người, nhân cách, về khoa học xây dựng con người, xây dựng xã hội và xây dựng chính mình với tư cách là một tổ chức chính trị, một chính đảng. Sự phá sản này có tính phổ biến, bắt đầu từ những quan niệm của Marx quá đơn giản về con người, về quan hệ giữa con người và chủ nghĩa cộng sản, từ sự hãnh tiến, kiêu ngạo của Lênin và những học trò sau đó của ông sau thắng lợi của cách mạng xô viết ở Nga, vốn đã là một sự vượt ra ngoài qui luật dự báo của Marx, bị bạo lực hóa, quân sự hóa triệt để để tiếp tục mở rộng, phát triển từ 1945 đến thập kỷ 80 thế kỷ XX trong những hoàn cảnh chính trị đặc thù và phần lớn là phi marxist, từ thất bại, khủng hoảng và sụp đổ một cách có hệ thống của các thể chế chính trị mệnh danh là xã hội chủ nghĩa cũng trong một hiện tượng chính trị thế giới mệnh danh là hệ thống. Sự thăng trầm của giấc mơ xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa đó gắn liền và xuất phát một cách biện chứng với sự lầm lạc về quan niệm con người của chủ nghĩa Mác – Lênin được khái quát trong Tuyên ngôn của đảng cộng sản như một niềm tin tôn giáo.

Từ trong sự phá sản, khủng hoảng đó, vốn đã được lãnh đạo của đảng hiểu được trong cách nói hiểu bệnh, bắt mạch, ra toa, bốc thuốc, trị bệnh v.v...

Đúng ra là phải thay đổi phương thức đi, đảng vẫn kiên trì ra một nghị quyết mà tính khủng hoảng, phá sản thấy được ngay trong sự sinh thành và cả dự báo kết quả của nó.

1. Về mặt logic, để ra một nghị quyết có nội dung như nghị quyết 4 – xây dựng, chỉnh đốn đảng, kiểm điểm, phê bình, vạch ra và xử lý cái sai; qua đó có thể phát hiện những cá nhân vi phạm về tư tưởng chính trị, đạo đức, tham nhũng, quan liêu v.v.., chủ thể ra nghị quyết được giả định không thể là đối tương bị vi phạm đó. Không ai lại phấn khởi tạo ra một công cụ chế tài để xử lý những việc của chính mình mà cũng chính mình đã nhận ra, muốn được chế tài để tốt hơn. Thế nhưng, như nghị quyết chỉ ra, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã vi phạm. Vậy thì bộ phận nhỏ đó ở đâu, khi mà chính TBT sau đó là phần lớn cán bộ, đảng viên và nhân dân rất hồ hởi đón nhận nghị quyết? Đã khẳng định như vậy, chắc chắn TBT có thể chỉ ra được bộ phận này; BCH trung ương khi biểu quyết nghị quyết cũng chỉ ra được bộ phận này; Ban Tổ chức trung ương, đứng đầu là Trưởng ban, khi xác định suy thoái về đạo đức, lối sống “là sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống ích kỷ, thực dụng, vụ lợi, lo vun vén cho bản thân và gia đình, không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, để vợ (chồng), con và người thân lợi dụng chức quyền của mình để trục lợi, tiến thân; là cơ hội, hám danh, chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp...; là đố kỵ, kèn cựa địa vị, cục bộ, bè phái, gây mất đoàn kết trong Đảng; là quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, nỗi khổ của nhân dân, bất chấp đạo lý, dư luận vì lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm; là kiêu ngạo, tự phụ, gia trưởng, độc đoán, tùy tiện, vô tổ chức, tham nhũng, lãng phí, sống xa hoa, hưởng lạc” (trích hướng dẫn số 11 ngày 14/3/2012 của Ban Tổ chức trung ương) tất nhiên có thể chỉ ra chủ thể của những vi phạm đó. Tại sao lại không làm cái công việc chỉ ra để xử lý, đỡ phải tốn quá nhiều thời gian họp hội và tiêu tốn tiền của của dân ? Hay đó cũng là một kiểu bao che, vi phạm chính Qui định những điều đảng viên không được làm?

Suy cho cùng, trước hết, đây cũng là một khủng hoảng kiểu người bệnh tự chẩn bệnh và bốc thuốc chữa bệnh; là một kiểu tát nước cứu thuyền thủng do chính mình làm thủng.

2. Về phương pháp, trong 4 nhóm giải pháp, đảng vẫn trở lại những bổn cũ đã dùng và vô hiệu: tự giác, tự soi mình, tự nhìn mình, làm gương, tự phê bình, phê bình, kiểm điểm cùng với những việc khác như các cơ chế chính sách, công tác cán bộ, công tác kiểm tra, chế độ sinh hoạt đảng, thông tin tuyên truyền, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh v.v...

Có khác chăng chút ít, như quá trình tuyên truyền nghị quyết đã nhấn mạnh, là qui trình kiểm điểm, phê bình làm từ trên xuống; cấp trên thực hiện trước để làm gương và việc lấy ý kiến nhận xét của các tập thể, cá nhân ngoài tổ chức đảng của người kiểm điểm, kể cả ý kiến của số cán bộ đã nghỉ hưu.

Tuy nhiên, sự lúng túng cũng thể hiện ngay trong những cái khác này. Cho đến nay, chưa có phương án nào chỉ rõ cách thức làm gương của cấp trên đối với cấp dưới, ngoài cái thứ tự trước – sau. Kết quả kiểm điểm của cấp trên không được thông báo cho cấp dưới. Hơn nữa, chất lượng của việc kiểm điểm không hoàn toàn phụ thuộc vào cái thứ tự trước – sau: có những vi phạm của cấp dưới có nguyên nhân, có sự tham gia, chia chác, chỉ đạo từ cấp trên.

Việc lấy ý kiến của số cán bộ lão thành, cán bộ nghỉ hưu cũng vậy. Ngoài tác dụng trấn an, phủ dụ các cụ, cách làm này cũng sẽ tạo nên một sự đấu đá thế hệ dữ dội, thậm chí là trả thù nhau, nếu phiếu ý kiến của các cụ được ghi nhận, xử lý đầy đủ. Lý do thì ai cũng biết, trong hoàn cảnh Việt Nam. Có lẽ đây là lần đầu tiên đảng, trực tiếp là TBT, huy động và kích hoạt lực lượng này tham chiến.

Cùng với sự lúng túng trong phương pháp, các phương châm triển khai nghị quyết lại như một thức bòng bong rối mù. Văn bản nghị quyết viết “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh...đồng bộ, có trọng tâm...kết hợp “chống và xây”, “xây và chống”...kiên quyết, kiên trì...làm từng bước vững chắc...bình tĩnh, tỉnh táo, không nóng vội, cực đoan, đồng thời không để rơi vào trì trệ, hình thức... giữ đúng nguyên tắc (không nói rõ nguyên tắc gì – XT), không để các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội lợi dụng...”.

Hướng dẫn số 11-HD/BTCTW ngày 14/3/2012 của Ban Tổ chức trung ương lại càng cẩn thận, chi tiết hơn cả nghị quyết của tập thể Ban chấp hành:

“tiến hành nghiêm túc, thận trọng, làm đến đâu chắc đến đó...khắc phục tình trạng xuê xoa, nễ nang cũng như lợi dụng để “đấu đá”, trù dập, vu cáo lẫn nhau với những động cơ không trong sáng”...,“ tiến hành kiểm điểm với phương châm phòng ngừa, ngăn chặn, “trị bệnh cứu người”, giúp nhau cùng tiến bộ, vì sự trong sạch, vững mạnh của mỗi cá nhân, tổ chức và sự nghiệp chung của Đảng... không chủ quan, nóng vội, máy móc, cứng nhắc”.

Sự ràng buộc bởi các phương châm đó, cuối cùng cũng chỉ tạo ra những chỉ dẫn cho một cách làm cũ kỹ, vô hiệu, sẽ tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc và có khi cũng chỉ có cái tốn kém đó là rõ nhất. Đến nay các cấp đã làm xong việc phổ biến, quán triệt nghị quyết và kế hoạch thực hiện và bắt đầu giai đoạn lấy ý kiến. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, mỗi cấp, theo thời gian qui định, độc lập thực hiện việc của cấp mình một cách âm thầm, không có thông tin gì về việc làm gương. Phần quảng bá cho việc triển khai nghị quyết trên các phương tiện thông tin đại chúng rất mờ nhạt, nghèo nàn vì không có tin tức, thời sự công khai. Tuy hướng dẫn là làm kiên trì, từng bước thận trọng, làm đâu chắc đó và thường xuyên nhưng tất cả đều phải kết thúc vào tháng 11/2012 và không biết sau đó sẽ làm gì. Một điểm cũng rất mù mờ khác làm cho việc tự kiểm điểm của các tập thể, cá nhân lúng túng là nghị quyết không xác định thời gian của nội dung kiểm điểm (năm, nhiệm kỳ hay cả đời); sự cố tình tránh đi mốc thời gian kiểm điểm có khi là một khía cạnh hài hước của một cuộc vận động được xem như hết sức nghiêm túc này.

