VangAnh Online
Tin Tức Mới Cập Nhật :

Bài Mới

Video clip: Nữ binh sĩ Trung Quốc ném lựu đạn vào... chân

Đăng bởi BTV VAOL vào Chủ nhật, ngày 19 tháng năm năm 2013

Nữ binh sĩ Trung Quốc cùng giáo viên hướng dẫn suýt chết vì làm sai động tác ném lựu đạn.

Nữ binh sĩ Trung Quốc làm sai động tác ném nên dẫn tới hậu quả nguy hiểm

Theo đoạn clip được đăng tải trên kênh truyền hình Trung Quốc, trong bài huấn luyện ném lựu đạn, nữ binh sĩ Trung Quốc đã làm sai động tác ném khi nhận quả lựu đạn đã rút chốt từ giáo viên hướng dẫn. Hậu quả là lựu đạn đã rơi ngay gần chân nữ binh sĩ này.

Rất may, hai giáo viên hướng đã phản ứng kịp thời kéo nữ binh sĩ này nhảy vào hào trú ẩn phía sau trước khi quả lựu đạn phát nổ.

video


Người Sưu Tầm


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Đại gia Nhật sạt nghiệp vì cô tiếp viên xinh đẹp Việt Nam

Một đại gia người Nhật Bản vừa bị tòa án kết án tù chung thân mới đây khiến dư luận khá xôn xao khi ông “dâng” hết tài sản hơn 10 tỷ đồng cho người đẹp là sinh viên làm tiếp viên cho một quán ăn.

Chưa dừng lại ở đây, ông này đã lạm dụng ngân quỹ công ty chiếm đoạt hàng trăm tỷ đồng để chu cấp cho người đẹp trong 5 năm cả hai sống cùng...

Theo nội dung vụ án, mặc dù có vợ và con ở xứ sở mặt trời mọc, năm 2004, nhận được quyết định bổ nhiệm của công ty mẹ từ Nhật Bản, Nishimura Setsuo (58 tuổi, quốc tịch Nhật Bản) đến Việt Nam làm việc cho công ty TNHH Sanyo di Solutions Việt Nam (địa chỉ tại KCN Biên Hòa 2, tỉnh Đồng Nai), giữ chức vụ Giám đốc quản trị phụ trách kế toán và nhân sự.

Cuỗm” hàng trăm tỷ đồng của công ty để bao người tình, vị đại gia người Nhật Bản
phải trả giá bằng bản án tù chung thân.

Từ một người đàn ông chỉ biết công việc và vợ con, sau gần một năm xa vợ, trong một lần “vô tình” gặp gỡ cô sinh viên trẻ đẹp Dương Thị Thanh Nhàn (SN 1982, ngụ huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai) đang làm tiếp viên cho một quán ăn ở quận 1, TP HCM, Nishimura Setsuo đã “tương tư” người đẹp.

Cũng từ đó, ông Nishimura Setsuo thường xuyên đến quán Nhàn làm để ăn tối. Mối quan hệ này dần phát triển qua những lần Nishimura Setsuo nhờ Nhàn đi đổi tiền và không quên quà cáp cho người đẹp những món quà ý nghĩa có giá trị gấp gần chục lần số lương mà Nhàn thu nhập từ nghề tiếp viên nhà hàng. Choáng ngợp trước sự giàu có của đại gia, chẳng bao lâu Nhàn trở thành người tình và dọn đến ở cùng ông Nishimura Setsuo tại một khách sạn cao cấp ở quận 1.

Từ khi quen đại gia, Nhàn lột xác hoàn toàn, đi xe hơi, sử dụng điện thoại, trang sức đắt tiền và được đưa đón, cung phụng như một bà hoàng. Ban đầu chỉ là những món quà đắt giá, về sau Nhàn không ngần ngại đặt vấn đề cần tiền để mở nhà hàng, khách sạn và muốn “mượn tiền” Nishimura Setsuo để kinh doanh.

Chiều lòng người đẹp, Nishimura Setsuo đã nhiều lần đưa cho người tình, tổng cộng hơn 500.000 USD để kinh doanh. Thế nhưng, bao nhiêu cũng không đủ, cứ vài tháng Nhàn lại “rên rỉ” điệp khúc hết tiền. Để có tiền cung cấp cho người đẹp, không còn cách nào khác, Nishimura Setsuo đành rút tiền ngân quỹ của công ty.

Để người tình tin tưởng, năm 2007, Nhàn mở quán bar C. nằm trên đường Lê Thánh Tôn, quận 1. Thế nhưng, điều mà ông Nishimura Setsuo không ngờ, đây chỉ là một khoản đầu tư nhỏ từ số tiền ông đưa cho Nhàn. Thực chất, phần lớn tiền ông đưa cho Nhàn đều bị cô nàng đưa qua Campuchia, Ma Cao để đánh bài.

Quá trình điều tra thể hiện, từ 7/2008 đến 9/2009, Nishimura Setsuo đã tự ý làm thủ tục rút tiền từ tài khoản và két sắt của công ty Sanyo Việt Nam lấy số tiền 132,5 tỷ đồng và 530.000 USD. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt của công ty, Nishimura Setsuo khai đã đưa hết cho người đẹp “mượn”. Rủng rỉnh tiền bạc, Nhàn thả sức mua sắm đồ, những chiếc nhẫn hột xoàn trị giá vài chục đến vài trăm ngàn đô la chỉ là chuyện nhỏ đối với Nhàn.

Không những thế, Nhàn còn cho bạn bè, đối tác của mình vay tiền để đánh bạc. Ngay cả khi thua, Nhàn cũng thể hiện là một tay chơi bài thứ thiệt, khi hết tiền cô có thể vứt chiếc nhẫn kim cương trị giá cả trăm ngàn USD ra trả, nhưng không cần lấy lại tiền thừa dù ván bài đó chỉ cược khoảng 2/3 giá trị chiếc nhẫn.

Sau khi vụ việc bị công ty phát giác, tháng 4/2009, Nishimura Setsuo bỏ trốn ra nước ngoài. Đến ngày 17/12/2009, người này quay lại Việt Nam thì bị bắt.

Đối với Dương Thị Thanh Nhàn, quá trình điều tra, người đẹp này thừa nhận đã được đại gia này cho rất nhiều tiền đến nỗi bao nhiêu cũng không nhớ hết. Đến khi nghe cơ quan điều tra công bố số tiền ông Nishimura Setsuo chiếm đoạt công ty lên tới hàng trăm tỷ đồng, cô nàng mới phát hoảng.

Sau đó, khi được cơ quan điều tra cho đối chất với người tình, Nhàn chỉ thừa nhận được Nishimura Setsuo cho 30,4 tỷ đồng… Số tiền này, Nhàn không thừa nhận đã sử dụng vào việc kinh doanh nhà hàng, khách sạn như Nishimura Setsuo khai mà chỉ sử dụng vào mục đích cá nhân như mua sắm đồ trang sức, đồ dùng cá nhân và cờ bạc… đến nay không còn tài sản gì để trả lại.

Cùng lúc bị hai người tình giăng bẫy

Nói về đại gia bị “sập bẫy” người tình, chắc không ai “đau” như ông B.M.T. (41 tuổi, kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng) vì cùng lúc bị hai người tình già và trẻ âm mưu chuốc thuốc mê để lấy hết tài sản.

Theo nội dung vụ án, dù đã có vợ và con nhưng ông T. thường xuyên có mối quan hệ ngoài luồng với nhiều phụ nữ khác. Với cái mác điển trai và nhiều tiền lắm của nên ông T. không khó khăn chinh phục nhiều cô gái trẻ. Trong số những cô đào của ông T., dù đã có tuổi tác và lớn hơn ông T. rất nhiều nhưng Trần Thị Kim Tuyến (57 tuổi, ngụ Đồng Nai) vẫn được ông này thường xuyên lui tới. Mối quan hệ giữa ông T. và bà Tuyến khăng khít hơn 7 năm cho đến khi ông T. nhận một công trình xây dựng nhà ở TP.HCM.

Tại đây, trong một lần tình cờ, ông T. quen với Trần Thị Thúy Lan (24 tuổi), một nữ sinh viên tỉnh lẻ vừa từ Đồng Nai lên TP.HCM học nghề. Cũng từ đó, ông T. về thăm bà Tuyến thưa dần. Qua dò hỏi, bà Tuyến phát hiện người tình của mình đang thuê nhà trọ sống với người tình mới ở quận 9, TP.HCM.

Quyết tâm cho ông T. một bài học nhớ đời, bà Tuyến tìm cách tiếp cận cô bồ mới của người tình. Một lần, đợi ông T. vừa ra khỏi nhà, bà tìm đến tận phòng trọ nơi cả hai đang ở. Tại đây, thay vì đánh ghen đối thủ, bà Tuyến cao thủ hơn khi tỉ tê tâm sự và cảnh báo cho tình địch biết không chóng thì chầy Lan cũng sẽ rơi vào hoàn cảnh của bà ta là bị ông T. bỏ rơi.

Khi Lan phát hiện ông T. còn quan hệ với nhiều phụ nữ khác, Lan bàn với bà Tuyến dạy cho người tình một bài học. Sau khi bàn bạc, cả hai thống nhất sẽ mua thuốc ngủ về chuốc ông T. và lấy hết tài sản rồi bỏ đi.

Sáng 2/7/2009, Lan ra chợ mua thức ăn về nấu canh rau đay và ghé qua tiệm thuốc mua hai viên thuốc ngủ. Lan pha thử một viên vào ly nước chanh để uống nhưng không thấy có tác dụng. Chiều hôm đó, Lan ra mua thêm ba viên thuốc ngủ về nghiền nát bỏ vào nồi canh rau đay. Đi làm về, thấy người tình trẻ dọn sẵn cơm canh, ông T. ngồi ăn một mạch ngon lành.

Sau bữa cơm, ông T. thấy buồn ngủ và đau đầu sau đó thì ngủ mê mệt. Đợi người tình ngủ say, Lan gọi điện thoại báo cho bà Tuyến đến, sau đó cả hai lấy hết tài sản của ông T., gồm 1 dây chuyền vàng 3,7 chỉ, 1 nhẫn vàng 2 chỉ, máy tính xách tay, điện thoại di động, 40 triệu đồng tiền mặt và thẻ ATM bên trong tài khoản có 800 triệu đồng. Xong xuôi, Tuyến và Lan ra ngoài móc trái cửa phòng rồi dắt luôn chiếc xe Attila của ông T. bỏ trốn.

Sau gần một ngày đêm ngủ li bì, tỉnh dậy thấy người tình trẻ và tài sản không cánh mà bay, lúc này ông T. đành ra công an trình báo. Qua truy xét, mấy ngày sau Tuyến và Lan bị công an bắt.

Dù thoát chết nhưng vụ án không chỉ là bài học để đời cho ông T., mà còn cho các quý ông ham thích “của lạ” và hay lăng nhăng khác.

Theo CAND


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Bi kịch thiếu nữ mang thai từ 15 tuổi, 4 lần tự tử

Gia đình nhiều lần khuyên bảo Yến không nên quan hệ tình cảm với Khanh nhưng cô gái trẻ đã bị lóa mắt trước gã con nhà giàu.

Nhà của cô bé Đỗ Thị Yến (sinh ngày 4/11/1995) nằm ngay mặt tiền quốc lộ 1A thuộc địa phận ấp Tân Thạnh, xã Tân Hương, huyện Châu Thành (tỉnh Tiền Giang). Nhưng nếu không có sự chỉ dẫn tận tình của ông Dương Bảo Toàn - Chủ tịch UBND xã Tân Hương thì không thể nào tìm được nhà. Yến đăng ký hộ khẩu tại ấp Tân Thạnh, xã Tân Hương, nhưng do cha mẹ ly hôn lúc Yến chưa tròn 2 tuổi, nên cô phải nương náu với người dì ruột là Cao Thị Lý ở ấp Hòa Phú, xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo (Tiền Giang). Chính vì lý do này mà cuộc đời của Yến rơi vào bi kịch.

Cha ruột của cô bé Đỗ Thị Yến, ông Đỗ Công Huấn, cho biết em đang đi phụ giúp người dì ruột ở xã Hòa Tịnh mua bán rau cải. Ngậm ngùi nhìn đứa cháu ngoại bé bỏng, lanh lợi, mắt tròn xoe sáng ngời nhưng mặt mày lem luốc vì thiếu bàn tay chăm sóc của người mẹ, ông Huấn nói: “Mấy ngày qua, Yến lo đi làm kiếm tiền mua sữa cho con uống. Con nó mới 11 tháng tuổi, nhưng từ khi Yến sinh con, chồng nó chẳng thèm đoái hoài, thăm viếng, chu cấp cho hai mẹ con. Mọi chuyện đều do một tay tui lo lắng. Cháu Yến đã làm hồ sơ xin vào làm công nhân ở khu Công nghiệp Tân Hương để có thu nhập ổn định nuôi con, nhưng do chưa đủ tuổi nên các xí nghiệp, nhà máy không nhận”.

Ông Huấn cho biết, Yến hiện nay sức khỏe rất kém vì vừa trải qua cuộc điều trị tích cực tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang do ngộ độc thuốc ngủ, nhưng vẫn phải đi làm thuê kiếm tiền nuôi con. “Đây là lần thứ 4 con tui uống thuốc ngủ tìm cái chết vì bị chồng nó ruồng bỏ cả hai mẹ con. Con tui rơi vào bế tắc và tuyệt vọng bởi nỗi đau đớn về thể xác do bị chồng ruồng bỏ đánh đập, ngược đãi. Lần nào cũng vậy, cháu uống thuốc ngủ tự vẫn lúc nào không ai hay biết, đến khi gia đình phát hiện mới trở đi bệnh viện cấp cứu. May mà còn cứu kịp, nếu nó chết đi thì tui không biết phải làm sao để nuôi con của nó”, ông Huấn buồn rầu nói.

Yến bốn lần uống thuốc ngủ tự tử vì bị chồng ruồng bỏ cả hai mẹ con.

Trong ngôi nhà nhỏ cạnh quốc lộ 1A, ông Huấn vừa phải dỗ dành đứa cháu ngoại bé bỏng, vừa kể lại câu chuyện bi kịch của Yến: “Sau khi mẹ cháu bỏ đi, tui cố gắng sống trong cảnh gà trống nuôi con, chăm sóc cháu. Năm 2009, khi Yến được 13 tuổi, học đến lớp 8, tui phải lo đi làm ăn xa nhà, không có điều kiện chăm lo cho con gái, nên gửi cháu ra ở nhờ nhà dì ruột là Cao Thị Lý ở xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, cách nhà chừng 3 km để đi học”.

Mùa hè năm đó, dì của Yến dẫn cháu đến tiệm may Út Hằng ở xã Hòa Tịnh may áo dài đi học thì gặp Phạm Duy Khanh (sinh ngày 4/1/1992), con trai của chủ tiệm may. Nhìn thấy Yến xinh xắn nên Duy Khanh đã ra sức theo đuổi, dụ dỗ tán tỉnh.

Trong suốt thời gian Yến học tại trường THCS Tịnh Hà, Khanh thường xuyên đến trường tìm Yến rủ rê cháu bỏ học đi chơi, khiến nhà trường phải nhiều lần mời gia đình ông Huấn đến nhắc nhở. Lúc biết chuyện Khanh theo đuổi Yến, gia đình nội ngoại rất lo lắng vì biết rõ Khanh là một thanh niên không ra gì, thường xuyên đàn đúm ăn chơi nổi tiếng ở xã Hòa Tịnh. Gia đình nhiều lần khuyên bảo Yến không nên yêu sớm và không nên quan hệ tình cảm với Khanh. Nhưng Yến bị lóa mắt trước nhân thân con nhà giàu, xài tiền như nước của Khanh nên bỏ ngoài tai mọi lời khuyên bảo của người lớn, vẫn lén lút qua lại với Khanh. Hậu quả của những lần bỏ bê học hành đi chơi cùng Khanh đã khiến Yến thi trượt vào trường THPT Tịnh Hà. Đến lúc này gia đình phải gửi Yến lên TP Tân An (tỉnh Long An) ở nhờ nhà một người dì để cháu học nghề.

Trong thời gian này Khanh liên tục đến tìm Yến và hai người lại tiếp tục cặp kè. Kết quả của những lần đi chơi với Khanh là Yến mang thai. Khi phát hiện Yến có thai, Khanh buộc Yến phải bỏ, nhưng em không đồng ý vì sợ và vì không có tiền lo chi phí. Khi đó, gia đình Yến không hề hay biết. Mãi đến khi ông ngoại của Yến ở xã Tân Hương qua đời, Yến về quê ngoại chịu tang với cái bụng lùm lùm thì gia đình mới phát hiện. Yến phải thú nhận là có thai với Khanh. Gia đình bất bình khuyên em phá bỏ cái thai. Nhưng lúc này thai nhi đã 23 tuần tuổi, không thể phá bỏ được. Túng thế gia đình Yến đến yêu cầu gia đình Khanh chấp nhận Yến làm con dâu vì không thể để con của Yến sinh ra không có cha…

Giằng co mãi, cuối cùng gia đình của Khanh cũng chấp nhận Yến làm con dâu khi cô sắp đến ngày sinh nở. Nhưng sau khi Yên sinh con thì Khanh lại công khai bày tỏ thái độ ruồng bỏ, ngược đãi hai mẹ con.

Những người dân ở xã Hòa Tịnh kể rằng, dù đã có vợ, con nhưng Khanh vẫn công khai quan hệ với nhiều cô gái khác, thậm chí sống với họ như vợ chồng. Khi Yến lên tiếng phản đối thì bị Khanh ra tay đánh đập thậm tệ và luôn miệng thách thức Yến có giỏi thì làm đơn đi thưa, anh ta sẽ đi hầu kiện. Từ khi Yến mang thai, sinh con cho đến bây giờ đứa con đã tròn 11 tháng tuổi, Khanh và gia đình của Khanh không hề quan tâm lo lắng cho hai mẹ con, nên hàng ngày Yến vừa trông con, đi làm thuê ở vựa rau củ kiếm tiền mua sữa cho con.

Nhiều lúc không có việc làm, cháu bé khát sữa, Yến gọi điện thoại xin Khanh tiền mua sữa cho con thì bị gã chồng bất nhân chửi mắng thậm tệ và công khai nói bận đi chơi với gái, không rảnh và cũng chẳng dư tiền để mua sữa cho cháu bé.

Do quá cơ cực nên trong vòng chưa đầy một năm, Đỗ Thị Yến đã 4 lần uống thuốc ngủ tự tử để mong được giải thoát. Ông Huấn còn cho biết thêm: “ Bản chất tên Khanh rất hung hăng, côn đồ. Hôm trước hắn mua chiếc xe gắn máy nhưng cháu Yến giữ giấy tờ xe. Khanh điện thoại đòi giấy tờ xe thì Yến không giao. Lập tức hắn tìm đến nhà tui tuyên bố nếu Yến không trả giấy tờ xe thì hắn sẽ dẫn tay chân đến giết sạch cả nhà”.

Cho đến nay, gia đình của Yến đã làm đơn tố cáo hành vi ngược đãi, bỏ rơi vợ con nhưng vẫn chưa có hồi âm. Đồng thời, theo giấy chứng sinh số 363/2012 của trung tâm Y tế huyện Châu Thành, thì Yến sinh con vào ngày 2/6/2012. Như vậy thời điểm Khanh quan hệ tình dục với Yến dẫn đến Yến mang thai là vào tháng 9/2011- lúc này Yến mới 15 tuổi 10 tháng. Theo Bộ luật Hình sự, Phạm Duy Khanh còn phạm tội giao cấu với trẻ em có tình tiết tăng nặng là quan hệ nhiều lần dẫn đến hậu quả nạn nhân mang thai.

Theo ông Dương Bảo Toàn - Chủ tịch UBND xã Tân Hương, chuyện của cháu Yến khiến các cán bộ xã rất bức xúc. Nhưng do sự việc xảy ra ở ngoài địa phương, Khanh là người của xã khác, huyện khác, nên UBND xã Tân Hương không thể xử lý được.

* Tên nhân vật đã được thanh đổi

(Theo Tuổi trẻ & Đời sống)


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Nhật Ký Yêu Nước - Lăng Hồ Chủ Tịch-Nhìn từ khiá cạnh kinh tế học công cộng.


1.Quan điểm kinh tế học thuần túy.

Trước tiên hết, tôi xin đặt vấn đề này ra không nhằm mục đích chính trị, mà chỉ là một người nhìn Lăng Hồ Chủ Tịch qua lăng kính của kinh tế học thuần túy. Có những bạn ủng hộ việc duy trì lăng Bác vì tư tưởng chính trị hay vì bạn xem Lăng Hồ Chủ Tịch phản ánh tình cảm thiêng liêng của bạn dành cho cụ Hồ và cũng như có những bạn ủng hộ việc nên thiêu xác Bác và dùng khu đất đó vào mục đích kinh tế để đem lại sự thịnh vượng của quốc gia nói chung và cư dân Hà Thành nói riêng. Ở đây, tôi chỉ phân tích thuần tuý từ kinh tế học công cộng, không phản ảnh quan điểm chính trị lẫn tình cảm dành cho lãnh tụ, nên tôi trung lập hoàn toàn về khía cạnh này

2. Các dữ liệu căn bản phân tích kinh tế và nguyên tắc phân phối lợi tức quốc gia:

Với quan điểm pháp lí hiện hành tại VN :Đất đai là sở hữu toàn dân. nhà nước quản lí. Điều này có nghĩa là: Đất đai được đem bán hoặc cho thuê thì lợi tức từ các hoạt động này phải được phân phối lại cho các công dân là chủ sỡ hữu thực của đất đai. Như vậy, đất Hà Nội là thuộc sở hữu của nhân dân Hà Nội và vì thế khu vực Lăng Bác với diện tích 21.000 m2 thuộc sử hữu của công dân Hà Thành và mỗi người đều có quyền được hưởng lợi tức từ khai thác giá trị của mảnh đất công cộng này. Chúng ta có các dữ liệu kinh tế đưa vào tính toán như sau. Có thể sự chênh lệch số liệu không đáng kể, xin làm tròn để dễ tính toán, quan trọng là logic kinh tế học, chứ không phải độ chính xác của dữ liệu)

Diện tích Lăng Hồ Chủ Tịch : 21.000m2

Giá thuê đất trung bình : 21.000.000/m2/tháng = 1.000 USD/m2/tháng

Toàn bộ mặt bằng này có giá cho thuê với mức giá tương ứng là : 21.000*1.000usd=21.000.000 USD, Như thế, nếu đất này được cho thuê, thì mỗi năm sẽ thu về cho Ngân sách thành phố một khoản là 252.000.000 USD. Khi đã xem đất này là sở hữu của từng người dân Hà Nội tức là số tiền này sẽ được phân phối lại cho từng công dân. Chia số tiền lợi tức từ cho thuê đất công này cho dân số Hà Nội khoảng 4.500.000 người, ta được lợi tức phân phối cho mỗi công dân là :

252.000.000/4.500.000=56usd/người.

Nói khác đi, khu đất xây lăng Hồ Chủ Tịch nếu được đem cho thuê sẽ giúp tăng nhu nhập cho mỗi công dân Hà Nội là 56USD/năm. Bây giờ, nếu tất cả công dân Hà Nội đều có thể lựa chọn : Hoặc giữ lăng Hồ Chủ Tịch hoặc ngược lại nhận 56usd hàng năm từ tiền cho thuê đất. Xin lưu ý là giá thuê đất này chưa bao gồm chi phí duy trì Lăng hàng năm như :Chi phí bảo trì, ướp xác Hồ Chủ Tịch, chi phí nhân viên..v.v.

3. Nguyên tắc quản lí tài sản công – Giải pháp cân bằng


Giả sử rằng, nếu trưng cầu dân ý, và có 50% người dân đồng ý duy trì lăng và 50% không muốn tiếp tục duy trì lăng vì tốn kém và còn mất đi một phần lợi tức 56/người /năm (Bạn có thể ước lượng khác đi ví dụ : 40% – 60% hoặc 70%-30, vẫn không làm thay đổi logic). Như vậy có thể nào vì 50% chấp nhận duy trì lăng mà buộc 50% không chấp nhận phải duy trì ko? hay là vì 50% không chấp nhận mà hủy bỏ Lăng bất chấp nguyện vọng của 50% chấp nhận duy trì lăng không ?. Giải pháp nào là tối ưu nhất trong tình huống này để không ai bị thiệt ? May mắn thay, những phát triển mới nhất của kinh tế học công cộng áp dụng nguyên tắc :User – Payer (Ai sử dụng thì người đó trả tiền) giúp ta giải quyết như sau :

Nhóm dân muốn duy trì lăng , nếu áp đặt nguyện vọng của họ lên nhóm không muốn, hoá ra là họ đã tước đoạt mất phần lợi tức 56usd của nhóm không muốn. Đó là điều bất công theo đúng luật công bằng vì không có lí do gì phần đất đai họ có phần sở hữu lại bị tước đoạt bởi những người đồng sở hữu. Với nhóm này, chọn lựa 56usd sẽ cho họ một mức độ thỏa dụng (utility) cao hơn là dùng số tiền này để duy trì lăng. Nhưng nếu dẹp bỏ lăng thì hóa ra lại loại bỏ nguyện vọng của một nửa dân số muốn duy trì lăng. Tức là với nhóm người này, mức thỏa dụng mà Lăng bác mang lại cho họ cao hơn là mức thỏa dụng do 56usd mang lại.

Giải pháp cân bằn: Nhóm duy trì lăng trả phần lợi tức thuê đất cho nhóm không muốn duy trì lăng số tiền tương ứng là 56usd*2.250.000=126.000.000usd/ năm ngoài ra, nhóm này cũng chịu phần chi phí từ phát sinh do bảo trì lăng, ướp xác cụ Hồ, chí phí nhân viên.v.v. Và như thế nhóm giữ lăng vẫn giữ được Lăng, nhóm không muốn giữ lăng sẽ có 56usd tiền lợi tức từ phần quyền sở hữu công về khu đất xây lăng và điều này được gọi là cân bằng tối ưu. Điều khác biệt đó là nhóm giữ lăng không muốn trả 56usd cho nhóm ko muốn duy trì lăng mà muốn sử dụng mảnh đất công này một cách miễn phí. Nói khác đi họ là « kẻ đi xe không trả tiền » (Free Rider) trong kinh tế học công cộng.

Dĩ nhiên là nhóm không muốn duy trì lăng không có lí do gì để được thăm Lăng miễn phí vì họ không cùng gánh chịu với nhóm kia và họ cũng đã nhận 56usd. Vậy, mỗi lần nhóm này muốn vào thăm Lăng thì có thể buộc họ phải trả vé vào cửa như một chi phí cho việc hưởng lợi tức từ một tài sản công mà họ không tham gia hình thành nó.

4. Sự lựa chọn hợp lí của con người kinh tế.

Bạn chọn lựa duy trì lăng hay không ? : Có 3 trường hợp. Để phân tích đơn giản, giả sử giá vé vào lăng là 56us/lượt

  1. Bạn có nhu cầu thăm 1lượt /5 năm : Bạn sẽ chọn không duy trì lăng để nhận được (56usd*5)-56usd= 224usd lợi tức còn lại sau khi trả tiền vé
  2. Bạn có nhu cầu thăm 1lượt/năm : Bạn xem xem việc duy trì lăng hay không là như nhau vì : 56usd lợi tức nhận được hàng năm – 56usd tiền vé hàng năm =0.
  3. Bạn có nhu cầu thăm lăng 2 lượt /năm hoặc hơn nữa : Bạn sẽ chọn nhóm duy trì lăng vì 56usd lợi tức hàng năm – 56usd*2 lượt = -56usd. Nên tốt hơn là bạn duy trì lăng để được vào thăm miễn phí

Pham Le Quoc Viet

Ngày 06 tháng 09 năm 2012

Theo Nhật Ký Yêu nước

Sưu tầm nguồn tại đây


Giải pháp khác của bạn Tung Nguyen trang Bàn Phím Trẻ :

Nếu bạn tính tiền cho thuê 1000 USD/m^2 , nhân với 210000m^2 = 21000 USD/ 1thang

Neu dem 210000USD 1 thang đó bỏ vô ngân hàng thì với lãi xuất 14%/1 nam.

Số tiền sau 1 năm = 21000*( (1+ (.14/12))^12-1 )/ (.14/12) = 268 816 653 USD

Vị chi 1 người dc khoản 60 USD



* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Quốc hiệu nào hội tụ lòng Dân?

Lẽ ra ta không cần phải tốn quá nhiều thời gian để bàn luận về quốc hiệu, bởi đó là một chuyện đơn giản. Không gì đơn giản hơn việc chọn một tên thật… đơn giản và mộc mạc, để dễ được đa số Nhân dân chấp nhận, và bền vững với thời gian. Vấn đề chỉ trở nên rắc rối khi muốn dùng quốc hiệu để trang điểm, hay cố gói ghém vào đó thiên hướng chính trị, và trở thành phức tạp hơn vì phải né tránh những tì vết của lịch sử. Khi đã lâm vào trạng thái rắc rối và phức tạp, thì gỡ ra cũng không dễ. Mục đích của bài viết này là chia sẻ mấy ý kiến, nhằm góp phần lựa chọn một quốc hiệu hợp lý.

1.  Tiêu chí cho quốc hiệu

Để nội dung thảo luận không quá tản mạn, xin đề xuất bốn tiêu chí, mà quốc hiệu cần thỏa mãn.

Tiêu chí 1: Quốc hiệu không được chứa đựng những khái niệm trái ngược với thực trạng của Đất nước. Yêu cầu tưởng chừng hiển nhiên này thường bị vi phạm, khi người ta muốn dùng quốc hiệu để trang điểm cho chế độ. Chọn tên thế nào cho hay là một chuyện thường tình, nhưng khi tên hay đến mức… trái ngược hẳn với thực trạng thì lại trở thành trớ trêu. Cũng giống như việc bố mẹ đặt tên con là “Thiên Tài” hay “Hoa Hậu”, trong khi đứa trẻ lại không may bị thiểu năng trí tuệ, hay bị dị tật giữa mặt, thì cái tên quá hay kia chỉ khiến nó càng hay bị người đời châm chọc mà thôi. Hai mĩ từ được ưa dùng để đưa vào tên nước là “Dân chủ” và “Nhân dân”. Oái oăm thay, ở những quốc gia mà dân chủ đã trở thành hiển nhiên và Nhà nước thực sự là “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, thì hai từ “Dân chủ” và “Nhân dân”không xuất hiện trong quốc hiệu – Điều đó cũng chẳng cần thiết vì “hữu xạ tự nhiên hương”. Ngược lại, ở nhiều quốc gia mà tính từ “Dân chủ” hay danh từ “Nhân dân” được gán vào quốc hiệu, thì dân chủ hay bị chà đạp và Nhân dân hay bị coi thường, mà một trong những ví dụ điển hình là chế độ diệt chủng mang tên Camphuchia Dân chủ của Khmer Đỏ. Những mĩ từ kiểu ấy không lừa được ai, không thể ngụy trang để che lấp thực tế phũ phàng. Chúng không chỉ gây cảm giác mỉa mai, mà còn làm cho người dân cảm thấy bị xúc phạm, như thể bị nhà cầm quyền coi thường và thách thức.Đưa vào tên nước những giá trị không tồn tại trên thực tế là giả dối. Khi giả dối tràn lan đến mức phơi ra cả tên nước, thì đạo đức càng dễ lụn bại, giáo dục càng dễ suy đồi, và Đất nước càng khó phát triển lành mạnh.

Tiêu chí 2: Quốc hiệu không được gây ảnh hưởng xấu cho lợi ích của Dân tộc, của Nhân dân. Tiêu chuẩn này rõ ràng đến mức không cần phải giải thích thêm. Chỉ xin nhấn mạnh rằng: Để sớm đạt được mục tiêu Dân giàu, Nước mạnh, thì phải thực tâm đoàn kết toàn Dân, nhằm huy động sức mạnh của toàn thể cộng đồng người Việt. Chính vì vậy,quốc hiệu không được gây cản trở cho quá trình hòa giải và hòa hợp Dân tộc.

Tiêu chí 3: Quốc hiệu cần tránh gây phản cảm. Phản cảm không phải do nó chứa đựng những từ có nghĩa xấu, vì thông thường chỉ những khái niệm được coi là tốt đẹp mới được lựa chọn để đưa vào quốc hiệu. Thế nhưng, nếu khái niệm đẹp đẽ nào đó đã bị gắn với một giai đoạn lịch sử bi thương, thì nó gợi lại những kỷ niệm buồn. Mặc dù “Nhân dân”là một trong những danh từ được trân trọng nhất, nhưng người dân các nước Ba Lan, Bun-ga-ri, Hung-ga-ri… chẳng muốn tiếp tục lưu giữ nó trong tên nước, sau khi đã xóa bỏ các chế độ mang tên Cộng hòa Nhân dân Ba LanCộng hòa Nhân dân Bun-ga-riCộng hòa Nhân dân Hung-ga-ri… Mặc dù “Dân chủ” là một trong những tính từ đẹp nhất, nhưng người Camphuchia khó có thể chấp nhận để nó tái xuất hiện trong tên nước của họ, sau khi đã trải qua thảm họa diệt chủng dưới chế độ Khmer Đỏ man rợ mang tên Camphuchia Dân chủ“Xã hội chủ nghĩa” vốn là một từ đẹp, thể hiện giấc mơ về một xã hội công bằng, nhưng trên thực tế thì nó lại bị bôi nhọ bởi các chế độ độc tài chuyên chế, và bị nhuốm máu của hàng chục triệu người đã chết oan ức dưới thời Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot… Trải qua những cơn ác mộng như vậy, các nạn nhân sẽ cảm thấy rùng mình khi phải nghe lại những mĩ từ đã từng bị lạm dụng để hóa trang cho tội ác. Vì vậy, cần tránh dùng những từ đã trở nên phản cảm để đặt tên nước.

Tiêu chí 4: Quốc hiệu cần được Nhân dân chấp thuận. Đất nước là của chung, chứ không phải của riêng ai. Vì vậy không ai có đặc quyền đơn phương quyết định tên nước. Hiển nhiên là khó có thể chọn được một cái tên để tất cả mọi người đều thích, nên không thể cầu toàn. Nhưng nếu chỉ đưa vào quốc hiệu những giá trị phổ cập, những khái niệm mang tính hiển nhiên, thì dễ được đa số Nhân dân chấp nhận (ít nhất là không phản đối). Ví dụ: Có thể coi “Cộng hòa” là một khái niệm mang tính hiển nhiên (vì đa số nhân dân Việt Nam không muốn trở lại chế độ quân chủ), nhưng “Xã hội chủ nghĩa” thì không thuộc vào phạm trù ấy. Có thể “Xã hội chủ nghĩa” là tình yêu chân thành của một số người, nhưng tên nước không phải là nơi để thể hiện tuyên ngôn tình yêu của họ. Không nhất thiết phải trưng ra mọi thứ mình yêu, bởi điều đó cũng ngộ nghĩnh như việc in lên danh thiếp danh sách tình nhân. Mặt khác, họ yêu gì thì cứ việc yêu, nhưng không thể ép toàn Dân phải cùng yêu thứ đó, bởi điều ấy cũng phi lý như việc họ ép tất cả mọi người phải cùng yêu vợ hay tình nhân của riêng họ vậy.

Thiết nghĩ, bốn tiêu chí kể trên là hợp lý, không hề quá cao, mà có thể coi là tiêu chuẩn tối thiểu đối với quốc hiệu. Sau đây, ta sẽ dựa vào chúng để đánh giá quốc hiệu hiện thời và đề xuất quốc hiệu thay thế. 

2.  Quốc hiệu hiện thời

Năm 1976 nước Việt Nam tái thống nhất, lấy quốc hiệu là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ “Xã hội chủ nghĩa”được sao chép từ tên của một số quốc gia, như Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viếtCộng hòa Xã hội chủ nghĩa RomaniaCộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc… Điều đó không chỉ để phân biệt với ba quốc hiệu đã từng tồn tại trên đất Việt là Việt Nam Dân chủ Cộng hòaViệt Nam Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, mà còn để thể hiện con đường do giới lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã chọn cho Dân tộc.

Có lẽ khi ấy không có nhiều người công khai phản đối sự lựa chọn này. “Bên thắng cuộc” thì tin tưởng vào sự sáng suốt của những người đã lãnh đạo thắng lợi hai cuộc chiến tranh chấn động địa cầu, và cuộc sống no đủ ở Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu (như đã được truyền tụng) là niềm mơ ước của hàng triệu người đã phải chịu đói khổ suốt mấy chục năm chiến tranh. “Bên thua cuộc” thì nghĩ mình buộc phải chấp nhận, chứ không được quyền tham gia lựa chọn.

Cuộc sống khắc nghiệt đằng đẵng những năm 80 của thế kỷ 20 khiến người người bừng tỉnh khỏi giấc mộng, và thảng thốt tự hỏi: Chẳng nhẽ “Xã hội chủ nghĩa” là thế này sao?

Rồi Liên Xô và hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu đồng loạt sụp đổ. Chính Nhân dân (của các nước đó) đã đứng lên xóa bỏ cái chế độ mà họ từng kỳ vọng, nhưng rồi quá thất vọng. Đối với hầu hết các nước trên Thế giới, cuộc thí nghiệm quy mô, tốn kém mồ hôi và xương máu có một không hai trong lịch sử nhân loại đã kết thúc. Mấy chế độ mang danh “Xã hội chủ nghĩa” còn sót lại bơ vơ với câu hỏi “đi đâu, về đâu”.

Thực tế phũ phàng có sức thuyết phục mạnh hơn mọi lý thuyết, khiến những người bảo thủ nhất trong bộ máy cầm quyền ở Việt Nam cũng phải nhận ra rằng lối thoát duy nhất là phải “đổi mới”, tức là phải dứt khỏi những ràng buộc lý luận quá giáo điều. Như người mới tập bơi, lúc đầu chỉ dám mon men cạnh con tàu đang chìm dần. Nhưng rồi chới với trong sóng nước, đành phải bám vào bất cứ vật nào trôi nổi trong tầm với, miễn là còn có thể lềnh bềnh trên mặt nước. Sau hơn hai mươi năm trôi dạt, giờ đây đã mất hút bóng tàu xưa, chỉ còn lại kẻ ngơ ngác kiếm tìm “định hướng”. Tuy điệp khúc “Xã hội chủ nghĩa” vẫn còn vang lên đâu đó, nhưng với lý lẽ vu vơ như trong cơn mê sảng. Nếu tỉnh táo tìm kiếm từ Bắc vô Nam, thì không thể tìm được bất cứ biểu hiện tích cực nào trong thực tế cuộc sống, để chứng tỏ rằng xã hội này cũng có những nét tốt hơn so với xã hội tư bản phát triển. Những giá trị tốt đẹp từng được gán cho “Xã hội chủ nghĩa”ngày càng vắng bóng, dần bị triệt tiêu. Thay vào đó, những biểu hiện vốn được coi là đặc trưng xấu của chế độ phong kiến và của chủ nghĩa tư bản hoang dã ngày càng lấn át: Tham nhũng lộng hành, bất công ngự trị, bóc lột trắng trợn, thất nghiệp tràn lan… Quốc hiệu hiện thời trở nên cô đơn giữa lòng Dân tộc, vì nó chứa đựng tính từ “Xã hội chủ nghĩa”, đã trở nên xa lạ và hoàn toàn trái ngược với thực trạng của Đất nước. Vì vậy, theo Tiêu chí 1, đã đến lúc chúng ta phải chia tay với quốc hiệu “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, để sống thật hơn với lòng mình. Nếu ai đó thực tâm yêu Chủ nghĩa xã hội với tư cách một lý tưởng tốt đẹp, thì lại càng phải đấu tranh đòi bỏ quốc hiệu hiện thời, bởi việc gắn tính từ “Xã hội chủ nghĩa” với tình trạng tệ hại hiện nay chỉ có tác dụng bôi nhọ Chủ nghĩa xã hội mà thôi.


Tác giả Hoàng Xuân Phú
Có ý kiến chỉ đạo rằng cần tiếp tục duy trì quốc hiệu hiện nay để “thể hiện rõ mục tiêu phấn đấu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta về con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội”. Mục tiêu nào? Nếu là mục tiêu cuối cùng của ĐCSVN thì là tiến lênCộng sản chủ nghĩa, vậy thì tại sao không đổi tên nước thành “Cộng hòa Cộng sản chủ nghĩa Việt Nam”? Nếu là mục tiêu trước mắt thì chỉ là “quá độ” hay “định hướng Xã hội chủ nghĩa”, vậy thì tại sao không đổi tên nước thành “Cộng hòa Quá độ Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” hay “Cộng hòa Định hướng Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”? Thực ra, mục tiêu hiện nay của giới cầm quyền chỉ đơn thuần là duy trì chế độ độc đảng bằng mọi cách. Vậy thì, nếu muốn “thể hiện rõ mục tiêu phấn đấu của Đảng”, tại sao không chọn quốc hiệu là “Cộng hòa Độc đảng Việt Nam” cho trung thực? Đặt các câu hỏi như vậy để thấy rõ hơn sự ngụy biện, khi vin vào mục tiêu phấn đấu để duy trì quốc hiệu hiện thời.

Mục tiêu càng cao xa thì càng có thể sai, có thể nhầm. Nếu muốn thì cứ việc âm thầm mà theo đuổi, như người lính ra trận giữ bí mật mục tiêu. Tại sao cứ phải bô bô, nói thay làm, rồi gán cái mục tiêu đã lộ rõ là vô vọng vào cả tên nước, tạo cớ trói buộc quyền tìm tòi, lựa chọn và khả năng sáng tạo của Nhân dân, cản trở bước tiến của Dân tộc?

Chủ nghĩa xã hội chỉ là mục tiêu phấn đấu của ĐCSVN, nhưng lại được gán bừa cho nguyện vọng của Nhân dân. Đó là một sự xúc phạm, thể hiện tập quán coi thường Nhân dân. Khi cuộc thử sức đã ngã ngũ trên phạm vi Thế giới, mà vẫn dai dẳng bám lấy ảo vọng “Xã hội chủ nghĩa” được cóp nhặt từ con tàu đã chìm nghỉm mang tên Liên Xô, thì chẳng thể hiện được lòng trung thành, mà chỉ chứng tỏ sự trì trệ, bảo thủ và khả năng nhận thức thời cuộc quá kém cỏi. Điều đó chỉ khiến Dân thêm xa và càng coi thường giới lãnh đạo, ảnh hưởng xấu tới hiệu quả điều hành của chính quyền.

Giờ đây, bao người sinh ra, lớn lên và được đào tạo trong chế độ này đã mất hẳn niềm tin vào Chủ nghĩa xã hội. Những người từng ở bên kia chiến tuyến và con em họ lại càng khó chia sẻ với lý tưởng “Xã hội chủ nghĩa”. Do đó, việc duy trì quốc hiệu hiện nay chỉ làm cho lòng người thêm li tán, gây cản trở cho quá trình hòa giải và hòa hợp Dân tộc.

Khi “Xã hội chủ nghĩa” đã trở nên tai tiếng, cả Thế giới chỉ có hai nước Việt Nam và Sri Lanka còn giữ tính từ ấy trong quốc hiệu, thì sự kiên định duy trì quốc hiệu hiện thời chỉ làm cho Đất nước thêm cô đơn trên trường quốc tế, và chứng tỏ rằng chính quyền này thuộc loại “khó hội nhập”.

Trong thuyết minh về ý kiến đề nghị lấy lại tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòaBáo cáo của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 11 tháng 4 năm 2013 viết rằng:

“Tên gọi này có khả năng lôi cuốn, tập hợp đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận chung trong xã hội, đồng thời thuận lợi hơn cho ta trong quan hệ hợp tác với các nước trên Thế giới, góp phần phát huy và tranh thủ được các nguồn lực trong công cuộc kiến thiết và phát triển đất nước.”

Đánh giá như vậy, trong mối so sánh với phương án tiếp tục duy trì tên nước là “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, thì có nghĩa là thừa nhận rằng quốc hiệu hiện thời không có những tác dụng ấy. Vậy thì, chiểu theo Tiêu chí 2, còn chần chừ gì nữa mà không chia tay với quốc hiệu “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, để “đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận chung trong xã hội”, để “thuận lợi hơn cho ta trong quan hệ hợp tác với các nước trên Thế giới”, và để “phát huy và tranh thủ được các nguồn lực trong công cuộc kiến thiết và phát triển đất nước”?

Cùng với sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống Xã hội chủ nghĩa, khái niệm “Xã hội chủ nghĩa” đã vương phải cái dớp đại bại. Đối với người Việt, từ “Xã hội chủ nghĩa” hay hiện hữu trong ký ức về những sai lầm của cuộc cải tạo tư sản ở miền Nam, về những năm tháng bế tắc và túng quẫn trước thời kỳ “đổi mới”, và đặc biệt hằn sâu trong tâm khảm của bao người đã bị cầm tù không án, vì từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, và những người đã phải mạo hiểm cả mạng sống để vượt biên đi tìm kiếm tự do. Mấy chục năm qua, từ “Xã hội chủ nghĩa” đã bị lạm dụng, để tô vẽ và biện hộ cho chế độ phi dân chủ, bị tham nhũng lộng hành từ trên xuống dưới. “Xã hội chủ nghĩa” bị gán cho một nền kinh tế lâm cảnh “cha chung không ai khóc”, với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc… phung phí của cải của Nhân dân và dìm Đất nước ngập sâu trong nợ nần. “Xã hội chủ nghĩa” vang lên như một lời nói dối trơ trẽn đối với bao số phận bị vùi dập bất công, quanh năm lang thang vật nài công lý… Vậy là bốn chữ “Xã hội chủ nghĩa” không còn tạo ra được hưng phấn cho những tâm hồn đã một thời tràn trề hy vọng, mà trở nên phản cảm đối với hàng triệu trái tim. Thế thì, theo Tiêu chí 3, tại sao không tránh nhắc tới nó trong quốc hiệu cho đỡ đau lòng?

Với những điều đã được trình bày ở trên, có lẽ đa số Nhân dân sẽ không chấp thuận gắn bó mãi với quốc hiệu hiện thời, tức là nó không thỏa mãn Tiêu chí 4. Nếu nhà cầm quyền muốn chứng minh điều ngược lại, thì phải tiến hành trưng cầu dân ý một cách thật sự dân chủ, thông qua hình thức bỏ phiếu kín, để người dân dám bầy tỏ chính kiến của mình, thay vì ép buộc họ phải điền hai chữ “đồng ý”, hay làm ngơ trước thực tế rồi kết luận bừa như mấy chục năm qua. Trước khi trưng cầu dân ý, giới lãnh đạo và bộ máy lý luận hãy ngồi lại với nhau, thảo luận cho ra nhẽ, để xác định rõ thứ “Xã hội chủ nghĩa” mà họ theo đuổi thực ra là cái gì. Chắc hẳn nó không thể là thứ “Xã hội chủ nghĩa quốc gia” (National SocialismNationalsozialismus), cái lý tưởng của tổ chức phát xít mang tên “Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa quốc gia Đức” (Nationalsozialistischen Deutschen Arbeiterpartei, mà người Việt quen gọi tắt là “Đức Quốc Xã”), đã gây bao tội ác ngút trời trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Liệu thứ mà họ theo đuổi có phải là kiểu “Xã hội chủ nghĩa” thuần túy lý thuyết của Marx và Engels, hay là kiểu “Xã hội chủ nghĩa” đã được hiện thực hóa bởi trường phái Lenin và Stalin? Tại sao càng phát triển theo định hướng “Xã hội chủ nghĩa” thì càng khác lạ so với nguyên mẫu? Xét cho cùng thì điều kiện kinh tế và xã hội Việt Nam có phù hợp với sản phẩm nhập ngoại ấy hay không? Cái gọi là “vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx – Lenin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam” chẳng qua là cố “gọt chân cho vừa giày”. Sư phụ có “chân vừa giày” mà còn phải“treo giày”, giữa đường bỏ cuộc, vậy thì đệ tử “gọt chân” có thể tập tễnh được bao lâu? Khi không còn ai thí thân đi trước làm hoa tiêu, thì kẻ mò mẫm cô đơn biết lẫm chẫm về đâu? Lấy đâu ra cái quyền để bắt cả Dân tộc phải lẽo đẽo đi theo trong cuộc tìm kiếm vô định, mịt mù tương lai? Bằng nào các nhà lý luận của ĐCSVN chưa tìm được câu trả lời thuyết phục cho chính bản thân mình, thì không nên đem câu hỏi lựa chọn hay không con đường “Xã hội chủ nghĩa” để đặt ra cho muôn dân, những người vốn chỉ lo làm ăn kiếm sống, chứ chẳng quan tâm đến chủ nghĩa này hay chủ nghĩa khác.

Vậy là quốc hiệu hiện thời vi phạm cả bốn tiêu chí đã đặt ra trong Phần 1. Cho nên, tốt nhất là sớm đổi quốc hiệu “cho lành”.

3.  Quốc hiệu đã qua

Vốn dĩ, trong cả hai phiên bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa XIII và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2 tháng 1 năm 2013, chỉ có một phương án duy nhất về tên nước, là tiếp tục duy trì quốc hiệu “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ấy là thể hiện sự “kiên trì những vấn đề có tính nguyên tắc, thuộc về bản chất của chế độ chính trị và Nhà nước ta, tiếp tục khẳng định Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, như phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN khóa XI.

Sau ba tháng lấy ý kiến Nhân dân, trong Báo cáo gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 11 tháng 4 năm 2013, Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã đề xuất thêm phương án thứ hai cho quốc hiệu là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“.Đây là một động thái tích cực, không chỉ thể hiện thái độ tiếp thu ý kiến Nhân dân của những người tham gia viết Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, mà còn chỉ ra rằng tên nước không phải là thứ bất di bất dịch, và mọi người đều có thể tham gia góp ý để thay đổi cho hợp lý.

Có dư luận cho rằng một trong những nơi đề nghị lấy quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992, do nhóm 72 người ký ngày 19 tháng 1 năm 2013, nên thường được gọi tắt là Kiến nghị 72. Đó là một sự nhầm lẫn, bởi vì Kiến nghị 72 không hề đề cập đến tên nước! Có lẽ nhầm lẫn ấy bắt nguồn từ việc hiểu sai rằng Dự thảo Hiến pháp 2013 là một bộ phận của Kiến nghị 72. Thực ra, hai văn bản này hoàn toàn độc lập với nhau, và việc kýKiến nghị 72 không có nghĩa là tán thành với nội dung của Dự thảo Hiến pháp 2013.*

Là một trong những người đầu tiên đặt bút ký tên vào Kiến nghị 72bản thân tôi không ủng hộ phương án lấy quốc hiệu “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mặc dù chia sẻ quan điểm cho rằng đó là một giải pháp khả thi để giới cầm quyền chấp nhận bỏ từ “Xã hội chủ nghĩa” ra khỏi quốc hiệu. Xét theo bốn tiêu chí đã trình bày ở Phần 1, lý do khiến tôi không tán thành lấy quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là như sau:

Thứ nhất, hiện nay và cả trong thời gian tới xã hội này vẫn chưa có dân chủ, vì giới cầm quyền chưa sẵn sàng chấp nhận quyền dân chủ của Nhân dân, trong khi đa số người dân cũng chưa quen thực hiện và bảo vệ quyền dân chủ. Tức là phương án Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chứa đựng yếu tố giả dối, trái ngược với thực trạng của Đất nước. Vậy là vi phạm Tiêu chí 1. Vả lại, kể cả khi xã hội đã thực sự có dân chủ, thì cũng chẳng cần phải khoe khoang, mà nên chọn quốc hiệu khiêm tốn như các nước dân chủ hàng đầu Thế giới.

Thứ hai, nếu dùng tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“ để đặt cho nước Việt Nam thống nhất, thì hàng triệu người đã từng gắn bó với chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam sẽ cảm thấy mình không được tôn trọng. Điều đó sẽ ảnh hưởng xấu cho quá trình hòa giải và hòa hợp Dân tộc. Hơn nữa, nếu sử dụng tên trùng thì nước Việt Nam thống nhất có thể sẽ phải gánh chịu hậu quả xấu của những ký kết hay cam kết ngoại giao mà lãnh đạo của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòađã tiến hành trong hoàn cảnh bị lệ thuộc thời chiến tranh. Như vậy, quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ gây ảnh hưởng xấu cho lợi ích của Dân tộc, của Nhân dân, tức là vi phạm Tiêu chí 2.

Thứ ba, quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gợi lại những sai lầm của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, mà cho đến nay các nạn nhân vẫn chưa được xin lỗi và bồi thường một cách thỏa đáng. Nó cũng gợi lại những đau thương và mất mát mà nhiều gia đình miền Nam đã từng phải hứng chịu trong cuộc chiến “nồi da nấu thịt”. Đối với những nạn nhân như vậy, quốc hiệu này đã trở nên phản cảm. Vậy là vi phạm Tiêu chí 3.

Thứ tư, vì những lý do kể trên, quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khó có thể được đa số người dân chấp thuận.Vậy là có thể vi phạm cả Tiêu chí 4.

Khi đã phải tránh quốc hiệu một thời của quốc gia phía bắc, thì cũng khó mà chấp nhận quốc hiệu của quốc gia ở phía nam vĩ tuyến 17. Quốc hiệu Việt Nam Cộng hòa tuy không vi phạm Tiêu chí 1 (vì không chứa từ nào trái ngược với thực trạng Đất nước), nhưng lại vi phạm Tiêu chí 2 (vì cũng gây bất lợi cho hòa hợp Dân tộc), Tiêu chí 3 (vì gây phản cảm với những nạn nhân của chế độ Việt Nam Cộng hòa) và Tiêu chí 4 (vì chắc nó không được giới cầm quyền và một bộ phận Nhân dân thuộc “bên thắng cuộc” chấp nhận). Vì vậy cũng không thể chọn Việt Nam Cộng hòa làm tên nước Việt Nam thống nhất.

Có ý kiến đề nghị lấy lại tên Đại Việt. Đó là quốc hiệu của nước ta hơn 700 năm, trong khi tên nước “Việt Nam” mới có từ năm 1804. Tuy nhiên, tên xưng “tự đại” đó có thể gây phản cảm trong quan hệ quốc tế, và việc chọn tên Đại Việt đầy tự hào giữa thời buổi khủng hoảng trầm trọng về chính trị, kinh tế và xã hội dễ gây ra cảm giác khôi hài trong cộng đồng người Việt. Nó cũng tạo thêm duyên cớ để bên “Đại Bá” lên án chúng ta là “Tiểu Bá”. Do đó, theo Tiêu chí 3, không nên lấy lại tên Đại Việt.

4.  Quốc hiệu thay thế

Trong hai phần trên, ta đã đi đến kết luận là không nên dùng lại mấy quốc hiệu đã hoặc đang được sử dụng ở nước ta. Vậy thì chọn quốc hiệu nào? Hãy cùng nhau tham khảo danh sách tên (tiếng Anh) của các quốc gia trên Thế giới để tìm lời gợi ý.

Trong số 206 nhà nước có chủ quyền được thống kê, thì có 153 nước (chiếm 74%) đưa danh từ (chỉ thể chế) “Cộng hòa” (Republic) hay “Vương quốc” (Kingdom) vào quốc hiệu. Trong số 136 quốc hiệu có danh từ “Cộng hòa”, thì 107 (chiếm 79%) chỉ kèm thêm địa danh, ví dụ như Cộng hòa ÁoCộng hòa Ấn ĐộCộng hòa PhápCộng hòa Italia. Nếu noi theo đa số này, ta có thể chọn quốc hiệu là “Cộng hòa Việt Nam”. Phương án này ngắn gọn, giản dị, hòa nhập và không chứa khái niệm nào trái với thực trạng đất nước (tức là thỏa mãn Tiêu chí 1). Nhưng phải chăng “Cộng hòa Việt Nam” chỉ là cách viết ngược của quốc hiệu Việt Nam Cộng hòa? Băn khoăn này được củng cố khi dịch “Cộng hòa Việt Nam” ra các ngoại ngữ thông dụng, chẳng hạn như tiếng Anh hay tiếng Đức, và thu được Republic of Vietnam hay Republik Vietnam – đó chính là quốc hiệu (tiếng Anh hay tiếng Đức) của Việt Nam Cộng hòa. Nếu quả như vậy thì không nên chọn quốc hiệu “Cộng hòa Việt Nam”, vì những lý do như đã trình bày ở Phần 3 đối với quốc hiệu Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, có thể tránh yếu tố nhạy cảm do lịch sử để lại, nếu phân biệt giữa danh từ và tính từ. Trong số 107 quốc hiệu được tạo bởi danh từ “Cộng hòa” đi kèm với địa danh, thì 94 trường hợp (chiếm 88%) có địa danh xuất hiện với tư cáchdanh từ, ví dụ như Republic of Austria (Cộng hòa Áo), Republic of India (Cộng hòa Ấn Độ), và 13 trường hợp (chiếm 12%) có địa danh xuất hiện với tư cách tính từ, ví dụ như Argentine Republic (Cộng hòa Argentina), Czech Republic(Cộng hòa Séc), French Republic (Cộng hòa Pháp)Hellenic Republic (Cộng hòa Hy Lạp), Italian Republic (Cộng hòa Italia)Portuguese Republic (Cộng hòa Bồ Đào Nha). Như vậy, nếu coi “Việt Nam” là danh từ, thì tên tiếng Anh của “Cộng hòa Việt Nam” mới là Republic of Vietnam. Còn nếu coi “Việt Nam” là tính từ (thuộc về Việt Nam), thì tên tiếng Anh của“Cộng hòa Việt Nam” sẽ là “Vietnamese Republic”, không còn bị trùng với Republic of Vietnam, và đây là một phương án có thể chấp nhận được.
Nếu không hài lòng với phương án vừa rồi, mà vẫn muốn ghép danh từ “Cộng hòa” với danh từ ”Việt Nam”, thì phải bổ sung thêm vào đó một vài từ. Tất nhiên, không thể thêm những từ không phù hợp với hoàn cảnh của nước ta, như“Federal” (thuộc về liên bang), hay “Islamic” (thuộc về Islam), và cần chừa ra tính từ “Socialist” (Xã hội chủ nghĩa) mà ta đã xác định là nên chia tay với nó. Vậy thì, trong kho từ vựng của 206 quốc hiệu đang được sử dụng, chỉ còn lại danh từ“People” (Nhân dân) và hai tính từ “Democratic” (Dân chủ), “United” (Thống nhất, Liên hiệp, Hợp nhất…) là thích hợp.

Nếu gia nhập cái gia đình gồm 5 quốc hiệu chứa danh từ “People” (Nhân dân), bao gồm AlgérieBangladeshLàoTriều Tiên và Trung Quốc, thì quốc hiệu ngắn nhất của nước ta sẽ là “Cộng hòa Nhân dân Việt Nam” (People’s Republic of Vietnam). Phương án này vi phạm Tiêu chí 1, vì Nhà nước này quá xa Nhân dân, chưa phải là “của Nhân dân”, nên nếu nói “Cộng hòa (của) Nhân dân” (People’s Republic) là trái với thực trạng Đất nước. Nó cũng vi phạm Tiêu chí 3, vì bằng nào Nhân dân ta còn bị ức chế triền miên bởi cách cư xử của láng giềng phương bắc, thì bằng ấy tên gọi “Cộng hòa Nhân dân Việt Nam” còn gây phản cảm. Thậm chí, có thể nhiều người sẽ coi việc lựa chọn quốc hiệu này như một biểu hiện của sự theo đuôi ngoại bang để gây phương hại cho lợi ích của Dân tộc.

Nếu gia nhập cái quần thể của 10 quốc hiệu chứa tính từ “Democratic” (Dân chủ), bao gồm AlgérieCộng hòa Dân chủ CongoĐông TimorEthiopiaLàoNepalSão Tomé và PríncipeCộng hòa Dân chủ Sahrawi Ả RậpSri Lanka và Triều Tiên, thì quốc hiệu ngắn nhất của nước ta sẽ là “Cộng hòa Dân chủ Việt Nam”. Khi “Việt Nam” là danh từ, thì “Cộng hòa Dân chủ Việt Nam” chỉ là cách viết giao hoán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và nếu dịch ra tiếng Anh, thì kết quả của hai cách viết hoàn toàn trùng nhau: Democratic Republic of Vietnam. Kể cả khi coi “Việt Nam” là tính từ, để có tên tiếng Anh khác đi là “Vietnamese Democratic Republic”, thì phương án biến báo này vẫn vi phạm Tiêu chí 1, bởi vì trong thời gian tới xã hội ta vẫn chưa có dân chủ, nên từ “Dân chủ” trái với thực trạng của Đất nước.

Ở trên, tôi đã cố ý chép ra đầy đủ danh sách của 5 quốc gia có danh từ “Nhân dân” và 10 quốc gia có tính từ “Dân chủ”trong quốc hiệu. Tại sao? Để bạn đọc có thể dễ dàng kiểm nghiệm điều đã được viết trong Phần 1: Những quốc gia mẫu mực về dân chủ và Nhà nước thực sự là của Nhân dân thì trong quốc hiệu không có hai từ “Dân chủ” và “Nhân dân”. Ngược lại, ở nhiều quốc gia mà tính từ “Dân chủ” hay danh từ “Nhân dân” được gán vào quốc hiệu, thì dân chủ hay bị chà đạp và Nhân dân hay bị coi thường. Nếu đã ngộ ra điều đó, thì chắc không mấy ai còn cảm thấy tự hào khi thấy hai từ“Dân chủ” và “Nhân dân” xuất hiện trong quốc hiệu của nước mình.

Có 5 quốc hiệu chứa tính từ “United”, đó là: United Arab Emirates (Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất), United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland (Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland), United Mexican States (Liên bang Mexico), United Republic of Tanzania (Cộng hòa Thống nhất Tanzania) và United States of America (Hợp chúng quốc Hoa Kỳ). Nếu gia nhập gia đình này, hẳn ta sẽ không phải thấy xấu hổ vì các quốc gia “cùng hội cùng thuyền”. Lúc đó, quốc hiệu tiếng Anh của ta sẽ là “United Republic of Vietnam”, và quốc hiệu tiếng Việt sẽ là “Cộng hòa Thống nhất Việt Nam”. Rõ ràng là phương án này thỏa mãn Tiêu chí 1, vì Đất nước đã thống nhất. Nó thỏa mãn Tiêu chí 2, vì không gây ảnh hưởng bất lợi cho lợi ích của Dân tộc, của Nhân dân. Nó cũng thỏa mãn cả Tiêu chí 3, vì nó không chứa yếu tố nào gây phản cảm. Vì vậy, có thể hy vọng rằng nó sẽ được Nhân dân chấp thuận, tức là thỏa mãn Tiêu chí 4. Có thể bây giờ một số người không thích quốc hiệu “Cộng hòa Thống nhất Việt Nam”, nhưng nếu nó được chọn ngay sau khi thống nhất Đất nước vào năm 1976 thì có lẽ đã được đa số Nhân dân tán thành, và bây giờ cũng không cần phải bàn chuyện thay đổi tên nước.

Để xét hết mọi trường hợp, cần nhắc tới tính từ “Co-operative” (Hợp tác) được ghép với danh từ “Republic” (Cộng hòa), đó là trường hợp của Co-operative Republic of Guyana (Cộng hoà Hợp tác Guyana). Phương án này cũng tương tự nhưtính từ “United”, nhưng không hay bằng.
Bây giờ ta xét đến các trường hợp quốc hiệu không chứa danh từ (chỉ thể chế) “Cộng hòa” (Republic) hay “Vương quốc”(Kingdom). Trong số này, nhóm đông đảo nhất là 25 quốc gia  có quốc hiệu chỉ bao gồm địa danh, không kèm theo danh từ hay tính từ nào nữa (chiếm 12% của 206 quốc gia được thống kê). Mấy nước tiêu biểu thuộc nhóm này là Canada,HungaryJapan (Nhật Bản), Malaysia  Ukraine (Ukraina). Hiển nhiên, ta cũng có thể chọn phương án đơn giản như vậy, nghĩa là chọn quốc hiệu “Việt Nam”. Rõ ràng là quốc hiệu này thỏa mãn cả bốn tiêu chí được đề ra ở Phần 1.

Có 14 quốc hiệu chứa danh từ “State” (Nhà nước). Trong đó, có 3 trường hợp chữ “States” (được dùng ở dạng số nhiều) đi với tính từ “United” hay “Federated”, để tạo thành nghĩa “Liên bang” hay “Hợp chúng quốc”. Trong các trường hợp còn lại, chữ “State” (được dùng ở dạng số ít) thể hiện nghĩa “Nhà nước”, ví dụ như State of Israel (Nhà nước Do Thái), State of Kuwait (Nhà nước Kuwait) và State of Libya (Nhà nước Libya). Theo cách này, ta có thể đặt quốc hiệu là“Nhà nước Việt Nam” (State of Vietnam). Tiếc rằng, ở nước ta giới cầm quyền đã quen với quan niệm cho rằng ĐCSVN đứng trên tất thảy, trên cả Tổ quốc và Nhân dân, và coi Nhà nước này thuộc về ĐCSVN, là cấp dưới của ĐCSVN. Cho nên, nếu chọn quốc hiệu – với tư cách là tên của Nước – là “Nhà nước Việt Nam”, thì họ dễ đồng nghĩa “Nước Việt Nam”với “Nhà nước Việt Nam”, và vì thế coi “Nước Việt Nam” cũng là của ĐCSVN… Ngộ nhận kiểu ấy sẽ gia tăng mức độ lộng quyền, chắc chắn không có lợi cho Dân tộc, cho Nhân dân. Nghĩa là phương án này không phù hợp với Tiêu chí 2.

Có hai quốc hiệu dùng tính từ “Độc lập” (Independent) phối hợp với danh từ “Nhà nước” (State), đó là Nhà nước Độc lập Papua New Guinea” (Independent State of Papua New Guinea) và Nhà nước Độc lập Samoa” (Independent State of Samoa). Mặc dù ta đã xác định là không nên đưa danh từ “Nhà nước” vào quốc hiệu nước nhà, nhưng vẫn nẩy sinh câu hỏi là: Có nên phối hợp tính từ “Độc lập” (Independent) với danh từ “Cộng hòa” (Republic) để tạo ra quốc hiệu “Cộng hòa Độc lập Việt Nam” (Independent Republic of Vietnam) hay không? Câu trả lời là không! Một mặt, việc đưa tính từ “Độc lập” vào quốc hiệu thể hiện sự tự ti hơn là tự tin. Mặt khác, sự nhún nhường của giới lãnh đạo trước những hành động lấn át triền miên của nhà cầm quyền Trung Quốc khiến dư luận hay phải đặt câu hỏi về tính độc lập của Nhà nước Việt Nam. Cho nên, tính từ “Độc lập” có thể trở thành phản cảm, tức là vi phạm Tiêu chí 3.

Như vậy, ta đã rà xét hết danh sách 206 quốc hiệu đang được sử dụng và lọc ra được ba phương án cho quốc hiệu nước nhà. Tất nhiên, có thể dùng cả một số danh từ và tính từ không xuất hiện trong 206 quốc hiệu đã xét để tạo thêm những phương án mới. Nhưng điều đó là không cần thiết và cũng không nên, bởi từ nào mà các chính trị gia của 206 nước trên Thế giới không lựa chọn thì ta cũng không nên dùng. Không nên đem cả quốc hiệu ra làm thí nghiệm, vì Dân ta đã quá khổ vì các cuộc thí nghiệm rồi.
*
*      *
Tóm lại, theo tôi thì quốc hiệu cần thỏa mãn bốn tiêu chuẩn tối thiểu sau đây:

-       Tiêu chí 1: Quốc hiệu không được chứa đựng những khái niệm trái ngược với thực trạng của Đất nước.

-       Tiêu chí 2: Quốc hiệu không được gây ảnh hưởng xấu cho lợi ích của Dân tộc, của Nhân dân, đặc biệt là không được gây cản trở cho quá trình hòa giải và hòa hợp Dân tộc.

-       Tiêu chí 3: Quốc hiệu cần tránh gây phản cảm.

-       Tiêu chí 4: Quốc hiệu cần được Nhân dân chấp thuận.

Khi đã tán thành như vậy, thì hai hệ quả tất yếu là:

-       Cần sớm chia tay với quốc hiệu Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam“.

-       Không lấy lại các quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòaViệt Nam Cộng hòa và Đại Việt.

Dựa trên vốn từ và các cấu trúc ngữ pháp được sử dụng trong 206 quốc hiệu trên Thế giới, ta chỉ chọn được ba phương án quốc hiệu sau đây phù hợp với ba tiêu chí đầu và có thể thỏa mãn cả Tiêu chí 4:

-       Phương án 1: Việt Nam (tên tiếng Anh: Vietnam).

-       Phương án 2: Cộng hòa Việt Nam (tên tiếng Anh: Vietnamese Republic).

-       Phương án 3: Cộng hòa Thống nhất Việt Nam (tên tiếng Anh: United Republic of Vietnam).

Phương án 1 chỉ sử dụng địa danh “Việt Nam” làm quốc hiệu, giống như 25 nước khác (chiếm 12% quốc hiệu trên Thế giới). Phương án này ngắn gọn, giản dị và dễ được mọi người chấp nhận, vì nó không chứa bất cứ yếu tố nào khiến người ta phải tranh luận hay phản đối.

Phương án 2 chỉ ghép danh từ “Cộng hòa” (Republic) với địa danh “Việt Nam” để tạo ra quốc hiệu, giống như 107 nước khác (chiếm 52% quốc hiệu trên Thế giới). Để tránh ấn tượng cho rằng “Cộng hòa Việt Nam” chỉ là cách viết ngược củaViệt Nam Cộng hòa, cần xác định rằng hai quốc hiệu này khác nhau cả về thứ tự sắp xếp từ và cả về ngữ pháp: Từ“Việt Nam” trong “Cộng hòa Việt Nam” là tính từ, trong khi từ “Việt Nam” trong Việt Nam Cộng hòa là danh từ. Do đó, tên tiếng Anh của “Cộng hòa Việt Nam” là “Vietnamese Republic”, trong khi tên tiếng Anh của Việt Nam Cộng hòa làRepublic of Vietnam. Cách vận dụng ngữ pháp như vậy không phải là bất thường, vì trong số 107 quốc hiệu được ghép bởi danh từ “Cộng hòa” và địa danh, có 13 trường hợp mà địa danh là tính từ (giống như “Vietnamese”).

Phương án 3 sử dụng tính từ “Thống nhất” để tạo ra một quốc hiệu có chứa hai danh từ “Cộng hòa” và “Việt Nam”, nhưng không trùng với hai quốc hiệu đã tồn tại ở hai miền Tổ quốc là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“ và Việt Nam Cộng hòa. Tính từ “Thống nhất” không trái ngược với thực trạng, vì nước ta đã thống nhất. Tiếc rằng, đó mới chỉ là thống nhất theo nghĩa thông thường, tạm gọi là thống nhất về mặt vật chất, vì non sông tuy đã liền một dải, chịu sự quản lý của cùng một chính quyền, nhưng lòng người vẫn chia lìa trăm mối. Quốc hiệu “Cộng hòa Thống nhất Việt Nam” có thể là một lờinhắc nhở, thúc dục mọi người nỗ lực phấn đấu cho mục tiêu hòa giải và hòa hợp Dân tộc, để sớm thống nhất Tổ quốc cả về mặt tinh thần.

Vậy thì nên lựa chọn quốc hiệu nào để thay thế quốc hiệu hiện thời? Mỗi người đều có thể đề xuất và trao đổi ý kiến của mình. Nhưng quyền quyết định cuối cùng thuộc về tập thể Nhân dân, thông qua biểu quyết dân chủ, để đảm bảo rằng quốc hiệu thực sự được Nhân dân chấp thuận (Tiêu chí 4). Khi đã khẳng định rằng Nhà nước này là của Nhân dân, thì không ai, không một nhóm người nào có quyền đơn phương quyết định thay cho Nhân dân.

Hy vọng rằng những lý lẽ và tư liệu được trình bày trong bài viết này sẽ có ích cho mọi người trong quá trình tham gia thảo luận và lựa chọn cho nước nhà một quốc hiệu hợp lý, đáp ứng yêu cầu tối thiểu là: Quốc hiệu phải hội tụ lòng Dân!

© Hoàng Xuân Phú

Hà Nội, ngày 05-17/05/2013



Chú thích

*  Phần cuối của Kiến nghị 72 viết:

“Vì vậy chúng tôi kiến nghị gia hạn thời gian lấy ý kiến của nhân dân đến hết năm 2013, đồng thời khuyến khích đề xuất các dự thảo khác để Quốc hội, Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp cùng toàn thể đồng bào tham khảo, so sánh, thảo luận nhằm xây dựng một bản hiến pháp phù hợp nhất cho quốc gia.”

Để minh họa cho ý “khuyến khích đề xuất các dự thảo khác”Kiến nghị 72 có thêm chú thích như sau:

“Theo tinh thần đó, một số chuyên gia luật ở trong nước đã soạn một dự thảo hiến pháp được gửi kèm Kiến nghị này như một tài liệu để tham khảo và thảo luận.”

Nghĩa là Dự thảo Hiến pháp 2013 được gửi kèm “như một tài liệu để tham khảo và thảo luận”, chứ nó không phải là một bộ phận cấu thành của Kiến nghị 72.


Theo blog Hoàng Xuân Phú


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Hoàng Đức Doanh - Điếc, điếc, điếc ...


Điếc, điếc, điếc ...

Mặc cho dân kiện quanh năm,
Tả tơi, nheo nhóc ăn nằm vườn hoa.
Mặc cho dân chúng rầy la,
Dàn chào đại biểu đi qua hàng ngày.
Mặc cho nguyên cáo truyền tay,
Những trò tham nhũng cách này, cách kia.
Mặc ông chủ tịch ăn chia,
Cùng là phe nhóm đang chìa mặt đây.
Mặc cho đơn nối thành dây,
Thanh tra, tòa án chất đầy kho lưu.
Mặc cho cứ đến quá chiều,
Cổng nhà quan lớn rất nhiều dân oan.
Mặc cho luật pháp cứ ban,
Ban ra, sửa lại vô can mọi bề.
Hàng năm từ khắp miền quê,
Có hai kỳ họp tụ về thủ đô.
Nghị trường rất mực quy mô,
Biểu trưng thể chế, tiền đồ quốc gia.
Tôn vinh vị thế nước nhà,
Kỷ cương luật pháp theo đà văn minh.
Vì sao dân chúng bất bình,
Tại sao dân lại biểu tình tới lui ?
Vì sao dân bị rập vùi,
Tại sao chà đạp dùi cui, vòi rồng ?
Vì sao dân kiện càng đông,
Tại sao lại đánh hội đồng người ngay ?
Sự tình rõ tựa ban ngày,
Hỏi đâu các vị là đày tớ dân ?
Các vị còn đức, còn nhân,
Còn tai, còn mắt, còn phần hữu tri ?
Lương tâm các vị còn gì ?
Hay là điếc hết, thôi thì mặc dân !

© Hoàng Đức Doanh
    Hà Nội, 19-05-2013

Tác giả gửi trực tiếp đến VANGANH.INFO


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Đất Nước Cần Ta Ba Lô

“Tôi không biết những gì sẽ chờ đợi ở cuối đường, nhưng tôi sẽ đến với nụ cười trên môi” - Herman Melville (Moby-Dick)

Phải ra khỏi thiên đường

Trong những chuyến du hành liên lục địa, du khách người Úc chiếm số khá đông so với dân số khiêm tốn của xứ này, khoảng 23 triệu. Tôi tìm ra nguyên nhân khi qua Úc học hậu đại học vào năm 2002. Tại Tweed Heads và Coolangatta nơi trường Southern Cross tọa lạc, tôi tìm thấy một thiên đường tuyệt vời mà thiên nhiên đã ban phúc và con người đã trân trọng. Biển xanh trong ngây ngất, không khí không một hạt bụi, khí hậu ấm áp, cảnh quan và kiến trúc hài hòa, không nhiều chênh lệch giữa giàu nghèo dù mức sống cao, tốn kém. Tuy nhiên, mỗi tuần, tôi háo hức chờ đến Thứ Sáu để bay về Hồng Kông... vì thiên đường Úc buồn không thể tả.

Có lẽ vì vậy, người Úc nào, dù già trẻ lớn bé, nam nữ hay đồng tính, đều thích du lịch thế giới mỗi khi có dịp, hay tìm một việc làm, một cô vợ hay một tấm chồng…ở một nơi nào khác. Họ sẵn sàng ra biển lớn để tìm cảm giác lạ, kiến thức mở, kinh nghiệm mới cho cuộc sống hay sự nghiệp của mình. Với tư duy này, có thể nói người Úc có chỉ số IQ hay EQ hay AQ rất tốt.

Nếu so sánh, tôi nghĩ sự sáng tạo trong nền kinh tế IT của 23 triệu dân Úc chắc phải hơn những thành quả thu nhặt của 1.2 tỷ dân Trung Quốc. Chỉ nhìn sĩ số sinh viên Tàu tại các đại học Úc chúng ta có thể mường tượng một nghịch lý nào đó về “sự thông minh của đám đông”. Nếu người Tàu hãnh diện về 5 ngàn năm văn hóa, họ sẽ nghĩ thế nào khi nhận biết rằng 200 năm trước, những tổ tiên sáng lập ra nước Úc là những tên tội phạm nguy hiểm bị Anh đầy qua một hòn đảo ngoài thế giới nơi chỉ có rừng thiêng nước độc?

Sự việc cũng cho ta chút hy vọng là nếu những tên đầu trộm đuôi cướp này có thể tạo nên một thế giới văn minh cho con cháu; thì bầy vượn của những khu rừng khác trên thế giới cũng có thể vượt qua chính mình để có được những Planet of the Apes thần kỳ trong phim ảnh?

Bài học của các anh chị Tây Ba Lô

Quay lại Saigon, mỗi khi đi ngang khu Phạm Ngủ Lão, Đề Thám…tôi nhìn các anh chị Tây Ba Lô với nhiều thán phục và hoài niệm. Họ là hình ảnh của Alan thời 60’s, vai nặng ba lô đầy đồ đạc, quần áo rẻ tiền, túi không bao giờ có nhiều hơn 50 đô, lang thang trên mọi nẻo đường của Âu Châu, thường không biết hôm nay sẽ ăn gì và ngủ ở đâu. Luôn an ủi mình bằng câu “tùy cơ ứng biến” và “trời sinh Alan sẽ sinh ra bánh mì”.

Những cuộc phiêu lưu vô định… đôi khi ngu xuẩn này đương nhiên cũng gây nhiều ngạc nhiên khó chịu và bực bội…vì Murphy có câu thành ngữ là nếu có gì sai trái, nó sẽ hiện thực và luôn luôn là vào thời điểm bất ngờ nhất. Tôi không quên lần tán tỉnh được 2 cô nàng ở Barcelona, nghĩ là tối nay sẽ có cuộc tình tay ba tuyệt diệu. Nào ngờ, nửa đêm, bị trói thúc ké trên chiếc ghế gỗ trong căn phòng khách sạn tồi tàn. Hai cô “người tình” lý tưởng thì đã biến mất với tiền bạc và quần áo của mình. Hay lần chiếc xe buýt cũ kỹ rơi xuống hố gần Qito (Ecuador). May mà chỉ bị thương nhẹ.

Nhưng những chuyến đi này là những kho tàng khi từ tương lai nhìn lại…chúng mở mang trí tuệ (một ngày đàng học một sàng khôn), chúng tăng lực tự tin cho tinh thần, và chúng giúp chúng ta có một tầm nhìn chính xác hơn về cái hư vô và nghiệp chướng của con người.

Tôi không biết là giữa những mảnh bằng đại học và những chuyến đi…cái nào đã thực sự đóng góp nhiều hơn trong quá trình làm người của mình.

Một đội ngũ… Ta Ba Lô

Trong cuộc hội thảo gần đây tại một trường đại học, tôi đã ngạc nhiên khi thấy quá ít sinh viên Việt có hộ chiếu và đã từng xuất ngoại. Tôi tin là hơn nửa số sinh viên có mặt hôm đó chắc có nhiều tiền hơn phần lớn các Tây Ba Lô tại Saigon. Điều họ thiếu sót lớn nhất là “ước muốn” và “can đảm”. Tiền tiêu cho những giờ chém gió và lảm nhảm tại các quán cà phê và các quán nhậu có thể nhiều hơn tiền tiêu mỗi ngày tại Thái Lan hay Myanmar. Vé máy bay đi nhiều nơi ở Asean rẻ hơn vé máy bay đi Hà Nội hay Đà Nẵng. Một chân làm bếp hay dọn dẹp trên một con tầu cho bạn một chuyến đi miễn phí qua Âu, Úc hay Mỹ. Phần lớn các bạn trẻ Việt ngày nay thông minh, sáng tạo và nếu biết tìm tòi trên mạng, sẽ tìm ra cả trăm cách thức để làm…Ta Ba Lô.

20 năm trước, tôi khó tìm ra một du khách từ Trung Quốc, Việt Nam hay Liên Xô. Hộ chiếu để xuất ngoại là một ân huệ và quyền lợi của các con ông cháu cha. Bây giờ, thì khắp thế giới, đâu cũng có dấu ấn của các công dân XHCN này. Tuy nhiên, phần lớn du khách thuộc hai loại: các tư bản đỏ với những tiêu xài hàng hiệu và khoe khoang thật “sốc” với dân địa phương và các ông bà già chắt chiu tiền tiết kiệm qua những tours rẻ tiền, bầy đàn, sợ sệt và thích phóng uế bừa bãi. Rất ít du khách là những…ta ba lô muốn đi tìm một kiến thức và kinh nghiệm về thế giới bên ngoài. Tôi chắc chắn là chúng hào hứng và quý giá hơn các lớp học Mác Lê buồn tè, nhìn qua lăng kính của những ông già gần đất xa trời.

Đòi hỏi của nền kinh tế kiến thức

Sự va chạm với thực tại, đôi khi khá đắng cay và tủi nhục, sẽ làm con người Việt trong bạn thức tỉnh: từ những bản lĩnh đáng tự hào đến những thói quen nhiều ngu muội. Tôi vẫn nghĩ cách duy nhất để thể hiện lòng yêu nước và đóng góp tích cực vào định mệnh tương lai của xã hội là thể hiện sự thăng hoa, tiến bộ hàng ngày của cá nhân mình. Chúng ta cần đổi mới, nhưng hãy đổi mới chính con người nội tại trước đã.

Hành trình dài cần những bước nhỏ đầu tiên. Hãy hứa với mình là sẽ đi xin một hộ chiếu ngày mai và suy nghĩ ra cách đi chơi Kampuchia hay Lào hay Thái Lan …trong tháng tới. Đơn giản thế thôi.

Hãy ra biển lớn… nhìn, nghe và suy nghĩ. Một lúc nào đó, mình sẽ biết làm gì với con người mới của mình…

Hãy nghe Eleanor Roosevelt thì thầm ”... Mục tiêu của đời sống là hãy sống, hãy tận hưởng kinh nghiệm, hãy lên đường tìm những phiêu lưu mới, hăng hái và không sợ sệt”….


© T/S Alan Phan
Theo blog Góc nhìn Alan


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Bất đồng là biểu hiện của lòng yêu nước

Lịch sử Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua cho thấy chế độ nào cũng có người bất đồng với chính sách của lãnh đạo. Nhưng cách nhà cầm quyền đối xử với thành phần đối lập nhiều khi rất thô bạo, thiếu tính văn minh và dân chủ.

Việt Nam cần một hiến pháp mới thể hiện nguyện
vọng toàn dân và hợp với xu thế dân chủ thời đại
Dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngoài Bắc có vụ án Nhân văn Giai phẩm trên mặt trận văn hoá, chính trị; có nông dân nổi loạn chống chính quyền qua Quỳnh Lưu Khởi nghĩa, có Vụ án Xét lại. Nhiều người phải đổ máu khi phản đối chính sách cải cách ruộng đất, nhiều văn nghệ sĩ bị trù dập, giam tù vì có suy nghĩ khác hơn tư tưởng chính thống của Đảng Cộng sản dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Chí Thiện, Vũ Đình Huỳnh đã phải vào tù vì bất đồng với nhà nước.

Thời Việt Nam Cộng hoà, trong Nam có nổi loạn Bình Xuyên, có vụ án trí thức Caravelle, có nhà văn Nhất Linh bị giam khiến ông uất ức tự tử trong tù và Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu cạo đầu, từ chức để phản đối chính sách của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Những năm cuối thập niên 1960 và đầu 1970 có Ngô Kha, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Nguyễn Công Khế, Ngô Lập, Tiêu Dao Bảo Cự và nhiều người khác đã mất mạng hay bị giam tù vì bất đồng với cách cai trị của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975, dưới chế độ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cũng có phản kháng bằng bạo lực, như vụ án Vinh Sơn, vụ án hồ con rùa.

Trong khi đó, những phát biểu bất đồng dù trong ôn hoà cũng được nhà nước đáp lại bằng xách nhiễu hay án tù. Thập niên 1990 có tiếng nói của Đoàn Viết Hoạt, Dương Thu Hương, Trần Xuân Bách, Phan Đình Diệu, Nguyễn Thanh Giang, Trần Độ, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Độ, Tiêu Dao Bảo Cự, Hà Sĩ Phu v.v…

Kế tiếp là Lê Quốc Quân, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Đài, Lê Công Định, Phạm Hồng Sơn, Điếu cày Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Tiến Trung, Tạ Phong Tần, Hồ Thị Bích Khương, Đỗ Thị Minh Hạnh v.v… cũng đã phải đối diện với những án tù nhiều năm vì lên tiếng đòi các quyền căn bản cho dân, vì có quan điểm bất đồng với nhà nước.

Khi đất nước còn chia đôi, Đảng Cộng sản với quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước nên mọi tiếng nói đối lập đều bị dập tắt ở miền Bắc.

Tại miền Nam, tuy nhiều thành phần chống chính quyền được hoạt động công khai nhưng không được ủng hộ hay tuyên truyền cho cộng sản. Ai hoạt động cho cộng sản thường bị an ninh theo dõi và nhiều người đã bị bắt, bị giam tù nhiều năm ở Tam Hiệp, Chí Hoà, Côn Sơn, Phú Quốc.

Điều 4 của Hiến pháp Đệ Nhị Cộng hoà ban hành ngày 1-4-1967 ghi:

“Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức. Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ.”

Điều này loại bỏ sự tham dự của thành phần cộng sản vào sinh hoạt chính trị miền Nam lúc bấy giờ. Tuy nhiên, những người ủng hộ cộng sản đã nhân danh quyền tự do phát biểu, hội họp, tự do báo chí ghi trong hiến pháp để xuống đường, để công khai đòi hỏi các quyền căn bản trên các phương tiện truyền thông.

Các vụ án gọi là “tuyên truyền cho cộng sản” hay “làm phương hại đến an ninh quốc gia” của sinh viên, của ký giả đã khiến chánh án khó xử vì họ chỉ tố cáo tham nhũng trong chính quyền, kêu gọi hoà hợp hoà giải, đòi quyền dân tộc tự quyết, đòi chấm dứt chiến tranh. Tạp chí Đối Diện của linh mục Chân Tín, các nhật báo Sóng Thần, Điện Tín, Đại Dân Tộc đã phải ra toà nhiều lần.

Sau ngày đất nước thống nhất, Hiến Pháp Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 1980 và 1992, lại cũng có Điều 4, nhưng mang một giá trị pháp lý ngược hẳn với Điều 4 của Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà.

Điều 4 Hiến pháp 1992 ghi:

“Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Điều này mặc nhiên loại bỏ sự đóng góp vào tiến trình xây dựng đất nước của những thành phần cộng đồng quốc gia, chiếm đại đa số trong dân không phải là đảng viên cộng sản, không theo chủ nghĩa Mác-Lê.

Như thế trong lịch sử dân tộc đã có thời gian những người hoạt động cho cộng sản không được tham gia vào sinh hoạt chính trị của đất nước. Và ngày nay, với Điều 4 của Hiến pháp 1992, những người không phải đảng viên cộng sản không được tham gia vào việc lãnh đạo đất nước.

Bế tắc chính trị hiện nay nằm ở chỗ người dân thực sự không có cơ hội đóng góp vào sinh hoạt chính trị vì mọi chuyện đều do đảng quyết định từ trên đưa xuống. Ai không đồng ý thường bị xách nhiễu, trù dập hay trong nhiều trường hợp phải chịu án tù.

Gần đây nhà nước phát động góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992, nhưng không muốn thay đổi Điều 4. Đã có nhiều góp ý cho rằng hiến pháp hiện nay lỗi thời và Việt Nam cần có những cải tổ chế độ chính trị cho hợp với xu thế và nhu cầu phát triển thời đại.

Nhưng làm sao để có một hiến pháp mới tổng hợp được nguyện vọng toàn dân. Để có điều này, người dân phải được tham gia vào việc thảo luận về hiến pháp, về các tu chính hay được quyền chọn một hiến pháp mới, qua trưng cầu dân ý, hay qua một cuộc bầu cử quốc hội lập hiến với sự tham gia của nhiều khuynh hướng chính trị để soạn một hiến pháp mới cho Việt Nam.

Đây là tiến trình dân chủ mà người dân Việt xứng đáng được hưởng sau bao năm đã đổ xương máu giành độc lập và xây dựng đất nước.

Để nguyện vọng của mọi thành phần được phản ánh, người dân cần có quyền phát biểu chính kiến mà không sợ bị giam tù; cần có quyền tự do báo chí để truyền đạt thông tin, quan điểm; cần tự do lập hội và tự do ứng cử để tham gia vào việc lãnh đạo và điều hành đất nước.

Tiến trình này nên được bắt đầu bằng việc bãi bỏ hay sửa đổi điều 79 và 88 luật hình sự để tránh trường hợp bắt giam những người chỉ vì bày tỏ chính kiến bất đồng mà bị ghép tội “chống lại tổ quốc Việt Nam” hay “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân”.

Một lộ đồ dân chủ hoá cũng cần được đặt ra với việc quốc hội ban hành những đạo luật dân chủ cho dân được ra báo, được hội họp, biểu tình, lập đảng chính trị, tham gia ứng cử. Thời hạn một hay hai năm để dân chủ hoá đất nước là khoảng thời gian hợp lý để đưa Việt Nam hoà nhập với xu thế thời đại.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi còn sống đã từng phát biểu: “Chính kiến khác nhau, ý kiến khác nhau là bình thường, và điều quan trọng là cần phải có đối thoại, nói chuyện với nhau một cách sòng phẳng.”

“Có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau. Tổ quốc Việt Nam không của riêng một đảng, một phe phái, tôn giáo nào”.

Ông Võ Văn Kiệt đã nói thế trong một cuộc phỏng vấn với BBCVietnamese.com ngày 19-04-2007.

Tôi tâm đắc với phát biểu của ông. Có như thế nhà nước mới tìm được sự đồng thuận của dân, cũng như của Việt kiều, để đóng góp vào việc xây dựng quốc gia. Vì có nhiều người Việt, trong cũng như ngoài nước, yêu nước mà không yêu chủ nghĩa xã hội, nếu không có đảng nào khác hơn Đảng Cộng sản thì ai sẽ là đại diện cho họ và chỗ đứng của họ là ở đâu trong sinh hoạt chính trị.

Điều mà cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt nêu ra cũng chính là nền tảng cho sự hoà giải dân tộc đang rất cần có trong lúc này.

© Bùi Văn Phú

[Bài đã đăng trên BBCVietnamese.com 10.05.2013]


Theo blog Bùi Văn Phú


* VAOL là Trang Thông Tin Đa Chiều. Tất cả bài đăng tải trên không phản ảnh quan điểm hay lập trường của VAOL

Lựa chọn ngôn ngữ

Kết Nối Với Facebook

 
Copyright © 2009. VangAnh Online - All Rights Reserved
Trang Thông Tin Đa Chiều