Ngày 5-5- 2012, tại cuộc họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Huỳnh Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ có báo cáo riêng gửi đại biểu Quốc hội “việc xử lý, giải quyêt vụ việc ông Đoàn văn Vươn (huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) vì đây là việc nhận được sự quan tâm rất lớn của xã hội và gây nhiều bức xúc trong thời gian qua”. Thiết nghĩ, Quốc hội cần quan tâm hơn đối với vụ cưỡng chế ở Văn Giang ngày 24-4, vì vụ này gây bức xúc đối với người Việt trong và ngoài nước vô cùng nghiêm trọng. Bởi vì, theo ông Nguyễn Khắc Hào, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên báo cáo với Thủ tướng trong hội nghị trực tuyến: “Đây là một trong số ít các vụ khiếu kiện đông người điển hình”, “Có sự móc nối chặt chẽ giữa các phần tử chống đối trong và ngoài nước”, “Có dàn dựng lên các video clip giả để vu khống bôi nhọ chính quyền”. Tuy nhiên,
Tuyên Bố của các trí thức tiêu biểu của đất nước cho rằng, vụ cưỡng chế giải tỏa đất đai bẵng vũ lực ở Văn Giang “đang gây xúc động mạnh mẽ tất cả người Việt Nam có lương tri, dấy lên nỗi lo lắng chưa từng có trong mọi người dân Việt biết ưu tư về vận mệnh đất nước”. Chỉ trong vài ngày có hàng ngàn người hưởng ứng xin ký tên, đặt biệt là bà con nông dân Văn Giang đã vượt qua nỗi sợ hãi. Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội đã viết những câu thơ thâm ưu:
“Người thắng trận này không phải nhân dân.
Dân là vậy,
Chỉ thắng trong trận cuối. Nhưng chính quyền nhân dân thất bại, Khi tấn công những người mình nhân danh”.
Kính thưa Quốc hội, một sự kiện ở tầm vận mệnh đất nước như thế, rất mong phải được kỳ họp này quan tâm mổ xẻ, đem lại hi vọng và niềm tin cho đồng bào, đặc biệt là bà con nông dân đã bị quá nhiều thua thiệt bất công!
Từ các ý kiến tâm huyết, xin kính gửi tới Quốc hội bốn điều bức xúc từ Văn Giang:
I – LUẬT ĐẤT ĐAI SỬA ĐỔI NHẰM ĐÁP ỨNG “NHÓM LỢI ÍCH”?
Kể từ năm 1993, Luật Đất đai được sửa đổi 5 lần. Các điêù khoản thu hồi đất được quy định chặt chẽ ở luật 1993 đã trở nên rắc rối ở Luật 2003. Điều 27, Luật Đất đai 1993 quy định:“Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”. Luật đất đai 2003, tuy rằng ở Điều 40 quy định trong trường hợp “Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế”, Thì “nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất”. Nhưng, tại Điều 39, các công trình đầu tư có “mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng” chỉ được định nghĩa là“những dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt”.
Điều này đã biến “lợi ích của nhà đầu tư” thành “lợi ích quốc gia”. Theo Luật sửa đổi này, Dự án Ecopark ở Văn Giang đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, do vậy nó là “lợi ích quốc gia”. Đó chính là căn cứ để giáo sư Đặng Hùng Võ trả lời đài BBC rằng “Quyết định thu hồi đất ở Văn Giang là đúng Luật”.
Từ khi Luật đất đai sửa đổi 2003 đã có hàng ngàn vụ khiếu nại tố cáo. Khiếu nại, tố cáo về đất đai chiếm 70% số khiếu nại, tố cáo. Điều đó chứng tỏ Luật sửa đổi này không hợp lòng dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa”. Vì không chịu nghe khiếu nại tố cáo của dân chúng cho nên đã xảy ra vụ Đoàn văn Vươn, Văn Giang và nếu không kịp thời sửa đổi thì chắc chắn sẽ còn xảy ra nhiều vụ khác ngày càng nghiêm trọng hơn!
Tại Hội nghị Trung ương 3, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách đầu tư phải có tầm nhìn xa, không bị tư duy nhiệm kỳ, tư tưởng cục bộ, thành tích, chủ quan duy ý chí, hay nhóm lợi ích chi phối”. Luật Đất đai sửa đổi 2003 quả là minh họa cho cái sự thật mà Tổng bí thư cảnh báo: Bị nhóm lợi ích chi phối!
Quốc hội bằng quyền lực nhà nước cao nhất cần có biện pháp khẩn cấp ngăn chặn tai họa
khủng khiếp đối với giai cấp nông dân, cũng là tai họa đối với đất nước. Sự nghiệp đổi mới đã trả lại quyền sở hữu cho các thành phần xã hội, kể cả nhà tư sản; chỉ riêng nông dân vẫn không có quyền sở hữu ngay trên mảnh đất thừa kế của cha ông mình đã đổ mồ hôi, xương máu. Xin Quốc hội xây dựng Luật đất đai mới, trả lại sự công bằng cho giai cấp nông dân, vốn là đội quân chủ lực của cách mạng, dân tộc, dân chủ.
II – 1000 CÔNG AN ĐÁNH ĐẬP 200 NÔNG DÂN, CÓ NGƯỜI GIÀ VÀ PHỤ NỮ.
Nhiều đảng viên, nhà báo kể lại vụ cưỡng chế:
Một bên, khoảng 1000 (UBND Hưng Yên đã xác nhận 1000, nhưng nhiều nguồn tin cho là hơn 2000) công an cảnh sát cơ động, mặc áo chống đạn, có khiên che, có súng, lựu đạn, dùi cui.
Một bên là khoảng 200 nông dân, nhiều người già, phụ nữ tay cầm gậy gộc, gạch vỡ, chai xăng.
7 giờ 30, công an rầm rập xáp tới. Sau khi tung 2 quả lựu đạn, khói mù trời, hằng ngàn dùi quật tới tấp vào những người nông dân khóc la chửi bới, chống cự một cách tuyệt vọng và bỏ chạy!
Thưa Quốc hội,
“Người cày có ruộng!” Giai cấp nông dân trở thành quân chủ lực cách mạng là vì tin theo khẩu hiệu đó của Đảng. Nay bỗng dưng họ bị cưỡng chế tàn bạo ngay trên mảnh ruộng của cha ông mình để lại!
Từ một đứa con nông dân đã có 10 năm mặc áo lính, tôi không khỏi đau lòng khi nhìn thấy hàng ngàn cảnh sát nện dùi cui lên lên đầu bà con Văn Giang. Tôi thấy như chính mình là kẻ phản bội các cha, các mẹ chiến sĩ đã cưu mang mình và đồng đội trong suốt những năm kháng chiến gian khổ!
Luật đất đai sử đổi 2003 đã biến bộ máy công quyền thành người làm thuê cho các nhà đầu tư, tức những “đại gia”. Từ khi có Luật này các đại gia không cần trực tiếp thương lượng với nông dân mà chính quyền địa phương đã phục vụ cho họ đạt được giá đền bù rẻ mạt:
Nhà đầu tư dự án này đang rao bán “giá căn hộ trên dưới 20 triệu đồng/m2, giá biệt thự và nhà phố trên dưới 45 triệu đồng/m2, đã bao gồm phần xây thô”. Trong khi giá đền bù là 135.000 đồng/m2, nếu đến nhận tiền sớm thì được nhà đầu tư thưởng thêm cho 35000 đồng/ m2.
Báo Nông Thôn Ngày Nay có bài viết gọi đây là “Cánh Đồng Vàng đã mất”. Dự án này xâm phạm quyết định giữ 3,8 triệu ha đất nông nghiệp của Chính phủ,nhưng đây chỉ nói về việc nó gây thiệt hai to lớn cho bà con nông dân, vì không được đền bù đúng mức,và vì vậy rồi đây họ sẽ phải lâm vào cảnh khốn cùng. Nhiều năm nay, bà con vùng này chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây cảnh, mỗi sào bình quân thu hoạch từ 50 đến 70 triệu đồng/năm. Với số tiền đền bù ít ỏi như trên, họ làm sao để có số thu nhập ấy?
Nguyên phó Thủ tướng phụ trách nông nghiệp Nguyễn Ngọc Trìu nhận định khái quát về đền bù giải tỏa: “Khi trong này khai trương công trình thì bên ngoài dân khiếu kiện biểu tình. Vì giá đền bù cho dân là 1, khi đem lô đất đó ra bán thì giá gấp 15 lần.” Như vậy Luật đất đai sửa đổi 2003 đã tạo môi trường tốt cho tham nhũng, bởi các nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cao cho nhà chức trách ra quyết định cưỡng chế “hỗ trợ thi công”. Đây là vấn đề thuộc nội dung của Nghị quyết TƯ. 4 phải giải quyết.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: “Dân sai thì phải thuyết phục”. Đúng vậy! Trong vụ Văn Giang chưa thể nói dân sai, nhưng việc dùng 1000 cảnh sát để cưỡng chế dân là trái với ý kiến Thủ tướng. Nhiều người coi đây là một vết nhơ không thể gột rửa trong lịch sử!
Bằng quyền lực cao nhất xin Quốc hội mau chóng nghiêm cấm hình thức phản nhân dân này!
III- “SỐ ÍT CHỐNG ĐỐI MÓC NỐI VỚI BỌN PHẢN ĐỘNG TRONG, NGOÀI NƯỚC”?
Sáng ngày 2 -5- 2012, tại Hội nghị trực tuyến có 63 tỉnh thành và các Bộ, Ngành do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì, Phó Chủ tịch UBND Hưng Yên Nguyễn Khắc Hào báo cáo rút ra những“bài học bước đầu trong lãnh đạo chỉ đạo và công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo” rất đáng lo ngại:
1- Về lý do cưỡng chế, ông Hào cho rằng, khi đã có chủ trương đúng, hiệu quả kinh tế xã hội cao, “được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ thì không thể vì một số người chống đối mà không triển khai thực hiện chủ trương đó”.
Chúng ta đã có kinh nghiệm: Ngày xưa, chủ trương hợp tác hóa nông nghiêp từng được cho rằng có 100% nông dân tự nguyện gia nhập, nhưng sự thật là họ không thể không “tự nguyện”, bởi bao nhiêu lo lắng bị đối xử như công dân hạng hai, con cái sẽ khó vào Đoàn, khó vào đại học… Người dân Văn Giang cho báo Đất Việt biết: Côn đồ vào nhà dọa nạt bảo phải mau chóng nhận tiền đền bù; đảng viên bị dọa nếu chống chính sách sẽ bị khai trừ; giáo viên bị dọa sẽ không nhận tiền đền bù sẽ bị đổi công tác đến nơi khó khăn; người sắp kết hôn sợ không cho đăng ký kết hôn khi chưa chịu nhận tiền đền bù… Báo Người Cao Tuổi cho biết, có ít nhất là 4 người bị bắt ngày 24 - 4 phải ký giấy cam kết không khiếu nại nữa mới được thả. Một phụ nữ có con nhỏ còn bú cho đài RFI biết, chị phải ký giấy cam kết không khiếu kiện nữa, mới được thả về cho con bú!
Theo truyền thống văn hóa dân tộc, cái gì từ 1 tăng lên đến 3 thì đã thay đổi về chất:
“Một cây làm chẳng nên non; Ba cây dụm lại nên hòn núi cao”; “Ba anh thợ da thành ông Gia Cát”; “Ba chị đàn bà thành cái chợ”; “Hơn một tuổi là anh; Hơn 3 tuổi là chú”… Vậy thì hơn 160 hộ dân, có hơn 200 con người dám đứng ra đương đầu, làm sao có thể gọi là số ít?
2 - Trong vụ cưỡng chế ngày 24- 4 ở Văn Giang Phó Chủ tịch Hào cho rằng: “Có sự móc nối chặt chẽ với những phần tử chống đối ở nước ngoài. Các thông tin thậm chí còn được tường thuật tại chỗ, từng giờ để tuyên truyền xuyên tạc, dàn dựng những video clip giả để vu khống bôi nhọ chính quyền…”. Ông nói, do tính chất nghiêm trọng như vậy nên 19 người đã bị bắt ngay, hiện 5 người còn bị tạm giữ, có 9 “đối tượng cầm đầu”, “nhiều năm gây rối” đã bỏ trốn. Ông Hào nhận định: “Xử lý được 9 người này sẽ khắc phục được tình trạng tập trung đông người, kéo lên cơ quan Trung ương”.
Nhận định nói trên của đại diện chính quyền tỉnh Hưng Yên là cực kỳ nguy hiểm: Ghép nông dân Văn Giang vào với bọn phản động, đẩy 9 người nông dân bị o ép, quá sợ hãi bỏ trốn vào hàng ngũ phản động nguy hiểm!
Đề nghị Quốc hội kiểm tra, giám sát làm rõ các kết luận sai trái hết sức nguy hiểm nói trên, đừng để một chính quyền cấp tỉnh phát ngôn tùy tiện, dựng đứng, vu cáo nhân dân, bất chấp sự thật mà không bị trừng phạt, như vậy cách làm này sẽ lan tràn như một thứ bệnh dịch làm mục ruỗng hệ thống chính quyền của dân, do dân vì dân.
IV- VÌ SAO PHẢI HẠN CHẾ HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ?
Trong vụ Tiên Lãng, báo chí được Thủ tướng khen ngợi đã góp phần tích cực sớm làm sáng tỏ sự thật giúp Chính phủ kịp thời xử lý. Vụ Văn Giang, về quy mô cũng như sự phức tạp của nó còn lớn hơn, rất cần được báo chí quan tâm làm sáng tỏ thì trái lại có những bằng chứng các hoạt động báo chí đã bị hạn chế ngay từ đầu.
Nếu việc cưỡng chế là đúng pháp luật thì tại sao phải hạn chế thông tin? Tại sao những tấm bảng “Cấm quay phim, chụp ảnh” được dựng ra khắp nơi? Chỉ có hai tờ báo dám nói một phần sự thật, và nói rất từ tốn là báo Người Cao Tuổi và báo Sài Gòn tiếp thị thì cả hai đều bị buộc phải gỡ xuống khi vừa cho lên mạng! Lạ lùng là hai nhà báo của đài phát thanh quốc gia bị công an Hưng Yên đánh “hội đồng”, còng tay, mặt mũi bê bết máu, phải đi bệnh viện, dù hai anh nhiều lần kêu to “chúng tôi là nhà báo đang làm nhiệm vụ”! Càng lạ lùng hơn trong khi đài BBC biết chuyện nhà báo bị đánh đã có ngay cuộc phỏng vấn, thì phía Việt Nam mãi đến ngày 9-5, tức là mất nửa tháng sau, các báo chúng ta mới được lên tiếng! Và cho đến nay, Công an Hưng Yên chẳng những chưa có lời xin lỗi mà còn từ chối trả lời câu hỏi rất đơn giản: Vì sao đã biết nhà báo đang tác nghiệp mà vẫn cứ đánh đập?!
Hình như một số việc nhằm hạn chế hoạt động của báo chí trong vụ cưỡng chế ở Văn Giang không phải chỉ là từ phía Hưng Yên? Vậy thì cấp nào và vì lý do gì đã chủ trương hạn chế hoạt động của báo chí trong vụ này? Tại sao bài học tích cực của báo chí trong vụ Tiên Lãng được Thủ tướng biểu đương, nhưng đã không được phép vận dụng?
Giải mã được những uẩn khúc về việc hạn chế hoạt động báo chí trong vụ Văn Giang sẽ rút ra nhiều bài học bổ ích cho thực hiện quyền được thông tin, công khai minh bạch các hoạt động ảnh hưởng tới người dân, xúc tiến dân chủ…
Vốn là một nhà báo, tôi vô cùng bức xúc trước câu hỏi mà mình không tự trả lời được, xin tin cậy gửi tới Quốc hội .
Trong những ngày qua, rất nhiều người gọi điện cho tôi hỏi về vụ cưỡng chế ở Văn Giang, về hai nhà báo của Đài Tiếng nói Việt Nam bị đánh. Tôi trả lời ậm ừ vì chưa nắm được vấn đề. Rồi tôi bỏ thời gian, công sức để tìm hiểu và gần như muốn hét lên. Nhưng thôi, chuyện to tiếng hãy để sau. Bây giờ chỉ xin nói lên tâm tư, suy nghĩ của mình – một người làm báo có thâm niên.
Vừa giận, vừa thương các nhà báo bị đánh
Tôi xin giới thiệu đầy đủ và rõ ràng luôn:
Tôi họ tên là Hồ Bất Khuất, sinh ngày 08/8/1958 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Tôi bắt đầu tham gia làng báo vào tháng 1 năm 1983 tại Tạp chí Cộng Sản sau khi tốt nghiệp đại học ở Liên Xô. Sau hơn 10 năm làm báo, tôi trở lại nước Nga và bảo vệ luận án Tiến sỹ tại Khoa Báo chí Đại học Tổng hợp Moskva mang tên Lomonosov vào tháng 5/1995.
Về nước, tôi vừa viết báo, vừa tham gia giảng dạy. Tôi không bao giờ nghĩ mình là thầy, còn những người học đại học báo chí tại chức và sau đại học là học trò. Tôi luôn xem đó là những đồng nghiệp. Nhưng dù sao tôi cũng đã từng đứng nói, còn họ ngồi nghe. Bây giờ họ là những người có vai trò rất lớn ở nhiều cơ quan báo chí. Tôi rất mong là họ đứng về phía những nhà báo bị đánh.
Những năm qua, thông tin về nhà báo bị hành hung khá nhiều. Tôi tự nhủ: “Báo chí là nghề nguy hiểm, đã theo nghề thì phải chấp nhận thôi”. Nhưng nay việc hai nhà báo của Đài tiếng nói Việt Nam bị đuổi đánh dã man, tôi không im lặng được nữa.
Tôi đã xem đi, xem lại clip một lũ người mặc sắc phục và thường phục có đeo băng đỏ ở tay đuổi đánh hai người đàn ông đội mũ bảo hiểm. Hai người đó chỉ chạy và chịu trận, hoàn toàn không có bất cứ hành vi chống đối nào. Tôi vô cùng căm tức những kể dùng gậy gộc, chân tay đánh hai người đàn ông đó. Tôi vô cùng thương cảm họ, mặc dù lúc đó tôi không biết họ là ai.
Nay biết hai người bị đánh đó là Hán Phi Long và Nguyễn Ngọc Năm – hai nhà báo của Đài Tiếng nói Việt Nam.
Khi biết điều này, tôi đã để rơi nước mắt. Nước mắt rơi không chỉ là sự thương cảm, mà còn là sự uất hận. Trước hết, tôi thương các anh. Vì nước, vì dân đi làm nghề đàng hoàng thế mà lại bị người nhà nước đánh đuổi. Sau đó là tôi hận các anh. Bị đánh đau thế, nhục nhã thế sao hàng chục ngày sau mới lên tiếng?!
Theo như báo chí viết, các anh bị đánh, bị giật máy ảnh, bị thu Thẻ Nhà báo, Thẻ Đảng viên, bị còng tay… Nhưng chiều 24/4 các anh đã về cơ quan ở Hà Nội rồi. Lúc này ai cấm các anh lên tiếng?
Mong những người quen biết của tôi không bịt miệng các anh!
Tôi có quen biết ông Nguyễn Đăng Tiến – Đương kim Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam và ông Vũ Văn Hiền (quê ở Hưng Yên) – Cựu Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, hiện là Phó Ban Lý luận trung ương gì đó, có con tên Tuấn, hình như nay là Phó Tổng giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam. Những người này có ngăn cản các anh lên tiếng không?
Tôi biết, một số người vì chức tước, vì bổng lộc, vì kém cỏi nên đã im lặng. Không những thế, họ còn bắt những người dưới quyền mình im lặng theo. Trong trường hợp này, tôi hy vọng những người quen của tôi không làm như vậy.
Các anh đã chịu đau, đã im lặng nhưng giờ đã lên tiếng. Các anh bị đau về thể chất, còn chúng tôi – những đồng nghiệp của các anh chịu đau về tinh thần. Chúng ta không nên chịu đau đớn mãi. Việc này phải làm cho ra nhẽ.
Trước hết tôi muốn nói đến cái clip đánh người và ý kiến của ông Chánh văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên, Bùi Huy Thanh.
Tôi muốn nói với ông Thanh thế này: Nhìn vào clip đánh người, tôi không nghĩ những người đánh đó là những người đi thi hành công vụ. Tôi không nghĩ đó là những người công an được đào tạo, mà đó chỉ là một mớ côn đồ. Họ hàng mấy chục người, có vũ khí trong tay chạy theo đánh hai người không hề chống đối. Vì vậy dù hai người bị đánh là nhà báo hay dân thường thì những kẻ đánh họ cũng chỉ là những người được giáo dục rất ít. Nếu họ là những người đã được đào tạo qua trường lớp, tôi đề nghị thanh tra những cơ sở giáo dục mà họ đã từng học. Dân không nộp thuế để đào tạo ra những người công an như vậy!
Mà lập luận của ông Chánh văn phòng Thanh cũng rất buồn cười: “… hiện phía cơ quan chức năng chưa thể đưa ra kết luận về vụ việc vì chỉ mới nhận được tường trình một phía, từ các nhà báo”. Thử hỏi những kẻ gây hại cho người khác có bao giờ đến báo với cơ quan chức năng trước khi người bị hại kêu cứu chưa? Thậm chí khi bị bắt, bị tra hỏi, chúng còn chối quanh nữa là!
Xin được hỏi những người có chức, có quyền?
Trở lại chuyện các nhà báo bị đánh. Trên thế giới, người ta công nhận nhà báo là nghề nguy hiểm. Họ bị chết ở nơi chiến sự, họ (những nhà báo tham gia phe phái) bị phe đối lập lăng mạ, họ bị những người dân cho là phản ánh không trung thực tẩy chay, xua đuổi. Nhưng đấy là những nhà báo ở nước ngoài.
Còn ở Việt Nam hiện nay không có chiến sự, không có phe đối lập, dân không xua đuổi, tẩy chay… Tại sao nhà báo vẫn bị đánh nhỉ?
Tìm hiểu sâu thêm thì được thấy, nhà báo chủ yếu bị công an và những kẻ bất hảo được chính quyền thuê đánh (“Liên minh” chính quyền – đầu gấu là vô cùng nguy hiểm). Bị công an và đầu gấu đánh thì rõ ràng bản thân nhà báo rất khó chống đỡ. Nhà báo Việt Nam chỉ mong được chính quyền và nhân dân bảo vệ thôi.
Nhưng trước khi được chính quyền và nhân dân bảo vệ, cánh nhà báo chúng ta phải tự bảo vệ mình. Trước hết, chúng ta phải dùng uy lực của những người người có chức, có quyền đã và đang là nhà báo. Trong bộ máy của Đảng và Nhà nước hiện nay, có rất nhiều nhà báo. Điển hình là ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư ĐCS Việt Nam. Ông Trọng trước đây làm ở Tạp chí Cộng Sản, từ phóng viên thường lên chức Tổng biên tập. Ông Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo trung ương, trước đây làm ở Báo Nhân Dân, cũng từ phóng viên tới chức Tổng biên tập; Ông Huynh còn đã từng làm Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam. Nếu hai ông này mà lên tiếng bảo vệ nhà báo, Giám đốc công an tỉnh Hưng Yên hay Bí thư Tỉnh ủy cũng không thể xem thường.
Nhưng cho đến giờ phút này, hai ông Trọng và ông Huynh chẳng hé răng nói một lời. Các ông không nói nên chẳng biết thái độ của các ông ấy ra sao. Đến ông Nguyễn Đăng Tiến – Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam cũng im lặng nốt.
Vì sao các ông không lên tiếng? Các ông cho rằng đây là vụ việc nhỏ nhặt không đáng để các ông ấy quan tâm? Nếu các ông ấy không từng là nhà báo, cũng không nên nghĩ như vậy. Người của chính quyền đánh dân thường cũng là chuyện to rồi. Đây lại là người của chính quyền địa phương đánh nhà báo của Đài Đảng trung ương. Chuyện nghiêm trọng quá đi chứ lị! Đừng quên rằng, những vụ việc ở Trung Đông vừa qua (dân biểu tình làm chính quyền ở nhiều nước sụp đổ) bắt đầu bằng việc một người bán hàng rong ở Yemen tự thiêu vì bị cảnh sát ức hiếp!
Có lẽ các ông ấy đang cân nhắc cần bảo vệ ai trong vụ việc này. Bảo vệ các nhà báo hay bảo vệ những người nhân danh chính quyền? Đây chưa phải là việc quá nan giải nhưng vẫn là lựa chọn khó khăn với những người đã từng là nhà báo, nay có quyền cao, chức trọng.
Còn những người đang là nhà báo, cụ thể là những người lãnh đạo cao nhất ở Đài Tiếng nói Việt Nam, những người làm ở Hội Nhà báo Việt Nam – họ có trách nhiệm trực tiếp phải bảo vệ cán bộ của mình, hội viên của mình. Nhưng rõ ràng họ đang im lặng, hoặc tỏ ra ngập ngừng, nghe ngóng. Họ đang chờ xem những người như ông Trọng, ông Huynh có thái độ thế nào. Tôi thấy cách nói của đại diện Hội Nhà báo nhạt lắm! Cái “chết” của nhà báo chúng ta là ở chỗ đó – những người có trách nhiệm trực tiếp bảo vệ mình lại sợ những người có chức quyền cao hơn.
Do vậy, chúng ta – Những người trực tiếp cầm bút và cầm ống kính, máy ảnh phải tự bảo vệ mình thôi. Chúng ta bảo vệ mình theo cách của mình: Nói lên sự thật và chấp nhận thiệt thòi, hy sinh. Chỉ có điều: Chúng ta không chịu hèn, chịu nhục.
Trong diễn văn khai mạc Hội nghị TW 5 diễn ra ngày 7-5, tổng bí thư đảng cộng sản Nguyễn Phú Trọng đã nhắc đến một thành tựu về kinh tế trong giai đoạn vừa qua là: “Dự trữ ngoại hối tăng nhanh”.
Câu hỏi đặt ra là Việt Nam lấy tiền ở đâu để mua ngoại tệ trong khi đang bội chi ngân sách, thắt chặt tín dụng, tiền tệ và chi tiêu công?
“Việt Nam Đồng Hóa” tiền gửi nhân dân
Theo một nguồn tin khả tín thì từ đầu năm ngoái đến nay, Chính quyền đã in ra hơn 120 ngàn tỷ tiền VND để mua 6 tỷ USD dự trữ. Vậy in tiền ra tại sao lại không gây lạm phát, không có tiền trong lưu thông ? Câu trả lời cay đắng này dành cho những ai đang có tiền USD gửi ở Ngân hàng. Lượng “ngoại tệ” dự trữ mà ông Nguyễn Phú Trọng tự hào không phải là do tích lũy tiền bạc, thặng dư ngân sách mà có rồi đem đi mua đô dự trữ. Mà thực chất là tiền đô la Mỹ của nhân dân gửi trong các Ngân hàng của Nhà nước đã bị “VND hóa”. Nhà nước đã in tiền giấy ra và bơm vào hệ thống ngân hàng để rút tiền USD của dân về theo một chu trình khép kín. Thực chất dân không còn tiền đô nữa mà đã bị “quốc hữu hóa” toàn bộ số USD của mình trong ngân hàng.
Nhà nước, về mặt kỹ thuật, đã thế chân tất cả các đồng USD của bà con gửi trong Ngân hàng bằng tiền đồng VND. Tuy nhiên về mặt thực tế thì họ rất nhiều cách để cùng hệ thống ngân hàng đảm bảo là “tiền bà con vẫn là tiền còn trong ngân hàng”. Nhưng dòng máu USD đó đang hòa trộn vào nền kinh tế và thực chất đã biến thành VND, còn đồng “USD” thực sự đã trở thành “dự trữ ngoại tệ”, cái mà Đảng đang tự hào. Đồng thời làm tăng tiền đồng, gián tiếp tăng tính thanh khoản cho Ngân hàng.
Như vậy kịch bản xấu nhất xảy ra là tất cả những người có tiền USD trong các Ngân hàng có thể đồng loạt đến rút hết ra và nhà nước sẽ lấy tiền đô ở đâu để bù vào? Xin thưa không thể có kịch bản đó vì trước đó Chính phủ ban hành Nghị định số 95/2011/NĐ-CP quản lý USD và vàng thật chặt. Nghị định này có những chế tài khủng khiếp, tăng đột ngột gấp 17 lần so với những vi phạm trước kia và có những khoản phạt so với dự thảo ở 45 triệu đồng nhưng khi ban hành chính thức đã vọt lên đến 500 triệu đồng, giao dịch USD tự do sẽ bị bắt và tịch thu. Điều đáng ngờ nhất là Nghị định này có hiệu lực ngay lập tức từ ngày ký là 20/10/2011. Ngoài ra hàng loạt các quy định khác nhằm quản lý và siết chặt việc sử dụng tiền USD, tùy thuộc và tình hình, đã và đang được xây dựng.
Tất cả những điều đó là kế hoạch chuẩn bị cho một vụ ăn cướp USD trắng trợn của bất cứ ai đang có tiền USD gửi trong ngân hàng. Họ chỉ được rút ra để làm các công việc “chính đáng” theo luật mà các công việc đó thì khó khăn vô cùng. Bởi vậy một số lượng tiền USD rất lớn đã được nhà nước “kết nạp” vào túi của “Đảng Cộng Sản”. Một số người dám giao dịch đã bị “trấn lột” ngay tại cửa ngân hàng.
Chiêu này của ai? và tại sao?
Thống đốc Nguyễn Văn Bình, Bộ trưởng Vương Đình Huệ cùng những quan chức khác trong hệ thống, với sự tiếp tay của các đại gia ngân hàng vốn đang rất cần sự “ưu ái” của chính phủ là tác giả của chiêu ăn trộm hợp pháp này. Họ là những người giỏi chuyên môn đến mức tinh quái trong việc sử dụng các công cụ tài chính, tiền tệ. Để tâng công với đảng và để thành công trong ngắn hạn họ đã cố gắng dở hết chiêu cong queo của mình nhằm kết nạp hết các ông Washington và túi của đảng CS.
Điều duy nhất ông Bình và các “cố vấn gia” sợ hãi là sự quanh co và ngắn hạn trong các quyết định của mình. Tuy nhiên niềm an ủi vẫn còn khi các cán bộ đầy “lâm thời” đều đưa đơn vị tính cho nền kinh tế theo “quý”. Các ông đều biết mình tồn tại trong cơ chế tệ hại này thì không thể lập kế hoạch sống dài hạn một cách mạch lạc và đúng lương tâm.
Không biết với lượng ngoại tệ dự trữ mới đầy hình ông “Washington” của dân nằm cựa quậy trong ngân khố của Đảng liệu có giải quyết được sự khủng hoảng thật sự về kinh tế hiện nay hay không. Chắc chắn là không vì đó thực sự không phải là tiền của Đảng mà là tiền “thay máu” của dân.
Đồng thời trên đồng tiền USD có chữ “In God We Trust” nghĩa là “Chúng tôi tin vào Thượng đế” để mách bảo con người những điều thuộc về lương tâm, nó cao quý hơn đồng tiền của loài người. Bây giờ nằm trong ngân khố của một tập đoàn theo chủ thuyết vô thần và duy vật, liệu những chữ đầy duy tâm, tha thiết ghi trên đồng tiền USD có đánh thức được sự khắc khoải trong ai không?
Chắc là không! Và như vậy thì có ai đảm bảo rằng Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đang phấn đấu đi lên CNXH sắp tới lại không ra một quyết định “cấm sử dụng USD”?. Khi đó “lực lượng cưỡng chế” có thể vào bất cứ nhà nào để “phá két hoặc đào nền nhà” lên cướp tiền dân một cách hợp pháp.
Qua bài viết trước bạn đọc biết được Khối 8406 sẽ giải thể khi Việt Nam có được một Hiến Pháp Tự Do. Người viết cũng đã nêu rõ Khối 8406 nối kết các cá nhân, các tổ chức chính trị, các tổ chức dân sự để tổng hợp sức mạnh đấu tranh giải thể chế độ cộng sản. Vì thế rõ ràng Khối 8406 đang đấu tranh chính trị với cộng sản để mang lại tự do dân chủ cho Việt Nam và vì thế đương nhiên cũng có cá nhân thành viên Khối 8406 đang sinh họat chính trị.
Nhưng nếu nói Khối 8406 là một tổ chức chính trị đúng nghĩa với tổ chức chặt chẽ, có nội quy, đường lối và mục tiêu rõ ràng nhằm đấu tranh chính trị để nắm quyền lực điều hành quốc gia thì Khối 8406 không có những tính chất nêu trên. Và vì thế Khối 8406, bao gồm tất cả các thành viên, chỉ nên được xem là một tổ chức đấu tranh cho tự do dân chủ.
Bài viết chỉ nhìn chung về Khối 8406 mà chưa đưa ra những trường cụ thể, vì thế nhiều bạn đọc đặt các câu hỏi về việc các cá nhân thành viên của Khối 8406 có tham gia chính trị hay không ?
Đầu tiên xin nhắc đến Linh mục Nguyễn văn Lý một thành viên sáng lập Khối, Cha Lý là một linh mục công giáo, vì thế Cha đặt nặng việc đấu tranh cho công bằng, sau đó mới là tự do và rồi mới đến dân chủ. Người viết đã có cơ hội để thảo luận với cha về đề tài này. Trong khi ấy bọn cộng sản lại luôn vu khống cha là “làm chính trị”.
Ngày 5/5/2012, cộng sản phải thả tự do cho ký giả Trương Minh Đức, ông Đức vừa là đảng viên đảng Vì Dân và vừa là thành viên của Khối 8406. Trước đây cộng sản khép cho ông họat động chính trị và bỏ tù ông. Khi ra tù ông Trương Minh Đức tuyên bố sẽ tiếp tục đấu tranh cho nhân quyền, tự do và dân chủ.
Ở Hải ngọai người viết biết nhiều anh chị tham gia Khối 8406 chỉ vì lương tâm không cho phép họ làm ngơ khi đất nước đang lọt vào tay quân Tầu, khi cộng sản bắt bớ tù đày các nhà đấu tranh quốc nội, khi cộng sản đàn áp dân oan mất đất, đàn áp người biểu tình yêu nước. Chính các anh chị này đã từng hỏi tôi vậy chứ chính trị là gì ? và làm chính trị là làm cái gì ?
Có bạn đọc góp ý đi đôi với chính trị là quyền lực nên chỉ có những người vì đam mê quyền lực mới đeo đuổi chính trị, người này xem chính trị chỉ là “cục xôi”.
Còn cộng sản bắt dân chúng phải học tập“chính trị Mác Lê”. Ai tin theo theo cộng sản phải thành khẩn tin vào “chính trị Mác Lê”. Họ phải thờ phụng, bái lạy tư tưởng của các ông Mác, ông Lê, ông Stalin, ông Mao và ông Hồ. Xin lỗi ông Hồ không có tư tưởng mà chỉ có hình tượng đang đựơc cộng sản thờ lạy. Chính trị kiểu này theo người viết là chính trị “vọng ngọai bán nước”.
Xưa kia ông bà chúng ta đánh Tây đuổi Tầu giành lại độc lập, xây dựng đất nước không ai nói họ làm chính trị. Ngày nay anh chị Khối 8406 chúng tôi dẹp bỏ mọi khác biệt, gặp nhau với một quyết tâm là giải thể chế độ cộng sản, đa số chúng tôi cũng không làm chính trị.
Thế thì Khối 8406 chúng tôi đang làm cái gì ? Anh chị thành viên quốc nội hiểu rõ bổn phận của họ đối với Tổ Quốc vì thế họ sẵn sàng công khai đấu tranh chấp nhận bị bắt bớ tù đày. Ở hải ngọai chúng tôi hiểu rõ bổn phận nên gia nhập để góp một bàn tay rút ngắn ngày Việt Nam có Tự Do Dân Chủ. Bà con thân hữu biết việc chúng tôi làm nên sẵn lòng tiếp tay yểm trợ.
Khối 8406 chúng tôi chỉ làm bổn phận người dân khi đất nước đang trong hồi nguy biến mất vào tay Tầu cộng. Mà không phải riêng gì Khối 8406, bất cứ người Việt nào đang góp sức đấu tranh chống độc tài cộng sản là đang làm bổn phận công dân. Công dân một nước Việt Nam Tự Do, Dân Chủ và Phú Cường.
Xin cảm ơn tất cả những quan tâm của bạn đọc, trong một dịp khác người viết sẽ chia sẻ nhiều hơn về Khối 8406 và cuối cùng xin góp sức với Phong Trào Dân Chủ Việt Nam.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
10/5/2012
-----------------------
Bài viết do tác giả gửi - BBT.VANGANH biên tập và minh họa...
Từ những năm 1973 Hoa Kỳ đã tỏ dấu hiệu sẽ bỏ miền Nam: máy bay không có xăng để bay, khi hư không có thiết bị dụng cụ thay thế, nhiều máy bay nằm ụ không bay, vũ khí phải hạn chế tối đa. Đây lời tâm sự của một cựu phi công trực thăng trên đường lên Canberra tham dự cuộc biểu tình 30-4 vừa qua. 30-4 là ngày miền Nam bị bức tử.
Xe bus chở chúng tôi tham dự biểu tình mang bảng số 8406 tạo khí thế đấu tranh cho đòan người tham dự biểu tình. Chúng tôi thảo luận về tình hình đất nước và về động lực đã thúc đẩy mọi người vững lòng đấu tranh. Xưa ông bà ta đánh Tây đuổi Tàu giữ nước dựng nước có ai nói rằng họ làm chính trị đâu. Như vậy tham gia đấu tranh chỉ để làm bổn phận của người dân khi đất nước đang lâm nguy mất dần vào tay Tầu cộng.
Trước 30/4/1212, cộng sản đã vội vàng thả cô Bùi Thị Minh Hằng. Có nguồn tin cho rằng việc phải thả cô do những bất đồng trong Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng có người cho rằng cộng sản thả cô vì áp lực quốc tế và áp lực của đồng bào trong và ngòai nước. Đúng sai chưa rõ chỉ biết cô tuyên bố sẽ tiếp tục dấn thân đấu tranh. Được Đài BBC phỏng vấn cô Hằng cho biết cô không phải là một chính trị gia, cô chỉ là một người rất bình thường thấy những áp bức bất công trong xã hội mà lên tiếng đấu tranh.
Trước toà đại sứ Việt cộng anh Trương Quốc Việt một người trẻ, ngồi trong một túp lều nhựa mang trên ngực tấm bảng “Hãy trả nhà nhỏ cho gia đình tôi và Nhà Lớn cho dân tộc tôi!” tọa kháng phản đối những hành động bạo ngược cướp đất, phá nhà,đàn áp dân lành của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.
Sau 30/4/2012, anh Trương Quốc Việt chuyển sang ngồi trước Quốc Hội Liên Bang Úc. Sáng ngày 9-5-2012 anh đã được dân biểu Philip Ruddock và dân biểu Laurie Ferguson thuộc Ủy Ban Điều Tra Nhân Quyền thuộc Quốc Hội Liên Bang Úc đến thăm. Anh Việt cho biết căn nhà và đất đai của gia đình anh đã bị cộng sản cướp đi, anh và dì anh đã bị đánh đập và bỏ tù khi thưa kiện chính quyền địa phương. Nhưng anh tọa kháng ở đây không chỉ là cho anh mà cho rất nhiều người dân Việt Nam đang cùng cảnh ngộ. Anh mong Quốc Hội và Chính phủ Úc biết tình trạng tồi tệ về nhân quyền tại Việt Nam để ngưng viện trợ vì số tiền không giúp gì được cho dân nghèo mà chỉ giúp cho sự tồn tại của một chế độ độc tài, tham nhũng, bất công.
Mạng Ly Hương đưa tin Dân Biểu Philip đề nghị anh gởi đơn tường trình rõ sự việc cho Hội đồng Nhân Quyền, họ sẽ xem xét và yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội giải thích về trường hợp của anh và gia đình.
Ngày 24-4-2012, khi anh Trương Quốc Việt bắt đầu tọa kháng thì tại Văn Giang hằng ngàn người tay không, bom xăng, cuốc liềm, gậy gộc đã chống trả một lực lượng vũ trang vô cùng hùng hậu và hung dữ. Một Youtube cho thấy cảnh hàng chục công an và an ninh tấn công hai người tay không, không hề có dấu hiệu chống đối. Chẳng lẽ lực lượng an ninh không biết hai người là phóng viên Đài tiếng nói Việt Nam? Ông Nguyễn Ngọc Năm, Trưởng phòng Thời sự-Chính trị-Kinh tế và ông Hán Phi Long phóng viên Đài. Sau khi bị hành hung họ còn bị bắt giữ, và bị giải về Viện Kiểm sát huyện Văn Giang. Phóng viên Long sau đó phải vào bệnh viện điều trịcác thương tích.
lực lượng an ninh lại được tòan quyền tấn công cả phóng viên VOV
Mà tại sao lực lượng an ninh lại được tòan quyền tấn công cả phóng viên và lại phải hung tợn như thế ? Ngày 2/5/2012, Nguyễn Tấn Dũng mở hội nghị đặt biệt về sự kiện Văn Giang, ông Dũng xác nhận việc cưỡng chế đất đai tạo ra những điểm “nóng” dễ dẫn đến những “bất ổn chính trị”. Đến ngày 7-5-2012, Nguyễn Phú Trọng phải cho mở Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 5. ông Trọng yêu cầu khi bàn về vấn đề đất đai phải theo hướng “giữ vững ổn định chính trị”. Thì ra tình hình chính trị càng ngày càng trở nên bất ổn và những người nông dân mất đất là những người đang bị cộng sản khép cho làm “bất ổn chính trị”.
Trở lại với người cựu phi công trực thăng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, những phi vụ cuối cùng của anh là bảo vệ vòng đai Sài Gòn, anh kể về những trận đánh cận 30/4/1975, khi quân cộng sản thí quân dồn hết lực lượng chiếm bằng được Sài Gòn.
Nghe anh kể hình ảnh của Văn Giang lại hiện ra, khu vực này chỉ cách trung tâm Hà Nội chưa đến 10 cây số. Xưa Sài Gòn ngày nay Hà Nội, cộng sản phải dồn hết lực lượng công an để trấn áp “bất ổn chính trị” và đây dấu hiệu rõ nhất cho sự cáo chung của bạo quyền cộng sản.
Cộng sản đã cày nát Văn Giang, nhưng có áp bức thì có đấu tranh, càng áp bức thì cuộc đấu tranh sẽ càng mạnh hơn và Việt Nam sẽ chóng có Tự Do hơn. Thời điểm đang đến để người Việt khắp nơi liên kết lại cùng đứng lên giành lại tự do. Có Tự Do mới có công bằng, bác ái, thịnh vượng, ấm no.
Ngày 30-4 sẽ chỉ là còn là ngày lịch sử chấm dứt một cuộc chiến Bắc Nam và bắt đầu một cuộc chiến giữa dân tộc Việt Nam và bạo quyền cộng sản.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 5 khai mạc hôm 7 tháng 5 vừa qua tại Hà Nội và sẽ kết thúc vào ngày 15 tháng 5 tới.
Cảnh người dân tập trung khiếu kiện về đất đai diễn ra ngày càng nhiều ở VN hiện nay.
Chống tham nhũng chỉ là hình thức
Trọng tâm của hội nghị lần này được cho biết nhắm đến các công việc sửa hiến pháp, giải quyết khiếu kiện đất đai và chiến dịch chống tham nhũng, lãng phí. Theo Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, đây là những vấn đề nhức nhối, bất cập, mâu thuẫn khiến người dân bức xúc.
Đề cập đến chính sách đất đai, ông Nguyễn Phú Trọng cho rằng đây là một lãnh vực rộng lớn, phức tạp, nhạy cảm, việc sử dụng đất đai còn lãng phí hiệu quả thấp, tệ nạn tham nhũng chưa bị đẩy lùi, các quy định về đất đai còn chồng chéo, việc quản lý của cơ quan nhà nước còn nhiều yếu kém. Nhận xét của ông khiến dư luận nhớ lại những vụ cưỡng chiếm đất đai xảy ra ở Tiên Lãng, Văn Giang mà chính quyền địa phương đã phải huy động hàng trăm, hàng ngàn công an võ trang hùng hậu để trấn áp dân chúng, bắt họ phải khuất phục, nhượng bộ.
Qua câu chuyện với RFA, luật sư Hà Huy Sơn, Trưởng Văn Phòng Luật Hà Sơn tại Hà Nội nói lên quan điểm của ông về phương cách làm sao chấm dứt những vụ chiếm đoạt đất đai, tài sản, vẫn kéo dài lâu nay ở Việt Nam:
“Những bất cập về đất đai hiện nay là do chưa có sự công nhận quyền sở hữu của tư nhân về đất đai. Như các kiến nghị trước đây của tôi, để không xảy ra những vụ như Tiên Lãng, Văn Giang hay Vụ Bản, Nam Định, hoặc nhiều vụ thu hồi đất khác, thì pháp luật về đất đai của Việt Nam nên sửa đổi, nhà nước cần công nhận quyền tư hữu đất đai của người dân và coi đất đai như một thứ hàng hóa, vận hành theo cơ chế thị trường như các loại hàng hóa khác.”
Kế đó, dân oan Lê Thị Kim Thu, ở Đồng Nai, 24 năm đi khiếu kiện từ địa phương tới trung ương, bị ngồi tù 18 tháng tại trại giam Ninh Bình, nói lên nỗi oan ức của những người dân oan, không sợ bạo lực, không ngại phải hy sinh cả tính mạng, để đòi quyền sống:
“Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đến nay đã 37 năm rồi, ở Việt Nam không còn những vụ nhỏ bé về tranh chấp đất đai nữa mà toàn những vụ lớn, thường là có tai mắt các quan lớn trong đó, thuộc về vấn nạn chung của dân oan, làm cách nào để giải quyết cho họ một cách ‘thấu tình, đạt lý’. Cho đến thời điểm này, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, Bộ Chính trị, thủ tướng chính phủ, phải xem xét, đặt lại vấn đề lên hàng đầu, để trả lại tài sản cho dân oan. Người dân mất tiền, mất của, họ có thể chịu đựng được, chứ không chịu được oan ức. Nhà cầm quyền họ, giống như họ ở tâm của dân oan, nhưng thật ra không phải như vậy, chỉ là những lời mị dân thôi. Dân oan không sợ chết, đối với công an họ không còn sợ hãi nữa, cho dù có chết, họ vẫn đấu tranh tìm con đường sống.”
Vấn đề gốc rễ của quốc nạn tham nhũng tại Việt Nam, theo tôi, chính là sự thiếu dân chủ và thiếu minh bạch trong các hoạt động của nhà nước.
Luật sư Hà Huy Sơn
Luật sư Hà Huy Sơn nói lên cảm nghĩ của ông vì sao công tác chống tham nhũng, lãng phí vẫn yếu kém, chiếu lệ , chưa dẹp bỏ hẳn được :
“Vấn đề gốc rễ của quốc nạn tham nhũng tại Việt Nam, theo tôi, chính là sự thiếu dân chủ và thiếu minh bạch trong các hoạt động của nhà nước.”
Thầy giáo Đỗ Việt Khoa , một người kiên cường chống tham nhũng , tiêu cực trong ngành giáo dục đưa ra nhận xét của ông, vì sao chống hoài, chống mãi mà nạn tham nhũng vẫn tồn tại:
“Trong chủ trương chung về chống tham nhũng thì người ta đã viết thành sách, nói nghe rất hay, sự thật thì người ta nói một đằng, làm một nẻo, ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư hiện nay, vốn cũng là một nhà giáo như chúng tôi, ông rất sốt ruột về các tệ nạn của đất nước, nhưng ông không có khả năng giải quyết nổi tình hình của đất nước. Những người có trọng trách trong tay là thủ tướng, chủ tịch tỉnh, lãnh đạo công an, thực chất là họ không bao giờ giải quyết nạn tham nhũng. Năm 2010 có báo cáo của quốc hội cho biết, hơn 90% đơn thưa tố cáo của nhân dân không được thụ lý, giải quyết, trong có có 80% là đơn thưa về tham nhũng đất đai.”
Cần nhìn thẳng vào sự thật
Hơn nữa theo ông, không những có sự bao che, lơ là, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau khiến tham nhũng sinh sôi và những ai cương quyết chống tham nhũng đều bị khóa miệng:
“Người chỉ đạo chống tham nhũng ở địa phương là chủ tịch các tỉnh, không đơn tố cáo nào của dân mà không đến tay chủ tịch tỉnh, nhưng thật sự là các ông ấy cho vào sọt rác hết. Ở Việt Nam chống tham nhũng xem như là hòan tòan bất lực, không làm gì được, chỉ những anh tép riu, không ô, không dù, không vây cánh thì bị họ lôi ra xử lý, xông rồi đâu cũng vào đấy cả, báo chí có đăng tin nhưng rồi cũng chìm xuồng. Báo Tiền Phong cách đây không lâu có đăng là 100% người chống tham nhũng đều bị trù dập, càng ngày tham nhũng càng kinh khủng.”
Người dân huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định đã tập trung tại ruộng của mình, căng cờ, biểu ngữ kiên quyết giữ ruộng. Photo courtesy of blog nguyenxuandien
Về phần dân oan Lê Thị Kim Thu thì cho rằng chủ trương tận diệt tham nhũng mà nhà nước luôn hô hào, quyết đẩy mạnh, chỉ là những màn dàn dựng, cô nói rõ vì sao:
“Điều đó cũng dễ hiểu, câu trả lời ngay trước mắt là nhà dột từ trên nóc xuống, nạn tham nhũng từ trên xuống dưới, trên bảo dưới không nghe, không làm. Họ tạo ra những đoàn thanh tra, với bộ tài nguyên môi trường, thanh tra chính phủ, cơ quan chuyên ngành, tham mưu cho thủ tướng, nhưng rồi cứ nghe theo tỉnh, bảo sao họ làm vậy, rồi chính những cơ quan quyền lực lại trấn áp dân. Chống tham nhũng họ chỉ giơ cao đánh khẽ thôi, không thực hiện được những gì dân yêu cầu, việc thành lập cơ quan phòng chống tham nhũng, để những người dân có tinh thần đấu tranh vì công lý và sự thật, trực diện với tham nhũng thì cuối cùng họ bị tống vào tù. Ai cũng mở mắt, thấy rõ chiêu bài của nhà cầm quyền, không còn hiệu nghiệm đối với người dân nữa, việc nói là làm còn một khoảng cách rất xa.”
Theo thầy giáo Đỗ Việt Khoa, một trong những nguyên nhân chính dẫn tới sự thất bại trong quốc sách chống tham nhũng, đó là sự quanh co của một số quan chức:
Vấn đề gốc rễ của quốc nạn tham nhũng tại Việt Nam, theo tôi, chính là sự thiếu dân chủ và thiếu minh bạch trong các hoạt động của nhà nước.
Luật sư Hà Huy Sơn
“Vừa rồi vụ Văn Giang, Hưng Yên cũng thế, phó chủ tịch Hưng Yên nói dối, cho rằng cái clip công an đánh dân là do dàn dựng giả, để bôi nhọ chính quyền, nhưng thực tế hai anh phóng viên của đài Tiếng Nói Việt Nam xác nhận chính mình bị đánh (trong clip đó). Tóm lại, cái dối trá ở Việt Nam kinh quá, vì thế công cuộc chống tham nhũng không có tác dụng gì, hy vọng là cả chục năm nữa chúng ta sẽ chống được tham nhũng, chứ lúc này thì không cách nào cả.”
Tuy nhiên đến lúc này trong phát biểu trước hội nghị, nói về chiến dịch chống tham nhũng, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn yêu cầu phải tìm ra những nguyên nhân gốc rễ, gây ra tệ nạn tham nhũng, từ đó đề ra chủ trương hữu hiệu, giải pháp quyết liệt, để tạo sự chuyển biến rõ rệt.
Sau đó một phát biểu khác của ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng được cho là mâu thuẫn với câu nói về việc tìm nguyên nhân là ông cho rằng nhiều năm nay nhà nước đã liên tục tiến hành nhiều biện pháp khả thi, mà đến nay, chiến dịch phòng chống tham nhũng vẫn chưa đạt được kết quả như mọi người mong muốn.
Một lần nữa, ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại yêu cầu đảng và nhà nước cần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá, phân tích, tòan diện tình hình tham nhũng, đặt biệt là phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát của nhân dân và công luận, hầu sớm xóa bỏ những yếu kém, hạn chế và tiêu cực cố hữu. Những điều này được cho chỉ là khẩu hiệu suông, chứ trong thực tế nhiều người dân công khai lên tiếng tố cáo tham nhũng đã gặp bao trắc trở, thậm chí trả thù mà không hề được bảo vệ.
Trong thời gian qua, tín đồ Cao Đài và Phật Giáo Hòa Hảo ở Miền Tây xem chừng như bị giới cầm quyền và công an gây khó khăn đều khắp và ngày càng đáng ngại.
Tín đồ PGHH bị ngăn cản trong ngày Lễ Đản Sanh Đức Huỳnh Giáo Chủ tại An Giang hồi năm 2008 (ảnh minh họa).
Tu sĩ tại các Thánh thất, Đạo Tràng phản ứng ra sao? Thanh Quang trình bày tình hình này sau đây:
Sách nhiễu hàng đêm
Thưa quý vị, trong khi hôm thứ Bảy mùng 5 tháng 5 vừa rồi, tại Thánh Thất Cao Đài An Ninh Tây ở xã An Ninh Tây, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An, lực lượng gần 40 công an tỉnh, huyện, xã kéo tới đàn áp Thánh Thất, khiến Thông sự Nguyễn Thúy Liễu kêu than:
“Họ đàn áp tôi quá, tôi chịu hết nỗi. Và khiến hiền tỷ Nguyễn Thị Nữ ngất xỉu, tiểu tiện tại chỗ… Em Vĩ nói là công an tên Sáu Hưng của xã An Ninh Tây đạp cho em Vĩ một đạp lộn nhào, đau bên hông.”
Và Chánh Trị Sự Thánh Thất Lê Minh Châu báo động:
Kể như cuối năm nay thì Trung tâm Tu tập phải giải tán hết, các bé phải về nhà sau khi tụ học ở đây cũng được 2-3 năm rồi.
Nguyễn Thế Truyền
“Đêm thứ Bảy ấy, tôi đi đám xác ở Tây Ninh thì công an Bon có điện thoại cho tôi, nói là bây giờ anh mở cửa cho chúng tôi vô kiểm tra Thánh Thất. Lúc đó tôi đang đi đám xác nên tôi mới điện thoại cho Thông sự Liễu tại Thánh Thất để mở cửa cho vô kiểm tra. Công an vô không kiểm tra, mà lại buộc tôi và cô Liễu cùng toàn thể đồng đạo ở Thánh Thất đều rời khỏi Thánh Thất An Ninh Tây.”
Thì trong nhiều tuần qua, tại Trung tâm Tu tập Niệm Phật Tiểu Nhi thuộc PGHH tại phường Mỹ Hoà, khóm Tây Huề 2, TP Long Xuyên, tu sĩ Nguyễn Thế Truyền đại diện các tiểu nhi tu học ở đây kể lại:
“Ở đây mỗi tuần công an an ninh khu vực, công an TP đều có tới; thỉnh thoảng kiểm tra hộ khẩu đột xuất ban đêm.”
Sau khi sách nhiễu và ra lệnh đuổi tức khắc nữ tu sĩ Nguyễn Thị Thu Hằng và cư sĩ Trần Thị Dân Trang vốn lo cơm nước, giặt quần áo, tiếp dạy dỗ các thiếu nhi trong Đạo Tràng, giới cầm quyền ra lệnh giải tán Trung tâm Tu tập Niệm Phật Tiểu Nhi này, như tu sĩ Nguyễn Thế Truyền cho biết:
“Kể như cuối năm nay thì Trung tâm Tu tập phải giải tán hết, các bé phải về nhà sau khi tụ học ở đây cũng được 2-3 năm rồi. Bây giờ bên chính quyền không cho thì mình phải chịu thôi, đâu dám đương đầu. Chúng tôi nghe lời Đức Thầy chỉ dậy rằng “Ráng nhẫn trăm phần dầu khó nhẫn, dạ thưa quan chức phận làm dân”. Đối với những người có quyền lực, có điều kiện thì mình cũng phải chịu thôi, không dám chống đối hay làm gì được hết.”
Trong khi đó, cũng như bao nhiêu Niệm Phật Đường PGHH khác ở Miền Tây, công an cũng không quên nhiều lần chiếu cố Đạo Tràng của tu sĩ Út Trung, tức Bùi Văn Trung, ở xã Phước Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang, như tu sĩ Út Trung kể lại:
Các tín đồ PGHH bị ngăn chặn trong lần chuẩn bị hành lễ trước đây. File photo.
“Nói chung vừa qua, khi có đám giỗ ở nhà chúng tôi, họ huy động lực lượng đông lắm, kết hợp với công an chìm – tức xã hội đen. Bởi vì bên mấy ổng sắp đặt, mướn khoảng 100 người, với tổng số tiền khoảng 20 triệu đồng, mỗi người được trả 200.000 đồng. Nếu đánh có máu là được đưa tiền liền. Còn nếu đánh chưa ra máu, nhưng nếu đánh xong thì cũng được trả 200.000 đồng. Số đồng đạo đi đám giỗ nhà chúng tôi cũng khá đồng, và bị đánh trên dưới 20 người, trong đó bị đổ máu khoảng 5 người. Anh Bảy Long, anh Năm Mẫn bị nặng, chảy máu miệng. Một số bị trật tay trật chân. Họ đánh khiến một số người bị nội thương.”
Hành động như vậy của giới cầm quyền và công an, theo tu sĩ Út Trung, khiến tín đồ PGHH “chịu đựng đến đây cũng mòn mỏi lắm” rồi:
“Họ nói câu rằng “nhà nước là người đầy tớ trung thành của nhân dân” mà bây giờ lại hành động như thế. Họ đàn áp chúng tôi lần này như vậy là rất nhiều lần rồi. Sức chịu đựng của con người có giới hạn. Cho nên người tín đồ PGHH chịu đựng đến đây cũng mòn mỏi lắm. Sức chịu đựng cũng quá nặng nề.”
Chúng tôi tuân theo 4 đại đức Từ Bi Hỷ Xả của Đức Phật, thế nên những chuyện gì đến thì mình cũng đều bỏ qua, không để trong tâm để thù ghét oán hận gì cả.
Tu sĩ PGHH Út Trung
Chánh Trị Sự Cao Đài Lê Minh Châu của Thánh Thất An Ninh Tây ở Long An vừa nói nhận xét về hành động của công an đối với cơ sở tôn giáo của ông:
“Dạ tôi thấy chuyện này không đúng, vì nhà nước đã đưa ra Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Điều 70 của Hiến pháp nước CHXHCNVN, qua đó, công dân có quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo các nơi trong nước được quyền thờ tự. Tôi thấy đồng đạo và nhơn sanh tới đây cúng kiến, công an cấm đoán như vậy là không đúng. Chúng tôi ở đây là người gìn giữ luật lệ của Hội Thánh, bảo thủ luật pháp chơn truyền của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Toà Thánh Tây Ninh, Đạo khai năm 1926 do Đức Chí Tôn chủ quản. Chúng tôi chỉ biết Đạo Cao Đài năm 1926.”
Cố tình hành hung?
Trước hành động đàn áp tiếp diễn của giới cầm quyền và công an, tu sĩ PGHH Út Trung lưu ý tới tính cách cướp bóc tài sản của nhân dân, tính cách gần như cướp của giết người thuộc những tội rất nặng. Tu sĩ Út Trung nhận thấy khoảng cách giữa hành động đánh người và giết người của công an cũng không xa – mà “nếu đánh lỡ tay thì cũng chết người như thường”. Ở đây, theo ông, họ cố tình hành hung tín đồ PGHH.
Các tín đồ Cao Đài trong một lần chờ hành lễ trước đây. AFP PHOTO.
Câu hỏi có lẽ cần được nêu lên là trước tình cảnh như vậy, các tu sĩ Cao Đài, PGHH phản ứng ra sao? Chánh Trị Sự Lê Minh Châu khẳng định là ông cùng tín đồ Cao Đài địa phương sẵn sàng tử thủ để bảo vệ cơ sở thờ tự, bảo vệ luật lệ của Hội Thánh. Tín đồ Cao Đài chân chính sẽ không tiếp Hội Đồng Chưởng Quản của nhà nước, và chỉ biết cầu nguyện Ơn Trên che chở. Chánh Trị Sự Lê Minh Châu nhân tiện yêu cầu chính quyền xã An Ninh Tây phải làm đúng theo Pháp Lệnh Tín Ngưỡng của nước CHXHCNVN, yêu cầu giới cầm quyền địa phương đừng nhúng tay vào chuyện nội bộ tôn giáo. Ông nhân tiện nhắc lại sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chương 4, Điều 13, ban hành vào ngày 24 tháng 6 năm 1955, rằng “chính quyền không can thiệp vào chuyện nội bộ của tôn giáo”. Trong khi đó tu sĩ PGHH Út Trung nguyện noi theo từ tâm của Đức Phật để sau cùng rồi cũng rõ “Chánh-Tà”:
“Chúng tôi tuân theo 4 đại đức Từ Bi Hỷ Xả của Đức Phật, thế nên những chuyện gì đến thì mình cũng đều bỏ qua, không để trong tâm để thù ghét oán hận gì cả. Nhưng vì họ đóng vai trong khối Ngũ Hành Tương Khắc - bên phá đạo, còn chúng tôi đóng vai bên Phật. Hai bên chỏi với nhau để cho ra mặt là ai chánh, ai tà.”
Còn tu sĩ Nguyễn Thế Truyền nhận xét rằng:
“PGHH làm nhiều việc lợi ích cho đồng bào, cho dân tộc, cho nhân loại chúng sinh. Chính vì vậy mà bị nhà nước quan tâm – từ bước chân, lời nói, việc làm của người tín đồ PGHH.”
Vị tu sĩ PGHH này trích dẫn di huấn của Đức Huỳnh Giáo Chủ rằng:
“Đấng nam nhi ẩn nhẫn tùy thời, Vậy mới gọi khôn ngoan hữu chí”
Để khuyên đồng đạo ẩn nhẫn tùy theo hoàn cảnh, tùy theo thời cho thích hợp. Theo ông thì bây giờ cơ đạo chưa đến, điều kiện phát huy chưa được hanh thông thì các tín đồ PGHH cũng “tạm ngừng lại đó, rồi chờ cơ hội khác”.
Ban Chấp hành Trung ương đảng CS khóa XI họp lần thứ năm từ sáng 7/5 để bàn về sửa đổi hiến pháp hiện hành.
Dân làng đối mặt với cảnh sát chống bạo động ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, ngày 24/4/2012
Trong lời khai mạc, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ việc sửa đổi và bổ sung hiến pháp lần này chỉ liên quan đến "những vấn đề thực sự cần thiết, được thực tế chứng minh là đúng đắn, có đủ cơ sở và sự thống nhất cao, khi thời điểm đã chín muồi" Ông cũng rào trước là sẽ không bàn đến việc 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tách rời nhau theo nguyên tắc «tam quyền phân lập», nghĩa là kiên quyết giữ nguyên chế độ độc quyền toàn trị của đảng CS, ôm chặt cả 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, không có ai kiểm soát và thay thế được. Đây là chế độ độc đoán phi dân chủ chỉ còn rải rác ở một số nước đếm được trên đầu ngón tay. Trên thế giới hiện không còn có ai cho rằng một nước theo chế độ độc đảng lại có thể là một nước dân chủ.
Vậy, trên thực tế, những vấn đề nào là cần thiết nhất?
Ngay vấn đề danh xưng, tên nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cũng đã đến lúc cần thay đổi. Vì thế nào là chế độ XHCN vẫn còn là vấn đề cần được thảo luận, chưa định hình được cho rõ ràng. Các nước XHCN ở Đông Âu, Trung Âu đã tan vỡ. Ngay như Trung Quốc mà nhóm lãnh đạo hiện nay ở Hà Nội coi là mẫu mực cũng chỉ mang danh là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; Bắc Triều Tiên cũng chỉ được gọi là nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên; và Cuba cũng chỉ mang tên nước Cộng hòa Cuba.
Cũng cần nhắc lại nước Libya của Gadhafi đã từng tự gọi là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Libya; hay Miến Điện, từng được gọi là nước Xã hội Chủ nghĩa Miến Điện, cũng đã thay đổi quốc hiệu bằng cách bỏ hẵn cụm từ XHCN không còn thích hợp, vô duyên, mơ hồ. Chỉ còn có Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới vẫn tiếp tục giữ danh xưng XHCN lạc lõng, trơ trọi, phản khoa học vì không có nội dung thích hợp.
Vấn đề cấp bách, thiết thực hơn cần giải quyết ngay tại cuộc họp Trung ương lần này là vấn đề công nhận quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất của nông dân vốn có tự ngàn xưa, bỗng nhiên bị đảng CS xóa bỏ bằng cách "sáng tạo" ra khái niệm "sở hữu toàn dân".Ruộng đất, ao hồ … là thuộc quyền sở hữu của toàn dân. Vậy toàn dân là ai? Trên thế giới, không ở đâu có cái khái niệm toàn dân cả. Toàn dân là ai? Là ông hay là bà? Là cô hay là cậu? Sinh ra ngày tháng nào? Có họ gì, tên gì? Địa chỉ ở đâu? Làm nghề gì? Có danh nghĩa pháp nhân hay không?
Ngày xưa bên cạnh ruộng của tư nhân có một số rất ít ruộng «công», ruộng của chung, cho lợi ích công cộng, do chính quyền xã quản lý, hay ruộng của dòng họ, của hội tư nhân, có tên người đứng ra quản lý. Đó còn là ruộng công do hội đồng xã cai quản, nhằm tạo quỹ công, để sửa chữa đường xá, xây trường học, dự trữ lương thực khi đói kém, thuê người canh giữ ruộng đồng, có nhiều nơi có "tự điền", "học điền" nhằm chăm lo việc cúng bái ở các nhà thờ họ, cung cấp học bổng cho học sinh nghèo và học sinh giỏi; nhà chùa cũng có "tự điền", "hiến điền" do tư nhân có hảo tâm cúng hiến trước khi chết, nhằm chăm lo việc cúng bái, làm từ thiện, cứu trợ cô nhi quả phụ.
Đảng CS đã "tịch thu" tất cả các loại ruộng công và ruộng của tập thể trên đây, để nhân danh nhà nước nắm giữ hết, theo công thức "Ruộng đất là thuộc sở hữu của toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý". Toàn dân là ai? Không là ai cả, toàn dân không có họ tên, tiếng nói, địa chỉ nên đảng CS đã cướp chính quyền và tự cho quyền thay mặt toàn dân để sở hữu tất cả. Từ đó họ bày ra các khái niệm "thu hồi, đền bù, cưỡng chế", không hề có ở bất kỳ nước nào khác, để xóa bỏ triệt để quyền sở hữu ruộng đất của tư nhân, xóa luôn cả các loại ruộng công, ruộng của các dòng họ, của chùa, nhà thờ, các loại tự điền, học điền, công điền… phá hoại cuộc sống tư nhân và cộng đồng nhỏ ở nông thôn.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương đảng CS rất thưa thớt, xuân thu nhị kỳ, mỗi năm chỉ họp 2 hay 3 lần. Do đó cần bàn đến những vấn đề cần kíp nhất, cấp bách nhất. Sửa đổi hiến Pháp là vấn đề cấp bách, nhưng không thể chỉ sửa những điều thứ yếu, bộ phận, hình thức.
Vấn đề sở hữu rộng đất, trả lại quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất cũng như các loại ruộng công, ruộng của tập thể dòng họ, nhà chùa, nhà thờ… là vấn đề nóng bỏng, chính đáng nhất.
Hiện đang có gần 40 ngàn vụ khiếu kiện về ruộng đất chưa được giải quyết, nông thôn tiêu điều, nông dân cảm thấy bị đảng CS phản bội, do đó không thể sửa chữa kiểu bộ phận, như 5 lần thay đổi Luật về đất đai trước đây.
Đi cùng với vấn đề then chốt trên đây, việc từ bỏ Điều 4 của Hiến pháp - cóp nhặt của hiến pháp Liên Xô - cũng hết sức cấp bách để thực hiện nền dân chủ đa nguyên, dựa trên quyền tự do lập hội. Xin nhớ Liên Xô sụp đổ chính là do cái Điều 4 khẳng định vị trí độc quyền của đảng CS.
Đảng CS Việt Nam đã đến lúc cần nghe rõ mong muốn nóng bỏng của đông đảo nhân dân là thiết lập một nền dân chủ đa nguyên hiện đại, điều kiện tiên quyết để hòa nhập hoàn toàn với thế giới dân chủ hiện đại. Lúc này đã là quá chậm. Không thể làm mất thêm thời gian của nhân dân, của dân tộc. Hãy chuẩn bị một cuộc họp Quốc hội lịch sử theo hướng ấy. Cũng cần tổ chức trưng cầu dân ý về vấn đề cực kỳ hệ trọng này.
Đảng CS sẽ được lợi, là khi có đảng anh em, bình đẳng để ganh đua, cạnh tranh nhau phục vụ nhân dân, lấy cử tri làm trọng tài, đảng CS sẽ có thể khắc phục sự suy thoái thảm hại hiện nay.
Đảng CS không thể một mặt cao ngạo tự cho mình là đúng đắn duy nhất không ai cạnh tranh thay thế được, mặt khác lại ươn hèn tự ty không dám đọ sức với một tổ chức nào khác, để lẩn thẩn nghĩ rằng công nhận đa nguyên là tự sát.
Còn vài ngày nữa Hội nghị Trung ương 5 sẽ kết thúc. Nếu bỏ qua việc bàn đến việc trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân và bỏ điều 4 trong Hiến pháp, đi ngược với dân tộc và thời đại, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng sẽ kiên trì một thái độ sai lầm tệ hại, tự dấn sâu vào con đường xa rời nhân dân, phản bội nông dân, như thế là khiêu khích toàn dân và sẽ không tránh khỏi sự chống đối rộng khắp của mọi tầng lớp đồng bào ta đang thức tỉnh.
Trong khi Biển Đông không ngừng dậy sóng ba đào, mới đây biên tập viên đài CCTV đã "lỡ mồm" gọi Philippines là một phần lãnh thổ của Trung Quốc, khiến dân Phi càng bừng bừng phẫn nộ để sẵn sàng cho cuộc xuống đường vào thứ sáu tuần này, thì ở Việt Nam đang loay hoay đối phó chuyện "trong nhà" với ruộng vườn, cây kiểng, ao cá qua cuộc cưỡng chế tại Vụ Bản không kém phần rùng rợn so với Văn Giang vừa xảy ra chưa đầy nửa tháng trước.
Những nhà báo đúng nghĩa là ai?
Song song với cướp đất, giới cầm quyền VN tiếp tục cướp "Quyền Lên Tiếng" của người dân. Họ không chỉ cướp cái quyền ấy từ những nông dân chân đất, mà họ cướp từ cả những người của họ qua hai ông "nhà báo" Nguyễn Ngọc Năm và Hán Phi Long - thuộc biên chế VOV - đơn vị truyền thông hoành tráng nhất nhì Việt Nam.
Blogger J.B Nguyễn Hữu Vinh cay đắng và chua chát nhận định, nếu không có "rác rưởi" của giới Blogger tự do, hai ông "nhà báo" này khó có cơ hội để cất lên tiếng lòng trong một việc làm mà chính ông Năm cho biết tác nghiệp theo sự phân công của ban lãnh đạo VOV theo hướng "cuộc cưỡng chế là đúng pháp luật"(!).
Nhà báo Võ Văn Tạo đem con chó ra so còn sướng hơn cái nghiệp cầm bút thì nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh dùng chữ "xổng chuồng" để mỉa mai cho cánh nhà báo trong nước đồng loạt "ẳng ẳng" sau khi đồng nghiệp xa lắc xa lơ tận bên Anh Quốc (nghĩa là đài BBC) "moi móc" đầu tiên để công bố hai người trong đoạn clip bị đánh chính là một trưởng phòng của VOV và một phóng viên thuộc quyền của ông ta. Người dân thấy lại hiệu ứng "BẦY ĐÀN" của những người cầm bút trong nước và lời xỉa xói của Nguyễn Văn Thành - Bí thư Hải Phòng bỗng ong ong trong đầu với chữ "hùa vào" được xáng thẳng vào đầu những ai đã hòa điệu mắng chửi... bọn cướp ngày!
Trách chi một tay "công an" mắng thẳng vào ông Năm rằng: Đ.M, nhà báo cũng đánh cho chết mẹ mày luôn! Rõ, "bọn cướp" vô cùng căm thù người cầm bút vạch trần tội ác của chúng.
Tội cho ông Năm và ông Long, bởi hai ông đang vâng lệnh cấp trên với bằng chứng chính ông Năm cho biết đã quay phim vài mươi giây duy chỉ hình ảnh người dân Văn Giang ném đá vào lực lượng công quyền, đó như là hành vi chứng minh ông tố cáo người dân quá khích và đứng về phía lực lượng công quyền! Sao thế?! Bọn cướp nghi ngờ. Chúng không tin ai cả. Ngay cả khi Ngọc Năm và Phi Long lên tiếng là "nhà báo"! Chúng không biết, chúng không hiểu bởi chúng chỉ là những con robot không hơn không kém. Hơn thế, chúng đang say máu! Chúng hành xử cũng bởi cấp trên của chúng và cấp trên ông Năm thiếu sự... "hiệp đồng tác chiến"!!! Nếu cấp trên hai bên có sự trao đổi, chắc chắn hai ông sẽ bình an vô sự. Sao thiếu phối hợp nhịp nhàng như lời Đảng luôn dạy?! Cũng bởi chẳng bên nào tin bên nào, dù họ cùng mục đích - bảo vệ cho bọn cướp, như Trần Mai Hạnh (nguyên Tổng thư ký hội nhà báo VN), Phạm Sỹ Chiến (nguyên Viện phó VKSNDTC), Bùi Quốc Huy (nguyên Thứ trưởng Bộ CA) đã bảo vệ Năm Cam bình an trong một thời gian dài để tung hoành ngang dọc gây chết chóc khắp Saigon một dạo.
Hai ông "nhà báo" này cũng dở ẹc! Chủ quan! Giá như hai ông chú tâm hơn trước một tình hình căng thẳng đầy mùi bạo lực thì phải nhớ nghiệp vụ cải trang là điều các nhà báo luôn được trang bị trong các bài học trên lớp. Rõ, quá chủ quan! Chỉ cần một cái băng đỏ trên bắp tay, hai ông sẽ thong dong mà "tác nghiệp"! Mà mang "chiến công hiển hách" về cho "phe nhà" với cái gọi là "cưỡng chế đúng pháp luật"!
Hoặc láu lỉnh hơn một tí, khi bị chận bắt, ông Năm chỉ cần rỉ tai: "phe mình, phe mình" và chìa ngay đoạn phim quay duy chỉ người dân Văn Giang ném đá thì đã... tránh được trận đòn nhừ tử rồi! Cay đắng!
Giả sử chiến sự bùng nổ thì trông mong gì những ông này nhỉ?! Các "phóng viên chiến trường" ngày xưa tại Việt Nam chắc cũng ê chề khi nhìn thấy hậu bối lơ ngơ lóng ngóng như thế! Đã mang danh "nhà báo" thì không những giỏi nghề mà còn phải khôn ngoan, láu lỉnh, phản ứng mau lẹ trước mọi tình huống. Hai ông này mà đi chiến trường hành nghề chắc tiêu quá!
Có phải đó là sản phẩm của nền giáo dục đào tạo ra những nhà báo nếu không gian manh, giảo hoạt như: Hồ Thu Hồng, Hữu Ước, Quý Thanh, Nguyễn Văn Minh, Hồng Đại Quang, Trần Bình Minh, Trần Gia Thái, Tô Huy Rứa, Đinh Thế Huynh v.v...thì lơ ngơ, lóng ngóng như Nguyễn Ngọc Năm, Hán Phi Long? Tự hỏi, không biết người dân thật sự trông mong gì ở các nhà báo này? Bởi những nhà báo đúng nghĩa như Đoan Trang, Hoàng Khương, Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Việt Chiến v.v...có xin cũng chẳng ai dám "phân công" họ ra hiện trường?!
Xem lại đoạn clip, ông Long với tác phong khá nhàn nhã, vô can, tự dưng bị cả bầy công an lôi ra hè nhau đập, quả là chẳng ai hiểu nổi cho đến khi biết hai ông ung dung đến hiện trường theo... phân công! Trước đó, đa số mọi người đều nghĩ đó là hai người dân trong vùng bị đánh đập.
Có người đã gọi việc hai ông "nhà báo" này bị đánh là "quân mình đánh quân ta", người khác thì nói "quả báo nhãn tiền", nhiều người thắc mắc ông Năm cũng đã từng có những bài báo lên tiếng về những tiêu cực, khuất tất cũng như lên tiếng cho người dân thấp cổ bé họng(1) sao giờ lại như thế?! "Ngu trung" và "mù quáng tuân theo" có thể lý giải cho hành động ông Năm và ông Long không? Nếu quả vậy, ông Võ Văn Tạo viện con chó ra để so sánh thân phận là chưa đủ mà đức tính trung thành tuyệt đối của chó là yếu tố đặc trưng mà ông Tạo quên lý giải cho thêm mặn mòi bài báo!
Đáng kiếp cho cái nghiệp cầm "bút có lông" cho thằng khác... đái! Ôi! Những nhà báo "của nhân dân chúng tôi"! Những "nhà báo" Hữu Ước, Hồ Thu Hồng, Trần Bình Minh, Trần Gia Thái, Hồng Đại Quang v.v... sao chưa thấy "hùa" theo sủa khi đồng loại bị đánh đau như thế!
Vẫn biết chì chiết càng làm đau lòng thêm cho những ai cầm bàn phím như cầm chén cơm! Phải vậy thôi! Nhưng lương tri đâu? Lòng trắc ẩn trước đồng bào đau khổ đâu?
...Họ - chính Họ xứng đáng được gọi là "Nhà Báo" vậy!
Trong khi ngày tự do báo chí thế giới qua chưa bao lâu, giữa các nhà báo bị cầm tù bởi các chế độ độc tài, tàn bạo: Cuba, Syria, Eritrea, Ecuador... bút danh Điếu Cày - Việt Nam hãnh diện đứng giữa những người cầm bút được trân trọng nhắc nhớ bởi Tổng thống Hoa Kỳ thì cánh cầm bút trong nước thêm muối mặt với sự bê bối nói trên.
Càng xúc động về cái tên Điếu Cày được vinh danh, càng hổ thẹn cho cánh nhà báo trong nước đang bẻ cong ngòi bút, lại càng quặn lòng hơn cho Hoàng Khương đang tiếp tục bị tạm giam vô lý, càng thương cho phận hẩm hiu của Người Buôn Gió, Mẹ Nấm, Phạm Hồng Sơn, Lê Quốc Quân, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Tường Thụy, Đặng Bích Phượng, Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thục Vy, Huỳnh Trọng Hiếu, Tạ Phong Tần, Đinh Đăng Định, Anh Ba Sài Gòn v.v... bởi họ quá trơ trọi và tự chống chọi để bảo vệ bản thân!
Càng se sắt lòng khi nghĩ về Paulus Lê Văn Sơn. Anh không bao giờ còn cơ hội nhìn mẹ mình một lần cuối bởi sự hẹp hòi đê tiện của CSVN!
***
Trong số những blogger đang chịu căng thẳng thần kinh, đang chịu tù đày chẳng ai được cấp cái thứ gọi là "thẻ nhà báo", tuy vậy, người dân côi cút lại đang trông vào những "kẻ" chẳng phải là nhà báo này!
Họ - chính Họ xứng đáng được gọi là "Nhà Báo" vậy!
- Về Cung Trầm Tưởng: Một người sáng tác thơ - nổi tiếng nhất với 2 bài “Mùa Thu Paris” và “Lên Xe Tiễn Em Đi” đã được Phạm Duy phổ nhạc. Ông còn là một cựu Trung tá Không Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
- Về Thụy Khuê: Một người từng phụ trách mục Văn Học Nghệ Thuật của đài RFI từ 1990 đến 2009.
Trân trọng giới thiệu tới bạn đọc bài viết “Những dòng cảm nghĩ về cuốn biên khảo của Thuỵ Khuê, ‘Nhân văn Gia phầm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc’” của Cung Trầm Tưởng. Bài viết đã được đăng trên nguyệt san Kỷ Nguyên Mới số 133 (Virginia-USA).
Những dòng cảm nghĩ về cuốn biên khảo của Thuỵ Khuê, “Nhân văn Giai phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc”
Nhân văn Gia phầm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, Thụy Khuê
Nguồn ảnh: Ts Tiếng Quê hương
Từ nhiều năm nay, ở hải ngoại người ta đã viết khá nhiều về sự kiện Nhân Văn Giai Phẩm và nhân vật Nguyễn Ái Quốc.
Công chúng nhờ đó có được một sự hiểu biết phong phú, đa nguyên, bổ ích. Tuy nhiên, theo chúng tôi, đó mới chỉ là một cái nhìn cục bộ, tản mạn, rời rạc, không được hệ thống hóa, thiếu chuyên sâu và tính nhất lãm. Tầm nhìn bị hạn chế trong khuôn khổ những bài viết có những khảo hướng khác nhau, nên thiếu bề dầy, tính keo sơn và sự thống nhất tư tưởng của một quyển sách viết nên bởi một tác giả.
Sự khiếm khuyết này của tri thức, và học thuật, nay được bổ sung với sự ra đời của cuốn biên khảo Nhân Văn Giai Phẩm Và Vấn Ðề Nguyễn Ái Quốc của nhà nữ phê bìnhvăn học tên tuổi Thụy Khuê.
Trước hết xin nói về hình thức.
Tác phẩm có kích thước của một pho sách: 970 trang, 25 chương, 1 phụ lục và một thư mục gồm 204 tài liệu, tư liệu, tiểu luận, tiểu thuyết, hồi ký, bút ký, nhật ký, tạp ghi, biên niên, thi phẩm, diễn văn, thư từ, báo cáo, tường thuật, chấp bút những cuộc phỏng vấn ghi âm trên điện thoại hay qua những cuộc gặp mặt giữa người hỏi và người trả lời, và những buổi “trò chuyện với những người trong cuộc” của Thụy Khuê.
Bản liệt kê tỉ mỉ trên nhằm nói lên một điều: tác giả đã làm việc cần cù, thận trọng, nghiêm túc, có quy mô-những đức tính cần có của một người làm công tác học thuật chân chính.
Về phương pháp luận, Thụy Khuê đã tỏ ra am tường, tinh tế, thông minh, linh động trong việc xử dụng những công cụ của tư duy khoa học như quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, ngoại suy, loại suy, đốichiếu (văn bản, văn khí, văn phong), khảo sát (niên đại), và vân vân.
Ðể truy tìm sự thật bị bóp méo bởi những ý đồ ám muội, Thụy Khuê đã cần mẫn quy tập, tổ chức những sự kiện riêng lẻ thành một tổng hợp có ý nghĩa, kết nối cái này vớicái kia thành một tương quan liên đới, dắt dây—connecting the dots — tạo nên cái logic của tổng thể trong đó những sự kiện cá thể trở thành những yếu tố cấu thành của tổngthể. Học thuật như vậy là nghệ thuật ráp nối cái muôn vẻ thành một chỉnh thể có ý nghĩa, hóa luận ngôn (hiểu theo nghĩa là sự lập ngôn của tư duy logic) thành một bài thơ trí tuệ trong chừng mực tính chính xác của khoa học cho phép.
Xin khai triển điều vừa viết ra.
Nghệ thuật lý luận của Thụy Khuê liên hợp được chức năng cảm nhận với chức năng suy nghĩ thành một cảm nghĩ hài hòa, cân đối — điều này thích hợp với khoa học nhânvăn — thông qua một ngôn ngữ hữu cơ: sự đơm xương nở thịt của bào thai tư tưởng. Nhà cấu trúc học Roland Barthes diễn tả mối giao thoa này với một hình ảnh nên thơ: “Qua nghe ra tiếng lao xao của cõi chữ, tôi hỏi về cái dợn mình của nghĩa. (C’est le frisson du sens que j’interroge en écoutant le bruissement du langage.)”
Ngôn ngữ lý luận của Thụy Khuê có cái cấu trúc hai tầng lao xao này. Nó ủ men hương của trí tuệ và gợi dậy nơi người đọc một khoái cảm mỹ học lâng lâng phiêu diêu.
Chúng ta hãy đọc đoạn cô bà bình ba câu thơ kiểu Haiku của Phùng Cung
Ðêm về khuya
Trăng ngả màu hoa lý
Tiếng gọi đò căng chỉ ngang sông
như sau:
“Ðêm trăng, hoa lý, tiếng gọi đò, sông...là những yếu tố của một cảnh đêm có thể chất hoàn toàn khác nhau. Nhờ một hành động chữ, chúng đã hóa mộng. Ðể được sốnglại trong một không gian khác, để tạo ra nghịch cảnh của một đời người. Sự cô đơn tuyệt đối của con người bị cô lập suốt đời, được nhà thơ biểu hiện dưới một màn trăng đêmkhông người, mà có “tiếng gọi đò” như “con nhện vô hình” giăng nối hai bờ xa cách. Hai quang cảnh, một của thiên nhiên hiện thực, diễm ảo Ðêm về khuya trăng ngả màuhoa lý và một của tâm thức cô đơn tuyệt đối Tiếng gọi đò căng chỉ ngang sông của kẻ bị cách ly, lưu đày, bị đoạt tự do và cướp ánh sáng mà Nguyễn Mạnh Tường gọi là Un Excommunié – Kẻ Bị Khai Trừ” (Trang 421-2 NVGP&VÐNAQ).
Ngôn ngữ lý luận như vậy là tinh tế, uyên bác, đầy đặn, cặn kẽ, tài hoa, đẹp như một bài thơ.
Sự đánh tráo lịch sử được chính thống hóa, lên kế hoạch, dựng thành chính sách nhà nước, viết thành sách giáo khoa, xử dụng hết công suất của một cỗ máy tuyên tuyềnkhổng lồ đập ồn ĩ vào màng nhĩ, con ngươi người dân, cắm sâu xuống tầng tiềm thức của tâm hồn họ: họ bị tẩy não mà không hay và sống kiếp sống thừa của một người có taimà điếc, có mắt mà mù.
Ðối với ai còn thiết tha với dân tộc, còn biết thương đồng bào, điều trên nói lên sự cần thiết của những liều thuốc giải độc mạnh. Chẳng hạn cuốn tự truyện Kẻ Bị Khai Trừ bi thiết nhưng không ủy mị, vẫn giữ được giọng châm biếm và khí chất sĩ phu ngạo nghễ của Nguyễn Mạnh Tường; những truyện ngắn dã sử chuyên chở những thông điệpthấm thía, mang tính phạm thượng, dân dã uyên thâm và những vần thơ phế phủ rớm máu, toát ra một khí phách quyết liệt, không khoan nhượng kẻ thù cộng sản của PhùngCung, và pho biên khảo Nhân Văn Giai Phẩm & Vấn đề Nguyễn Ái Quốc chuyên sâu, tỉ mỉ, chính xác, bén như một lưỡi dao mổ của Thụy Khuê.
Xin hậu thuẫn nhận định vừa trình bày với một ví dụ dưới dạng một câu hỏi: Nguyễn Tất Thành thực sự đến Paris năm 1914, 1917 hay 1919?
Với cái nhìn phân tích tỉ mỉ và hiếu kỳ của một thám tử chuyên nghiệp, Thụy Khuê đã trả lời hộ chúng ta nghi vấn trên.
Theo những tài liệu chính thức và bán chính thức của đảng Cộng sản Việt Nam, Tất Thành đến Paris năm 1914. Thời điểm này được lựa chọn để hợp lý hóa câu chuyện kểcủa Trần Dân Tiên — một bút hiệu của Hồ Chí Minh — theo đó anh Ba Nguyễn Ái Quốc đã có công lớn cùng với hai nhà cách mạng lưu vong nổi tiếng Phan Văn Trường vàPhan Châu Trinh trong việc khởi xướng và lãnh đạo phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ngay trên đất Pháp trong giai đoạn 1914-1919.
Câu chuyện phịa này bị lật tẩy vì theo hồ sơ chính thức của Sở Mật Thám Pháp, “Tất Thành đến Paris ngày 7/6/1919. Ở số 10 Stockhom từ 7/6 đến 11/6. Ở số 56Monsieur Le Prince từ 12/6 đến 13/7. Và từ 14/7/1919 đến ở 6 Villa des Gobelins.” (Trang 473 sđđ).
Về sau, thấy việc Tất Thành đến Paris năm 1914 quá khó tin, đảng ra lệnh cho Hồng Hà, tác giả cuốn Thời Thanh Niên của Bác Hồ, sửa lại: “Anh bỏ nghề phụ bếp ở LuânÐôn, sang Paris năm 1917, đấy là vào cuối năm 1917.” (Trang 471 sđđ).
Tại sao năm 1917 lại được chọn?
Là vì đó là năm xảy ra cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên và cuộc cách mạng bônsêvích tháng 10 ở Nga, như vậy hợp với câu chuyện “Bác ra đi tìm đường cứu nước và sớm giác ngộ chủ nghĩa cộng sản” của Ðảng CSVN.
Từ sự phát hiện này và những chứng minh hùng hồn của Thụy Khuê về sự đánh cắp danh tính Nguyễn Ái Quốc và quyền sở hữu trí tuệ của ba nhà cách mạng lỗi lạc Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh của Hồ Chí Minh, chúng ta biết được bản chất của con người này. Ðó là một tên đại bịp vô liêm sỉ ngoài tiếm danh ba ân nhân thầy học của mình, còn quay lại chê bai, chỉ trích, xuyên tạc họ, và đây không khác gì hơn là sự phản bội ghê tởm của một kẻ ăn cháo đá bát, qua sông đốt đò.
Hơn thế nữa, hắn lại còn dám tự mình và bắt thủ hạ phải tôn vinh, thánh hóa mình thành một lãnh tụ anh minh, liêm chính của dân tộc và một vĩ nhân của loài người!
Ðây quả là một thóa mạ lương tri và đạo lý làm người hiếm thấy trên sân khấu chính trị tự cổ chí kim. Phải có trong tay một quyền lực tuyệt đối và trong đầu một tâm địaquỷ và một ám ảnh bệnh hoạn thì mới có thể hành xử vô luân và kỳ dị như vậy. Cơ bản, hắn là một con bệnh nhân cách — psychopath — có ý hướng cuồng vĩ và cuồng sát.
Kiện toàn hồ sơ Nhân Văn Giai Phẩm
Sự thiếu vắng những công trình biên khảo tổng hợp đã khiến cho sự hiểu biết của chúng ta về sự kiện Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) cục bộ, tản mạn, thiếu tính hệ thống. Ở đây, chúng tôi chỉ xin bổ sung một số dữ kiện quan trọng thu hoạch từ cuốn biên khảo của Thụy Khuê nhằm kiện toàn bức tranh toàn cảnh.
Sau đây là một dữ kiện mới đối với chúng tôi.
Nhờ uy tín của bản thân mình là người phụ trách xuất sắc mục văn học nghệ thuật của đài RFI — một mục thu hút được giới trí thức và văn nghệ trong và ngoài đảng ở ViệtNam —Thụy Khuê đã mời được một số nhân vật chủ chốt của phong trào NVGP tham gia những buổi “chuyện trò với người trong cuộc” có ghi âm của bà, và nhờ đó có đượcmột lượng thông tin quý giá, độc đáo về phong trào, đặc biệt những uẩn khúc ở bên trong nó.
Chúng tôi xin đan cử dưới đây một số ví dụ điển hình.
Việc Giai Phẩm Mùa Xuân ra mắt tháng giêng năm 1956, tức bốn tháng trước khi có phong trào Trăm Hoa Ðua Nở ở Trung Cộng, chứng tỏ câu chuyện bảo rằng GiaiPhẩm chịu ảnh hưởng của phong trào là sai sự thật. Cả Lê Ðạt lẫn Hoàng Cầm đều xác định với Thụy Khuê là họ không dính dáng gì với phía bên Trung Cộng cả khi chuẩn bị cho ra mắt Giai Phẩm. (Trang 828,899 – sđd).
Về chính danh, Giai Phẩm, mà mục đích chính là muốn thổi vào cho thi ca Việt Nam một luồng gió mới, chỉ trở thành một phong trào chính trị đòi tự do dân chủ rộng lớn — gọi chung là phong trào NVGP — khi được tiếp sức bởi sự ra đời sau nó của những Giai Phẩm Mùa Thu, Giai Phẩm Mùa Ðông, tờ Ðất Mới của sinh viên và tờ Nhân Văn. (Trang 822 – sđd).
Về mặt thuần túy văn học, cùng lúc với phong trào thơ tự do ở miền Nam do Thanh Tâm Tuyền của nhóm Sáng Tạo khởi xướng, Giai Phẩm Mùa Xuân ở miền Bắc có mộtđóng góp không nhỏ cho cuộc cách mạng thi ca Việt Nam. Ðiều này làm cho chưởng môn chính thống Tố Hữu rất bực tức và nuôi ý định trả thù. Theo chúng tôi, đây là mộtđộng cơ có tính cá nhân khiến các nhà thơ của Giai Phẩm phải hứng chịu những hệ lụy chính trị ghê gớm chỉ vì việc làm thuần túy văn học đầy thiện chí của mình. Ðiều này nóilên bản chất phi văn hóa và đê tiện của chế độ độc tài cộng sản.
Ðể có một ý niệm hoàn chỉnh về tầm vóc của phong trào NVGP, thiết tưởng cũng phải kể đến công đóng góp quan trọng cho phong trào về tư tưởng và học thuật của nhóm đại học gồm các giáo sư tên tuổi như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Ðức Thảo, Trương Tửu, Ðào Duy Anh, tạo cho phong trào có được một cơ sở lý luận vững vàng, uyên thâm thuyết phục được giới trí thức và sinh viên trong và ngoài đảng. Vì vậy, nếu có gọi phong trào là một cuộc cách mạng tư tưởng tầm cỡ thì cũng là chính danh.
Chúng tôi còn biết được là có một sự mâu thuẫn tư tưởng của nhóm cầm đầu NVGP như sau. Họ không chủ trương chống đảng mà chỉ chống khuynh hướng quá tả kiểu staliniste và marxist, nhưng lại tỏ ra thiết tha với chủ nghĩa hiện thực tiểu tư sản Pháp thế kỷ 19. (Trang 811 – sđd). Ðối với đường lối chính thống của đảng, đảng viên nào màlàm như vậy là xét lại, là phản đảng — một tội không thể dung tha. Ðó là lý do tại sao họ đã phải hứng chịu những hình phạt quá nặng và bị trù ếm cho đến lúc lìa đời.
Một phát hiện khác mới đối với chúng tôi.
Do uy tín cá nhân của mình, Phan Khôi được mời đứng tên chủ nhiệm tờ Nhân Văn, nhưng Nguyễn Hữu Ðang mới đích thực là người khởi xướng, quán xuyến công việcvà là linh hồn chính trị của tờ báo. Dưới bút hiệu Người Quan Sát, cũng là của Lê Ðạt-ông viết những bài xã luận chỉ trích sắc bén đường lối và chính sáchcủa đảng mà ông cho là cực quyền, đòi tự do dân chủ và viện dẫn hiến pháp Trung Cộng để xác định quyền được biểu tình của người dân. Vì vậy ông bị chụp mũ là người hô hào dân biểu tình chống chế độ, và đảng viện cớ này để đóng cửa tờ Nhân Văn. (Trang 836-7 – sđd).
Tóm lại, có thể nói ông là một người cộng sản ly khai dứt khoát, cứng đầu, khảng khái, không thể cải tạo. Dưới mắt đảng, ông là một kẻ xét lại ngoan cố,một tên phản đảng, một cái gai nhọn cần phải nhổ.
Vì vậy so với các thành viên khác của phong trào NVGP, ông đã phải lãnh bản án nặng nhất: 15 năm tù; 5 năm mất quyền công dân; 16 năm quản thúc ở Thái Bình, thời kỳnày Phùng Quán gọi là thời kỳ giun dế; sau, được phép trở về sống ở vùng ngoại ô Nghĩa Ðô của Hà Nội, luôn bị công an theo dõi, cho đến lúc chết vẫn không thoát khỏi sốphận hẩm hiu của một kẻ bị khai trừ.
Nghe nói lúc cuối đời ông trở về với Nam Hoa Kinh của Trang Tử, tức Trang Châu. Nếu quả vậy thì phải chăng là để tìm một lối thoát duy tâm cho một tâm hồn lỡ lạc vào mê cung hoang đường của một chủ nghĩa không tưởng — chủ nghĩa duy vật biện chứng của Karl Marx.
Ông nói với Thụy Khuê:
“...Sau khi bị kết án 15 năm thì tôi cũng không ký chống án gì cả. Từ bấy giờ đến nay tôi cũng không viết một cái đơn nào để thanh minh, phân trần, xin xỏ khoan hồng hay là nọ kia. Không! Cái việc đó không!” (Trang 812 - sđd)
Một người trí thức suốt đời trầm luân trong bể khổ mà vẫn giữ được cái khí phách ngạo nghễ, kiên cường và tinh ròng như thế ắt phải có một triết lý sống caosâu làm điểm tựa. Nếu quả vậy, chuyện ông trở về với Trang Tử lúc cuối đời là hợp lý. Chúng tôi nghĩ, ông ắt phải tâm đắc với điều Trang Tử viết trong thiên Thiên Hạ của Nam Hoa Kinh:
“Trang Châu thấy đời chìm đắm trong ô trọc, không hiểu được lời mình nên dùng “chi ngôn” mà gieo khắp, dùng “trùng ngôn” làm thực sự, dùng “ngụ ngôn” chorộng hiểu. Rồi riêng một mình lại qua cùng trời đất tinh thần mà không ngạo nghễ vạn vật, không hỏi tội thị phi, lại sống chung cùng thế tục...Trên thì đạo cùng tạo vật, dướibạn cùng “ngoại tử sinh, vô chung thủy”...Tông chỉ đó có thể thích hợp với bậc thượng trí.” (Trang 17 Trang Tử Nam Hoa Kinh, Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch và bìnhchú).
Qua những lời kể lại về sau của những Lê Ðạt, Hoàng Cầm, Trần Dần, Nguyễn Mạnh Tường và sau khi đọc được những lời buộc tội của “bốn bất tử” Tố Hữu, Nguyễn Ðình Thi, Chế Lan Viên và Hoài Thanh, chúng ta có thể mường tượng được cái không khí ngột ngạt, gay gắt của những buổi kiểm thảo, “học tập đấu tranh chống bọn NVGP”, thực chất là những phiên tòa xử quái đản trong đó các nhà trí thức, văn nghệ sĩ đảng viên đóng vai trò công an văn hóa kiêm công tố buộc tội. Dưới áp lực của những lời đe dọa quyết liệt khiến Trần Dần phải thốt lên “Chao ơi! Con đường để đi đến chỗ “Ðúng” mới nhiều máu làm sao?” (Trang 162 – sđđ), nếu có một số đã tỏ ra có bản lãnh, thì cũngcó một số khác vì khiếp sợ đã quay lại đánh không thương tiếc bạn mình với hy vọng sẽ được xóa tội hay giảm tội. Một số ngoài phong trào cũng nhân dịp này nhảy vào đánhhôi để lấy điểm với lãnh đạo, để tiến thân.
Tóm lại, ngoài “giẻ rách hóa” nạn nhân, mục đích tối hậu của cuộc khủng bố trắng là đánh những cái Thụy Khuê coi là “những yếu tố thiêng liêng của con người, đánh tình bạn, đánh tình người, đánh tan nát.”
Chính Hồ Chí Minh chứ không phải Trường Chinh hay Tố Hữu mới là người chủ trương trận đánh sa đích này. Chứng cớ là, cũng như lần đấu tố địa chủ dưới chiêu bài cải cách ruộng đất trước kia, lần này Hồ Chí Minh cũng thân chinh đến Bắc Kinh để học tập chính sách đàn áp trí thức và văn nghệ sĩ ở Trung Cộng, rồi về nước chỉ thị cho tay chân phát động chiến dịch thanh trừng NVGP.
Sự dập tắt phong trào NVGP cũng chính là sự dập tắt tiếng nói của lương tri dân tộc. Một tội ác diệt chủng.
Bởi lương tri này chính là sự kết tinh qua bao lớp phế hưng, thăng trầm của lịch sử của những giá trị tinh thần ưu việt, cách nhìn thế giới, lối nghĩ về đời, tình đồng bào, bằng hữu, đạo gia tiên, nghĩa vợ chồng, tình phụ tử.
Nó là cốt cách suy tư, sự minh triết, niềm tự hào, bản lãnh, cái hồn của dân tộc. Tiêu diệt nó cũng là tiêu diệt văn hóa, bởi văn hóa với hồn này là một. Chỉ những kẻ cuồng tín bán linh hồn cho ngoại bang thì mới ăn ở thất đức như vậy.
Ðề lấp lỗ hổng gây nên bởi hành động hư vô trên, ÐCSVN đã phải mượn văn hóa của một dân tộc khác để tồn tại. Ðây là lý do cơ bản — nguyên nhân của nguyên nhân — của một kế hoạch bán nước dài hạn khởi từ thời Hồ Chí Minh đến bây giờ và nối tiếp trong tương lai. Một thương vụ ô nhục của những lái buôn bán luôn nhân cách mình.
Bán đất, bán biển, bán đảo, bán rừng, bán thác, bán ải, bán những địa danh lịch sử, bán tài nguyên thiên nhiên, bán luôn cả tiếng mẹ đẻ cho bá quyền ngôn ngữ Bắc Kinh. Ðã xuất hiện một số dấu hiệu cho thấy, theo sự sắp xếp có bài bản của tập đoàn bán nước, ngôi sao vàng sẽ rời khỏi vị trí trung tâm của nó trên lá cờ máu ở Ba Ðình để xuống làm thân phận vệ tinh của lá cờ đỏ trên cổng Thiên An.
Cái hội chứng phiên quốc, nhược tiểu thuở nào tái phát trên cấp số nhân, và hiểm họa Bắc thuộc lần thứ tư đang lấp ló phía chân trời.
Trịnh Bình An - Cho tới ngày nay, nhiều người trong nước vẫn còn cho rằng Nguyễn Tất Thành-Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc (hay Quấc), điển hình là tuyển tập “Biếm Họa Việt Nam” của Lý Trực Dũng đã cho rằng “Bác Hồ” là người vẽ tranh biếm họa đầu tiên của Việt Nam trên báo Le Paria dưới tên Nguyễn Ái Quốc. Đó là sự thật hay là dối trá? Mời bạn đọc theo dõi phần nhận định dưới đây của Cung Trầm Tưởng về “Nhân Văn Giai Phẩm” với phần đặc biệt tìm hiểu về Nguyễn Ái Quốc.
Vạch trần huyền thoại Hồ Chí Minh Là Nguyễn Ái Quốc
Nhân văn Gia phầm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc
Hồ Chí Minh là một nhà sáng chế tầm cỡ của những quả lừa vĩ đại. Chẳng hạn cuộc cách mạng tháng tám khó quên ấy, ngày lên đường của một dân tộc vào những cuộcphiêu lưu đầy máu và nước mắt đến nay vẫn chưa chấm dứt; hai cuôc chiến tranh trường kỳ hắn gọi là thần thánh ấy ngốn sáu triệu sinh linh đồng bào để xây dựng một vươngquốc,vương quốc của quỷ – quỷ đỏ; và cái huyền thoại Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc hắn tự viết ra dưới bút hiệu Trần Dân Tiên ấy để thêu dệt ”thân thế và sự nghiệp” củamình.
Ở trên, chúng tôi đã nói sơ qua về huyền thoại này qua sự phát hiện ngày đến Paris thực sự của Nguyễn Tất Thành, tên khai sinh của Hồ Chí Minh. Nay xin bổ túc một số dữ kiện ý nghĩa thu hoạch từ cuốn biên khảo của Thụy Khuê nhằm hoàn chỉnh bức chân dung của đối tượng (xin xem chi tiết ở chương 18 –sđđ).
Khảo hướng bài viết là đưa ra một số chứng cớ hiển nhiên để đánh vào tử huyệt của huyền thoại: HCM không thể là Nguyễn Ái Quốc vì không có khả năng và phẩm hạnh của nhân vật lịch sử lỗi lạc, tài đức vẹn toàn này. Thật ra, đó là bút hiệu chung của ba nhà đấu tranh tên tuổi tiến sĩ Luật Phan Văn Trường, cử nhân Triết Nguyễn Thế Truyền và tiến sĩ Luật Nguyễn An Ninh. Ba người này cho Nguyễn Tất Thành đội lốt Nguyễn Ái Quốc để đánh lạc hướng Sở Mật Thám Pháp.
Chúng ta hãy theo Thụy Khuê đi vào thế giới của những sự việc cụ thể.
Cuộc truy tìm, khảo sát văn bản, hồ sơ của Bộ Thuộc Ðịa và Sở Mật Thám Pháp, và những điều Hồ Chí Minh đích thân viết ra dưới bút hiệu Trần Dân Tiên cho thấy khả năng Pháp ngữ của Nguyễn Tất Thành như sau:
Tất Thành bắt đầu học tiếng Pháp trong thời gian làm phụ bếp trên tàu Latouche-Tréville; thầy dạy: hai người lính trẻ giải ngũ, hồi hương (trang 462 sđđ). Sau được cô sen nhà ông chủ tàu ở Sainte-Adresse dạy bổ túc (trang 463 sđđ). Phải nhờ một đồng nghiệp không có trình độ cao lắm viết giùm đơn xin học ở trường Thuộc Ðịa (trang 464).
Ðến năm 1919, vẫn chưa viết đươc tiếng Pháp nên phải nhờ Luật sư Phan Văn Trường viết hộ (trang 469). Trong hội nghị Tours của đảng Xã hội Pháp, theo lời thú nhận của Trần Dân Tiên, Tất Thành “nhức đầu vì khó hiểu” những gì mà các tham dự viên phát biểu (trang 478)
Bây giờ chúng ta hãy lật hồ sơ của Sở An Ninh Pháp để xem họ đánh giá khả năng Pháp ngữ của Tất Thành như thế nào.
Trong báo cáo ngày 20/1/1921 của điều tra viên Josselme trình thượng cấp, ông ta viết:
“Những ai biết tiếng Pháp và đọc những văn bản ký tên Nguyễn Ái Quốc đều thấymột sự thực hiển nhiên: Nguyễn Tất Thành không thể viết những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc.” (Trang 498 – sđđ)
Tổng thanh tra Pierre Guesde cũng có một đánh giá tương tự về trình độ Pháp ngữ của Nguyễn Tất Thành:
“Khả năng nói và viết tiếng Pháp của tay An Nam này không đủ viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc” (Trang 497– sđđ).
Thụy Khuê còn cung cấp cho chúng ta thêm một chứng cớ hùng hồn khác nữa: một tài liệu video của Viện Quốc Gia Lưu Trữ Âm Thanh và Hình Ảnh INA – InstitutNational Audiovisuel – về buổi phỏng vấn Hồ Chí Minh của một nhà báo Pháp tháng 6/1964.
Trong buổi phỏng vấn này, HCM đã trả lời với một tiếng Pháp thô thiển, “có nhiều lỗi sơ đẳng, có câu ông dịch nguyên văn tiếng Việt” như câu:
“Le people Viet Nam c’est un et le pays du Viet Nam c’est un ” - ông dịch từng chữ khẩu hiệu: “Nước Việt Nam là Một, dân tộc Việt Nam là Một” sang tiếng Pháp. (Trang 525 và 55 – sđđ).
Trên 70 tuổi đầu mà HCM vẫn không bỏ được cái tật nói một thứ tiếng Pháp bồi của anh Ba phụ bếp năm xưa.
Ký giả Pháp: Est-ce que vous pensez, Monsieur le Président, qu'il y a une solution militaire à la guerre du Sud Viêt Nam?
HCM: Non, parce que… ah, vous savez bien que le peuple Viêt Nam, c'est un Un, et le pays du Viêt Nam, c'est Un. Les Américains veulent faire une guerre d'agression, comme qu'ils disent, une guerre non déclarée. Comme vous savez aussi, vous avez pu lire dans la presse mondiale, que plus la guerre prolonge, plus les Américains et leurs valets, comment dire ça, (se tournant vers quelqu'un à côté), sa lầy... s'enliser... et plus, ils supportent des échecs comme vous savez là récemment.
Tất cả những dẫn chứng trên cùng đồng nhất với nhau ở một điểm: Với cái vốn Pháp văn nghèo nàn, khập khiễng của mình, làm sao Tất Thành có thể trước tác những bài báo, tiểu luận uyên thâm ký tên Nguyễn Ái Quốc mà HCM mạo nhận là của mình!
Ngoài ra, sự dốt tiếng Pháp của Tất Thành còn làm chúng ta phải nghi ngờ về trình độ học vấn thực sự của hắn. Nếu quả thật hắn đã tốt nghiệp bằng tiểu học Certificat d’Études Primaires, đã học hai năm ở trường trung học Quốc Học Huế, sau đi dạy tại trường Dục Thanh ở Phan Thiết trước khi “xuất dương tìm đường cứu nước” theo như tiểu sử chính thức của HCM thông báo, thì trình độ Pháp văn của Tất Thành là khá cao, do đó đâu phải nhờ hai anh lính thợ và một cô sen dạy tiếng Pháp khi mới đến Pháp (Trang 466, 467– sđđ). Ðiều này chứng tỏ trình độ học vấn của Tất Thành trước khi xuất dương phải là dưới cấp tiểu học, và như vậy lại càng không có khả năng viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc.
Cuối cùng, trong trận đấu trí giữa người và quỷ, những trò ảo thuật của Hồ Chí Minh không qua được con mắt tinh vi của những người làm học thuật chân chính và yêu nước quyết tâm tìm cho ra được sự thật để trả nó về cho lịch sử và để minh oan cho vong hồn những đồng bào xấu số của mình đã bị HCM và tay chân của hắn bức hại. Trong số những nhà học thuật chân chính này có Thụy Khuê.
Nghệ thuật viết học thuật của Thụy Khuê là nâng cấp bản tường trình khô khan của cảnh sát điều tra lên tầm vóc của một chuyện kể sống động, hào hứng trong chừng mực tính chính xác của khoa học cho phép. Bởi đây là một công tác điều tra, truy tìm thủ phạm, Thụy Khuê đặt vấn đề dưới góc nhìn của một thám tử kiểu Maigret làm việc một cách chuyên cần, có lớp lang, kế hoạch, sắc bén, nhạy cảm, thông minh, tỉnh táo, điềm tĩnh, chuyên nghiệp, yêu nghề và yêu chân lý.
----------------------------------
DCVOnline biên tập, và minh hoạ.
Chú thích của người giới thiệu
- Nghe audio về Nhân Văn Giai Phẩm tại trang Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Thụy Khuê, RFI
- Nghe phỏng vấn Thụy Khuê về cuốn sách Nhân Văn Giai Phẩm: 2-12-2011 - Du Tu Le voi Nha Van Thuy Khue Paris Tap 1, Du Tử Lê, SBTN, 02/12/2011
- Nghe phỏng vấn Cung Trầm Tưởng: Cung Trầm Tưởng. Mặc Lâm, RFA, 05/01/2012
- “Nhân Văn Gia Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc” - Sách dày hơn 900 trang, bìa cứng. Ấn phí 40 USD + 5USD cước phí trong nước Mỹ (ngoài nước Mỹ, cước phí 10 USD). Liên lạc: Trần Phong Vũ - 14924 Dillow Street, Westminster, CA 92683, USA. ĐT (949)232-8660 ; hoặc Uyên Thao - PO Box 4653, Falls Church, VA 22044, USA. Email: uyenthaodc@gmail.com hay uyenthao1@yahoo.com -Ngân phiếu xin ghi trả: VLAC/Tiếng Quê Hương.
- Jules Maigret là nhân vật tiểu thuyết giữ chức vụ Thanh tra (Commissaire) Sở Cảnh Sát Paris trong loạt truyện trinh thám “Maigret” của nhà văn Georges Simenon.
- Đọc thêm Hồ Chí Minh, hướng đạo sinh Việt Nam số 1? Trang Chuyện Hướng đạo.