Vì tất cả những hàm ý về khủng hoảng, khốn cùng của phương pháp lãnh đạo cách mạng đó, cho đến nay, trong phát ngôn của các vị lãnh đạo cao nhất tại các cuộc họp, các chuyến làm việc ngành, cơ quan đơn vị và địa phương, chủ đề nghị quyết không được mặn mà gì lắm và có vẻ trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Trong 4 vị tứ trụ, Thủ tướng và Chủ tịch Quốc hội hình như chưa có phát biểu gì rõ, có ấn tượng về nghị quyết. Chủ tịch nước, trong cuộc tiếp xúc cử tri ngày 2/5 tại Tp Hồ Chí Minh, khi trả lời báo Tuổi trẻ, đã nói: “Chúng ta đang nói đến “một bộ phận không nhỏ...” thì bộ phận này ở đâu phải được chỉ ra cụ thể. Nhóm lợi ích nằm ở đâu cũng phải được chỉ ra, “nếu cuối nhiệm kỳ này, trung ương công bố rằng việc thực hiện nghị quyết trung ương 4 thật tốt, nhưng tham nhũng, lãng phí không giảm là không thành công..., nếu như trung ương lãnh đạo chống tham nhũng, lãng phí trong nhiệm kỳ không làm giảm đi, không đẩy lùi được thì cũng có nghĩa nghị quyết trung ương 4 không thành công. Nếu không muốn nói là thất bại.” Thế nhưng, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, phát biểu sau đó một vài ngày, lại có ý rằng không phải phát hiện được nhiều vụ tham nhũng là thực hiện nghị quyết thành công. Không biết nên hiểu từ đâu và như thế nào.

© Xích Tử
Theo dân Luận


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Tôi đi biểu tình ở Philippines


Khó mà so sánh cảm giác khi đứng giữa đoàn biểu tình phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc ở trung tâm tài chính Makati, thủ đô Manila, Philippines, và cảm giác của những ngày hè rực lửa năm ngoái ở bờ hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội.


Nhìn các bạn xung quanh hét vang trời "China Back Off - Back Off" thật mạnh mẽ và khí thế, tôi nhớ tiếng hô giữa lòng Hà Nội vào đầu tháng 8 năm ngoái, "Phản đối Trung Quốc xâm lược - Phản đối, phản đối". Tự nhiên thấy mũi cay cay, nước mắt cứ chực trào ra.

Có thể không ai hiểu được cảm giác đó của tôi, cũng như anh bạn người Đức đi bên cạnh an ủi: "Đừng khóc, phải đứng thẳng để hô thay cho các bạn Việt Nam khác chứ!".

Bạn tôi biết, hôm nay tôi đi biểu tình thay cho rất nhiều người bạn ở nhà.

Trước khi đi anh bạn tôi có nói: "Rồi em sẽ thấy, biểu tình ở xứ tự do nó khác xa với lần em đi tham gia ở nhà. Ở đây, bày tỏ chính kiến và thái độ đối với quốc gia là điều vui vẻ nhất".

Và quả đúng như vậy, người Phi hô khẩu hiệu mạnh mẽ, dứt khoát, và họ cũng hát hò, nhảy múa để bày tỏ lòng yêu chuộng hòa bình của mình.




"Biểu tình không phải là hành vi quá khích, biểu tình là quyền bày tỏ thái độ của con người. Tại sao chính phủ Việt Nam lại cấm công dân mình yêu nước?" - Florenz đã hỏi với tôi khi nghe tôi bảo rằng, tôi có mặt ở đây vì những người ngư dân Lý Sơn mà tôi đã gặp, vì những người bạn tôi đã bị bắt giam, và vì chính bản thân tôi đã bị giữ trái phép ở đồn công an hơn một ngày khi tôi tuyên bố "Với trách nhiệm của một công dân, tôi sẽ đi biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược" vào ngày 5/06/2011 tại Sài Gòn.


Người Phi không biểu tình vì muốn làm gia tăng căng thẳng trong mối quan hệ ngoại giao.

Họ biểu tình vì tình yêu với đất nước mình, và để chứng minh cho Trung Quốc thấy, họ yêu hòa bình và đòi hỏi công bằng bằng luật pháp quốc tế.

Họ đã cười khi Trung Quốc đưa ra các cảnh báo với công dân của mình không nên đi một mình ở Manila vào trưa hôm nay ngày 11/05/2012.






Lãnh sự quán vắng lặng, không có cảnh các nhân viên an ninh thường phục lom lom chỉa máy quay phim chụp hình vào đám đông biểu tình, không có hàng rào và các biển cấm chụp hình.

Lực lượng cảnh sát đứng đằng sau và trước đoàn biểu tình từ nhiều phía để làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự giao thông.



Một anh cảnh sát dẫn tôi băng qua đường để đi vào đám đông khi anh bạn tôi đẩy tôi ra phía trước: "Quỳnh, em phải đi vào chỗ kia kìa. Chụp hình nhiêu đó đủ rồi, em cần đứng trong biển người đó, mới cảm nhận được hết cảm giác của hôm nay". Và quả thật, tôi thấy mình sắp khóc mấy lần khi đứng giữa đoàn biểu tình ở Philippines mà mơ về Việt Nam.

Đứng giữa Manila tôi biết rằng mình có mặt hôm nay ở đây để thấy rằng từ trước đến giờ tôi chỉ hiểu thế nào là tự do nhưng không thật sự cảm được tự do.

Tôi nghiệm ra rằng: lòng tự hào dân tộc là thứ mà dân tộc tôi không thiếu, nhưng tự do để bày tỏ nó công khai thì lại vô cùng thiếu thốn.


Nhìn những người bạn Phi, tôi đau đớn nhận ra rằng lòng tự hào dân tộc của đồng bào tôi đã và đang bị bỏ tù. Và chính vì như thế nó không còn vẹn nguyên, nó chỉ còn là một niềm tự hào dân tộc bị tật nguyền.

© Mẹ Nấm (Nguyễn Ngọc Như Quỳnh)
Theo Blog Mẹ Nấm


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Tin tức về Linh mục Nguyễn Văn Lý trong nhà tù Cộng sản

Chuyến thăm Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý ngày 04-5-2012

Chiều ngày 4 tháng 5, anh Nguyễn Công Hoàng -cháu gọi Linh mục Lý bằng chú ruột và cư trú tại huyện Quảng Biên, tỉnh Đồng Nai- đến trại giam Nam Hà (còn gọi là trại Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) bằng xe Honda thồ lúc 14g30. Nộp giấy xin thăm nuôi ở cổng, anh vào nhà khách ngồi chờ. Gần 1g sau anh mới được cán bộ phụ trách mời vào hội trường bên trong trại để gặp chú ruột. Vốn là nơi sinh hoạt, hội họp của cán bộ trại, hội trường này cũng được làm nơi cho thân nhân của Lm Lý thăm gặp từ lúc ông bị bệnh bại liệt tới nay. Ngồi chờ vài phút thì thấy vị tù nhân lương tâm được một cán bộ chở ra bằng xe máy chứ không đi bộ như bao lần trước. Sở dĩ thế là vì trời đã về chiều. Vào phòng, hai chú cháu ngồi đối diện nhau nói chuyện, một cán bộ ngồi đầu bàn làm công tác theo dõi.

Sau phần thông tin về gia đình như thường lệ, Lm Lý cho biết:

1- Ngày 27 tháng 4 vừa rồi, có phái đoàn của chính phủ Úc đến thăm linh mục. Đoàn gồm 6 người (chưa kể cô thông dịch viên), trong số đó có vị phó đại sứ ở VN, còn các vị khác phụ trách Nhân quyền đến từ Úc. Được hỏi về tình hình sức khoẻ, vị tù nhân lương tâm cho biết: thời gian sau này, ông khước từ chăm sóc y tế của trại và cũng chẳng dùng thuốc điều trị do gia đình mang ra, nhưng sức khoẻ vẫn tốt, nhất là đã tự quỳ gối được bằng chân phải vốn bị liệt mấy năm rồi. Và từ lúc quỳ gối lại được, thì khi bắt đầu giờ cầu nguyện sáng sớm mỗi ngày, ông đều cúi xuống hôn đất nhà tù như hôn nhiệm sở mà Thiên Chúa gởi ông đến. Rồi vị linh mục đã biểu diễn cho phái đoàn xem. (Cha Lý nói thêm riêng với người cháu: sau này, nếu đoạn phim -mà lúc ấy có nhiều người quay- được ai đó đưa lên mạng với những lời diễn giải theo ý xuyên tạc thì mặc kệ họ). Ông cũng đưa tay phải từng bị liệt lên và viết cho phái đoàn xem.

a/ Phái đoàn có hỏi: Linh mục đã đấu tranh, đòi hỏi tự do tôn giáo suốt mấy chục năm qua, linh mục thấy đã có những tiến bộ nào? Cha Lý trả lời: Chưa có tiến bộ nào cả! Dĩ nhiên lúc này nhiều thánh thất, chùa chiền, nhà thờ được xây to đẹp hơn, lễ hội được tổ chức hoành tráng hơn… nhưng đó là cái mã bên ngoài, chỉ tô đẹp cho chế độ. Tự do tôn giáo đúng nghĩa, đúng bản chất vẫn chưa có, bởi lẽ cho đến nay, các giáo hội vẫn không thể tự do và độc lập đào tạo các chủng sinh hay tu sĩ, các vị hữu trách cao cấp vẫn chưa có quyền thuyên chuyển chức sắc của mình theo nhu cầu cộng đoàn tôn giáo địa phương, các giám mục trong Công giáo vẫn chỉ được tấn phong với phép của chính phủ, trường tư thục của các tôn giáo vẫn chưa được phép thành lập, các giáo hội vẫn chưa được quyền sở hữu nhà in riêng để ấn hành sách đạo của mình…

b/ Về vấn đề nhân quyền dân chủ, Lm Lý phát biểu: Khi nào hội đủ 3 điều kiện sau đây thì thể chế chính trị Việt Nam mới có thể gọi là có dân chủ nhân quyền: + tự do báo chí tư nhân + tự do bầu chọn lãnh đạo + tách bạch độc lập 3 cơ quan: tư pháp, hành pháp và lập pháp. Quý vị cứ nhìn thể chế chính trị tại quý quốc rồi đối chiếu với thể chế chính trị tại nước chúng tôi thì quý vị sẽ rõ. Muốn thế, đề nghị Quý vị mạnh dạn tiếp xúc với mọi tầng lớp, mọi thành phần dân chúng Việt Nam. Quý vị sẽ thấu hiểu vấn đề dân chủ nhân quyền ở đây như thế nào.

2- Dịp 30 tháng 4 mới rồi, để hiệp thông với và cầu nguyện cho nỗi đau thương của dân tộc, cha Lý đã tuyệt thực suốt ngày hôm đó. Ngoài ra ông còn viết cho cán bộ trại: Đừng có rêu rao là “Ngày Giải phóng miền nam” nữa! Nam Hàn đâu cần Bắc Hàn giải phóng mà nền kinh tế và sự phát triển của Nam Hàn như thế nào, quý vị quá biết rõ! Việc cần làm lúc này là phải cùng nhau bất phân chính kiến, thành lập một liên minh Dân tộc để chung tay gìn giữ biên cương, đất biển mà Trung cộng đã và đang xâm chiếm. Bằng chứng là hiệp định lãnh thổ và lãnh hải năm 1999 và năm 2000. Tổ quốc lâm nguy lắm rồi! Giải phóng là giúp người dân thoát khỏi cảnh đói nghèo, khổ cực, nộ lệ… nhưng mấy mươi năm qua, dân miền Nam được gì từ khi quý vị vào “giải phóng”?

3- Sau cùng, linh mục Lý gởi lời thăm hỏi và cám ơn tất cả bà con, bạn hữu xa gần đã thương mến, cưu mang và hỗ trợ mình từ trước cho đến nay. Ông xin đồng bào luôn hiệp ý hiệp lòng để lo cho quê hương đất nước. Vị tù nhân còn nói thêm trước khi chú cháu giã biệt: Ngoài khách thăm các phái đoàn ngoại quốc và thân nhân ruột thịt, thời gian qua còn có một số linh mục ở Tổng giáo phận Hà Nội và Tổng giáo phận Huế
(dĩ nhiên trong số này không thể có hai chiến hữu là linh mục Nguyễn Hữu Giải và linh mục Phan Văn Lợi).

Nhóm Phóng viên FNA Khối 8406 tường trình từ Huế ngày 10-05-2012 theo lời kể của anh NCH.


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều