05/08/12 - VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Người Buôn Gió - Đêm dài biên ải

Đăng bởi Biên tập viên vào Thứ ba, ngày 08 tháng năm năm 2012


Câu chuyện này được viết bằng ngôn ngữ Việt, nhưng không nhất thiết độc giả  đủ cơ sở kết luận rằng nó xảy ra ở nước CHXHCN Việt Nam
Người Buôn Gió
4 giờ 30 chiều ngày 4 tháng 5 năm 2012 hắn đến trước ô cửa phòng xuất nhập cảnh đồn biên phòng chìa giấy thông hành. Lúc này không có khách qua, bốn cán bộ trong phòng đang nói chuyện, một người uể oải cầm giấy thông hành của hắn, chả buồn nhìn, anh ta quay sang nói chuyện tiếp. Lúc sau anh ta mới giở cuốn sổ thông hành gõ tên vào máy tính. Mặt anh ta biến sắc, nhưng anh cố gắng lấy lại vẻ tự nhiên rất nhanh. Giả vờ gọi một người đến xem hộ, anh ta đi vào trong. Người đến trông hộ nhìn máy tính rồi nhìn hắn một giây rất lạ. Rồi bảo hắn ngồi chờ.

Hắn ngồi ung dung chờ, nét mặt thản nhiên, nhìn một tốp người đến làm thủ tục che kín khuất tầm nhìn giữa hắn và cơ quan xuất nhập cảnh. Hắn thầm nghĩ, giờ chỉ tích tắc là hắn biến mất, không biết đám biên phòng ấy sẽ nghĩ gì khi không thấy hắn nữa. Chắc họ nghĩ hắn không biết gì.

Nhưng hắn đến đây, làm giấy thông hành, rồi đến cửa xuất nhập cảnh chìa giấy, không phải để thấy khó khăn là trốn về, dẫu biết tí nữa thôi mọi chuyện sẽ trở nên khó lường.

Hắn nhớ về ánh mắt, những ánh mắt chỉ bừng lên một giây rồi trở lại bình thường để che giấu ý nghĩ bên trong.

Cách đây gần 20 năm trong một trại tù, khi hắn đi qua hàng tù đang ngồi bó gối, chợt hắn lăn tăn gợn điều gì, hắn nghĩ đến một ánh mắt lạ trong hàng tù nhìn hắn rất nhanh rồi cụp xuống, ánh mắt của kẻ sắp liều lĩnh. Hắn chột dạ quay người thật nhanh lại và may mắn tránh được cú đâm bằng bàn chải nhựa mài nhọn. Đó là ánh mắt mà hắn không lường trước được.

Còn hôm nay, khi đưa giấy thông hành qua ô cửa, hắn chờ đợi ánh mắt lóe lên bất ngờ của người hải quan biên phòng. Đoàn người đi qua, đám hải quan nhìn vẫn thấy hắn ngồi nhàn nhã, không có vẻ sốt ruột, không thắc mắc, cứ như hắn có thể ngồi chờ như vậy đến bất tận.

Những người hải quan đi lại, gọi điện liên tục, một vị thiếu tá xuất hiện, họ hội ý với nhau rồi lại điện đi , điện lại. Hai người đi ra đứng quanh hắn, hút thuốc lá nhưng hắn biết đó là canh chừng. Họ có vẻ thiếu mất sự bình tĩnh khi rít thuốc lá và cách thay đổi vị trí đứng.

Hắn đến gần, xin một ngụm nước. Viên đại úy vào phòng lấy ngay ra cốc nước lạnh ân cần đưa cho hắn. Chả có ai ở chỗ này xin nước của cán bộ hải quan vốn rất quyền lực và bận rộn, đáng lẽ anh ta phải chỉ ra hàng quán đằng kia, nhưng anh ta đi lấy nước ngay. Có lẽ viên đại úy không nghĩ mình đang làm một điều bất thường. Nhưng việc chỉ mình ra quán nước khuất tầm nhìn là điều chắc chắn anh ta không muốn.

Viên thiếu tá cầm hồ sơ, bảo hắn đưa chứng minh thư và nói

- Mời anh lên gác.

Hắn đi lên theo, vào phòng anh ta bật máy lạnh, mời ngồi và hỏi.

- Anh có phạm tội gì không?

Câu hỏi y hệt ở sân bay. Hắn nói.

- Tôi không phạm tội với nhân dân, đất nước này, còn với ai đó thì tôi không thể biết, nhất là con mụ hàng xóm và lão chồng nó.

Viên thiếu tá thông báo hắn bị cấm xuất cảnh dưới mọi hình thức và nói sẽ tiến hành lập biên bản. Anh ta nhìn thái độ hắn, thấy hắn vẫn cười. Hắn nói nhẹ nhàng vâng anh cứ lập biên bản và nói rõ lý do, cho tôi xin một bản. Cứ đúng luật anh làm.

Anh ta hỏi định sang TQ làm gì, hắn nói có lẽ tôi không cần trả lời anh, vì việc đó chưa xảy ra, nhưng anh hỏi tôi xin nói. Vợ chồng lão hàng xóm chỗ nhà tôi hơn 70 tuổi rồi, suốt ngày chỉ nhòm ngó nhà người khác, tôi sang TQ mua bao cao su các loại hấp dẫn về vất vào nhà vợ chồng đó. Để họ có việc mà làm, đỡ đi nhòm ngó nhà khác.

Anh ta lắc đầu, thở dài rồi bảo.

- Thôi đó không phải việc tôi, hỏi anh thế thôi, anh có lệnh cấm xuất nhập cảnh của…

Tôi làm thủ tục thôi.

Hắn hỏi.

- Tôi có được nhìn lệnh không, có được biết cấm từ ngày nào đến ngày nào không.
Anh ta nói thác.

- Tí nữa tôi cho anh biết.

Hắn mỉm cười, sẽ chẳng bao giờ, tí nữa anh ta sẽ kiếm cớ khác. Lệnh cấm xuất cảnh với hắn sẽ là điều bí mật, không bao giờ hắn được biết ngày nào hết hạn. Ở sân bay người ta cũng không nói, chỉ nói là ngắn thôi không dài đâu, mấy bữa ý mà. Nhưng ở đây sẽ không chặt chẽ bằng sân bay, ở đó người ta quen thuộc và rành nghiệp vụ vì làm việc với quốc tế, và tầng lớp khác. Còn ở cái cửa khẩu rặt con buôn qua lại hàng ngày này, thảng có vài đối tượng hình sự trốn truy nã, hoặc vài tên TQ lưu manh, chuyện giấy tờ không kín kẽ được. Chính vì thế hắn chọn nơi đây để đưa giấy thông hành. Viên thiếu tá giơ tờ giấy cấm để nhìn, dưới ánh sáng bóng đèn ne-ong mờ xuyên qua giấy, với kỹ năng đọc sách nhiều, hắn đọc ngược và thấy được điều cần biết.

… cấm xuất cảnh đến ngày 22/07/2014….

Một nhiệm kỳ của ai đó kết thúc thì lệnh cấm cũng kết thúc, hắn buồn và vui lẫn lộn. Buồn vì lệnh cấm lâu quá, nhưng vui là đã không phí công sức để biết được. Nhiều người như hắn bị cấm mà không biết đến bao giờ. Còn hắn thì đã biết, thậm chí hắn còn biết được cả cơ quan nào đã bảo cục xuất nhập cảnh đứng ra phát lệnh cấm nữa. Khỏi phải mất tiền mua vé máy bay đi đâu khi chẳng may vợ con nổi hứng đi du lịch sang Phi, Mã, Cam …

Khi viên thiếu tá biên phòng ghi chép vào biên bản cấm xuất nhập cảnh, có 2 người đàn ông mặc thường phục lặng lẽ ngồi bên. Hắn đang nhắn tin điện thoại thì một người trẻ giơ tay gạt điện thoại nói.
- Anh không được dùng điện thoại.

Hắn quay sang thấy một cái nhìn uy hiếp dọi thẳng vào tam tinh của mình. Cái nhìn của một người qua trường lớp chính quy, thường những người ra trường chưa lâu, chưa có độ từng trải mới áp dụng bài học là cái nhìn để uy hiếp đối tượng. Những lão làng trong nghề an ninh họ thường có thái độ nhẩn nha, lợt phợt như đôi bóng Ý rồi bất ngờ đưa ra đòn hiểm. Hắn nhìn lại và nói rành rọt.

- Anh không biết em là ai, vì ở đây ai cũng mặc sắc phục, nhưng anh nói thế này, anh không bị bắt quả tang khi phạm tội, không có lệnh khởi tố, truy nã. Em động vào người anh hay tài sản của anh đều là vi phạm pháp luật. Anh dùng điện thoại đến khi nào những cán bộ biên phòng phụ trách ở đây ra lệnh cấm.

Hắn nhìn sang viên thiếu tá biên phòng, anh ta dường như không muốn phiền phức vì việc của anh ta sắp xong. Nên anh ta không nói gì, hắn tiếp tục nhắn tin dòng cuối cùng cho vợ.

Viên thiếu tá biên phòng đọc biên bản, hắn ký và hỏi xin một bản, anh ta nói sẽ đưa cho công an tỉnh sau khi bàn giao hắn sang bên đó. Thì ra những người mặc thường phục đó là an ninh tỉnh, tất nhiên thì hắn biết khi họ đi vào.
Biên phòng và an ninh làm giấy bàn giao người. Công nhận là chặt chẽ, ở đây tính mạng công dân được coi trọng, cho nên bên nào bên đó làm rất chi li về thủ tục.

Những người an ninh tỉnh đưa hắn ra sân, có hai chiếc ô tô con 4 chỗ loại đẹp đậu sẵn. Hắn được mời ngồi vào xe sau, ghế sau có hai người ngồi bên. Hắn cũng quen với kiểu ngồi này nhiều lần. Lên xe hắn chỉ nói.

- Lúc nào gần đến chỗ bán thuốc lá, các anh mua hộ tôi bao thuốc Vi Na, tôi vẫn có quyền, nhưng nếu tôi đi ra mua cũng phiền cho các anh.

Người bên trái gật đầu, nói với người bên phải.

- Tí nữa gần đoạn rẽ vào, nhớ mua cho anh ý bao thuốc.

Chiếc xe đi trước mở đường, và hai chiếc xe chui vào một căn nhà khuất sau đường ở thị xã biên ải. Căn nhà không có biển hiệu gì, không có vẻ gì là một cơ quan nào hết. Hắn xuống xe nhìn căn nhà, người chỉ huy đoán được hắn nhìn gì nên nói.

- Anh chắc không lạ gì những căn nhà kiểu này.?

Hắn gật đầu nói

- Cơ sở của an ninh.

Người chỉ huy nói.

- Anh biết thế, mình dễ làm việc hơn.

Trong căn nhà hai tầng, tầng dưới chỉ có một bộ bàn ghế và một chiếc giường cá nhân, một ti vi và nhiều báo công an nhân dân. Người ta hỏi hắn uống gì, hắn xin uống trà, lập tức trà pha xong thì thuốc lá cũng đem về.
Chỉ hỏi chuyện gia đình, xem phim, đọc báo… những người an ninh tỉnh này chu đáo và lịch sự. Có cậu trẻ hỏi anh làm gì mà phải bị cấm. Hắn nói anh không biết, nhưng mới rồi anh biết có người dùng tên anh viết bài gì trên mạng, chắc làm cơ quan an ninh phiền lòng. Cậu ta hỏi tên hắn rồi tra ở điện thoại. Lát sau lắc đầu nói.

- Thì ra là một người viết khá nổi tiếng, là anh sao anh không nhận.?
Hắn lắc đầu nói.

- Anh trình độ 10/12, năm nào sức học cũng trung bình. Tiền án, tiền sự toàn lưu manh vặt vãnh, em bảo anh ăn cắp anh biết, chứ viết lách thì anh cũng không tưởng tượng được. Chắc ai đó lấy tên anh thôi.
Một cậu trẻ nói hằn học, cách nói theo hắn nghĩ trình độ cậu ta chỉ là đi lính nghĩa vụ hết hạn được đôn lên qua lớp trung cấp nào đó. Cậu ta nói.

- Mình muốn góp ý gì, trước nhất mình phải tốt cái đã đúng không, rồi mới đi góp ý người khác.

Hắn phân tích nhẹ nhàng.

- Em nói đúng một phần, nhưng giờ anh xấu, em xấu. Anh nói em, và em nói anh. Thế mới đúng là phê bình và tự phê bình. Chứ anh đợi anh tốt, em đợi em tốt thì hóa ra chúng ta ngầm bao che cho nhau cái xấu cho nhau sao. Có khi mình xấu mình không nhận thức được, mà mình chỉ nhìn thấy ở người khác, mình phê phán họ và họ cũng phê phán mình. Như thế có phải là giúp nhau sửa chữa, tiến bộ không tốt hơn sao.?

Cậu trẻ không nói gì nữa, còn những người lớn thì họ không quan tâm lắm. Họ chỉ hỏi chuyện mình về đường phố Hà Nội, chỗ mua bán, giải trí. Đến bữa cơm mình cùng ngồi bàn ăn với họ, có bia, thịt gà, lòng xào, thit bê xào… Người chỉ huy nói:

- Thôi anh em tỉnh lẻ chỉ có thế này, giờ bất ngờ cũng không chuẩn bị được, anh ăn tạm cùng anh em, có nào dùng vậy.

Cơm xong lại ra bàn uống trà, họ mời nước ân cần rồi nói.

- Chúng tôi đợi dưới kia lên đây để bàn giao anh, họ đi từ 5 giờ chiều, chắc sắp lên đến đây rồi. Giờ anh lên gác có điều hòa, làm việc với chúng tôi một ít để có bút tích của anh nhé. Biết đâu sau này gặp lại.

Hai người an ninh dẫn hắn lên gác, một người bật điều hòa rồi ngồi xem phim. Một người hỏi cung. Người hỏi cung là cậu trẻ lúc đầu ngăn hắn hút thuốc, cậu ta đẹp trai, cười rõ tươi nói.

- Thế này anh nhé, anh chắc chả lạ gì làm việc rồi, có khi để anh tự hỏi tự trả lời còn nhanh hơn. Thôi tôi chỉ hỏi quá trình anh lên đây thế nào, đi xe nào ở dưới kia lên, lên đây mấy giờ, gặp ai, rồi đến đoạn qua cửa khẩu mấy giờ, định sang bên kia làm gì.?

Hắn trả lời, đây là việc đơn giản, vì hắn từ nhà đi đã biết sẽ phải trả lời những câu hỏi này. Cho nên hắn đi một mình, không gặp người quen nào ở xứ này, chỉ gặp xe ôm, cò làm giấy thông hành, quán cà fe. Hắn chìa số điện thoại của lái xe, cò, địa chỉ quán và nói họ có thể xác minh.

Cậu trẻ ghi đủ và cười hoài nghi.

- Không thể tin được là anh đi lên đây chỉ đơn giản thế này. Chả lẽ vì mấy bao cao su anh không mua dưới đó lại lên đây sang kia mua.?

Hắn trả lời.

- Mua dưới kia ngại người quen thấy, sang bên này lắm mẫu mã cho cả người cao tuổi dùng nữa.
Lấy lời khai chữ ký xong, anh ta nói tiếp.

- Giờ làm biên bản xác nhận là anh ở đây từ 5 giờ chiều đến 10 giờ đêm được đối xử tốt, không có đánh đập, xúc phạm danh dự nhé, thì cứ thật thế nào thì anh nói thế.

Hắn đồng ý, chỉ ghi trong biên bản là tôi phàn nàn về việc bị giữ chân (không phải bắt) 5 tiếng đồng hồ rất vô lý, ngoài ra tôi được đối xử tốt về tinh thần cũng như vật chất.

An ninh tỉnh hài lòng, họ nói
.
- Thật ra chúng tôi không có việc gì với anh, anh lên đây đi biên giới, không gặp thành phần, đối tượng nào có vấn đề ở địa bàn. Chúng tôi chỉ đợi dưới kia lên bàn giao anh theo đề nghị của họ.

Hắn nói

- Sao các anh phải mất công thế?

An ninh tỉnh nói

- Thì họ nhờ mình lúc này, mình lúc khác lại nhờ họ. Thôi anh thông cảm cứ ngồi đây chờ.
Hắn nhìn đồng hồ nói.

- Thế này nhé, anh không phải là tội phạm hay chưa xác định là tội phạm. Giờ này con anh chờ anh về, em nên để anh gọi điện bảo vợ anh cho con ngủ.

Cậu an ninh gật đầu, nói.

- Anh nói vừa phải thôi nhé.

Hắn gọi về, nói bị cấm xuất cảnh, giờ đang làm tường trình và tắt máy.

Anh ta đi xuống, người còn lại đang xem phim quay ra gọi hắn.

- Anh ra giường mà nằm xem phim.

Hắn nằm trên giường xem phim, người an ninh còn lại xoay cái điều hòa cây đứng về phía hắn rồi nói.

- May là có một cái này ông ạ, chúng tôi ở đây cũng thiếu thốn đủ thứ, phó phòng mà xin mua điều hòa còn chưa được duyệt đấy ông ạ, ai biết cho chúng tôi đâu….

Có nhiều tiếng xe ô tô ồn ào, người an ninh xem phim đứng cửa sổ nhìn xuống rồi quay vào nói.

- Mình ông mà dưới kia lên cả chục người đấy, chắc toàn người quen của ông thôi. Tí gặp là biết.

Hắn điểm mặt người quen ở các cơ quan từ cục, phòng các bộ phận. Cuối cùng thì hắn chọn khuôn mặt sáng sủa, khá phúc hậu của một người và đoán sẽ gặp hắn.

Tiếng cửa mở, hắn không quay ra cũng biết là anh ta. Khi nghe tiếng gọi, hắn quay lại thấy anh ta đang cáu kỉnh, cái cáu không phải của kẻ quyền uy mà cái cáu của người bị làm phiền bởi một người quen. Anh ta gắt.

- Ông biết ông đang là loại gì, mà ông mò đi lung tung, đêm hôm không cho người ta nghỉ, đang ở nhà ôm vợ con phải đi lên đây gặp ông.

Giấy tờ lại được giở ra, vẫn những câu hỏi đi làm gì, đi thế nào, gặp ai…
Trả lời hết xong, anh ta gắt.

- Ông … đi gì nói thật đi, ông có gì trong người bỏ ra, mang theo bao nhiêu tiền, đưa ví đây, còn giấy tờ gì, hộ chiếu có không đưa nốt đây.

Hắn đưa hết, kính, đồng hồ, 2 điện thoại, chứng minh thư, giấy thông hành, ví, máy ảnh.
Anh ta xem xét kỹ chiếc ví, rồi bực bội.

- Ông làm đéo gì mà chỉ có mấy cái đồng bọ này thì đi đâu, ông sang đó mua gì mà chỉ có ngần ấy tiền. Còn tiền giấu đâu không?

Hắn đứng dậy cũng bực nói.

- Tôi cả ông làm việc với nhau nhiều, chuyện có gì trong người chưa bao giờ tôi nói dối, ông không tin tôi cởi quần áo.

Hắn định lột quần áo thì người khác ngăn lại, anh ta gắt.

- Ông… manh động thế, chúng tôi hỏi thế chứ ai bắt ông cởi quần áo, ai khám người ông, không có thì thôi chứ sao lại làm thế.

Hắn ngồi xuống, an ninh lại hỏi sao chỉ có mấy trăm ngàn. Hắn bảo thì mục đích chỉ mua mấy cái bao cao su rồi đi về. Có định đi đâu hay mua gì nữa mà mang nhiều, và hắn cũng chỉ có ngần ấy tiền thôi, làm gì có nhiều mà mang theo.

Họ bảo tạm thu hết tất cả đồ, giấy tờ, chỉ để lại cho hắn tiền để đi về, không thì lại lang thang ở đây có chứng minh thư lại làm thông hành rồi lại đi. Hắn hỏi luật nào thu đồ. An ninh nói.

- Luật gì ở đây mà ông hỏi, tôi thu làm gì, giữ để ông phải đi về thôi. Ông làm cái giấy tự nguyện giao nộp đồ cho tôi giữ hộ.

Hắn lắc đầu.

- Đây là danh dự, không viết được. Ông thu giữ thì ông cứ thu, tôi không làm.
Họ thu máy ảnh, điện thoại và giấy tờ. Làm biên bản, hắn nói.

- Luật thì ông giữ đồ tôi, thì tôi phải có biên bản, đàng này biên bản ông cầm nốt thì tôi lấy chứng cứ gì kêu ông trả đồ.

An ninh gắt gỏng.

- Ông làm việc với tôi, lạ gì nhau, tôi lấy của ông làm gì, ông về thủ đô gặp tôi thì tôi trả. Ông cứ vớ vẩn luật liếc lằng nhằng.

Lúc này một người đàn ông trung niên khoảng 56, 57 tuổi đi lên. Khuôn mặt lầm lì, hắn cảm giác được vầng sát khí tỏa trên mặt con người ấy, mặc dù không phải là dễ nhận. Như trong truyện kiếm hiệp một thanh đao từng qua trận chiến nhiều, sát khí tụ lại trên thanh đao lạnh rợn người. Gương mặt, dáng đi của con người đó làm hắn cảm giác đọc thấy nhiều thân phận, nhiều cuộc đời, nhiều án tù đã đọng lại trên con người đó.
Có lẽ tới đây hắn cũng chỉ là một số phận nhỏ nhoi,một thân phận, một cuộc đời và một án tù phảng phất trên gương mặt con người ấy.

Không phải là đơn giản mà cả chục người dưới xuôi đêm hôm lên đây. Hắn biết thêm điều nữa về số phận mình, như một con chim nhìn thấy những cánh cung của các tay thiện xạ lão làng.
Biết trước vẫn là điều tốt hơn, dù đó là điều xấu.

Đám dưới xuôi kéo thẳng về, để lại những người an ninh tỉnh ngỡ ngàng. Khi những người kia đi hết, họ gọi mình uống chén nước chia tay, rồi bảo hắn đi đi.

Hắn đi ra không nhìn lại, đường tối om. Trời đã quá 12 giờ đêm, không còn nóng nực, mát mẻ dễ chịu. Không điện thoại, không giấy tờ tùy thân, hắn đi bộ một mạch dài trên con đường quốc lộ vắng vẻ thênh thang từ thị trấn vào thành phố, đi mãi mới gặp môt xe taixi chạy trên đường. Hắn đứng vẫy, người ta xi dừng lại mở hé tí cửa kính hỏi đi đâu.

Hắn bịa ra câu chuyện vừa cãi nhau với con bồ, giận quá bỏ về thành phố. Người lái xe cho lên, hắn ý tứ ngồi ghế trước, cởi áo để anh ta thấy hắn không có gì.

1 giờ đêm vào thành phố, hắn ngồi dựa lưng vào hành lang cây cầu sắt và nhắm mắt ngủ, đợi chuyến xe sáng về dưới xuôi.

Một ngày mệt nhọc, nhưng xứng đáng vì biết được những điều muốn biết. Cho dù đó là những điều xấu, như đã nói một lần, dù là điều xấu nhưng biết được vẫn tốt hơn.

Nguồn: Blog Người Buôn Gió


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Chuyện Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải


Sau một thời gian dài Hà Nội tuyệt đối cách li nhà báo đối kháng Nguyễn Văn Hải, được thế giới bên ngoài biết dưới cái tên rất Việt Nam “Blogger Điếu Cày” để  áp lực ông nhận tội “chống phá Nhà nước” không xong,  hôm 14-4-2012 Viện Kiểm Sát Nhân Dân thành phố Sài gòn thông cáo đã chuyển cáo trạng và toàn bộ hồ sơ vụ án của Blogger Điếu Cày sang Tòa Án Nhân Dân Sài gòn để ra tòa ngày 15/5 sắp tới. Cùng một hồ sơ, ngoài Blogger Điếu Cày, tòa còn xử 2 nhà báo khác là bà Tạ Phong Tần và ông Phan Thanh Hải.

Điếu Cày Nguyễn Văn Hải
Theo cáo trạng, cả ba bị can Nguyễn Văn Hải: sinh năm 1952, ngụ tại Quận 3, còn gọi là Hoàng Hải, Hải Điếu Cày; Tạ Phong Tần: sinh năm 1968, quê Bạc Liêu; Phan Thanh Hải: sinh năm 1969, ngụ tại Quận Thủ Đức – Sài gòn  đều bị truy tố với tội danh “Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” theo khoản 2, điều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Bản cáo trạng mô tả bà Tạ Phong Tần và nhà báo Phan Thanh Hải đã hợp tác viết bài cho diễn đàn “Câu Lạc bộ Nhà Báo Tự Do” của Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải. Ngoài ra bà Tạ Phong Tần còn thiết lập blog “Công lý và Sự thật”, và ông Phan Thanh Hải lập Blog “AnhBaSaigon” trong thời gian từ tháng 9/2007 đến tháng 10/2011 đăng tải hằng trăm bài tự viết hoặc lấy từ các diễn đàn khác có nội dung chống  phá Nhà nước như phê phán, nói xấu, lên án, kích động quần chúng tham gia đấu tranh thay đổi sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản.
Ảnh Thác Bản Giốc do Điếu Cày chụp tháng 3-2007 trong những nỗ lực lên tiếng cho là VN đã chịu thua thiệt trong Hiệp định Biên giới Việt-Trung 1999, trong đó mất một nửa thắng cảnh vô giá này.
Theo bản tin của phóng viên lề phải Phạm Dũng viết cho tờ báo “Người Lao Động” Ông Nguyễn Văn Hải nguyên là cựu quân nhân quân đội Cộng sản. Ông bị công an chận bắt nhiều lần trong thời gian từ ngày 9/12/2007 đến ngày 19/1/2008  khi ông tham dự các cuộc biểu tình chống chính sách giành dựt Biển Đông của Trung quốc. Ngày 20/4/2008  công an bắt giam ông để ngăn cản ông tham gia các cuộc biểu tình chống Trung quốc rước đuốc Thế Vận qua Sài gòn ngày 29/4. Và sau đó truy tố ông về tội … trốn thuế nhà. Ngày 10/9/2008  tòa án Sài gòn xử ông 2 năm 6 tháng tù tính từ ngày 20/4/2008. Ngày 20/10/2010 mãn hạn tù, Hà Nội ghép ông thêm tội “Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và biệt giam ông ngoài  quy định của luật pháp. Bà Dương Thị Tân, vợ ông  Nguyễn văn Hải nhiều lần viết thư khiếu nại không được trả lời đến nỗi có lúc dư luận tưởng rằng ông đã chết.
Điếu Cày (4, trái sang), Tạ Phong Tần (4, phải sang) cùng các thành viên CLB Nhà báo Tự do, 12/200
Ngày 4/5/2012  các luật sư bào chữa và ba gia đình của Blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Văn Hải nhận được thư thông báo chính thức ngày 15/5 sẽ xử 3 bị can.

Ngay sau đó con trai của ông Điếu Cày gởi thư lên mạng cho biết đã được thăm cha và thông báo một số chi tiết liên quan đến sức khỏe của ông và một số nội dung về vụ án. Sức khỏe ông Nguyễn Văn Hải không được tốt vì thiếu thốn nhất là mắt kém vì trại giam không cho ông dùng kính. Ông Điếu Cày cho biết dù bị giam cách li với gia đình một thời gian dài để áp lực nhận tội ông vẫn không ký nhận bất cứ một tội nào. Ông cảnh giác dư luận và gia đình đừng nghe những gì do công an nói về ông.

Tuy nhiên, một ngày sau khi tống đạt cáo trạng chính quyền thu hồi giấy thông báo và hoãn vụ xử.

Tại sao chính quyền Hà Nội thu hồi lệnh xử ?

Có hai lý do làm cho giới chức cao cấp của đảng Cộng sản Việt Nam phải suy nghĩ: Thứ nhất là vụ lên tiếng của tổng thống Obama hôm 3/5 nhân ngày Tự Do Cho Báo Chí Thế Giới (World Press Freedom Day). Bản thông cáo nói rằng tổng thống Obama rất quan tâm đến trường hợp các nhà báo trên thế giới còn bị giam giữ như Mazen Dawrish tại Syria, nhà báo Điều Cày tại Việt Nam bị bắt từ năm 2008, nhà báo Dawit Isaak tại Eritrea, nhà báo Cesar Ricaurte của Ecuador, nhà báo lưu vong Natalya Radzini của Belarus và Blogger Yoani Sanchez của Cuba luôn luôn sống trong không khí khủng bố và đe dọa.

Lý do thứ hai là vụ ông luật sư Trần Quang Thành (Chen Guangcheng), một nhà đấu tranh cho nhân quyền tạiTrung quốc xin tị nạn tại tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh. Ông Chen người tỉnh Sơn Đông. Con nhà nghèo sinh ra đã mù lòa, lớn lên cố gắng tự học và trở thành luật sư. Ông kiên trì chống chính sách mạnh tay của chính quyền địa phương buộc phá thai và ép phụ nữ chích thuốc vô sinh để thi hành chính sách “một con” của đảng Cộng sản. Cuối năm 2006 ông bị chính quyền Sơn Đông đưa ra tòa phạt 4 năm tù giam. Mãn hạn tù năm 2010 ông bị quản thúc tại gia có công an canh gác như một nhà tù suốt 19 tháng qua. Nhân bà bộ trưởng Bộ Ngọai giao Hoa Kỳ Hillary Clinton đi Bắc Kinh dự Hội Nghị Chiến Lược và Kinh Tế Song phương (Strategic and Economic Dialogue) ngày 22/4 vừa qua ông trốn khỏi nhà, và trong khi nhảy qua tường vượt thoát ông té gãy chân. Ông cố gắng lết đến chỗ hẹn để được đồng bạn chở lên Bắc Kinh đến tị nạn tại toà đại sứ Hoa Kỳ.
Các thành viên CLB Nhà báo Tự do cùng Điếu Cày biểu tình trước Nhà hát Thành phố HCM ngày 19-1-2008, phản đối Olympic Bắc Kinh 2008. Tấm băng rôn là hình biểu tượng Olympic bằng 5 chiếc còng số 8, được lưu truyền khắp thế giới nhân dịp này.
Việc xin tị nạn của ông Chen làm cho Hoa Kỳ lúng túng. Sau 6 ngày dàn xếp, ông đại sứ Hoa Kỳ Gary Locke đích thân đưa ông Chen vào một bệnh viện của Trung quốc và cho biết chính phủ Trung quốc  đã đồng ý cho ông Chen sau khi lành chân được sống tự do và đi học luật. Thế nhưng sau đó ông Chen nói ông không tin lời hứa của chính phủ Trung quốc, và trách tòa đại sứ Mỹ “mang con bỏ chợ”. Ông ngỏ ý xin đưa vợ con sang Hoa Kỳ tị nạn. Trong khi đó chính phủ Bắc Kinh tố cáo Hoa Kỳ đã xen vào chuyện nội bộ của Trung quốc. Câu chuyện nổ lớn và là một đề tài về sự đàn áp nhân quyền thô bạo trên thế giới của Trung quốc.
Quang cảnh cuộc bắt giữ Điếu Cày lúc 15h18′ ngày 16/12/2007
Trước thông cáo báo chí của tổng thống Obama và dư luận về vụ ông Chen, giới chức  cao cấp tại Hà Nội thấy mang 3 nhà báo Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải và nhất là Blogger Điều Cày Nguyễn Văn Hải ra xử lúc này thật không ổn nên tạm gác lại.
Gác lại là phải. Nhưng rồi cũng phải mang ra xử. Với bàn tay của đảng trên đầu của công tố viện, trên cổ của quan tòa, bản án đã bỏ túi rồi. Mọi việc sẽ diễn ra như một vở tuồng. Ông Phan Thanh Hải nhận tội, có đơn xin khoan hồng phạt nhẹ. Bà Tạ Phong Tần và Nguyễn Văn Hải “ngoan cố” không nhận tội thì tính phạt nặng.
Một cuộc bắt giữ khác
Nhưng đối với Blogger Điều Cày, trong hòan cảnh tế nhị này tôi đề nghị Nhà nước Cộng sản Việt Nam tính một cái án vừa đủ thời gian đảng đã giam giữ ông một cách trái phép rồi trả tự do cho ông ngay sau khi xử  thì đó là một thái độ khôn ngoan, nhất cử lưỡng tiện.
Nhưng dù chọn thái độ nào đảng Cộng sản Việt Nam cũng phải trả lời trước công luận về hành động biệt giam ông Nguyễn Văn Hải ngoài luật pháp của một Nhà nước tự gọi là “Nhà nước pháp quyền”.

© Trần Bình Nam


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Hà Nội sẽ 'bơm' 29 ngàn tỉ đồng cứu các doanh nghiệp

Kinh tế Việt Nam đang khốn đốn

HÀ NỘI (NV) - Cửa hàng quần áo, điện tử chỉ có người bán ngồi ngáp vặt hay chơi game điện tử. Xí nghiệp sản xuất thì lớp đóng cửa, lớp hoạt động cầm chừng. Rất nhiều dự án xây dựng nhà ở, chung cư cao ốc làm dở dang rồi ngưng lại.
Hai nhân viên bán hàng ở siêu thị điện máy Phan Khang chiều cuối tuần. 
(Hình: Tuổi Trẻ)

Ðây là hình ảnh ảm đạm của nền kinh tế Việt Nam được nhiều báo miêu tả mấy ngày vừa qua. Và cũng chính vì vậy Hà Nội đã phải vội vã đưa ra kế hoạch 29,000 tỉ đồng để cứu các doanh nghiệp.

Hôm Chủ Nhật, báo Tuổi Trẻ đưa ra một số hình ảnh cho người ta nhìn thấy hoạt động thương mại ở Sài Gòn “đìu hiu vắng khách,” chỉ có người bán, không có người mua. Các cô gái bán hàng “túm tụm chải tóc cho nhau” hay chơi game điện tử hoặc ngáp vặt. Thỉnh thoảng mới có một vài người khách.

Ðinh Lê Huân, tổng giám đốc hệ thống bán lẻ dienmay.com, nói trên báo Tuổi Trẻ là “từ cuối năm 2011 cũng như đầu năm 2012, do ảnh hưởng từ tình hình kinh tế vĩ mô, thị trường điện máy đã tuột dốc không phanh.”
Một xí nghiệp chế biến cá ba sa tại cụm công nghiệp Thốt Nốt (Cần Thơ) 
đóng cửa từ năm ngoái. (Hình: Tuổi Trẻ)

Ngay siêu thị là nơi có lợi thế hơn các ngành thương mại khác mà “sức mua cũng sụt giảm.” Tờ Tuổi Trẻ dẫn lời bà Nguyễn Phương Thảo, giám đốc siêu thị Maximark Cộng Hòa ở quận Tân Bình kêu rằng “người dân cân nhắc chi tiêu mua hàng chỉ chọn những hàng hóa thật thiết yếu.”

Theo một báo cáo của Bộ Tài Chính CSVN viết trong bản tin (www.mof.gov.vn/) ngày 5 tháng 5, 2012, trong quý một năm nay, có hơn 10,350 xí nghiệp giải thể hay phá sản, tăng 14.8% so với cùng kỳ này năm ngoái. Trong số đó, 65% là những xí nghiệp mới mở trong vòng 2 năm qua, chứng tỏ họ sai lầm khi khởi nghiệp vào lúc kinh tế không sáng sủa.

Theo Hiệp Hội Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ, cả nước có khoảng 600,000 công ty lớn nhỏ thì “chỉ có 36% là hoạt động bình thường, 39% doanh nghiệp khó khăn và có tới 25% số doanh nghiệp đã phá sản, giải thể.”

“Cứ với đà này thì doanh nghiệp chúng tôi không thể chịu đựng thêm được nữa,” “Ðáng buồn là nhiều doanh nghiệp đã ‘chết’ cũng không dám công bố danh tính vì sợ ngân hàng phát mãi tài sản.” Ðây là lời than từ các hiệp hội doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay được báo điện tử Infonet.vn của Bộ Thông Tin và Truyền Thông CSVN kể lại hôm Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012.

Nguồn tin dẫn báo cáo của Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI) trong phiên họp thường lệ của chính phủ CSVN tháng 4 cho thấy các xí nghiệp quốc doanh lớn trong ngành xi măng, thép, xây dựng đều rất khốn đốn.
Một tòa cao ốc xây dựng dở dang rồi bỏ hoang. Thống kê nói từ đầu năm đến nay 
có 2,400 doanh nghiệp địa ốc ngừng hoạt động. Dù nhà nước cho giảm lãi suất  và kêu gọi cho mượn tiền cũng không có tác dụng. (Hình: VTC) 

 “Hiện tại gần 100 doanh nghiệp của ngành xi măng đang rơi vào tình trạng sản xuất cầm chừng, thậm chí có doanh nghiệp phải đóng cửa, do không có tiền chi trả chi phí sản xuất (nhân công, tiền điện, than v.v...)”

Công ty xi măng Cẩm Phả sau 3 năm hoạt động lỗ “lũy kế” gần 1,300 tỉ đồng. Công ty Xi măng Ðồng Bành ngừng sản xuất và ôm số lỗ 149 tỉ đồng chỉ sau 9 tháng hoạt động. Xi măng Hạ Long (công ty con của Tập Ðoàn Sông Ðà) sau 2 năm hoạt động lỗ 982 tỉ đồng và đang ngắc ngoải.

Phạm Chí Cường, tổng thư ký Hiệp Hội Thép Việt Nam, than thở về thực trạng của ngành này: “Trong Hiệp Hội Thép ước tính có 10% doanh nghiệp mấp mé cái chết nhưng không dám công bố vì sợ ngân hàng sẽ xiết tài sản. Còn trên thực tế, có những doanh nghiệp không còn sản xuất, không còn cả tiền duy trì bảo vệ bỏ mặc cho kẻ gian vào phá. Còn chuyện ngừng sản xuất 1-3 tháng, giảm sản xuất từ 3 ca xuống 2 hay 1 ca là chuyện quá bình thường.” Infonet.vn thuật lại như thế.

Vì đình đốn từ tiêu thụ tới sản xuất và xuất cảng, nguyên liệu nhập cảng giảm, hệ quả là “việc thu thuế nội địa và thuế xuất nhập khẩu quý rồi đều giảm,” báo cáo của Bộ Tài Chính Hà Nội cho hay.

Trước tình thế nguy ngập đình đốn khắp nơi, chế độ Hà Nội dự trù bơm một gói “kích cầu” 29,000 tỉ đồng dưới các hình thức từ “giãn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế trị giá gia tăng (VAT), giảm tiền thuê đất, miễn thuế môn bài cho các doanh nghiệp.”

Mới đây, nhà cầm quyền hạ lãi suất nhưng có vẻ không bao nhiêu tác dụng.

“Ngân hàng hạ lãi suất nhưng doanh nghiệp không tiêu thụ được hàng, khó tiếp cận vốn nên chết vẫn nhiều,” theo bản tin VNExpress ngày 4 tháng 5, 2012.

Trang mạng của nhà cầm quyền trung ương Hà Nội (chinhphu.vn) ngày 7 tháng 5, 2012 loan tin “chính phủ sẽ ban hành nghị quyết riêng về tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.”

Kinh tế khốn đốn là thế nhưng sáng ngày 7 tháng 5, 2012, ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN đọc diễn văn tại “Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng khóa XI” nói là:

“...kinh tế vĩ mô đã có những chuyển biến tích cực... Sản xuất, kinh doanh vẫn có tăng trưởng. Hoạt động du lịch khá sôi động. An sinh xã hội và phúc lợi xã hội được bảo đảm, các vấn đề xã hội bức xúc được quan tâm giải quyết...,” theo chinhphu.vn. (TN)

Theo Người Việt




* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Từ cuộc bầu cử Tổng thống Pháp đến nền dân chủ ở Việt Nam

Vòng 2 của cuộc bầu cử tổng thống Pháp cho nhiệm kỳ 2012-2017 đã khép lại với thắng lợi của ứng cử viên đảng Xã hội (Parti Socialiste), ông François Hollande. Tổng thống đương nhiệm, ông Nicolas Sarkozy thuộc đảng Tập hợp phong trào Dân chúng (Union pour un Movement Populaire) đã không thành công trong cuộc chạy đua vào điện Elysée cho nhiệm kỳ thứ 2. Sự thất bại của ông cũng đã đặt ra nhiều câu hỏi cho tương lai của đảng UMP, trước mắt là cho cuộc bầu cử vào Quốc hội diễn ra vào tháng 6 này.

Khắp nơi trên lãnh thổ Pháp, không khí của cuộc bầu cử ngay từ vòng 1 gồm 10 ứng cử viên đã diễn ra rất sôi động. Sự hiện diện của những ứng cử viên thuộc các đảng chính trị khác nhau, từ đảng Xã hội, đảng UMP, hay đảng Mặt trận Dân tộc (Front National) cho đến đảng trung lập Phong trào dân chủ (MoDem) hay đảng Mặt trận cánh tả (Front de Gauche)… đã lôi kéo sự chú ý của Liên minh châu Âu và các nước khác như Mỹ, Nhật hay Trung Quốc. Trong bối cảnh nền kinh tế và tài chính thế giới, đặc biệt châu Âu bị suy thoái một cách nghiêm trọng từ năm 2008, thì sự thay đổi khuynh hướng chính trị của đảng cầm quyền ở Pháp được xem là sự kiện có tầm ảnh hưởng không nhỏ đối với thế giới.

Tổng thống đắc cử Francois Hollande (Paris, 6/5/2012)
Nguồn ảnh: JEAN-PAUL PELISSIER/Reuters

Cử tri Pháp đã tham gia và theo dõi cuộc bầu cử với nhiều cảm xúc khác nhau; một bên mong mỏi sự đổi mới sau những năm trì trệ, rạn nứt đầy bất công với ông Sarkozy, bên kia là sự ủng hộ tuyệt đối dành cho ông tổng thống đương nhiệm vì họ tin rằng chỉ có ông ta và cánh hữu mới đưa được nước Pháp ra khỏi cuộc suy thoái kinh tế.

Sự phân tích nguyên nhân chiến thắng của đảng Xã hội hay những lý do thất bại của đảng UMP không nằm trong khuôn khổ của bài viết này. Tác giả chỉ muốn nêu lên những nhận định khách quan qua một cuộc bầu cử quan trọng bậc nhất trong một quốc gia dân chủ và từ đó có những cái nhìn cần thiết về trường hợp của Việt Nam.

Vượt lên trên những quyền lợi cá nhân hay chiến thắng của các đảng phái chính trị, đêm 6/5 vừa qua chính là thắng lợi của một nền dân chủ thật sự ở Pháp. Ở đó, kẻ thắng hay người thua đều có chung một mục đích tối thượng là đem lại sự phồn thịnh cho nước Pháp. Ở đó, bất kỳ một công dân nào cũng có quyền nói lên những suy nghĩ hay nguyện vọng của bản thân mình. Ở đó, mọi cử tri không phân biệt tuổi tác, màu da hay địa vị xã hội đều được góp phần vào việc định đoạt tương lai cho đất nước. Khi đảng UMP của tổng thống đương nhiệm không còn có khả năng đáp ứng những kỳ vọng của người dân (giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao sức mua của các tầng lớp trong xã hội, anh ninh ổn định, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hay đơn giản là sự bất đồng về phong cách điều hành đất nước của tổng thống đương nhiệm…) thì lập tức họ bị “trừng phạt” bằng những lá phiếu bãi bỏ sự tín nhiệm của các cử tri Pháp. Cũng như khi đảng Xã hội không đưa ra được dự án quan trọng và khả thi nào để kiến thiết và lãnh đạo quốc gia nên đã liên tục thất bại trong những cuộc bầu cử từ năm 1995 đến 2007.

Sự xuật hiện của những khuynh hướng chính trị khác nhau trong một xã hội chính là bài học căn bản cho những nền chính trị “độc tài” như ở Việt Nam. Không có lý do gì khi chỉ có duy nhất một đảng cầm quyền là đảng Cộng sản nắm vai trò lãnh đạo đất nước. Hiến pháp 1992, điều 4 của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công nhận vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) là điều không thực tiễn trong bối cảnh hiện tại (ngay cả trong quá khứ, kể từ ngày miền Nam rơi vào tay Đảng CSVN). Người cộng sản không thể dựa vào những lý do đặc thù của nền văn hóa Việt hay sự ưu việt của nền chuyên chính vô sản để biện minh cho sự độc trị của mình. Ở những quốc gia tiến bộ trên thế giới, đa đảng là điều kiện tiên quyết cho nền móng của dân chủ. Sự đối lập của những đảng phái không cầm quyền đối với đảng lãnh đạo đất nước thúc đẩy sự cạnh tranh, sự đòi hỏi ngày càng hoàn thiện hơn trên mọi lĩnh vực. Quyền lãnh đạo đất nước phải được xác định bằng những cuộc bầu cử và chính lá phiếu sau cùng của mỗi công dân mới đem lại sự tín nhiệm cho sự lãnh đạo quốc gia của một đảng.

Ở Đức, ba đảng quan trọng trong đời sống chính trị là Liên minh dân chủ Thiên chúa giáo (CDU), Liên minh Xã hội Thiên chúa giáo (CSU) và đảng Xã hội (SPD). Ở Mỹ, hai đảng quan trọng thay nhau cầm quyền là đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa. Đảng Bảo thủ và đảng Lao động cùng nhiều đảng khác ở Anh góp phần tạo nên một nền dân chủ kiểu mẫu ở châu Âu. Ở châu Á, Nhật Bản cũng luôn có những cuộc bầu cử dân chủ nhằm thay đổi các đảng cầm quyền (đảng Xã hội/DPJ, đảng Dân chủ Tự do/LDP,...)

Các quốc gia Đông Nam Á cũng dần dần trở thành những quốc gia dân chủ đáng lưu ý. Ở Miến Điện, chính quyền độc tài cũng đã chấp nhận cho bà Aung San Suu Kyi và các đảng đối lập được tham gia trong các cuộc bầu cử vừa qua. Tại Indonesia, dẫu cho có những mầm móng đe dọa về sự phát triển của các đảng phái Hồi giáo cực đoan, cũng đã duy trì được những cuộc bầu cử dân chủ. Cũng thế, tại Thái Lan, Malaysia, Singapore và ngay cả Cambodia cũng đã có bầu cử đa đảng từ nhiều năm qua. Tất nhiên, đây chưa phải là những nền dân chủ hoàn hảo, nhưng ít nhiều thì nó cũng góp phần mang lại quyền đi bầu nghiêm túc cho mọi công dân. Các đảng phái chính trị đối lập được tồn tại và ít nhiều được tham gia vào chính trường. Một nền dân chủ hoàn hảo là điều khó thấy ngay cả ở những quốc gia tiên phong trên con đường dân chủ hóa xã hội. Nhưng chấp nhận sự đối thoại trên con đường chính trị qua những luồng tư tưởng khác nhau là điều cần thiết đối với sự một quốc gia tiến bộ.

Việt Nam vào từng thời kỳ nhất định trong lịch sử cận đại cũng đã xuất hiện nhiều đảng phái chính trị khác nhau. Từ những năm đầu của thế kỷ 20, sự ra đời của các đảng Việt Nam Quang phục hội, đảng Việt Nam Độc lập, Việt Nam Quốc dân đảng… cho đến các đảng Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, đảng Cần lao Nhân vị hay đảng Dân chủ đã góp phần tạo nên một đời sống chính trị đa dạng. Một số đảng ra đời trong giai đoạn Pháp thuộc với mục đích giành lại sự tự do độc lập. Miền Nam ít nhiều đã được sống trong không khí dân chủ (dẫu không được ổn định vì tình trạng độc quyền, tham nhũng, bè phái giữa những đảng phái) qua các cuộc tổng tuyển cử, bầu cử.

Đảng CSVN cũng được hình thành qua sự sát nhập của nhiều đảng hay tổ chức khác nhau. Hơn ai hết, những người cộng sản Việt Nam thời đó hiểu rõ tầm quan trọng của các tổ chức, đoàn thể và các đảng phái liên minh trong công cuộc kháng chiến. Họ đã chinh phục được lòng yêu của một số tầng lớp nhân dân, muốn chống lại sự hiện diện của người Pháp để giải phóng dân tộc.

Đất nước Việt Nam không thuộc vào bất cứ đảng phái chính trị hay một thế lực nào. Tổ quốc và dân tộc phải được đặt lên trên những quyền lợi cá nhân hay đảng phái. Chính vì thế, đảng CSVN không thể nào tự cho mình độc quyền được “dẫn dắt”, “chèo lái” hay “lãnh đạo” đất nước. Sự đa đảng là điều không thể tránh khỏi nếu muốn dân tộc tiến bộ và trở nên một quốc gia dân chủ, độc lập đúng nghĩa (không bị chèn ép bởi các thế lực ngoại bang). Đảng CSVN cần phải tự hỏi mình đã làm được những gì (ngoài sự “thống nhất” hai miền mà họ vẫn thường tự ca ngợi) và đã thất bại ra sao trong suốt hơn 37 năm cầm quyền. Đã đến lúc Đảng CSVN cần trả lại những quyền lợi căn bản nhất của một công dân, đó là quyền tự do ngôn luận. Chứ không phải mỗi khi có bất đồng chính kiến thì bị chụp mũ phản động, âm mưu lật đổ chính quyền. Đã đến lúc mỗi cá nhân phải được quyền tham gia xây dựng tương lai của đất nước qua những cuộc bầu cử dân chủ. Không thể tiếp tục mãi những cuộc bầu bán rầm rộ, lấy lệ, khôi hài mà kết quả đã được thông qua bởi một số ít lãnh đạo chóp bu của đảng.

Hãy tạo nên một sự cạnh tranh “lành mạnh” giữa những đảng phái mang những màu sắc chính trị khác nhau. Chính sự cạnh tranh, đối lập, đôi lúc ồn ào đó mới chính là động lực cho sự xây dựng một quốc gia dân chủ. Đảng CSVN sẽ được nhiều hơn là mất dưới ánh mắt phán xét của Lịch sử dân tộc nếu họ chấp nhận đa đảng, chấp nhận những luồng tư tưởng khác nhau. Nếu họ cho rằng đa số người dân Việt Nam ủng hộ và tín nhiệm họ thì lẽ đương nhiên, thắng lợi sẽ thuộc về Đảng CSVN vì dân tộc không thể nhầm lẫn trước những sứ mệnh trọng đại. Ngược lai, hãy để người dân Việt trao trọng trách điều hành và lãnh đạo đất nước cho một đảng đối lập khác. Bài toán ấy đơn giản hay phức tạp tùy thuộc nhiều vào thái độ của ban lãnh đạo đương thời của đảng CSVN. Đã đến lúc họ cần phải tìm ra một lối thoát cho chính họ nếu không muốn mang trọng tội với dân tộc.

Bóng dáng anh lánh giềng phương Bắc vẫn đang bao trùm lên nền độc lập của đất nước. Chỉ khi nào Việt Nam trở nên một quốc gia dân chủ và phồn thịnh thì chúng ta mới có thể đối thoại một cách bình đẳng với các quốc gia khác.

Quảng trường Bastille (Paris, 6/5/2012)
Nguồn ảnh: Charles Platiau/Reuters

Hình ảnh của hàng trăm ngàn người dân Pháp xuống đường mừng thắng lợi của đảng Xã hội hay những ánh mắt đượm buồn, những giọt lệ trên những khuôn mặt của các cử tri đảng UMP chính là biểu tượng cho sự dân chủ. Quảng trường Bastille đông kẹt người như sự khẳng định cho một chân lý: tự do, dân chủ của mọi công dân là bất khả xâm phạm.

Sức chịu đựng của dân tộc có giới hạn và nó sẽ bùng nỗ một cách khủng khiếp. Bài học từ những cuộc cách mạng Hồi giáo ở Tunisie và Ai Cập vẫn còn đó.

© Lâm Bách Việt
-------------------
Bài do tác giả gởi. DCVOnline biên tập, chú thích và minh hoạ.


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Có những nỗi đau không nói được thành lời dù họ cũng là nạn nhân

Hôm trước, ngồi theo dõi chuyện Văn Giang, thấy hai đoạn video clip trên mạng quay cảnh công an và côn đồ đánh đập hai người thật tàn bạo, đánh như đòn thù, đánh như chưa bao giờ được đánh. Nhìn những cú đạp bằng chân, đập bằng gậy, đá vào đầu, tát vào mặt, của cả những chàng mặc đồ công an to béo và tên và côn đồ không sắc phục vào một người mặc áo xanh đã thất thế nằm giữa hiên nhà, cứ như bọn này đánh cho hả cơn khát bạo lực lâu không được dịp thể hiện. Nhìn cảnh này, một người phụ nữ rùng mình bật lên tiếng chửi: “Mẹ cha nó, đánh thế con người ta còn sống được à? Sao con người chứ phải con thú đâu mà nó dã man thế? Con cái nhà ai mà bị đánh ra nông nỗi này thì còn sống sao được”.
Đám công an và côn đồ đánh người ở Văn Giang


Thế rồi hôm sau, anh Hào, Phó Chủ tịch Thường trực UBND Tỉnh Hưng Yên lên báo cáo Thủ tướng cứ leo lẻo rằng: “Trong vụ việc ở Văn Giang, có sự móc nối chặt chẽ giữa các phần tử chống đối trong và ngoài nước. Các thông tin, thậm chí được tường thuật tại chỗ, từng giờ để tuyên truyền, xuyên tạc, dàn dựng lên các video clip giả để vu khống, bôi nhọ chính quyền”.

Nghĩ cũng buồn cười cho trình độ của cán bộ ta. Cái sự móc nối giữa các phần tử chống đối trong và ngoài nước thế nào thì không biết, nhưng cái video đó mà là giả được thì quả là bọn chống đối còn tài hơn cả Tề thiên Đại Thánh có phép biến hóa thần thông. Nhưng rồi lại nghĩ chắc anh Hào này phải có một cơ sở nào đó để chắc như đinh đóng cột rằng cái video đó là giả, là dựng lên, vì chỉ cần không tìm ra người bị đánh, thì đương nhiên là không có vụ đánh người. Thực tế ở Việt Nam chúng ta đã có quá nhiều ví dụ cụ thể đấy thôi.

Nhà báo Ngọc Năm 
Trường hợp người biểu tình chống Trung Quốc bị đạp vào mặt được quay lại rất rõ ràng như thế, có nạn nhân hẳn hoi, mà cả bộ máy công an Hà Nội đông đúc, tinh vi như vậy còn tìm không ra thủ phạm. Đế như ông Nguyễn Đức Nhanh, Giám đốc CA Hà Nội còn khẳng định là “Chúng tôi cũng không xác định được đoạn băng ấy có bị cắt, dán hay không”, thì cái chuyện giữa đám hỗn quân hỗn quan cưỡng chế cướp đất đó ai mà đi xác định được thật giả. Chắc là tin như vậy nên anh Hào mới to miệng báo cáo trước Thủ tướng như thế chăng? Có lẽ anh Hào nghĩ Thủ tướng cũng như đứa trẻ con, ăn rồi ngồi trong dinh, dưới báo thế nào thì nghe thế chứ biết cái gì.

Thế rồi mấy hôm nay nghe tin đó là hai phóng viên của VOV được phái đi công tác hẳn hoi đã bị lực lượng của “ta” tẩn cho lên bờ xuống ruộng. Hai phóng viên đó là Nhà báo Ngọc Năm, Trưởng Phòng Thời sự- Chính trị- Kinh tế Đài TNVN và Phi Long, Phòng Thời sự – Chính trị - Kinh tế Đài TNVN (VOV) thì mới té ngửa ra là cái ý nghĩ kia của mình cũng có lý. Hèn chi anh Hào to mồm khẳng định là video giả. Chỉ vì nạn nhân không may trong video đó nhưng lại rất may là “người nhà mình”, không phải là bọn nhân dân, nên chuyện này có thể xí xóa nội bộ được.


Nếu đó là bọn nhân dân, sau khi bị bắt đi, thì hẳn trước khi về cũng có thể đã có bản cung khai rằng “tôi đã được đối xử tốt, không bị đánh đập, bức cung hoặc tổn thất về tinh thần”. Nhưng con người thì còn đó, mà cái bọn phần tử chống đối nó nhan nhản tiềm tàng trong nhân dân còn đó thì cũng khó bịt được. Chứ quân nhà mình thì khỏe re, có cho thêm kẹo rồi đấm cho dăm quả nữa cũng đố dám kêu tiếng nào.

Quả là đúng như vậy, đến nay trên mạng đã khẳng định, chỉ đích danh hai anh nhà báo của VOV hẳn hoi, nhưng VOV vẫn cứ lặng câm như hến. Hội nhà báo Việt Nam, ngay trong ngày tự do báo chí, cũng ú ớ việt gian khi được hỏi về việc nhà báo bị đánh lại còn khẳng định sẽ có cách giải quyết riêng?

Hài hước hơn nữa, là hai nhà báo bị tẩn cho suýt “đi theo cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác” mà cũng không ẳng lên được câu nào.

Điều này làm mình nhớ lại câu chuyện con chó nhà mình. Hồi đó nhà mình có con chó khá khôn, một lần đang đêm, nghe tiếng gà kêu nháo nhác, tưởng trộm vào bắt gà nên đi rình, đứng một chỗ rất lâu. Chợt con chó đen sủa lên ầm ĩ, nhìn thì không thấy gì nghĩ là nó làm lộ chuyện đi rình, bực mình, mình đá cho nó một đá thật đau, nó đã không im lại còn ăng ẳng lên liên hồi. Bực quá bấm đèn pin lên thì mới thấy một con rắn đang mò vào chuồng gà. Con chó biết mình đánh oan nên cho cứ vào trong góc ăng ẳng mãi không im.

Nhớ đến chuyện này, mới thấy khổ cho các anh phóng viên nhà nước chúng ta, bị đánh oan, đánh đau mà cấm kêu lên được một tiếng. Thói đời là thế, niềm vui khi được chia sẻ thì sẽ nhân lên, còn nỗi đau được chia sẻ thì vợi bớt. Nhưng bây giờ thì ngược lại, hai chàng nhà báo bị đánh lên bờ xuống ruộng vẫn cứ phải im. Còn nỗi đau, nỗi nhục nào bằng?

Nhớ lại kỷ niệm với phóng viên VOV một lần cách đây chưa lâu.

Đó là đêm 31/8/2008 tại linh địa Đức Bà Thái Hà, khi giáo dân đang cầu nguyện thì bị xịt hơi cay vào mặt phụ nữ và trẻ em. Hàng loạt phụ nữ và trẻ em ngất tại chỗ. Người xịt hơi cay “xin lỗi bà con vì phải hoàn thành nhiệm vụ rồi chuồn luôn”. Công an lúng túng và chối quanh khi được yêu cầu lập biên bản. Một đoàn thanh niên mang áo Đoàn TNCSHCM được phái đến gây rối.

Một anh bạn tôi vốn đã nghe những bài viết đọc ra rả lên án Thái Hà của VOV, liền gọi điện đến Trung tâm Thông tin – Đài Tiếng nói Việt Nam (số máy 04.8244354) đề nghị cho phóng viên đến hiện trường để thấy rõ vụ việc mà điều chỉnh cách truyền thông. Ông Ngọc Giám đốc Trung tâm, (số đt cố định: 04.9386140; số điện thoại di động là 0913237641) đã cử phóng viên Đình Hiếu (số điện thoại di động là 093234503) đến hiện trường. Nhưng phóng viên VOV dù đã viết rất nhiều bài về Thái Hà lại vẫn không biết lối vào Thái Hà và anh bạn tôi phải ra tận ngoài đường dẫn vào. Khi đến đó, các phóng viên báo chí, đài truyền hình, Đài Tiếng nói VN đã tận mắt thấy vụ việc, họ còn được đưa đến phỏng vấn nạn nhân…
Phụ nữ và trẻ em bị xịt hơi cay đêm 31/8/2008 tại Thái Hà
Người xịt hơi cay cầm bình xịt đứng giữa công an
Nhận lệnh
Nhưng, sáng hôm sau, chính họ đã đổi nạn nhân thành thủ phạm một cách trắng trợn trên bài viết. Phóng viên Đình Hiếu (Đài Tiếng nói Việt Nam VOV) đã viết: “Lợi dụng trời tối, những kẻ chủ mưu đã rất thâm hiểm, xúi bẩy, mớm lời cho một số người hô hoán lên rằng bị đánh, bị xịt hơi cay đã ngất xỉu. Thế nhưng chẳng thấy ai phải sơ cứu, phải đi bệnh viện điều trị”?

Với đường lối làm việc của VOV như vậy, nên việc các phóng viên bị quân ta đánh phải quân mình mà buộc phải câm lặng là điều không có gì khó hiểu.

Về nhà đài, cách đưa tin, cách tuyên truyền là như vậy, về các cá nhân phóng viên thì công việc kiếm ăn là thế buộc phải im.

Nhưng có khi nào họ nghĩ về nhân cách con người?

Có khi nào trên giường bệnh giữa những cơn đau, họ thấy rằng họ cũng là những nạn nhân như giáo dân Thái Hà và bà con nông dân Văn Giang hôm đó?

Hà Nội, ngày 7/5/2012
© J.B Nguyễn Hữu Vinh


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Vụ cưỡng chế Văn Giang: Nhà báo Việt Nam khổ HƠN… chó!

… Xảy ra 9 ngày trước Ngày Tự do Báo chí Thế giới của Liên hiệp quốc, ngày Liên minh Báo chí Đông Nam Á (SEAPA) công bố bản Phúc trình tố cáo Việt Nam tăng cường đàn áp các nhà báo và blogger, 1 tuần trước ngày tổ chức Freedom House xếp Việt Nam vào nhóm những nước hoàn toàn không có tự do báo chí, thứ 182/197.

Quật bằng gậy cao su

Nhà văn An Nam khổ NHƯ… chó

Bảy thập kỷ trước, dưới ách thực dân phong kiến, thi sĩ – nhà báo Nguyễn Vĩ viết:

Thời thế bây giờ vẫn thấy khó
Nhà văn An Nam khổ NHƯ chó
Mỗi lần cầm bút nói văn chương
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương
Và nhìn chúng mình hì hục viết
Suốt mấy năm giời: kiết vẫn kiết!

Thật ra, chẳng cứ thời thực dân, thời nào và ở đâu cũng vậy, đa số giới cầm bút lương thiện mưu sinh bằng nghiệp viết đều nghèo hoặc chẳng mấy khá giả. Khốn nỗi, nghiệp viết nó thế, người đời thấy văn nghệ sĩ, nhà báo hay lê la chè chén, cứ nghĩ họ đồng ra đồng vào. Trong cuộc mới biết, các cuộc nhậu “hoành tráng” có doanh nhân hay quan chức, các đối tượng này thường giành thanh toán. Giới cầm bút – “viêm màng túi mãn tính”, được “tha”.

Nhưng khổ chỉ đâu là nghèo? Và nghèo chưa chắc đã thậm khổ. Nhà thơ Giang Nam từng tả tâm trạng cậu bé chăn trâu vẫn “mơ màng nghe chim hót trên cao”. Phải, cũng phận nghèo, nhà văn và nhà thơ, trong cõi riêng của họ, vẫn có thể bay bổng, mộng mơ, chí ít cũng thỏa mãn phần nào khát vọng tự do tâm hồn.

Đấm vào mặt

Nhà báo Việt Nam khổ HƠN… chó

Nhà báo thì khác. Những nhà báo chân chính tự xác định thiên chức phản ánh sự thật, bảo vệ lẽ phải, bênh vực kẻ yếu, bảo vệ công lý, lên án cường quyền, tình trạng bất công, thói đạo đức giả… Do vậy, bên cạnh cái nghèo cố hữu, dưới thể chế toàn trị, bóp nghẹt tự do báo chí, nhà báo chân chính còn luôn bị giới chức cầm quyền làm đủ mọi cách cản trở họ thực hiện thiên chức, thậm chí khủng bố, sát hại.

Thật chẳng ngoa, ở những nước báo chí bị xiềng xích, thân phận nhà báo còn khổ HƠN… chó. Bị đánh, dù sợ sệt, chí ít con chó còn dám “ẳng” lên một vài tiếng. Nhờ đó, cái đau vợi bớt, kẻ ra tay đánh, nghe “ẳng”, có thể động lòng ngừng tay.

Mới đây thôi, trong bản tin ngày 5-5, Đài BBC cho biết, 2 nhà báo của VOV (Đài Tiếng nói Việt Nam) – cơ quan truyền thông vào hàng “chiếu trên” trong số hơn 700 tờ báo “quốc doanh” – là Trưởng phòng Kinh tế Ngọc Năm và phóng viên Phi Long đã bị lực lượng cưỡng chế xúm đánh hội đồng bằng tay, chân và dùi cui hết sức dã man, đến trọng thương, phải nhập viện cấp cứu, điều trị, vì “dám” tiếp cận hiện trường để tác nghiệp trong vụ cưỡng chế ở Văn Giang sáng 24-4. Theo BBC, 2 nhà báo này chính là 2 người đội mũ bảo hiểm màu trắng, trong các đoạn videoclip ghi cảnh lực lượng cưỡng chế đánh người như đòn thù hiểm độc (đá thúc mạng sườn) mà người dân bí mật quay được, đã được các báo mạng “ngoài quốc doanh” trong và ngoài nước đăng tải rộng rãi mấy hôm nay. Nguồn tin nói với BBC về vụ việc trên xin giấu tên. Đoạn videoclip cũng cho thấy, 2 người bị hành hung chẳng hề có cử chỉ quá khích nào.

Đòn hội đồng đấm, đá, đạp, chọc gậy tre, quật gậy cao su

Đến 5-5, 2 nhà báo trên đã ra viện, đi làm trở lại. Thế nhưng, nếu BBC không “khui” vụ việc, có lẽ công chúng không thể biết họ bị hành hung hết sức dã man trong cái buổi sáng 24-4-2012 ở Văn Giang – “vết nhơ lịch sử” ấy. Toàn bộ hơn 700 tờ báo “quốc doanh” bặt tin này. Cũng khó trách các báo, vì 2 đồng nghiệp có “ẳng” tiếng nào đâu! Sếp và đồng nghiệp ở Đài cũng có “ẳng” tiếng nào đâu! Hội Nhà báo Việt Nam, cơ quan bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ cũng có “ẳng” tiếng nào đâu!

Khốn nạn thân họ!

Những ai đã xem các video clip cưỡng chế Văn Giang, mới thấy: nổi lên trong cảnh lửa khói ngút trời, súng nổ kinh hoàng, người dân chỉ có gậy gộc, đất đá và lòng phẫn uất yếu thế lui dần, hàng nghìn cảnh sát cơ động, công an chìm nổi, dân phòng, xã hội đen… đằng đằng sát khí súng ống, quả nổ, lựu đạn cay, dùi cui, xe ủi… dũi tới… là cảnh 2 người đội mũ bảo hiểm trắng bị đánh hội đồng quá dã man, như thể họ là những kẻ cầm đầu hung hăng trong những hộ dân chống đối. Hình ảnh gây giận dữ, công luận căm phẫn nhất, chính là đoạn quay 2 người này bị đánh hội đồng.

Trở lại truyền thông và vụ cưỡng chế Văn Giang. Sau vụ cưỡng chế mà thất bại thuộc về người dân Văn Giang mất đất, lẻ tẻ một số báo “quốc doanh” đăng tin ngắn ngủi vô cảm, lạnh lùng như chuyện xứ người. Một số báo phải lập tức bóc onlines. Không được “ẳng”, nhá ! Thiên chức của báo chí – “chút lòng trinh bạch” cũng “từ nay xin chừa”!

Lẽ đương nhiên, không ít trường hợp báo chí “quốc doanh” phanh phui, cơ quan chức năng còn chẳng thèm ngó ngàng. Vụ 2 nhà báo bị hành hung dã man ở Văn Giang, BBC đưa tin, còn khuya người ta mới “rờ” tới.

“Nhà báo Việt Nam khổ HƠN… chó”, nói thế có ngoa không?

© Nhà báo Võ Văn Tạo
Theo trang tin Ba Sàm


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Vụ thu hồi đất ở Văn Giang (Hưng Yên) - Vì sao người dân quyết liệt bám giữ đất?

Vì sao người dân quyết liệt bám giữ đất?

LTS: Hơn 10 ngày trôi qua, câu chuyện về vụ cưỡng chế thu hồi đất để giao cho chủ đầu tư thực hiện dự án Ecopark ở Văn Giang (Hưng Yên) vẫn tiếp tục thu hút sự quan tâm của dư luận.

Người ta không hiểu được vì sao có sự “đối đầu” gay gắt giữa một bộ phận nông dân có đất ở đây với chủ đầu tư và chính quyền trong việc này. Họ kiên trì bám trụ, thậm chí dùng xẻng, cuốc, gạch, đá… để giữ đất.

Từ vụ việc này, phải chăng chính sách, luật pháp hiện hành liên quan việc quy hoạch, phê duyệt dự án, đền bù - bồi thường thu hồi đất… đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần sớm xem xét, hoàn thiện.

PV Pháp Luật TP.HCM đã về Văn Giang tìm hiểu thực tế, trao đổi với các chuyên gia pháp luật, quy hoạch… góp phần lý giải căn nguyên của vấn đề.

Ngay chiều 24-4, đại diện chính quyền huyện Văn Giang đã thông báo với báo chí là việc cưỡng chế thu hồi đất và hỗ trợ thi công dự án ở xã Xuân Quan đã hoàn tất, chính quyền địa phương đã bàn giao mặt bằng 72 ha ở đây cho chủ đầu tư. Tuy nhiên, đối với chính quyền và những người dân liên quan, sự việc dường như chưa khép lại. Còn nhiều vấn đề phải giải quyết sau cưỡng chế.

Sống nhờ đất, khá giả nhờ đất

Đêm 23 và ngày 24-4 vừa qua có lẽ sẽ trở thành một ký ức khó quên được đối với nhiều người dân ở xã Xuân Quan. Họ đã phải bấm bụng để bị thu mất phần đất canh tác ít ỏi - nguồn sống duy nhất suốt bao nhiêu năm qua của gia đình mình.
Người dân xã Xuân Quan thu dọn vườn cây cảnh sau vụ cưỡng chế sáng 24-4. 
Ảnh: NGUYỄN HƯNG (Lấy lại từ VnExpress)

Buổi chiều sau cưỡng chế, trỏ tay ra bãi đất trước mặt còn tanh bành những cây bật gốc, đổ rạp, mẹ vợ anh Truyền (xóm 3, xã Xuân Quan) chép miệng: “Cây cối nhà tôi đây. Chỗ cây cảnh này tới gần tết trị giá phải cả tỉ đồng. Vợ chồng nó (anh Truyền) đêm qua tranh thủ dời đi được ba xe, còn lại coi như mất sạch!...”.

Anh Truyền bần thần, không nói năng gì. Mãi tới lúc nghỉ tay dọn dẹp, vào nhà uống chén nước, anh mới nghèn nghẹn: “Thế là mất hết. Nhà tôi hai bên nội ngoại mất khoảng 5-6 sào”.

Sau vụ cưỡng chế đất vừa qua, nhiều nhà cứ tiếc cho số cây cảnh bị cày ủi, hư hại. “Con nhà bà Nghiêm hôm qua khóc, kêu là mất nhiều hải đường quá, phải tới mấy trăm triệu đồng”. “Anh Thơm bên kia mất tầm trên 200 triệu đồng, toàn cây cảnh giá trị”. “Cả cái vườn lộc vừng 1.000 gốc, mỗi gốc mấy trăm ngàn đồng”…

Nhưng đó là thiệt hại trước mắt. Còn về lâu dài, chuyện người dân mất đất canh tác mới là nỗi lo lớn.

Theo nhiều lão nông cho biết ba xã Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao (Văn Giang) là đất thuần nông với hơn 3.900 hộ nông dân sống nhờ vào đất. Vùng này từ xưa đã có tiếng là đất “bờ xôi ruộng mật”. Với chủ trương dồn điền đổi thửa của Nhà nước, người dân ở đây đã chuyển đổi thành công từ thóc lúa sang vườn cây, ao cá. Dịp giáp tết, lộc vừng, quất, hải đường Văn Giang sáng rực các chợ hoa Hà Nội.

Một lão nông kể: “Người thì trồng cây cảnh, cây thế, người thì cây bóng mát, cây công trình. Đi khắp cái làng Xuân Quan này mới thấy sao nhà gác, nhà tầng nhiều, đầy đủ tiện nghi thế, có gia đình vài ba xe máy. Đó là người ta đi lên từ đồng ruộng. Trung bình mỗi sào ở đây ít cũng phải mang lại cho dân dăm bảy chục triệu mỗi năm”.

Mất đất vì dự án

Theo báo cáo của UBND tỉnh Hưng Yên, dự án khu đô thị Văn Giang (còn được gọi là Ecopark) được thực hiện theo phương thức “đổi đất lấy hạ tầng”. Chủ đầu tư (Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Việt Hưng - Vihajico) sẽ thi công một con đường giao thông liên tỉnh, nối từ cầu Thanh Trì đi thị xã Hưng Yên. Bù lại tỉnh sẽ góp vốn bằng 500 ha đất nông nghiệp để Vihajico đầu tư xây dựng một khu đô thị sinh thái, có chức năng thương mại, dịch vụ và nhà ở.
Mô hình một phần dự án Ecopark Văn Giang.

Vihajico thuyết trình: “Nếu dự án được thực hiện, cơ cấu sản xuất của các xã Cửu Cao, Xuân Quan, Phụng Công từ sản xuất nông nghiệp sẽ chuyển sang đô thị thương mại, dịch vụ. Dự án là tiền đề tạo ra thế mạnh sử dụng có hiệu quả quỹ đất hiện có, tạo ra động lực phát triển toàn diện về kinh tế-xã hội, thương mại, vui chơi giải trí…”.

Chính quyền và chủ đầu tư dự án có thừa luận cứ để thuyết minh về tính hợp lý và sự cần thiết khi biến 500 ha đất nông nghiệp thành khu đô thị, thương mại, dịch vụ. Thế nhưng đối với người dân có truyền thống làm nông lâu đời, việc tách họ khỏi mảnh ruộng, vườn cây, ao cá gắn bó lâu đời với họ, là nguồn sống bao đời nay của gia đình họ là điều không đơn giản.

Thực tế, chủ đầu tư và chính quyền hầu như chưa có động thái cụ thể nào chuẩn bị cho việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở đây. Lẽ ra chính quyền phải có phương án dạy nghề, đào tạo nghề để giúp người dân chuyển đổi từ lâu, chứ không phải đùng một cái lấy đất của người dân với lời giải thích sẽ chuyển sang làm thương mại, dịch vụ...

Họ sẽ sống bằng gì?

Điều đáng ngại hiện nay là sau cưỡng chế, nhiều hộ dân ở xã Xuân Quan đã không còn đất canh tác và hoàn toàn không có phương án nghề phụ thay thế.

Thông tin từ chính quyền cho rằng “số hộ bị cưỡng chế vẫn còn diện tích đất canh tác chứ không phải thu hồi toàn bộ” nhưng có thông tin khẳng định với PV, qua đợt cưỡng chế hôm 24-4 vừa qua, không ai còn ruộng nữa.

Cũng thông tin từ chính quyền cho biết dự án “có đất dịch vụ liền kề để giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi” nhưng cụ thể ra sao không ai rõ.

Ông Dũng, người xã Xuân Quan, than thở: “Xuân Quan có 8.000 nhân khẩu, tôi cứ cho là người già yếu chiếm 4.000 thì 4.000 còn lại làm cái gì ra tiền bây giờ? Nói thực là bây giờ dân làng chơi nhiều rồi. Ban ngày người đi lại trên đường làng đông nghịt đấy. Có việc gì mà làm đâu”.

Trước mắt, đã có những gia đình phải đi mò cua bắt ốc, nhặt nhạnh cho đủ tiền mua gạo. Trong tương lai, sẽ ra sao nếu hàng ngàn người trong độ tuổi lao động phải chơi suốt ngày?

© Đoan Trang
Theo Pháp Luật Thành Phố HCM

Sáng 24-4, UBND huyện Văn Giang đã thực hiện cưỡng chế thu hồi 5,8 ha đất của 166 hộ tại xã Xuân Quan. Việc cưỡng chế tiến hành từ khoảng 7 giờ sáng đến hơn 11 giờ trưa. 1.000 người thuộc các lực lượng công an, dân quân... được huy động.
Thông tin trên trang web của tỉnh Hưng Yên mô tả, một ngày trước khi cưỡng chế, hơn 100 người dân dựng hai lều bạt gần khu vực giải phóng mặt bằng. Sáng sớm 24-4, khoảng 300 người dân tập trung tại các điểm gần khu vực cưỡng chế. Sau 7 giờ sáng, còn khoảng 200 người dân đã chuẩn bị từ trước cuốc, xẻng, dao, liềm, gậy gộc, gạch đá, chai xăng cố tình chống lại lực lượng làm nhiệm vụ cưỡng chế.

Báo cáo tại hội nghị trực tuyến về giải quyết khiếu nại, tố cáo ngày 2-5, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên Nguyễn Khắc Hào cho rằng: “Vụ việc ở Văn Giang có sự móc nối các phần tử chống đối trong và ngoài nước. Các thông tin được tường thuật tại chỗ, từng giờ để xuyên tạc, dàn dựng các video clip giả để vu khống, bôi nhọ chính quyền”. Cũng theo ông Hào, dự án khu đô thị thương mại và du lịch Văn Giang (Ecopark) có trình tự “thủ tục đúng pháp lý, cơ chế đền bù tốt, tạo đà phát triển cho tỉnh”... song qua hơn tám năm, tỉnh vẫn chưa hoàn thành giao đất cho chủ đầu tư do “người dân khiếu kiện liên tục, tập trung đông người, lôi kéo, kích động cản trở không hợp tác, gây tình hình phức tạp kéo dài…”.

(Theo VnExpress ngày 2-5)

Thực hiện dự án khu đô thị Ecopark Văn Giang, năm 2009, tỉnh đã bàn giao đợt 1 cho nhà đầu tư 57,19 ha để làm đô thị và làm đường giao thông liên tỉnh.

Vừa rồi, ngày 24-4, tiếp tục bàn giao 72 ha ở xã Xuân Quan, trong đó có 5,8 ha của 166 hộ phải tiến hành cưỡng chế.

Đến nay đã có 3.852/4.876 hộ của ba xã nhận tiền đền bù hỗ trợ, chiếm 79%; còn 1.024 hộ chưa nhận, bằng 21%.

Tại xã Xuân Quan, tổng số hộ đã nhận tiền đền bù hỗ trợ và tự nguyện bàn giao đất là 1.554/1.720 hộ (66,2 ha), chiếm 95,5%; còn 166 hộ (5,8 ha), chiếm 4,5% không nhận tiền đền bù, hỗ trợ phải tiến hành cưỡng chế.

(Theo trang web của UBND tỉnh Hưng Yên)

Được, mất…

Lý giải đến tận cùng nguyên nhân xung đột giữa một số người dân có đất bị thu hồi trong dự án với chủ đầu tư và chính quyền ở Văn Giang không thể không bàn đến vấn đề lợi ích của các bên liên quan.

Được và mất không chỉ là bài toán của chủ đầu tư, mà lớn hơn và bao trùm hơn là bài toán của chính quyền, những người hơn ai hết có thể bảo đảm sự hài hòa về quyền lợi của các bên khi thực hiện dự án.

Như đã nêu trong bài trước, việc thu hồi đất ở xã Xuân Quan - Văn Giang đã gặp phải sự phản ứng quyết liệt của một số người dân nhưng cuối cùng, ngày 24-4 vừa qua, chính quyền cũng đã thực hiện xong việc cưỡng chế và đã bàn giao 72 ha cho chủ đầu tư (Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Việt Hưng - Vihajico).

Chỉ chủ đầu tư được lợi?

Căn cứ giá đền bù, có thể thấy cán cân lệch hẳn về phía chủ đầu tư, nếu không muốn nói là gần như chỉ có họ được lợi. Người được lợi ít hơn, không đáng kể là Nhà nước và người chịu thiệt là nông dân.

Để thực hiện dự án khu đô thị thương mại và du lịch Văn Giang (gọi tắt là khu đô thị sinh thái Ecopark), 3.900 hộ dân của ba xã Cửu Cao, Xuân Quan và Phụng Công sẽ gần như không còn đất sản xuất nông nghiệp - vốn là sinh kế duy nhất của họ từ nhiều thế hệ qua.

Với mức giá đền bù chỉ 135.000 đồng/m2, mỗi hộ dân có năm nhân khẩu và 2,5 sào ruộng ở đây có thể nhận về số tiền hơn 120 triệu đồng. Số tiền này đủ để duy trì cuộc sống của năm con người trong vòng một năm. Trong khi đó, các giải pháp hỗ trợ, giúp người dân chuyển đổi nghề, chuyển sang làm dịch vụ… không thấy gì. Từ đó, có thể nói thu hồi đất đồng nghĩa với việc cắt đứt nguồn sống của họ.
Dọn dẹp hiện trường sau cưỡng chế. Ảnh: NGUYỄN DÂN

GS-TS Nguyễn Minh Thuyết có một phép so sánh đơn giản: “Đền bù cho người ta chỉ hơn 100.000 đồng/m2, nghĩa là gì? Nghĩa là mua được vài lít xăng hoặc ba bát phở. 1 m2 đất nông nghiệp, kết quả tích tụ của hàng bao nhiêu năm, lại là cái người nông dân phải đổ ra bao nhiêu mồ hôi mới có được, chưa tính đến chuyện trong đó có cả thành quả cách mạng chia cho người ta nữa, mà giờ trả quá rẻ mạt. Làm sao người ta sống được?”.

Trong khi đó, theo khảo sát của Pháp Luật TP.HCM, giá căn hộ tại khu chung cư Rừng Cọ thuộc Ecopark được mở bán từ tháng 3-2011 đã ở mức 21-27 triệu đồng/m2. Con số này trừ chi phí đầu tư hạ tầng, xây dựng… vẫn còn lại khoản lợi nhuận lớn rơi vào túi nhà đầu tư và sau đấy có thể là giới đầu cơ nhà đất.

Về khoản đóng góp cho cho ngân sách Nhà nước từ dự án này, ông Thuyết đặt vấn đề: “Ecopark có làm đường, làm cầu cho Nhà nước, gọi là “đổi đất lấy cơ sở hạ tầng”. Thực ra số tiền ấy cũng có thể tính bằng ngàn tỉ đồng nhưng không phải là lớn lắm cho ngân sách Nhà nước. Cái chính là theo tôi, ở những trường hợp như thế này thì chúng ta phải đánh giá xem có nên phát triển kinh tế theo kiểu Nhà nước bán quyền sử dụng đất như thế hay không”.

Đó là chưa kể Ecopark cũng tỏ ra là một dự án gây ra sự lãng phí lớn về tài nguyên đất nông nghiệp, trong bối cảnh Việt Nam đang phải cố gắng duy trì tối thiểu 3,8 triệu ha đất nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

“Có thể chúng ta sẽ có được một khu đô thị sinh thái rất đẹp nhưng rõ ràng chúng ta đã lãng phí một tài nguyên rất lớn. Đó là đất nông nghiệp, nhất là đất ở Văn Giang, vốn được đánh giá là đất hai lúa, bờ xôi ruộng mật. Xét về mặt chính sách, phải tính toán để các tỉnh đồng bằng có thế mạnh về đất nông nghiệp, đất lúa phát triển đô thị một cách phù hợp” - ông Thuyết nói.

Liệu lợi ích mà khu đô thị mang lại, theo như chủ đầu tư hứa hẹn: Sẽ hình thành một khu đô thị mới, xanh, sạch, đẹp, đạt tiêu chuẩn quốc tế, khu đô thị du lịch, giải trí và thương mại đặc thù Việt Nam phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước; sẽ hình thành một trung tâm buôn bán, giao dịch thương mại phục vụ nhu cầu mua sắm của nhân dân - trung tâm kinh tế khu vực của tỉnh, trung tâm thương mại, du lịch, dịch vụ, vui chơi giải trí… có bù đắp được những thiệt hại, mất mát của người dân nơi đây?

Dự án Khu biệt thự Vườn Tùng. (Ảnh do người dân Văn Giang cung cấp)
Không được để mất lòng dân!

Ở góc độ khác, ông Thuyết bày tỏ sự băn khoăn, lo lắng, khi qua vụ cưỡng chế vừa qua, “chỉ thu được mấy hecta mà hình ảnh chính quyền trở nên rất xấu” trong mắt người dân.

Ông lý giải: “Họ đã khiếu kiện rất nhiều nhưng chính quyền không lắng nghe, không giải quyết hợp tình hợp lý, cuối cùng tổ chức cưỡng chế, ắt không tránh khỏi việc họ có hành động phản kháng để bảo vệ đất…”.

Thực tế ở Xuân Quan, “di chứng” còn lại của vụ cưỡng chế là nỗi kinh sợ trong tâm lý người dân khiến họ cảnh giác với tất cả người lạ. Tối tối người già họp nhau lại than thở về mất mát, còn thanh niên cầm gậy gộc, giáo mác tự chế “đi tuần” bên ngoài…

Xung quanh chuyện được mất, người dân Xuân Quan vẫn nhắc lại chuyện năm 1955, bà con đã từng tự nguyện hiến 90 mẫu đất, năm 1958 hiến gần 200 mẫu để đào sông, phục vụ cho việc bơm nước xây dựng công trình thủy lợi nổi tiếng Bắc Hưng Hải. Cũng năm ấy, chỉ trong vòng hơn một tuần lễ, gần 150 hộ gia đình ở Bát Tràng đã tự nguyện dỡ nhà, ra đi để nhường chỗ cho con kênh đào dẫn nước vào cống Xuân Quan.

Ông Bàn, xóm 4, xã Xuân Quan khẳng định: “Người dân chúng tôi không hề muốn chống đối chính quyền. Nếu thấy đúng đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thì chúng tôi có thể hiến tất cả đất ruộng và ngay cả đất thổ cư để phục vụ cho công cuộc kiến quốc”.

Đó cũng là điều đáng suy ngẫm.

© Hoàng Thư
Theo Pháp Luật Thành Phố HCM

Lấy vận động, thuyết phục làm chính

Tập trung giải quyết dứt điểm 528 vụ khiếu kiện còn tồn đọng trong cả nước, bởi “nếu chủ quan, coi thường, không tập trung giải quyết dứt điểm thì đây sẽ là những mầm mống dẫn tới bất ổn an ninh chính trị thời gian tới”.

Quá trình lập quy hoạch, thu hồi đất phải sát thực tế, phải dân chủ, bàn bạc công khai theo đúng quy trình để đảm bảo sự đồng thuận. Quá trình này phải hạn chế tối đa việc phát sinh khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài.

Chúng ta phải làm hết lòng, hết trách nhiệm để người dân thấy được lẽ phải. Khi họ thấy lẽ phải thì họ sẽ đồng thuận thực hiện.

Trong các vụ việc, khi đã làm hết cách vận động, tuyên truyền, thuyết phục mà một số ít người dân vẫn cố tình không chấp hành mới buộc phải cưỡng chế. Cưỡng chế cũng phải đúng phương án, phù hợp quy định pháp luật với tinh thần không dùng vũ khí, không được để xảy ra chết người, không được dùng quân đội vào cưỡng chế.

Thủ tướng NGUYỄN TẤN DŨNG phát biểu tại cuộc họp trực tuyến toàn quốc về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo vào ngày 2-5. (Dẫn theo Lao Động, Thanh Niên, 3-5)

Khiếu nại và niềm tin

Hầu hết những vụ khiếu kiện phức tạp, kéo dài đều có điểm chung đó là chính quyền cơ sở đã có những việc làm khiến người dân không còn tin. (…) Vụ cưỡng chế đất đai gây xôn xao dư luận tại Văn Giang trong mấy ngày vừa qua cũng xuất phát từ việc người dân mất lòng tin. Nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT Đặng Hùng Võ nhận xét: “Trong vụ Văn Giang, mọi quy định luật pháp đều được chính quyền tôn trọng và đảm bảo ở mức cao. Nhưng tại sao dân vẫn khiếu kiện là bởi vì họ không có niềm tin rằng chính quyền làm đúng. Hơn nữa, về mặt luật pháp hiện cũng còn những điểm chưa lấp đầy. Đền bù cho dân hơn 100.000 đồng/m2, chủ đầu tư bán đất đô thị mấy chục triệu đồng/m2 thì đúng là khó giải thích với họ”.

AN NGUYÊN (Theo Thanh Niên, 3-5)

Từ năm 2003, Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Việt Hưng (Vihajico) được phép đầu tư dự án khu đô thị thương mại du lịch Văn Giang (Ecopark) với tổng diện tích 500 ha, trở thành một trong những dự án bất động sản lớn nhất tại miền Bắc. Đến nay, dự án đã và đang triển khai một số dự án thành phần như khu căn hộ Rừng Cọ, khu nhà phố Phố Trúc và các khu biệt thự Vườn Tùng và Vườn Mai. Theo tìm hiểu của VnEconomy, giá căn hộ tại dự án này hiện đang được rao bán với giá trên dưới 20 triệu đồng/m2 và giá bán biệt thự và nhà phố trên dưới 45 triệu đồng/m2, đã bao gồm phần xây thô.

(Theo VnEconomy, 27-4)


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Thư Tố Cáo Ông Nông Đức Mạnh, Ông Nguyễn Tấn Dũng và Ông Hoàng Trung Hải

Kính thưa quý vị,

Kể từ ngày 21/4/2008, đây là LẦN THỨ SÁU MƯƠI TƯ (64) tôi gửi thư tố cáo này đến các cơ quan hữu quan ở Việt Nam qua đường Internet.

Ngày 16/11/2011, tôi cũng đã trực tiếp đến gửi thư tố cáo tại Phòng Thanh tra, Công an Quảng Trị. Ngày 23/3/2012, ngày 11/4/2012 và ngày 16/4/2012 vừa qua, tôi cũng chủ động đến gặp họ để làm việc thêm với họ về đơn thư tố cáo, đồng thời để thúc đẩy họ sớm trả lời đơn thư của tôi.
Tuy nhiên, cho đến nay, phía nhà chức trách vẫn chưa có một động thái chính thức nào để giải quyết vụ việc do tôi tố cáo.

Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay đang nằm tay TÊN TRÙM MA TUÝ, TÊN TRÙM XÃ HỘI ĐEN, TÊN GIẾT NGƯỜI HÀNG LOẠT, TÊN VIỆT GIAN BÁN NƯỚC Hoàng Trung Hải. Con quỷ này, cùng đồng bọn của hắn, đã và đang khống chế, thao túng và lũng đoạn tất cả. Ông Hoàng Trung Hải còn là "hạt nhân" trong liên minh ma quỷ Nguyễn Phú Trọng – Nguyễn Tấn Dũng – Nguyễn Sinh Hùng – Lê Hồng Anh – Hoàng Trung Hải (những người dính líu đến vụ việc do tôi tố cáo – một “bầy sâu” như lời của ông Trương Tấn Sang). Riêng ông Nguyễn Tấn Dũng, người dính líu đến ít nhất là hai vụ giết người với ông Hoàng Trung Hải, thì vẫn đang bị ông Hải và băng đảng xã hội đen của ông ta khống chế, thao túng: Một cô trinh nữ bị ông HT Hải và đàn em dàn cảnh cho ông NT Dũng hãm hiếp; bọn họ đã ghi lại toàn cảnh và dùng thứ đó làm “bảo bối” để khống chế ông ta. Sau đó, ông HT Hải và đàn em, với sự đồng loã của ông NT Dũng, đã thủ tiêu cô gái để bịt đầu mối tội ác của ông NT Dũng. (Trong phần Nhật ký Bổ sung III, tôi có gửi kèm ảnh của một cô gái nằm trong băng đảng ma tuý của PTT Hoàng Trung Hải cùng với vợ tôi, đã bị ông Hải và đàn em thủ tiêu để bịt đầu mối.) Nói tóm lại, Thủ tướng + Trưởng Ban Chỉ đạo Phòng chống Tham nhũng Nguyễn Tấn Dũng = THẰNG HIẾP DÂM + TÊN GIẾT NGƯỜI + TÊN TAY SAI CỦA XÃ HỘI ĐEN.

Nhờ tài phù phép của ngài GS.TS chuyên ngành “xây dựng Đảng” Nguyễn Phú Trọng (Tổng Bí thư khoá XI, Chủ tịch QH khoá XII, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử Trung ương khoá XIII) mà con quỷ đội lốt người Hoàng Trung Hải vẫn trở thành Đại biểu Quốc hội để “đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân”.

Đề nghị quý vị gửi bức thư tố cáo này đến những người có trách nhiệm, những người có tiếng nói trong xã hội, các bậc lão thành cách mạng, v.v. để họ lên tiếng yêu cầu nhà chức trách phải giải trình về vụ việc. Đồng thời, đề nghị quý vị hãy phổ biến rộng rãi bức thư này để nhà chức trách không thể phớt lờ việc giải quyết vụ việc do tôi tố cáo. (Tôi có tóm tắt câu chuyện liên quan đến thư tố cáo trong 9 trang – file TOM TAT CAU CHUYEN TO CAO.doc – để quý vị tiện nắm bắt toàn bộ vụ việc.)

Trân trọng cám ơn quý vị.

Hà Nội, 7/5/2012
Lê Anh Hùng
(CMND số 012191640 do Công an Hà Nội cấp ngày 15/7/2004; điện thoại: 01243210177; trang Facebook cá nhân: www.facebook.com/lehunglpa.)

-----------------------
Bài viết do tác giả gửi - BBT.VANGANH biên tập và minh họa...
-----------------------

GHI CHÚ:
1. Đây là một số trang mạng đăng tải thư tố cáo của tôi:

http://vanganh.info/thu-to-cao-ong-nong-duc-manh-ong-nguyen-tan-dung-va-ong-hoang-trung-hai/  (trang này hiện đang bị tin tặc của đảng cộng sản Việt Nam đánh phá)
http://ethongluan.org/index.php?option=com_content&view=article&id=1058
http://letungchau.wordpress.com/2012/02/22/th%C6%B0-t%E1%BB%91-cao-ii-le-anh-hung/
http://www.haingoaiphiemdam.com/news/index.php?mod=article&cat=tinnongtrongngay&article=8287
http://huynhdehiepthongchiase2011.wordpress.com/2012/03/21/th%c6%b0-t%e1%bb%91-cao-ong-nong-d%e1%bb%a9c-m%e1%ba%a1nh-ong-nguy%e1%bb%85n-t%e1%ba%a5n-dung-va-ong-hoang-trung-h%e1%ba%a3i/
http://ngoclinhvugia.wordpress.com/2011/12/14/th%C6%B0-ng%E1%BB%8F-g%E1%BB%ADi-d%E1%BA%A1i-bi%E1%BB%83u-qu%E1%BB%91c-h%E1%BB%99i-nha-s%E1%BB%AD-h%E1%BB%8Dc-d%C6%B0%C6%A1ng-trung-qu%E1%BB%91c-le-anh-hung/
http://nguoivietutah.org/2011/?p=22705
http://haivannews.com/th-t-co-p8648-140.htm
2. Tôi có đính kèm theo 2 file ghi âm cuộc trao đổi điện thoại giữa vợ chồng tôi vào ngày 29/2/2012 và ngày 28/4/2012 vừa qua, đủ để chứng tỏ sự liên can cũng như vai trò của vợ tôi trong câu chuyện.
3. Hai tác phẩm do tôi dịch đã được công bố trên mạng:
Kinh tế học thể chế: Trật tự xã hội và chính sách công (Institutional Economics: Social Order & Public Policy)
Friedrich Hayek: Cuộc đời và tư tưởng (Friedrich Hayek - a Biography)
http://ethongluan.org/ index.php?option=com_docman&tas =cat_view&Itemid=0&gid=59&ord erby=dmdate_published
4.    Một số bài báo của tôi (mới nhất => cũ nhất):
1)            Thân phận “cử tri” và “Đại biểu Nhân dân” ở Việt Nam
         http://www.boxitvn.net/bai/34465
2)            Sửa hiến pháp: Trí thức phải lên tiếng
         http://boxitvn.blogspot.com/2012/03/sua-hien-phap-tri-thuc-phai-len-tieng.html
3)            Từ hiện tượng Viettel nghĩ về sự hoang phí của một hệ thống
         http://www.boxitvn.net/bai/33892
4)            Kiêu binh trong thời đại Hồ Chí Minh
         http://www.boxitvn.net/bai/33747
5)            Vì sao ông Nguyễn Phú Trọng không lên tiếng về vụ việc ở Tiên Lãng
         http://www.boxitvn.net/bai/33530
6)            Hiểm hoạ phương Bắc và lựa chọn của Việt Nam
         http://www.boxitvn.net/bai/33394
7)            Vụ Đoàn Văn Vươn: Nguy cơ tội phạm thao túng quan chức chính quyền
         http://boxitvn.blogspot.com/2012/02/vu-oan-van-vuon-nguy-co-toi-pham-thao.html
8)            Tham nhũng trong các DNNN ngành xây dựng – giao thông
http://www.boxitvn.blogspot.com/2012/02/tham-nhung-trong-cac-doanh-nghiep-nha.html
9)            Lãnh đạo và đất nước
http://www.boxitvn.net/bai/32951
10)        Bã quyền lực
http://boxitvn.blogspot.com/2012/01/ba-quyen-luc.html
11)        Cạnh tranh thể chế và thách thức với Việt Nam
http://www.boxitvn.net/bai/32109
12)        Đảng “coi trọng đội ngũ doanh nhân” như thế nào?
http://www.boxitvn.net/bai/31907
13)        Hiến pháp và một sự ngộ nhận về dân chủ
http://www.boxitvn.net/bai/31707
14)        “Tái cấu trúc” là thế này đây!
http://www.boxitvn.net/bai/31573
15)        Tình trạng vô pháp luật ở Việt Nam hiện nay: căn nguyên và thách thức cho bản Hiến pháp mới
http://www.boxitvn.net/bai/31382
16)        Cơn cuồng nộ của công lý:
http://danluan.org/node/10708
17)         Tái cấu trúc: Ai tái cấu trúc ai?
http://danluan.org/node/10533
18)        Sự bất lực của Trung ương, sự vô hiệu của các thiết chế dân chủ ở địa phương và hệ luỵ
http://danluan.org/node/10456
19)        Chính phủ và chính sách:
http://www.boxitvn.net/bai/29687
20)        Sự xuống cấp của đạo đức xã hội trong nền KTTT và thủ phạm của nó:
http://www.talawas.org/?p=13383
21)        Từ chuyện ý thức của người tham gia giao thông đến thực trạng nhà nước pháp quyền XHCN ở VN hiện nay:
 http://www.talawas.org/?p=12105
22)        Sự thao túng từ Trung ương:
http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=5380&rb=0502

Dưới đây là những tài liệu chứng minh do tác giả cung cấp:

CMND mặt trước của tác giả - Photo tác giả cung cấp
CMND mặt sau của tác giả - Photo tác giả cung cấp
CMND mặt trước của vợ tác giả - Photo tác giả cung cấp
CMND mặt sau của vợ tác giả - Photo tác giả cung cấp
Kính gửi:

BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Đại sứ quán các nước ở Hà Nội
Các cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài nước

Tên tôi là Lê Anh Hùng, sinh ngày 27/8/1973 tại Hà Tĩnh; hộ khẩu thường trú tại Tổ 2, Cụm 5, Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội; CMND số 012191640 do Công an Hà Nội cấp ngày 15/7/2004. Vợ tôi tên là Lê Thị Phương Anh, sinh ngày 11/11/1984; hộ khẩu thường trú tại Tổ 2, Cụm 5, Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội; CMND số 013720063 do Công an Hà Nội cấp ngày 9/7/2004.

Chúng tôi gửi bức thư này để tố cáo những người có tên sau đây:

1.    Ông Nông Đức Mạnh, Tổng bí thư BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam, phạm các tội danh:

    Nhập lậu vũ khí và nâng giá nhằm thu lợi cá nhân;

    Nhận hối lộ bảo kê cho tội phạm xã hội đen;

    Đưa ông Hoàng Trung Hải, trùm ma tuý, trùm mafia, trùm sát nhân, trùm phản quốc lên làm Phó Thủ tướng;

    Tòng phạm trong vụ bắt cóc và gây ra cái chết cho một bé gái 9 tháng tuổi (con gái của một trùm xã hội đen vốn là đàn em của ông Hải, và là kẻ nắm trong tay bằng chứng phạm tội của ông Mạnh, ông Dũng và ông Hải).

2.    Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ, phạm các tội danh:

    Giao cấu với trẻ vị thành niên sau đó tòng phạm trong vụ ông Hoàng Trung Hải giết cô gái đã bị ông ta (Dũng) hãm hiếp hòng bịt đầu mối;

    Cùng ông Nông Đức Mạnh đưa ông Hoàng Trung Hải, trùm ma tuý, trùm mafia, trùm sát nhân, trùm phản quốc lên làm Phó Thủ tướng.

3.    Ông Hoàng Trung Hải, Phó Thủ tướng Chính phủ, phạm các tội danh:

    Buôn bán ma tuý có tổ chức từ thời còn làm Tổng Giám đốc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam;

    Giết ít nhất là 5 người, trong đó có một trợ lý người Quy Nhơn, Bình Định, hòng bịt đầu mối;

    Bắt cóc và gây ra cái chết cho một bé gái 9 tháng tuổi (con gái của một trùm xã hội đen vốn đàn em của ông Hải, và là kẻ nắm trong tay bằng chứng phạm tội của ông Mạnh, ông Dũng và ông Hải);

    Cấu kết với ông Nông Đức Mạnh nhập lậu vũ khí và nâng giá nhằm thu lợi cá nhân;

    Bán tài liệu [liên quan đến an ninh quốc gia] cho nước ngoài.

Ông Nông Đức Mạnh và ông Nguyễn Tấn Dũng hiện là những con tin trong tay ông Hoàng Trung Hải, đã và đang bị ông ta chi phối. Đặc biệt, cả ba hiện đều là những “con bạc” khát nước, sẵn sàng làm tất cả vì tiền, bởi họ đã dốc vào vụ này một số lượng tiền khổng lồ.

Ngoài ra, vụ án này còn liên quan đến một số quan chức cao cấp sau: Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Đảng CSVN; Lê Hồng Anh, Đại tướng, Bộ trưởng Công an; Nguyễn Khánh Toàn, Thượng tướng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an. Họ là những người đã nhận hối lộ và bảo kê cho tội phạm xã hội đen.

Chúng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung tố cáo này.

© Lê Anh Hùng








TÓM LƯỢC
CÂU CHUYỆN LIÊN QUAN ĐẾN THƯ TỐ CÁO
ĐỐI VỚI CÁC ÔNG NĐ MẠNH, NT DŨNG, HT HẢI VÀ NM TRIẾT

Lê Anh Hùng
 
Tháng 3/2005, vợ tôi (Lê Thị Phương Anh) bắt đầu đi làm nhân viên bán hàng tại một cửa hàng của Cty May Việt Tiến (nay là Tổng Cty May Việt Tiến) trên phố Chùa Bộc. Sau 3 ngày, Trọng - Trưởng phòng Marketing của Chi nhánh Cty May Việt Tiến tại Hà Nội - điều vợ tôi về làm nhân viên tại quầy hàng Việt Tiến ở Tràng Tiền Plaza, do Loan, sinh năm 1978, làm tổ trưởng.
Ba tuần sau, Loan bị Trọng điều đi làm tổ trưởng quầy hàng Việt Tiến tại siêu thị Metro (đường Phạm Văn Đồng). Vợ tôi được Trọng giao làm tổ trưởng Việt Tiến ở Tràng Tiền Plaza trước thái độ kèn cựa và ghen tị của Loan và Thuỷ (sinh năm 1985, nhân viên Việt Tiến tại Tràng Tiền Plaza). Tuy nhiên, sau đó Thuỷ lại cảm phục và kết nghĩa chị em với vợ tôi, còn Loan thì vẫn ngấm ngầm ghen tức với cô ấy.
Sau khi lên làm tổ trưởng, vợ tôi đã biến quầy hàng ở Tràng Tiền Plaza thành một cửa hàng điển hình của Cty Việt Tiến không chỉ ở Hà Nội mà còn trên phạm vi cả nước, với  doanh số bán hàng cao nhất. Nhờ đó, cô ấy nhiều lần được Chi nhánh Hà Nội và Cty tuyên dương, khen thưởng.
Thời gian làm tổ trưởng ở Tràng Tiền Plaza, vợ tôi cũng được Trọng tin tưởng nhờ giúp một số việc thuộc lĩnh vực của Trọng như ký kết hợp đồng với các đại lý, giao hàng... do Trọng còn bận rộn buôn bán hàng cấm. Vì thế, đến tháng 8/2005, khi Cty Việt Tiến thay đổi nhân sự Chi nhánh Hà Nội (ông Xuân Giám đốc Chi nhánh vào Tp HCM đảm nhận nhiệm vụ khác, Trọng lên thay) thì vợ tôi được Trọng đề bạt lên thay vị trí của anh ta và được ông Nguyễn Đình Trường, TGĐ Việt Tiến chấp nhận. (Do việc này mà vợ tôi lại càng khiến Loan ghen tức.) Quyết định có hiệu lực từ ngày 1/9/2005. Tuy nhiên, từ cuối tháng 8/2005, vợ tôi đã đảm trách vai trò của Trọng. Ông NĐ Trường cũng nhận vợ tôi làm con nuôi trong thời gian này.
Nhờ thành tích vô cùng ấn tượng trong một thời gian ngắn ngủi làm Trưởng phòng Marketing Chi nhánh Hà Nội mà ông NĐ Trường quyết định bổ nhiệm vợ tôi làm Giám đốc Chinh nhánh Hà Nội của Cty May Việt Tiến. Quyết định có hiệu lực từ ngày 1/10/2005. Do việc này ông NĐ Trường quyết định không đúng quy trình nên ông bị Lê Viết Toà (tên thật là Lê Văn Toại), Phó TGĐ Thường trực Cty May Việt Tiến và là đệ tử ruột của ông Lê Quốc Ân (Chủ tịch HĐQT Vinatex), phản đối quyết liệt. Sau khi chứng kiến cuộc “sát hạch” đối với vợ tôi ngày 3/10/2005 do Lê Văn Toại cùng bộ sậu tiến hành, ông Lê Quốc Ân lại ép ông Trường để nhận vợ tôi làm con nuôi và đưa về làm Trưởng phòng Marketing của Vinatex. Tiếp theo, sau cuộc ra mắt của vợ tôi tại Vinatex vào ngày 13/10/2005, ông Hoàng Trung Hải, Bộ trưởng Công nghiệp, lại ép ông Trường và ông Ân để nhận vợ tôi làm con nuôi. Trong thời gian đó, Lê Văn Toại, với sự xúc xiểm của Loan (bồ của anh ta), đã nẩy sinh mâu thuẫn với vợ tôi. Anh ta bị mất chức nên thuê xã hội đen trả thù vợ tôi, khiến vợ chồng tôi phải bỏ chạy vào Đông Hà, Quảng Trị (quê vợ tôi) để lánh nạn vào ngày 2/11/2005.
Ông Hoàng Trung Hải nhờ ông Lê Hồng Anh và ông Nguyễn Khánh Toàn (Bộ trưởng và Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an) để bắt Lê Văn Toại. Bố mẹ Lê Văn Toại (vốn là trùm thế giới ngầm ở Sài Gòn) đã dùng tiền để gõ mọi cánh cửa và chạy đến tận TBT Nông Đức Mạnh.
Cuối tháng 11/2005, vợ tôi tình cờ gặp ông Nguyễn Tấn Dũng, Phó TT Thường trực, đang vào Quảng Trị để chỉ đạo phòng chống bão lụt, tại cuộc tiếp đón do ông Vũ Trọng Kim, Phó Ban Dân vận TW (nguyên Bí thư TW Quảng Trị), tổ chức. Biết vợ tôi là Trưởng phòng Marketing của Vinatex và là con nuôi của Bộ trưởng CN Hoàng Trung Hải nên ông NT Dũng lại đòi nhận vợ tôi làm con nuôi. Lúc này, ông Hải cũng cho ông Dũng biết nguyên nhân vợ chồng tôi phải chạy trốn vào Đông Hà. Tiếp theo, ông NT Dũng đưa vợ tôi từ Đông Hà vào Huế đón đoàn của các ông Nông Đức Mạnh, Đỗ Mười và Phan Văn Khải vào thăm Huế và Quảng Trị (hình như để bàn chuyện cơ mật trước thềm Đại hội X của Đảng). Đầu tháng 12/2005, ông NĐ Mạnh lại nhận vợ tôi làm con nuôi. Sau đó, ông Mạnh đã trả lại số tiền hối lộ mà ông nhận từ gia đình Lê Văn Toại để giúp vợ chồng tôi.
Trong thời gian vợ tôi làm việc tại Cty May Việt Tiến, Trọng đã nảy sinh tình cảm và dần dần si mê cô ấy. Là đệ tử ruột trong băng đảng ma tuý của ông HT Hải nên anh ta nắm được bằng chứng phạm tội của ông Hải. Dần dà, anh ta không chế, ép buộc ông Hải phải làm sao để chia lìa vợ chồng tôi, tạo điều kiện cho anh ta chiếm đoạt vợ tôi. Thành ra, mặc dù đã nhận làm bố nuôi vợ tôi trong thời gian vợ chồng tôi đang ở Hà Nội nhưng ông Hải vẫn không chịu gặp tôi. Sau khi chúng tôi chạy vào Đông Hà lánh nạn và vợ tôi trở thành con nuôi của ông NT Dũng và ông NĐ Mạnh, ông Hải lại tìm mọi cách để khiến tôi nghi ngờ vợ, qua đó hòng chia lìa vợ chồng tôi: kiếm cớ ngăn cản ông Mạnh, ông Dũng vào Đông Hà thăm vợ chồng tôi; không chu cấp cho vợ chồng tôi mặc dù vẫn nói với 2 ông kia là đã lo lắng đầy đủ cho chúng tôi, v.v.
Theo kế hoạch, ngày 22/3/2007, ông NĐ Mạnh và ông NT Dũng sẽ đích thân vào Đông Hà đón vợ chồng tôi ra Hà Nội, và lần đầu tiên tôi sẽ được diện kiến họ. Biết tin đó, Trọng liền gửi tối hậu thư cho ông HT Hải là nếu điều đó xẩy ra (đồng nghĩa với việc anh ta sẽ không bao giờ còn mơ đến việc có thể chia rẽ vợ chồng tôi và qua đó chiếm đoạt vợ tôi được nữa), anh ta sẽ tung chứng cứ phạm tội của ông Hải lên mạng. Ông Hải đã đe doạ và ép buộc vợ tôi ôm con bỏ đi, và tìm cách ngăn không cho ông Mạnh và ông Dũng vào Đông Hà đón vợ chồng tôi. Tuy nhiên, sau đó vợ tôi đã kể hết với tôi về bộ mặt thật của ông HT Hải và Trọng, cũng như chuyện cô ấy từng tham gia vào băng đảng ma tuý của ông Hải như thế nào. Ông Hải từng thú nhận với vợ tôi chuyện ông ta sát hại tay trợ lý người Quy Nhơn, Bình Định để bịt đầu mối tội ác. Tôi khuyên vợ tôi kể cho ông Mạnh và ông Dũng biết hết sự thật về ông Hải. Tuy nhiên, diễn biến sau đó lại cho thấy hoá ra cả ông Dũng và ông Mạnh đều đã bị ông Hải “trói” theo những cách thức khác nhau. Ông Dũng từng hãm hiếp một cô trinh nữ do Trọng cung cấp và bị ông Hải bố trí quay phim toàn bộ hoạt cảnh. Sau đó, để bịt đầu mối tội ác của mình, ông Dũng đã đồng ý để cho ông Hải và đàn em thủ tiêu cô gái kia. Còn ông Mạnh thì từng buôn lậu vũ khí với ông Hải. Lúc này, ông Hải chuyển toàn bộ chứng cứ phạm tội của ông Mạnh và ông Dũng cho Trọng để anh ta đe doạ và ép buộc hai ông này phải tiếp tục âm mưu lừa dối vợ chồng tôi.
Đến cuối tháng 6/2007, khi biết không thể chia rẽ được vợ chồng tôi, đồng thời lại bị công an truy lùng ráo riết, nên Trọng sang Pháp sinh sống. Anh ta đòi ông Mạnh, ông Dũng và ông Hải phải cấp cho anh ta 5 tỷ USD nếu không anh ta sẽ tố cáo họ. Ba ông này nhờ vợ tôi xin Trọng “bớt” cho một ít, song Trọng không đồng ý mà nói là cho vợ tôi 2 tỷ trong số 5 tỷ USD đó.
Vợ chồng tôi dự định là tháng 10/2007 sẽ ra nước ngoài theo sự sắp xếp của Trọng. Tuy nhiên, sau đó 3 ông kia và Trọng lại tiếp tục lừa dối vợ chồng tôi. Trọng tiếp tục lừa vì anh ta vẫn chưa thôi ý định chiếm đoạt vợ tôi (trong khi chúng tôi lại không hề nghi ngờ gì anh ta cả), còn ba ông kia muốn tiếp tục lừa tôi vì sợ tôi về sau tố cáo, hoặc viết câu chuyện thành sách. Do ba ông kia vẫn tìm mọi cách chia rẽ vợ chồng tôi và ngăn cản việc tôi ra nước ngoài nên đến tối 8/11/2007, tôi quyết định để cho vợ ra Hà Nội rồi ra nước ngoài trước cùng Trọng và Thuỷ (người lúc này đã trở thành vợ của Trọng và có với anh ta một đứa con gái). Trọng hứa với vợ chồng tôi là sẽ tìm cách đưa tôi ra nước ngoài sau. Ngày 12/11/2007, tôi cũng bỏ trốn khỏi Đông Hà vì 3 ông kia bắt đầu cho người truy lùng tôi.
Trước khi vợ tôi sang Pháp vào ngày 16/11/2007, ông HT Hải đã bắt cóc con gái Trọng (lúc đó mới khoảng 7-8 tháng tuổi), vì biết Trọng rất yêu quý con gái, và giam giữ tại một ngôi nhà nằm ở một khu vực hẻo lánh thuộc tỉnh Quảng Ninh. Ông ta đánh hơi thấy Trọng lừa mình (tay Trọng này rất ma lanh, anh ta vừa lừa ba ông kia vừa lừa vợ chồng tôi). Vì thế, Trọng và Thuỷ bị kẹt lại ở Việt Nam, vợ tôi và con gái (Lê Thanh Mai, sinh ngày 2/11/2006) sang Pháp trước cùng với 1 bà giúp việc người Nghệ An. Bạn của Trọng (tên là Trinh) đón vợ con tôi ở Paris.
Thời gian này, vợ tôi lại bị chứng chảy máu não, và bệnh tình ngày càng trở nên nguy kịch. Ngày 27/11/2007, vợ tôi phẫu thuật chứng chảy máu não ở Mỹ theo sự thu xếp của ông HT Hải và Trọng, sau đó mẹ con cô ấy trở lại London (Anh). Giữa tháng 12/2007, Trọng bị đàn em của ông Hải bắt khi anh ta tìm cách tiếp cận ngôi nhà mà ông Hải đang giam giữ con gái anh ta.
Chờ mãi không thấy tin tức gì từ Trọng, cuối tháng 1/2008, vợ tôi tìm cách về lại Việt Nam (đầu tháng 12/2007, sau khi phẫu thuật xong một thời gian ngắn, vì lo lắng cho tôi nên vợ tôi cũng tìm cách trốn về Việt Nam, nhưng sau đó bệnh tái phát nên lại phải sang London để điều trị tiếp). Ngày 30/1/2008, tôi cũng từ nơi ẩn náu ở Nha Trang về đến Đông Hà để đoàn tụ với vợ con.
Tôi dự định là ra Tết Mậu Tý 2008 sẽ ra Hà Nội để tố cáo tội ác của ông NĐ Mạnh, ông NT Dũng và ông HT Hải. Tuy nhiên, sáng 4/1 AL (10/2/2008), Trọng đột nhiên liên lạc với vợ tôi. Ngày 4/2/2008, con gái Trọng đã chết trên tay anh ta trong sự giam cầm của ông Hải. Đàn em của ông Hải cho phép Trọng chôn con gái mình. Anh ta nhân đó đánh nhau với hai tên vệ sỹ, cướp được súng và bắn chết hai tên này rồi chạy trốn. Anh ta đề nghị tôi hợp tác với anh ta, đòi 3 ông kia trả cho một số tiền lớn (2 tỷ USD), chúng tôi sẽ nhận một nửa và ra nước ngoài trước.
Tuy nhiên, ngày 13/3/2008, sau khi nhận được tiền từ ông Hải, Trọng đã ra nước ngoài, lộ rõ bộ mặt thật của mình (lừa dối chúng tôi bấy lâu trong khi chúng tôi vẫn cả tin, không hay biết). Lúc này, vợ tôi mới thú thật với tôi về tội lỗi của cô ấy: một vụ án mạng mà cô ấy là người thực hiện dưới sự đe doạ và ép buộc của Trọng, toàn bộ vụ việc bị Trọng bố trí máy quay phim ghi lại. Trước khi ra nước ngoài, Trọng đã giao các chứng cứ phạm tội của vợ tôi cho ông Hải, hòng khống chế và đe doạ cô ấy.
Tôi vẫn cố thuyết phục vợ tội cáo tội ác của ông NĐ Mạnh, ông NT Dũng và ông HT Hải, vừa để chuộc lại lỗi lầm cho vợ, vừa để vạch mặt tội ác của họ, và vừa để buộc họ phải chịu trách nhiệm trước thảm cảnh mà họ đã gây ra cho chúng tôi.
Sau khi đã thử dùng bài “rung cây doạ khỉ”, nhận ra sự lo sợ của họ cũng như tâm địa độc ác của họ qua việc cứ cố tình lừa dối chúng tôi hết lần này đến lần khác mặc dù tôi đã cho họ nhiều cơ hội chuộc lỗi, ngày 21/4/2008, tôi bắt đầu gửi thư tố cáo tội ác của ông Mạnh, ông Dũng và ông Hải đến các cơ quan hữu quan ở Việt Nam và nhiều địa chỉ email khác qua mạng Internet.
÷
Giữa tháng 5/2008, tôi bán nhà ở Hà Nội. Ngày 20/5/2008, tôi chuyển vào Đông Hà sinh sống. Đầu tháng 6/2008, tôi mua nhà ở hẻm 211, Lý Thường Kiệt, Đông Hà (giá 200 triệu).
Lúc này, cô Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1973, người trước đây thường cho vợ tôi vay góp rủ vợ tôi cùng cho vay trả góp. Vợ tôi rất vui và hạnh phúc, bệnh tật đỡ dần. Cô ấy còn tranh thủ mua gom rượu ngoại bán cho các nhà hàng. Thỉnh thoảng, vợ tôi nhờ ông Ngô Quận, Đại tá, Phó Giám đốc Công an Quảng Trị, giúp đỡ.
Ngày 5/8/2008, Công an Quảng Trị mời tôi lên làm việc (người chủ trì buổi làm việc với tôi là vị Trung tá Cảnh sát tên Nguyên, quê ở Hưng Nguyên, Nghệ An). Tôi đã trực tiếp ký vào từng trang của thư tố cáo do họ in ra sẵn. Trước đó, có hai viên sỹ quan công an – một người là Nguyễn Minh Đông, hiện nay là thượng uý, Phó CA P5, Đông Hà – đã điều tra sơ qua về vợ chồng tôi. Họ còn đi theo viên CSKV Lê Phước Giải đến tận nhà tôi để “tìm hiểu” xem tôi có “bị” gì không.
Sau đó, ông Nguyễn Minh Triết bí mật ủng hộ chúng tôi tố cáo tiếp. Từ giữa tháng 8/2008, ông Triết đã chỉ đạo (qua ông Ngô Quận, Đại tá, PGĐ Công an Quảng Trị) tạo điều kiện cho vợ chồng tôi buôn rượu lậu từ Lào về Việt Nam qua cửa khẩu Lao Bảo. Người hỗ trợ vợ tôi buôn rượu là chị Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1973, cũng là người mà trước đấy vợ tôi cho vay trả góp cùng. Vì thời gian này Công an đang ngấm ngầm theo dõi vợ chồng tôi nên để cho phía Công an thấy là chúng tôi không có tiền (đồng nghĩa với việc không có ai đứng sau lưng chúng tôi cả), ông Ngô Quận đã chỉ đạo để vợ chồng tôi gửi tiền bạc của mình vào các tài khoản của Hương. (Ý đồ ban đầu của ông Triết là muốn cho chúng tôi có nhiều tiền thật nhanh để người ta tin vào câu chuyện; tuy nhiên, sau khi ba ông Mạnh-Dũng-Hải “tố” là có người đứng đằng sau lưng chúng tôi, ông Triết lại để chúng tôi rơi vào cảnh khốn khó cho người ta khỏi nghi ngờ ông.) Ngoài ông Ngô Quận, phía Công an Quảng Trị còn có hai lãnh đạo nữa tham gia vào âm mưu của ông Triết là ông Ngô Văn Tiếu, Đại tá, Giám đốc Công an tỉnh (nay là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh CSCĐ) và ông Nguyễn Thanh Thắng, Đại tá, PGĐ CA tỉnh.
Đầu năm 2009, Công an bắt đầu điều tra bí mật. Ban Chuyên án do Bộ Chính trị chỉ định, báo cáo trực tiếp với Bộ Chính trị, chứ không thông qua những trình tự pháp lý thông thường. Ông Lê Hồng Anh, người có dính líu trong phần đầu câu chuyện và đã dũng cảm thừa nhận sai phạm của mình, được Bộ Chính trị giao phụ trách Ban Chuyên án.
Đến ngày 12/3/2009, quá bức xúc vì theo âm mưu của ông NM Triết mà chúng tôi phải bán nhà bán cửa và sống tạm bợ ở nhà bà ngoại vợ (để Bộ Chính trị và công an không nghi ngờ ông ta), đồng thời nhận được sự “khích lệ” từ một bức thư mà Ban Chuyên án gửi cho tôi vào ngày 5/3/2009 (Nếu bức thư này được tố cáo thêm lần nữa thì đất nước này hoàn toàn sụp đổ, không thể cứu vãn được nữa…), cũng như từ câu nói trước đó của ông HT Hải với ông Ngô Quận (Bây giờ mà nó tung thư tố cáo lên lần nữa thì gí súng vào đầu tự tử do rồi), trong khi vụ việc tiến triển rất chậm chạp (ông Triết coi như đã không thực hiện đúng cam kết với chúng tôi), nên tôi quyết định gửi thư tố cáo qua mạng lần thứ 2 đến các cơ quan hữu quan cùng hàng loạt địa chỉ email khác.
Trái với kỳ vọng của tôi, lần gửi thư tố cáo này không có tác dụng đáng kể, câu chuyện quá khủng khiếp và ly kỳ nên ít người dám tin. Bộ Chính trị quyết định giải tán Ban Chuyên án cũ (do kém năng lực) và thành lập một Ban Chuyên án mới.
Đến cuối tháng 6, đầu tháng 7/2009, Ban Chuyên án đã kết thúc điều tra. Kết quả cho thấy đúng như những gì chúng tôi tố cáo. Ông Triết cũng phạm tội, dù nhẹ hơn 3 ông kia. Các cuộc đấu đá tranh giành nội bộ diễn ra để thế chỗ ông Mạnh, ông Dũng.
Thấy vụ việc lâm vào bế tắc do sự đấu đá giằng co của những người trong Bộ Chính trị, cuối tháng 8/2009, tôi lại gửi thư tố cáo đến các cơ quan hữu quan 3 lần liên tiếp (lần thứ 3, 4 & 5: 20/8, 27/8 và 31/8/2009). Lập tức, ông Triết chỉ đạo ông Quận lấy toàn bộ số tiền của chúng tôi, khi đó đang gửi ở tài khoản của chị Nguyễn Thị Hương, về các tài khoản của mình, hòng dễ bề khống chế chúng tôi.
Đầu tháng 9/2009, một số ĐSQ nước ngoài ở Hà Nội vào Quảng Trị gặp vợ tôi để tìm hiểu thực hư vụ việc (Mỹ, Trung Quốc, Anh…). Tuy nhiên, theo chỉ đạo của ông NM Triết, vợ tôi nói với họ là trong câu chuyện chỉ có một phần sự thật.
Ban Chuyên án đòi đưa vụ việc ra Ban Chấp hành Trung ương (họ cũng muốn ‘vòi’ tiền của Nhà nước nữa). Nếu đưa ra công khai trong BCHTW thì rất nhiều người bị mất chức, kể cả ông Triết. Số tiền đó chắc chắn là phải tương đương với số mà người ta định “đền bù” cho vợ chồng tôi, nhưng ngân quỹ của Đảng đã bị ông Nông Đức Mạnh và một số người nữa (trong đó có ông Nguyễn Phú Trọng) vơ vét sạch. Vì thế, đến tháng 10/2009, ông Triết đã mua số chứng cứ này từ Ban Chuyên án. Vụ việc coi như bị ém nhẹm, thậm chí còn không được xử lý trong nội bộ Bộ Chính trị.
Ông NM Triết ủng hộ chúng tôi tố cáo tiếp để sao cho các phe phái khác nhau buộc phải thoả hiệp và Bộ Chính trị phải giao chức vụ của ông Mạnh cho ông ta.
Đến ngày 26/11/2009, ông NM Triết được Bộ Chính trị chính thức trao cho chức vụ cao nhất (ông NP Trọng vị trí thứ hai, và ông TT Sang nắm giữ vị trí thứ 3). Tuy nhiên, sau đấy người ta lại không thống nhất được phương án xử lý đối với tôi. Trong khi câu chuyện của tôi thì đã um ra (cho đến ngày 23/12/2009, tôi tung lên mạng 20 lần, đến hàng ngàn địa chỉ email trong và ngoài nước). Người ta sợ cho tôi tiền thì tôi sẽ ra nước ngoài rồi tố cáo tiếp. Ông Triết quá cầu toàn, thiếu quyết đoán, nên dần dần để vụ việc vượt ra khỏi tầm kiểm soát của mình, và của cả Bộ Chính trị.
Tôi tiếp tục gửi thư tố cáo qua mạng Internet, cho đến lần thứ 20 là vào ngày 23/12/2009. Tình hình ở Hà Nội hết sức rối ren, Trung Quốc đe doạ sẽ tấn công Trường Sa nếu chế độ này sụp đổ. Nhưng Bộ Chính trị vẫn không cho bắt tôi, vì tôi tố cáo đúng sự thật và vì sau lưng tôi có ông Triết cùng một số người nữa ủng hộ.
Đến ngày 25/12/2009, một nhóm sỹ quan an ninh cao cấp của Bộ Công an đã chỉ đạo bắt “bắt quả tang” tôi ngoài tiệm Internet với tội danh ban đầu là “tuyên truyền chống phá Nhà nước”, đặt Bộ Chính trị vào thế đã rồi.
Ông NM Triết, lúc này lại quay sang liên minh với các ông NĐ Mạnh, NT Dũng và HT Hải, trước sự non nớt, thiếu hiểu biết của vợ tôi, đã đe doạ và ép buộc cô ấy phải khai với công an là tôi bị bệnh “tâm thần hoang tưởng” (do họ đang nắm trong tay bằng chứng phạm tội của vợ tôi). Về phía tôi, vì không có bằng chứng gì trong tay, lại nghĩ là mình cần phải dành đường lùi cho những người trong cuộc, nhất là khi mà họ đã nhiều lần hứa hẹn là sẽ cải cách thể chế trước sự thối nát khủng khiếp của hệ thống, nên cũng đành chấp nhận “vị thế” của một “bệnh nhân tâm thần”.
Ngày 4/5/2010, Công an Quảng Trị đưa tôi vào Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng để “điều trị bắt buộc” và đến ngày 24/8/2010, tôi được thả tự do.
Trong thời gian tôi bị bắt và sau khi mới được thả, ông NM Triết cam kết là hết năm 2010 sẽ trả lại tiền cho chúng tôi. Tuy nhiên, hết năm 2010, rồi đến Tết 2011, ông ta vẫn không chịu trả cho vợ chồng tôi một đồng nào để sinh sống, khiến chúng tôi rơi vào cảnh cùng cực. Trước tình hình đó, tôi dự định là sáng tháng 2 AL năm Tân Mão (2011) sẽ tiếp tục gửi thư tố cáo qua mạng đến các cơ quan hữu quan, ngoài THƯ TỐ CÁO I đối với 3 ông NĐ Mạnh, NT Dũng, HT Hải là THƯ TỐ CÁO II đối với ông NM Triết. Tài liệu quan trọng kèm theo là nhật ký của tôi kể từ khi tôi chuyển vào Đông Hà tháng 5/2008 cho đến khi tôi bị bắt rồi được thả ra vào ngày 24/8/2010 và Bản Cam Đoan của vợ tôi, thừa nhận vai trò chính của cô ấy trong câu chuyện và xác nhận tôi là người hoàn toàn bình thường.
Dường như biết được việc tôi chuẩn bị gửi thư tố cáo nên nhóm sỹ quan an ninh cao cấp đứng đằng sau vụ bắt giữ tôi vào ngày 25/12/2009 đã bắn tín hiệu đến Bộ Chính trị là nếu tôi tiếp tục tố cáo thì họ sẽ ủng hộ tôi. BCT quyết định buộc ông NM Triết phải làm “con dê tế thần” – nghĩa là ông Triết thừa nhận việc đứng đằng sau vụ tôi “vu khống các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước”, và coi như ba ông kia (ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Hoàng Trung Hải) không phạm tội gì cả. Dĩ nhiên, để nhóm sỹ quan công an này đồng ý “xử êm” vụ việc, những người liên quan sẽ buộc phải chi một số tiền lớn để mua sự im lặng của họ (hoặc Bộ Chính trị phải chi từ ngân quỹ bí mật của Đảng). Điều đó cũng cho thấy mục đích “cao cả” của việc nhóm này chỉ đạo bắt giữ tôi vào ngày 25/12/2009.
Sáng 3/3/2011, ông NM Triết gọi điện trực tiếp vào số máy của vợ tôi, thông báo là ngày 10/3/2011, người ta sẽ mời vợ tôi lên trụ sở Công an tỉnh Quảng Trị để làm việc. Ông Triết nói, trước mắt ông sẽ trả lại số tiền của vợ chồng tôi, còn số tiền mà ông hứa cho chúng tôi thì “cho chú xin hoãn”. Ông cũng nói là chúng tôi sẽ phải viết cam kết là không tố cáo nữa, nếu tố cáo thì sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Sau đó, vợ tôi làm việc với một số sỹ quan công an (từ Hà Nội vào và ở Quảng Trị) về số tiền của chúng tôi qua sổ sách của Nguyễn Thị Hương. Tuy nhiên, do ông NM Triết cứ lần lữa việc chuyển trả tiền cho chúng tôi, đồng thời lại nhận thấy Bộ Chính trị còn tiếp tục đấu đá nhau và biết được thái độ lo sợ của những người trong cuộc, nên ngày 21/3/2011, tôi lại gửi thư tố cáo đến tất cả các cơ quan hữu quan trong nước cùng hàng ngàn địa chỉ email khác (nếu tính từ lần đầu tiên ngày 21/4/2008 thì đây là lần thứ 21).
Cho đến ngày 27/7/2011, tôi gửi thư tố cáo qua mạng thêm 36 lần nữa. Các phe phái vẫn cứ đấu đá nhau, nhưng không hề có dấu hiệu nào cho thấy người ta sẽ giải quyết vụ việc. Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá XIII, ông NT Dũng vẫn tiếp được bầu làm Thủ tướng và ông HT Hải lại tiếp tục là Phó TT, sát cánh cùng ngài TT để “lãnh đạo” đất nước.
Trong thời gian đó, nhiều đoàn sỹ quan cao cấp của Bộ Công an và từ một số tỉnh thành khác đã đến Quảng Trị gặp vợ tôi tìm hiểu về vụ việc. Họ đã động viên chúng tôi cả vật chất lẫn tinh thần. Qua tinh thần của các cuộc gặp đó, tôi biết là người ta vẫn đổ hết tội lên đầu ông NM Triết, và coi như ông NĐ Mạnh, ông NT Dũng, ông HT Hải không phạm tội gì. (Thật nực cười, chẳng lẽ ông NM Triết lại ngu dại đến mức ủng hộ chúng tôi “vu khống” người khác?!)
Đến cuối tháng 10/2011, sau khi tôi đã công bố hai cuốn sách học thuật do tôi dịch, đăng một bài viết mới (Chính phủ và chính sách) trên một số trang mạng uy tín trong và ngoài nước, và phổ biến bức thư ngỏ gửi ĐBQH – nhà sử học Dương Trung Quốc, người ta bắt đầu có những động thái nhằm vào những kẻ mà tôi tố cáo. Một số đoàn sỹ quan công an từ Hà Nội vào Đông Hà gặp vợ tôi để điều tra về tội ác của các ông NĐ Mạnh, NT Dũng và HT Hải cũng như ông NM Triết. Tuy nhiên, các nhóm sỹ quan công an này đều chỉ lấy lời khai của vợ tôi để tìm cách “làm tiền” những những kẻ bị chúng tôi tố cáo.
Ngày 25/10/2011, vợ tôi bay ra Hà Nội và sáng hôm sau làm việc với một đoàn 10 người gồm 8 sỹ quan công an và hai người nước ngoài tại khách sạn Daewoo.
Từ ngày 8/11 đến ngày 14/11/2011, vợ tôi làm việc với đoàn ngoại giao của ĐSQ Mỹ (và có thể là cả của ĐSQ Na Uy), trong đó có việc đối chất với ông NM Triết và ông Ngô Quận. Tuy nhiên sau đó tôi phát hiện ra là chính đoàn ngoại giao nước ngoài này lại tìm cách lừa dối chúng tôi (có thể là họ bị mua chuộc, có thể là đó là một phần trong cuộc mặc cả giữa họ và giới lãnh đạo chóp bu của Việt Nam). Vì thế, ngày 16/11/2011, tôi đã đến Phòng Thanh tra, Công an Quảng Trị, gửi đơn tố cáo trực tiếp, kèm theo Bản Cam Đoan của vợ tôi. (Tôi không còn tin vào một sự dàn xếp có lợi cho đất nước, cho những người trong cuộc và cho chúng tôi nữa.) Người tiếp nhận đơn thư của tôi là Thượng tá Đoàn Thị Mỹ Hạnh, Phó Phòng Thanh tra, và thượng uý Nguyễn Minh Chính, cán bộ Phòng Thanh tra.
Ngày 20/11/2011, ông Hoàng Trung Hải xuất hiện trong lễ thông xe hầm đường bộ Thủ Thiêm, với sự có mặt của ông Trương Tấn Sang, Lê Hồng Anh, Phan Văn Khải, Trương Vĩnh Trọng, Lê Thanh Hải (ông Hải ngồi giữa ông LHA và ông TVT). VTV còn phát cảnh ông Hải đọc phát biểu dài đến mấy phút (!). Đây là dấu hiệu cho thấy ông TT Sang dường như đã bắt tay thoả hiệp với liên minh ma quỷ Nguyễn Phú Trọng – Nguyễn Tấn Dũng – Nguyễn Sinh Hùng – Lê Hồng Anh – Hoàng Trung Hải.
Ngày 6/12/2011, tôi tiếp tục gửi thư tố cáo, kèm theo phần nhật ký bổ sung cho đến ngày 17/11/2011, đến các cơ quan hữu quan qua mạng Internet và hàng ngàn địa chỉ email khác.
Vụ việc lại um ra nên Bộ Chính trị, trước sức ép của dư luận và qua đó là của một số vị uỷ viên BCT không dính dáng đến vụ việc như ông PQ Thanh, ông PQ Nghị, ông NX Phúc, buộc phải quyết định điều tra về vụ việc. Họ không thành lập Ban Chuyên án (chắc là vì sợ không đủ tiền để mua sự im lặng của các sỹ quan điều tra một khi họ tìm ra các chứng cứ, điều vốn không quá khó đối với họ) mà giao cho ông Trần Đại Quang trực tiếp điều tra bằng cách thẩm vấn vợ tôi xem lời khai của cô ấy có khớp với câu chuyện do tôi thuật lại trong thư tố cáo hay không. Ông TĐ Quang gặp vợ tôi rất nhiều lần, vừa để kiểm chứng lời khai của vợ tôi có khớp lần trước với lần sau hay không, vừa để “lung lạc” niềm tin của tôi, khiến tôi nghi ngờ vợ mà không tố cáo nữa. Họ cũng tìm cách đẩy chúng tôi dần dần rơi vào cảnh cùng cực để tôi không thể tiếp tục việc tố cáo.
Chiều tối ngày 9/2/2012, ông TĐ Quang, ông PQ Nghị và một số người khác họp bí mật với ông TT Sang và ông NX Phúc (hai người lúc này đang đi thăm Lào) tại một khách sạn ở Huế, dường như là để bàn chuyện thay đổi chế độ.
Khoảng ngày 23-25/2/2012, trong thời gian tôi ra Hà Nội theo “kế hoạch” của họ, vợ tôi đã gặp và làm việc với một đoàn người Mỹ ở Đà Nẵng, gồm 7 người, do ông TT Sang và TĐ Quang đón, ngoài ra còn có ông PQ Thanh, PQ Nghị và NX Phúc.
Tối 7/3/2012, ông NT Dũng đột nhiên gọi điện thoại cho vợ tôi. (Bình thường tôi gọi từ số 01629132914 đến số mới của vợ tôi là 01274162860, và vợ tôi vẫn cố ý dặn tôi liên lạc qua số đó thôi – tuy không còn bí mật nhưng ít người biết hơn. Nhưng trưa hôm 6/3, thấy họ cứ lắm trò quá nên tôi cũng mệt mỏi, thành ra khi gọi vào số trên của vợ không được, tôi lại gọi vào số chính thức mấy năm qua của vợ - 0942797646 - rồi hai vợ chồng trao đổi tự nhiên về câu chuyện. Chắc chắn là người của phía ông Dũng - hay phe cánh của ông ta - đã nghe lén được, và họ biết được là lần này phía Mỹ đã nhảy vào hậu thuẫn cho một nhóm uỷ viên BCT để thay đổi chế độ và người ta chỉ còn chờ thời điểm ra tay nữa thôi.)
Sáng 8/3/2012, vợ tôi bay ra Hà Nội, ở tại nhà khách Bộ Công an, để gặp ông NT Dũng, và sau đó gặp ông NĐ Mạnh và ông HT Hải.
Từ 9/3 đến 19/3/2012, tôi phát hiện dường như vợ tôi bị người ta khống chế nên ngày 20/3 tôi gửi thư tố cáo qua mạng tới các cơ quan hữu quan, kèm theo phần nhật ký bổ sung cho đến ngày 19/3/2012 (lần thứ tố cáo thứ 60).
Ngày 23/3/2012, tôi đến trụ sở Công an Quảng Trị và làm việc với trung tá Nguyễn Quang Trung, Thanh tra Công an tỉnh, về đơn thư tố cáo.
Ngày 3/4/2012, tôi tiếp tục gửi thư tố cáo với phần Nhật ký Bổ sung III (lần thứ 61). Trong phần nhật ký này, tôi nêu rõ nghi vấn về việc vợ tôi bị đe doạ và khống chế từ ngày 9/3/2012, đồng thời thuật lại chi tiết hành vi phạm tội của vợ. Ngoài ra, tôi còn gửi kèm theo ảnh của một cô gái – tên là Nhung – cùng nằm trong băng đảng ma tuý của ông HT Hải với vợ tôi, đã bị ông Hải và đàn em thủ tiêu để bịt đầu mối.
7h30 sáng, ngày 11/4/2012, tôi mang tờ biểu ngữ “HÃY TRẢ LỜI ĐƠN TỐ CÁO CỦA TÔI” đến đứng trước cổng trụ sở Công an Quảng Trị (sau hai lần trước đấy đến đề nghị làm việc nhưng không được tiếp). Sau đó tôi làm việc với trung tá Nguyễn Quang Trung, Thanh tra CA tỉnh về đơn tố cáo của mình.
Ngày 15/4/2012, tôi gửi thư tố cáo (lần thứ 62) kèm theo phần Nhật ký Bổ sung IV. Trong phần nhật ký mới này, tôi khẳng định là vợ tôi đã bị đe doạ, khống chế và cung cấp thông tin sai lạc cho tôi từ ngày 9/3-19/3/2012. Tôi cũng đề cập đến một khả năng rất lớn là ông HT Hải, với chứng cứ phạm tội của ông NĐ Mạnh, NT Dũng và NM Triết trong tay, đã lật bài ngửa với Bộ Chính trị và khống chế bộ máy lãnh đạo cấp cao. Số phận của hệ thống chính trị này, cũng như vận mệnh của một dân tộc bốn ngàn năm văn hiến, thực sự đang nằm trong tay ông ta và băng đảng của ông ta.
7h30 sáng 16/4/2012, tôi mang tờ biểu ngữ “HÃY TRẢ LỜI ĐƠN TỐ CÁO CỦA TÔI” đến đứng trước cổng trụ sở Công an Quảng Trị và nhờ đó mới có cơ hội làm việc với trung tá Nguyễn Quang Trung, Thanh tra CA tỉnh về đơn tố cáo của mình.
Sáng 19/4, tôi lại mang tờ biểu ngữ trên đến trụ sở Công an Quảng Trị đứng “biểu tình” để đòi họ thúc đẩy việc điều tra. Lần này, tôi đợi cả buổi nhưng không ai ra làm việc với tôi cả.
Ngày 22/4/2012, tôi gửi thư tố cáo qua mạng đến các cơ quan hữu quan ở Việt Nam cùng hàng loạt địa chỉ email khác (lần thứ 63).
7h30 sáng 23/4/2012, tôi đến trụ sở Công an tỉnh Quảng Trị. Tôi đứng ngoài cổng và giơ túi tài liệu clear-bag, trong đó có tờ biểu ngữ “HÃY TRẢ LỜI ĐƠN TỐ CÁO CỦA TÔI” nằm ở phía ngoài, lên trước ngực. Mấy tay bảo vệ vội chạy ra đề nghị tôi vào phía trong đợi để họ liên lạc vào Phòng Thanh tra. Sau một lúc giằng co, tôi miễn cưỡng vào phía trong cổng đợi. Khi vào trong, tôi vẫn cố để tờ biểu ngữ cho nhiều người đi qua nhìn thấy. Một lát sau, một tay bảo vệ chạy lại cho biết là Phòng Thanh tra báo bận, không gặp tôi được.
Tôi bèn đi ra ngoài cổng và tiếp tục giơ túi tài liệu cùng tờ biểu ngữ lên trước ngực. 3 tay cảnh sát mặc thường phục liền chạy ra đuổi tôi đi, thái độ và hành vi của họ rất hung hãn. Tôi buộc phải lùi dần, lùi dần, nhưng bọn chúng vẫn không buông tha, mà cứ xấn tới. Cách cổng trụ sở Công an tỉnh khoảng 100m chúng vẫn tiếp tục xô đẩy tôi. Một tên còn tìm cách giật túi tài liệu của tôi. Trước phản ứng gay gắt của mấy người dân xung quanh, chúng mới chịu dừng tay. Trong khi giằng co với chúng, tôi thấy một viên trung tá an ninh đi xe máy từ cổng ra, gật đầu ra dấu khích lệ một trong 3 tên cảnh sát. Viên trung tá này chắc chắn là tay chân của những kẻ bị tôi tố cáo, còn mấy tay cảnh sát bảo vệ mặc thường phục kia đã được ngấm ngầm chỉ đạo trấn áp tôi.
3 tên cảnh sát kia vẫn đứng chặn không cho tôi tiếp cận cổng trụ sở Công an tỉnh. Một số người dân hỏi han, tỏ vẻ thông cảm và không dấu nổi sự bất bình trước cách hành xử của lũ côn đồ đội lốt công an.
Không còn cách nào khác, tôi đành phải ra về. Tôi cảm thấy vô cùng đơn độc trong cuộc chiến không cân sức này. Đất nước chúng ta rồi sẽ ra sao dưới sự “lãnh đạo” của những kẻ đã mất hết lương tri và liêm sỷ, trong một hệ thống mà sự thối nát đã đến độ tanh tưởi, trước sự hèn nhát cũng như thái độ bàng quan, vô trách nhiệm của nhiều trong số những người lẽ ra đã có thể lên tiếng hay góp phần thúc đẩy nhà chức trách phải giải quyết vụ việc?
Hà Nội, ngày 9/5/2012
Lê Anh Hùng
 (CMND số 012191640 do Công an Hà Nội cấp ngày 15/7/2004; điện thoại: 01243210177; trang Facebook cá nhân: www.facebook.com/lehunglpa.)



* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều